1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ VNUA sử dụng chế phẩm đa enzyme (α amylase, glucoamylase, cellulase) chế biến bã thải tinh bột dùng làm thức ăn chăn nuôi lợn

89 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử dụng chế phẩm đa enzyme (α-amylase, glucoamylase, cellulase) chế biến bã thải tinh bột dùng làm thức ăn chăn nuôi lợn
Tác giả Trần Anh Tuyên
Người hướng dẫn TS. Phạm Kim Đăng, TS. Vũ Văn Hạnh
Trường học Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Chăn nuôi
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1. Mở đầu (14)
    • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài (14)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (15)
    • 1.3. Ý nghĩa của đề tài (15)
      • 1.3.1. Ý nghĩa khoa học (15)
      • 1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn (15)
  • Phần 2. Tổng quan tài liệu (16)
    • 2.1. Tổng quan về enzyme phân hủy tinh bột sống và enzyme cellulase (16)
      • 2.1.1. Enzyme thủy phân tinh bột sống (16)
      • 2.1.2. Cellulase (23)
    • 2.2. Nhu cầu dinh dưỡng và đặc điểm tiêu hóa protein của lợn thịt (23)
      • 2.2.1. Nhu cầu các chất dinh dưỡng của lợn thịt (23)
      • 2.2.2. Đặc điểm tiêu hóa protein ở lợn (30)
    • 2.3. Năng suất, chất lượng thân thịt của lợn và những yếu tố ảnh hưởng (31)
      • 2.3.1. Đánh giá năng suất và chất lượng thịt của lợn (31)
      • 2.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng thịt (31)
    • 2.4. Hiệu quả sử dụng enzyme trong sản xuất thức ăn chăn nuôi (34)
    • 2.5. Những vấn đề còn tồn tại của các công nghệ sản xuất enzyme thủy phân (36)
    • 2.6. Tình hình chế biến tinh bột và chất thải từ hoạt động chế biến tinh bột ở nước ta (37)
      • 2.7.1. Tình hình nghiên cứu về enzyme bổ sung thức ăn gia súc trên thế giới (39)
      • 2.7.2. Tình hình nghiên cứu về enzyme bổ sung thức ăn gia súc ở trong nước (41)
  • Phần 3. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu (44)
    • 3.1. Địa điểm nghiên cứu (44)
    • 3.2. Thời gian nghiên cứu (44)
    • 3.3. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu (44)
    • 3.4. Nội dung nghiên cứu (45)
    • 3.5. Phương pháp nghiên cứu (45)
      • 3.5.1. Phương pháp đánh giá chất lượng, độ an toàn của chế phẩm đa enzyme (45)
      • 3.5.2. Phương pháp nghiên cứu xác định mức bổ sung thích hợp chế phẩm để lên men bã thải tinh bột tạo thức ăn chăn nuôi (47)
      • 3.5.3. Phương pháp nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm đến các chỉ tiêu kỹ thuật chăn nuôi lợn thịt (48)
      • 3.5.4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu (52)
  • Phần 4. Kết quả và thảo luận (53)
    • 4.1. Kết quả về chất lượng, độ an toàn của chế phẩm (53)
      • 4.1.1. Các chỉ tiêu về độ an toàn và cảm quan của chế phẩm (53)
      • 4.1.2. Đánh giá chất lượng của chế phẩm đa enzyme và probiotic (54)
      • 4.1.3. Khảo sát hoạt độ enzyme của chế phẩm (57)
    • 4.2. Xác định mức bổ sung thích hợp của chế phẩm trong lên men bã thải tinh bột làm thức ăn chăn nuôi (58)
      • 4.2.1. Thành phần hóa học của bã sắn tươi (58)
      • 4.2.2. Biến đổi về pH và cảm quan của các công thức trước và sau khi lên men (61)
      • 4.2.3. Thành phần hóa học của bã sắn sau khi ủ (63)
    • 4.3. Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm đến các chỉ tiêu kỹ thuật chăn nuôi lợn thịt (65)
      • 4.3.1. Khối lượng cơ thể lợn qua các giai đoạn nuôi thí nghiệm (65)
      • 4.3.2. Khả năng thu nhận thức ăn của lợn thí nghiệm (73)
      • 4.3.3. Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg khối lượng (74)
      • 4.3.4. Kết quả mổ khảo sát đánh giá năng suất, chất lượng của lợn thí nghiệm (75)
  • Phần 5. Kết luận và kiến nghị (79)
    • 5.1. Kết luận (79)
    • 5.2. Kiến nghị (79)
  • Tài liệu tham khảo (80)

