Kết quả chính và kết luận Luận văn đã tập trung phân tích các nội dung của công tác quản trị nợ tại Agribank chi nhánh huyện Phú Lương là: Xây dựng kế hoạch kiểm soát nợ quá hạn và quản
Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị nợ quá hạn của ngân hàng thương mại
Cơ sở lý luận
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng, và sau một khoảng thời gian nhất định, lượng giá trị đó được trả lại cho người sở hữu với mức tăng so với giá trị ban đầu.
Phạm trù tín dụng gồm ba nội dung chủ yếu: tính chuyển nhượng một lượng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả Người sở hữu một số tiền hoặc hàng hóa chuyển giao cho người khác để họ sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định và phải hoàn trả đầy đủ sau khi thời hạn kết thúc theo thỏa thuận.
Trong các giao dịch cho vay hoặc trao đổi tài sản, người sử dụng cam kết hoàn trả cho chủ sở hữu một số tiền hoặc hàng hóa với giá trị cao hơn so với giá trị ban đầu Phần chênh lệch giữa số tiền hoặc hàng hóa trả lại và giá trị gốc chính là lợi tức hay tiền lãi mà người cho vay nhận được Lợi tức thể hiện thù lao cho thời gian, rủi ro và chi phí liên quan đến việc cho vay hoặc định giá lại tài sản.
Tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, được thể hiện qua sự vận động của giá trị và vốn tín dụng, tồn tại dưới dạng tiền tệ hoặc hàng hóa Quá trình này được thể hiện qua ba giai đoạn, phản ánh luồng vốn, quá trình cam kết trả nợ và sự điều chỉnh của nguồn lực tín dụng trên thị trường.
Thứ nhất, phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay: ở giai đoạn này, giá trị vốn tín dụng được chuyển giao cho người đi vay, tức là chỉ có một bên nhận được giá trị và cũng chỉ một bên nhượng đi giá trị.
Thứ hai, vốn tín dụng được sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng Người đi vay nhận giá trị vốn tín dụng và có quyền sử dụng nó để đáp ứng nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của mình, nhưng quyền sử dụng chỉ có hiệu lực trong một khoảng thời gian nhất định và họ không được quyền sở hữu giá trị đó Vốn tín dụng đóng vai trò là nguồn tài chính linh hoạt giúp tối ưu hóa chu kỳ sản xuất, mở rộng quy mô kinh doanh và phục vụ nhu cầu tiêu dùng, trong khi quyền sở hữu tài sản vay vẫn thuộc bên cho vay cho đến khi thanh toán đầy đủ các nghĩa vụ.
Thứ ba là giai đoạn kết thúc vòng tuần hoàn tín dụng, khi vốn tín dụng hoàn thành chu kỳ sản xuất và trở về ở dạng tiền tệ, sau đó được người đi vay trả lại cho người cho vay.
Những giao dịch tín dụng trực tiếp giữa người thừa vốn và người cần vốn thường gặp khó khăn về quy mô, thời gian nhàn rỗi và chi phí tìm kiếm; để hai bên có thể đáp ứng nhu cầu một cách hiệu quả, cần một người thứ ba tập trung vốn từ những người tạm thời thừa vốn và cho vay lại cho người cần dùng Trên cơ sở nguồn vốn tập trung được phân phối cho người dùng dưới dạng cho vay, xuất hiện các tổ chức tín dụng (TCTD), trong đó chủ yếu là ngân hàng thương mại (NHTM) đóng vai trò trung gian trên thị trường tài chính Việc các NHTM huy động vốn và phân phối vốn dưới hình thức cho vay được gọi là tín dụng ngân hàng.
* Đặc trưng hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại:
Tín dụng ngân hàng là hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại bằng cách cho các tổ chức và cá nhân vay, chuyển giao quyền sử dụng vốn cho mục đích sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng, và được hoàn trả gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký giữa ngân hàng và người vay.
Tín dụng là quá trình cung cấp một lượng giá trị dựa trên cơ sở lòng tin giữa bên cho vay và bên đi vay Người cho vay tin rằng người đi vay sẽ sử dụng vốn vay một cách hiệu quả và có khả năng trả nợ đúng hạn trong thời gian cam kết, từ đó tạo ra một dòng vốn để đầu tư hoặc chi tiêu Sự tin tưởng này làm nền tảng cho phép cấp vốn và mở rộng các hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc tiêu dùng, đồng thời đòi hỏi người đi vay thể hiện uy tín và khả năng thanh toán thông qua kế hoạch tài chính và nguồn thu nhập ổn định.
Tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn Để đảm bảo thu hồi nợ đúng hạn, người cho vay thường xác định rõ thời gian cho vay dựa trên các yếu tố như mục đích vay, khả năng trả nợ của người vay, giá trị và tính thanh khoản của tài sản bảo đảm, loại hình tín dụng và cơ cấu trả nợ, cũng như điều kiện thị trường, rủi ro tín dụng và chi phí vốn liên quan.
Quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay yêu cầu thời hạn cho vay được thiết kế phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn để người vay có điều kiện trả nợ đúng hạn Nếu thời hạn cho vay ngắn hơn chu kỳ luân chuyển vốn, khách hàng sẽ gặp khó khăn trong việc có nguồn trả nợ khi đến hạn Ngược lại, thời hạn cho vay dài hơn chu kỳ luân chuyển vốn có thể tạo điều kiện cho người vay sử dụng vốn không đúng mục đích và thiếu nguồn trả nợ, trừ khi có nguồn thu nhập khác ngoài nguồn thu chính để thanh toán nợ Vì vậy, thời hạn cho vay có thể ngắn hơn chu kỳ sản xuất kinh doanh tùy tình hình, nhằm tối ưu khả năng trả nợ và kiểm soát rủi ro.
Tính chất vốn của người cho vay ảnh hưởng đến kỳ hạn cho vay: khi vốn của người cho vay ổn định, kỳ hạn cho vay có thể kéo dài; ngược lại, nếu vốn không ổn định hoặc biến động, kỳ hạn cho vay nên ngắn lại để đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng.
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị với nghĩa vụ trả cả gốc lẫn lãi, thể hiện đặc tính riêng có của tín dụng Vì vốn cho vay của ngân hàng chủ yếu là vốn huy động từ người gửi tiền nên sau một thời gian ngân hàng phải trả lại cho người gửi tiền Bên cạnh đó ngân hàng cần có nguồn để bù đắp chi phí hoạt động như khấu hao tài sản cố định, trả lương cán bộ và chi phí văn phòng phẩm, vì vậy người vay ngoài việc trả nợ gốc còn phải trả cho ngân hàng một khoản lãi.
Vai trò của tín dụng ngân hàng trong hoạt động của ngân hàng thương mại là làm cầu nối hiệu quả giữa người có vốn nhàn rỗi và người cần vốn vay, giúp giảm thiểu chi phí và thời gian giao dịch so với cho vay giữa các cá nhân Tín dụng ngân hàng tập hợp và sử dụng nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của nền kinh tế để đầu tư vào mở rộng sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn và đẩy mạnh lưu thông hàng hóa, từ đó tăng tốc chu chuyển vốn xã hội và hỗ trợ tái sản xuất mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển bền vững.
Cơ sở thực tiễn
Trong 8 tháng qua, chi nhánh NHNN tỉnh BR-VT cho biết các chi nhánh TCTD trên địa bàn tiếp tục triển khai các chương trình cho vay ưu đãi bằng VNĐ; đối với khách hàng là doanh nghiệp nhỏ và vừa đang trực tiếp sản xuất, kinh doanh, các khoản vay thuộc lĩnh vực nông nghiệp và xuất khẩu được áp dụng lãi suất ngắn hạn từ 5%–7%, lãi suất trung và dài hạn từ 7%–9,5%; chương trình đồng hành cùng doanh nghiệp có lãi suất ngắn hạn 5% và lãi suất trung và dài hạn 6,5%.
- 7%/năm; chương trình kết nối “Ngân hàng - Doanh nghiệp năm 2016”, lãi suất ngắn hạn từ 4,5% - 7%/năm, trung và dài hạn từ 6,5% - 9%/năm Đến đầu tháng
9 - 2016, tổng dư nợ đầu tư cho các thành phần kinh tế của các TCTD đạt 46.250 tỷ đồng, tăng 10,94% so với đầu năm, tương đương 4.560 tỷ đồng
Nguồn vốn đầu tư từ các TCTD trong thời gian qua đã tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Song song với tăng trưởng dư nợ cho vay, công tác ngăn ngừa nợ xấu (nhóm 3 đến nhóm 5) và xử lý nợ quá hạn luôn được các TCTD đặc biệt quan tâm Giám đốc một chi nhánh ngân hàng thương mại cho biết do khó khăn chung của nền kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng, nên tỷ lệ nợ xấu tại chi nhánh có nguy cơ tăng Để đối phó, chi nhánh đã thành lập một tổ công tác chuyên xử lý nợ quá hạn, cơ cấu lại nợ và tăng cường thẩm định hồ sơ, dự án đầu tư của khách hàng trước khi quyết định cho vay.