Nội dung

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt ADG Tăng trọng bình quân/ngày BSU Bã sắn ủ CT Công thức CFU Colony forming units Đơn vị hình thành khuẩn lạc ĐC Đối chứng DĐVN Dư

Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu

- Viện Công nghệ sinh học - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

- Cát Quế, Hoài Đức, Hà Nội

Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

- Chế phẩm phẩm đa enzyme thô: gồm các enzyme thủy phân tinh bột sống và xơ (α-amylase, glucoamylase, cellulase)

- Vi sinh vật probiotic gồm: Lactobacillus acidophilus, Bacillus subtilis, Saccharomyces cerevisiae

Các chế phẩm trên được sản xuất tại Phòng các chất chức năng sinh học, Viện Công nghệ sinh học

- Lợn Landrace x Yorkshire giai đoạn 60 – 165 ngày tuổi

Hình 3.1 Bã sắn Hình 3.2 Chế phẩm đa enzyme thô

- Bã sắn được mua tại nhà máy, xưởng cơ sở sản xuất tinh bột sắn tại Cát Quế, Hoài Đức, Hà Nội

Chế phẩm đa enzyme thô do Phòng Các chất Chức năng Sinh học thuộc Viện Công nghệ sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam sản xuất Sản phẩm này ứng dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp sinh học và thực phẩm nhờ vào khả năng phân giải đa dạng các hợp chất sinh học Với quy trình sản xuất hiện đại, chế phẩm đa enzyme thô đảm bảo chất lượng và hiệu quả trong quá trình sử dụng Việc phát triển và nghiên cứu chế phẩm này góp phần thúc đẩy sự sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ enzyme tại Việt Nam.

Vi sinh vật probiotic bao gồm các loại như Saccharomyces cerevisiae, Bacillus subtilis và Lactobacillus, được bổ sung từ nguồn giống chất lượng cao của phòng Các Chức Năng Sinh Học tại Viện Công nghệ sinh học, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Những chủng vi sinh vật này đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện sức khỏe đường ruột và nâng cao hệ miễn dịch Việc sử dụng các probiotic chất lượng từ các nguồn nghiên cứu uy tín giúp đảm bảo hiệu quả và độ an toàn cho người tiêu dùng.

Hóa chất, dụng cụ và máy móc để thực hiện thí nghiệm đánh giá hoạt tính enzyme được chuẩn bị tại Phòng Các Chất Chức năng sinh học, Viện Công nghệ sinh học, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Các thiết bị này đảm bảo độ chính xác cao trong phân tích enzyme, hỗ trợ nghiên cứu sinh học và phát triển sản phẩm công nghệ sinh học mới Việc sử dụng nguyên liệu và dụng cụ hiện đại giúp nâng cao hiệu quả, độ tin cậy của các kết quả thí nghiệm liên quan đến hoạt tính enzyme.

Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá chất lượng và mức độ an toàn của chế phẩm

- Xác định mức bổ sung thích hợp của chế phẩm trong lên men bã thải tinh bột làm thức ăn chăn nuôi

- Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm đến các chỉ tiêu kỹ thuật trong chăn nuôi lợn thịt

Phương pháp nghiên cứu

3.5.1 Phương pháp đánh giá chất lượng, độ an toàn của chế phẩm đa enzyme

3.5.1.1 Các chỉ tiêu về độ an toàn và cảm quan của chế phẩm Chất lượng và độ an toàn của chế phẩm đa enzyme thô được xác định tại phòng Các chất chức năng sinh học, Viện Công nghệ sinh học Các chỉ tiêu đánh giá và phương pháp phân tích được xác định thông qua việc phân tích 3 mẫu của ba mẻ sản xuất chế phẩm khác nhau (bảng 3.1)

Bảng 3.1 Các chỉ tiêu đánh giá độ an toàn cảm quan của chế phẩm

Chỉ tiêu Phương pháp thử

Tổng số vi khuẩn hiếu khí (CFU/g) TCVN 4884:2005 (ISO 4833/2003 )

Salmonella trong 25g mẫu TCVN 4829:2005 (ISO 6579:2002) Hàm lượng tổng số aflatoxin B1 TCVN 7596 - 2007 (ISO 16050:2003) Độ ẩm % DĐVN II - T3 - 94

Chất lượng cảm quan TCVN 1532 - 1993

Hoạt tính enzyme α-amylase, glucoamylase và cellulase

Phương pháp của Miller (1959) và Vũ Văn Hạnh (2009)

3.5.1.2 Đánh giá chất lượng của chế phẩm đa enzyme và probiotic

* Xác định mật độ vi sinh vật probiotic

- Nấm men Saccharomyces cerevisiae: xác định mật độ tế bào bằng phương pháp đếm trực tiếp bằng buồng đếm hồng cầu trên kính hiển vi

- Vi khuẩn Lactobacillus sp., Bacillus subtilis: Xác định bằng phương pháp đếm khuẩn lạc

* Xác định các đặc tính probiotic:

Khả năng kháng vi khuẩn gây bệnh Xác định bằng phương pháp khuếch tán trên đĩa thạch Vi khuẩn gây bệnh kiểm định: E.coli, Salmonella sp

Chủng vi sinh vật probiotic được nuôi cấy lắc trong môi trường dịch thể phù hợp với tốc độ 200 vòng/phút, ở 37°C trong 24 giờ để đảm bảo sự phát triển tối ưu Sau đó, dịch nuôi cấy được ly tâm với tốc độ 10.000 vòng/phút trong 15 phút để thu dịch trong, giúp tách các thành phần không mong muốn Các vi sinh vật kiểm định được nuôi cấy tĩnh trong môi trường LB tại 37°C trong 24 giờ để đảm bảo độ ổn định và độ an toàn của chủng Tiếp theo, dung dịch nuôi cấy được gạt lên bề mặt đĩa Petri chứa môi trường LA, sau đó đục lỗ thạch bằng nút khoan và nhỏ 10μl dịch trong vào các lỗ thạch để khuếch tán Các đĩa thạch được đặt trong điều kiện ủ từ 4 đến 8 giờ ở 4°C để dịch thấm đều, rồi chuyển sang tủ ấm 37°C để quan sát vòng kháng khuẩn sau 24 giờ nhằm đánh giá khả năng ức chế vi sinh vật gây bệnh.

Hoạt tính kháng kháng khuẩn được tính bằng: D – d (mm) Trong đó: D là đường kính vòng vô khuẩn (mm), d là đường kính lỗ thạch (mm), d = 9mm

Khả năng chịu pH thấp Các vi khuẩn probiotic được nuôi cấy trong môi trường dịch thể thích hợp ở

37 0 C trong 24 giờ Thu sinh khối vi khuẩn bằng cách ly tâm 10.000 vòng/phút ở

4 0 C trong 10 phút Rửa sinh khối thu được hai lần với dung dịch PBS ở pH 7,2

Chuyển dịch huyền phù vi khuẩn vào ống nghiệm chứa môi trường PBS pH 3

Sau 3 giờ, hỳt 100 àl dung dịch trong mỗi ống chuyển sang mụi trường dịch thể thích hợp cho từng loại vi sinh vật, ủ ở 37 0 C trong 24 giờ Sau đó, tiến hành đếm mật số vi khuẩn ở mỗi thời điểm khảo sát bằng phương pháp đếm khuẩn lạc Các vi khuẩn probiotic cũng được khảo sát ở môi trường pH 7 để đánh giá sự phát triển trong môi trường pH thích hợp