Nhận thức nợ xấu ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh tiền tệ, do vậy, cùng với với hoạt động cho vay trong 8 tháng qua, các chi nhánh TCTD trên địa bàn cũng đã thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh, nhằm giúp khách hàng chủ động cân đối lại nguồn vốn, trả nợ đúng hạn, giảm nợ xấu phát sinh Đến nay, các chi nhánh TCTD đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 288 khách hàng với dư nợ 651,2 tỷ đồng, trong đó có 6 khách hàng DN được cơ cấu lại nợ với dư nợ 565 tỷ đồng Nhờ vậy, đến cuối tháng 8-2016, nợ xấu trên địa bàn chiếm 2,59%/tổng dư nợ, tương đương khoảng 1.200 tỷ đồng Ông Nguyễn Lợi, Giám đốc NHNN Chi nhánh tỉnh BR-VT cho biết:
Không có quy định chung về tỷ lệ nợ xấu cho toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam Tuy nhiên, nhằm bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng, tránh gây tác động xấu đến nền kinh tế, cách đây hơn 1 năm, cùng với việc áp dụng chuẩn mới cho phân loại nợ tín dụng, Thống đốc NHNN Việt Nam đã ban hành văn bản hợp nhất yêu cầu các TCTD có nợ xấu từ 3% trở lên so với tổng dư nợ, phải triển khai quyết liệt các giải pháp xử lý nợ quá hạn để đưa nợ xấu xuống dưới 3% và hoàn thành kế hoạch xử lý nợ xấu được NHNN phê duyệt trước ngày 30-9-2015
Những TCTD chưa đưa tỷ lệ nợ xấu về dưới 3% trước thời hạn sẽ không được xem xét, chấp thuận các đề nghị mở mới chi nhánh, phòng giao dịch, lắp thêm máy ATM, mở văn phòng đại diện, cung cấp dịch vụ mới hoặc triển khai nghiệp vụ kinh doanh mới Việc giảm nợ xấu được áp dụng riêng cho từng hệ thống TCTD cụ thể, chứ không tính chung cho toàn hệ thống.
Hiện nay, các hệ thống TCTD vẫn duy trì tỷ lệ nợ xấu dưới 3% như một chuẩn chuẩn hóa để triển khai các giải pháp tổ chức và thực hiện xử lý nợ quá hạn; việc này đòi hỏi các TCTD tăng cường quản trị và quy trình nhằm cải thiện chất lượng danh mục cho vay và kiểm soát dư nợ Cơ quan thanh tra - giám sát của Chi nhánh NHNN tỉnh BR-VT thường xuyên áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để hỗ trợ, chấn chỉnh và nhắc nhở các chi nhánh TCTD trên địa bàn, nhằm duy trì tỷ lệ nợ xấu dưới mức 3% trên tổng dư nợ của từng đơn vị.
2.2.1.2 Kinh nghiệm của chi nhánh ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Đắc Nông
Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh cho biết tới cuối năm 2015, nợ quá hạn vốn vay ưu đãi trên địa bàn là hơn 12 tỷ đồng, chiếm 0,7% tổng dư nợ Trong năm 2016, với mục tiêu phấn đấu đưa tỷ lệ nợ quá hạn xuống dưới 0,5% so với tổng dư nợ, ngay từ đầu năm Chi nhánh đang tập trung đẩy mạnh nhiều giải pháp nhằm quản lý và giảm nợ quá hạn.
Thực tế, tại Chi nhánh NHCSXH tỉnh có tổng nợ xấu trên 12 tỷ đồng, trong đó hơn 5 tỷ đồng là các trường hợp còn dư nợ nhưng người vay đã rời khỏi địa phương Thời gian qua, công tác phối hợp giữa chi nhánh NHCSXH và chính quyền địa phương trong quản lý và giám sát đối tượng vay vốn chưa thực sự chặt chẽ, dẫn tới ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trên địa bàn Ông Phạm Ha, Giám đốc Phòng Giao dịch NHCSXH huyện Krông Nô, cho rằng việc xử lý những hộ còn dư nợ cố tình bỏ trốn còn tồn tại nhiều bất cập; ngân hàng dựa trên danh sách hộ đủ điều kiện vay do các xã gửi lên để giải ngân, trong khi việc rà soát nơi ở và điều kiện vay vốn thuộc trách nhiệm của chính quyền địa phương Vì thế, ngân hàng gặp khó khăn trong việc nắm bắt chính xác thời điểm hộ rời khỏi nơi cư trú để thực hiện biện pháp thu hồi nợ.