Khả năng chịu dịch mật

Khả năng chịu dịch mật được tiến hành theo phương pháp Duc Le et al

Năm 2004, nghiên cứu tập trung vào khả năng chịu muối mật của các vi sinh vật như Lactobacillus sp., Bacillus subtilis và Saccharomyces cerevisiae Các chủng vi sinh vật này được nuôi cấy trong môi trường dịch thể thích hợp có bổ sung muối mật ở nồng độ 0,3%, sau đó trải đều lên đĩa petri chứa môi trường thạch MRS, LA, YPD và ủ ở 37°C trong 24 giờ Phương pháp cấy trải đĩa được sử dụng để xác định khả năng chịu muối mật của các vi sinh vật này, qua đó đánh giá khả năng chịu đựng và ứng dụng trong các lĩnh vực công nghiệp thực phẩm và sinh học.

3.5.2 Phương pháp nghiên cứu xác định mức bổ sung thích hợp chế phẩm để lên men bã thải tinh bột tạo thức ăn chăn nuôi Cân 300g bã sắn tươi vào các bình nhựa dung tích 3 lít, trộn đều với 700 ml nước sạch Bổ sung enzyme, nấm men Saccharomyces, vi khuẩn probiotic (Baclillus subtillis, Lactobacillus) và Urê theo các công thức khác nhau (Bảng 3.2)

Bảng 3.2 Bố trí thí nghiệm các công thức ủ trong phòng thí nghiệm (% theo vật chất tươi)

CT1 CT2 CT3 CT4 CT5

Saccharomyces cerevisiae, Baclillus subtillis, Lactobacillus

Để pha loãng probiotic 1 lít với nồng độ 10^9 CFU/ml, bạn cần pha với 100 lít nước có nồng độ 10^7 CFU/ml Các bình lên men được đậy kín và tiến hành khuấy hàng ngày để đảm bảo quá trình lên men diễn ra đều đặn trong điều kiện nhiệt độ phòng từ 25-30°C Thời gian lên men kéo dài 4 ngày, sau đó tiến hành xác định thành phần hóa học của sản phẩm để kiểm tra chất lượng và độ an toàn của probiotic.

3.5.2.1 Các chỉ tiêu theo dõi

Bã sắn trước và sau khi lên men chứa các thành phần hóa học quan trọng như vật chất khô (VCK), protein thô (CP), mỡ thô (EE), khoáng tổng số (Ash), xơ thô, tinh bột, năng lượng tổng số (GE) và axit hữu cơ Quá trình lên men ảnh hưởng đến hàm lượng các chất này, giúp tăng giá trị dinh dưỡng và khả năng tiêu thụ của bã sắn cho vật nuôi Hiểu rõ thành phần hóa học của bã sắn trước và sau lên men là yếu tố quan trọng để tối ưu hóa sử dụng trong chế độ dinh dưỡng chăn nuôi.

- Đánh giá cảm quan về biến đổi màu, mùi các công thức lên men theo thời gian

- Xác định sự biến đổi pH trong các công thức trong thời gian lên men

3.5.2.2 Phương pháp nghiên cứu Thành phần hóa học của các công thức ủ bã sắn được phân tích tại Phòng Thí nghiệm Trung tâm, Khoa Chăn nuôi - Học viện Nông nghiệp Việt Nam theo các phương pháp chuẩn

- Phương pháp lấy mẫu theo TCVN 4325:2007 (ISO 6497:2002);

- Chuẩn bị mẫu thử theo TCVN 6952:2001 (ISO 6498:1998);

- Vật chất khô (%) theo TCVN 4326:2001 (ISO 6497:2002);

- Protein thô (%) theo TCVN 4328-1:2007 (ISO ISO 5983-1:2005);

- Tinh bột tổng số (%) theo TCVN4594:1988;

- Khoáng tổng số (%) theo TCVN 4327:2007;

- Năng lượng tổng số (GE) được xác định bằng Bomb Calorimeter (Bomb Calorimeter 6300, Parr Instrument Company);

- pH được đo bằng pH meter (Sension 3, HACH Company, USA)

3.5.3 Phương pháp nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm đến các chỉ tiêu kỹ thuật chăn nuôi lợn thịt

3.5.3.1 Bố trí thí nghiệm Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp phân lô so sánh với mô hình bố trí thí nghiệm một nhân tố Chọn 240 con lợn thịt (Landrace x Yorkshire) 60 ngày tuổi có khối lượng trung bình là 19,8kg, chia làm 4 lô, mỗi lô 20 con, ba lần lặp lại

Lô 1 sử dụng KPCS không sử dụng BSU và 3 lô thí nghiệm sử dụng 10%, 20% và 30% BSU thay thế KPCS Thí nghiệm được bố trí theo bảng 3.3

Bảng 3.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm trên lợn thịt

Diễn giải ĐVT Lô 1 Lô 2 Lô 3 Lô 4

Khối lượng bắt đầu TN

Số lần lặp lại Lần 3 3 3 3

Số lợn tham gia thí nghiệm Con 60 60 60 60

Giống lợn Lợn F1 (♂ Landrace x ♀Yorkshire)

Tính biệt Đồng đều giữa các lô (tỷ lệ 1:1)

Giai đoạn thí nghiệm (ngày) 60 - 165 60 - 165 60 - 165 60 - 165

Khẩu phần TN g/Kg thức ăn

Bảng 3.4 Thành phần thức ăn khẩu phần cơ sở

Nguyên liệu thức ăn Tỷ lệ (%)

Cám gạo tẻ xát máy loại 1 17,12

Giai đoạn tiền thí nghiệm kéo dài trong 7 ngày, là bước chuẩn bị quan trọng để phân lợn vào các lô và tiến hành nuôi thử nghiệm thích nghi với thức ăn mới Trong giai đoạn này, công đoạn tiêm phòng, tẩy ký sinh trùng và điều chỉnh sự đồng đều giữa các lô giúp đảm bảo điều kiện thuận lợi cho quá trình thử nghiệm.

- Giai đoạn thí nghiệm chính thức: lợn ăn khẩu phần thí nghiệm dự kiến theo các lô tương ứng, tiến hành lấy kết quả các chỉ tiêu định kỳ

Chăm sóc theo quy trình nuôi lợn thịt giống lai F1

3.5.3.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu a) Đánh giá khả năng sinh trưởng

Khối lượng cơ thể lợn qua các giai đoạn sinh trưởng được theo dõi bằng cách cân lợn vào buổi sáng trước khi cho ăn, bắt đầu từ khi bắt đầu thí nghiệm và sau 2 tuần, cân lại để đánh giá sự phát triển Thời gian cân diễn ra liên tục trong suốt quá trình thí nghiệm, sử dụng cân có độ chính xác 0,1kg, và mỗi con được đánh số tai để dễ dàng theo dõi kết quả Việc cân lợn đúng thời điểm và sử dụng thiết bị chính xác giúp đảm bảo dữ liệu sinh trưởng chính xác, hỗ trợ phân tích hiệu quả quá trình phát triển của lợn qua các giai đoạn.