Rút kinh nghiệm từ nhiều năm trước, ông Phạm Hòa cho biết hiện nay khi phát hiện các giao dịch mua bán liên quan đến các hộ đang vay vốn, đơn vị sẽ phối hợp với chính quyền các xã, thị trấn để tạm thời ngừng giao dịch nhằm ngăn chặn tình trạng người dân chưa trả nợ Nhà nước bán tài sản và rời khỏi địa phương.
Theo ông Đào Thái Hòa, Giám đốc Chi nhánh NHCSXH tỉnh, để hạn chế nợ quá hạn phát sinh, đơn vị đang đẩy mạnh triển khai đối chiếu và phân tích nợ Đơn vị đã thành lập Ban chỉ đạo, phân công lãnh đạo và cán bộ xuống các phòng giao dịch tham gia đối chiếu nhằm hướng dẫn, nắm bắt những khó khăn, vướng mắc từ cơ sở và từ đó có hướng xử lý kịp thời.
Trong công tác đối chiếu nợ, đơn vị đã lồng ghép nội dung đối chiếu với tuyên truyền về chủ trương, chính sách tín dụng ưu đãi, quyền và nghĩa vụ của người vay vốn, cũng như các nội dung liên quan đến trả nợ và lãi suất Việc ký cam kết trả nợ và trả lãi đối với các hộ chây ỳ không trả nợ được Chi nhánh quan tâm thực hiện, đồng thời kiện toàn các tổ tiết kiệm và vay vốn (TK&VV) yếu kém nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nợ và chất lượng tín dụng.
Theo ông Hòa, đối với các hộ đã rời khỏi địa phương, đơn vị sẽ phối hợp với các chi nhánh NHCSXH ngoài tỉnh để nắm bắt thông tin liên quan và tình hình của hộ dân định cư mới Đối với những hộ dân đã tìm được địa chỉ nơi ở mới, chi nhánh sẽ vận động họ từng bước hoàn trả tiền cho Nhà nước Với các trường hợp có dấu hiệu bỏ trốn, chi nhánh phối hợp với địa phương để thu hồi nợ trước khi giải quyết các thủ tục hành chính như chuyển nhà, chuyển khẩu, tách hộ, mua bán đất đai, nhà cửa, nhằm hạn chế sự tăng trưởng của nợ xấu.
2.2.2 Bài học kinh nghiệm đối với Agribank
Những năm gần đây, trước những rủi ro lớn gây thiệt hại cho hệ thống ngân hàng, đặc biệt là rủi ro tín dụng diễn biến với tần suất cao và mức độ ảnh hưởng lớn, các ngân hàng thương mại Việt Nam, điển hình là Agribank – ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao nhất, đã đẩy mạnh công tác quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh và từng bước tiếp cận các chuẩn quản trị rủi ro Basel II để tăng cường sự ổn định, hiệu quả và khả năng chống chịu trước các cú sốc thị trường.
Quản lý nợ quá hạn ở Việt Nam cần dựa vào kinh nghiệm của các nước trên thế giới đã triển khai thành công, nhưng việc tiếp thu những bài học này phải được điều chỉnh để phù hợp với thực tế Việt Nam hiện nay Điều kiện Việt Nam bao gồm kinh tế vĩ mô chưa ổn định, hoạt động cho vay phần lớn dựa trên tài sản đảm bảo là bất động sản, và yêu cầu xử lý nợ xấu không gây thiệt hại lớn cho ngân sách nhà nước cũng như hệ thống ngân hàng Do đó, chiến lược quản lý nợ quá hạn cần kết hợp tinh chỉnh kinh nghiệm quốc tế với đặc thù trong nước để giảm rủi ro và bảo đảm an toàn tài chính.
Qua nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nợ xấu ở một số chi nhánh ngân hàng trong nước có thể rút ra bài học cho Agribank, đó là:
Để quản lý nợ quá hạn một cách hiệu quả, cần có sự phối hợp và hỗ trợ từ các cơ quan quản lý nhà nước Trong khuôn khổ lĩnh vực tiền tệ, Quốc hội, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đóng vai trò là các cơ quan quản lý nhà nước, có trách nhiệm xây dựng khung pháp lý, đề xuất cơ chế chính sách và giám sát việc thực thi nhằm kiềm chế nợ quá hạn, đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính và tăng tính bền vững cho nền kinh tế.