- Độ sinh trưởng tuyệt đối

Là sự tăng lên về khối lượng cơ thể sau 1 đơn vị thời gian, thường tính bằng gam/con/ngày Được tính theo công thức:

Trong đó: A: Là sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)

P 1 : Khối lượng ở thời điểm cuối kì (g)

P 2 : Khối lượng ở thời điểm đầu kì (g) t 2: Thời gian ở thời điểm cuối kì (ngày) t 1: Thời gian ở thời điểm đầu kì (ngày)

- Độ sinh trưởng tương đối

Là sự tăng lên khối lượng, kích thước, thể tích cơ thể tính theo tỷ lệ % Được tính theo công thức:

Trong đó: R: Là sinh trưởng tương đối (%)

P1 : Là khối lượng cân đầu kì (kg)

P 2 : Là khối lượng cân cuối kì (kg) b) Các chỉ tiêu theo dõi về thức ăn

- Lượng thức ăn thu nhận (LTATN)

Việc cân chính xác lượng thức ăn đổ vào máng cho lợn hàng ngày là rất quan trọng để đảm bảo khẩu phần ăn hợp lý Vào giờ cố định hàng ngày, cần vét sạch thức ăn thừa và cân lại để theo dõi lượng tiêu thụ Công thức tính LTATN giúp xác định chính xác lượng thức ăn cần thiết, tối ưu hóa quá trình cho ăn và nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn.

LTATN (g/con/ngày) = Thức ăn cho vào (g) - Thức ăn thừa (g)

Số lợn trong lô (con)

Lượng thức ăn cho ăn và lượng thức ăn thừa tính theo phần trăm vật chất khô

- Xác định tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng

TTTĂ/kg tăng KL (kg/kg) = ∑ KL Thức ăn cho ăn (kg)

Hiệu quả sử dụng thức ăn (HQSDTA) là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng chuyển đổi thức ăn thành trọng lượng cơ thể của vật nuôi HQSDTA được xác định dựa trên lượng thức ăn tiêu thụ để tăng 1kg trọng lượng, phản ánh hiệu quả của việc sử dụng thức ăn trong quá trình chăn nuôi Công thức tính HQSDTA giúp người chăn nuôi tối ưu hóa nguồn lực, giảm chi phí và nâng cao năng suất chăn nuôi Hiểu rõ về hiệu quả sử dụng thức ăn là yếu tố then chốt để nâng cao lợi nhuận và đảm bảo sự phát triển bền vững của mô hình chăn nuôi.

HQSDTA (kgTA/kg tăng trọng) = Lượng TATN (kg)

Khối lượng tăng (kg) c) Đánh giá khả năng cho thịt

Sau khi kết thúc thí nghiệm nuôi thịt, chọn những con có khối lượng, ngoại hình và thể chất trung bình làm mẫu để mổ khảo sát, với số lượng là 4 con cho mỗi công thức lai (gồm 2 lợn đực và 2 lợn cái) Đồng thời, nghiên cứu còn theo dõi các chỉ tiêu giết mổ nhằm đánh giá hiệu quả nuôi dưỡng và đặc điểm sinh trưởng của đàn lợn.

- Khối lượng giết mổ (kg): là khối lượng lợn hơi để nhịn đói 24 giờ trước khi mổ khảo sát

- Khối lượng thịt móc hàm (kg): là khối lượng thân thịt sau khi chọc tiết, cạo lông, bỏ các cơ quan nội tạng nhưng để lại thận và 2 lá mỡ

- Khối lượng thịt xẻ (kg): là khối lượng thịt móc hàm sau khi cắt bỏ đầu, bốn chân, đuôi, hai lá mỡ, thận

Tỷ lệ móc hàm (%) = Khối lượng thịt móc hàm (kg) x 100 Khối lượng lợn hơi (kg)

Tỷ lệ thịt xẻ (%) = Khối lượng thịt xẻ (kg)

 100 Khối lượng lợn hơi (kg)

- Tỷ lệ nạc (%): tính bằng phương pháp 2 điểm của Cộng hoà liên bang Đức Branscheid et al (1987):

%nạc = 47,978+(26,0429  S/F) + (4,5154  F )- (2,5018  lgS)- (8,4212 S ) Trong đó: S là độ dày mỡ ở giữa cơ bán nguyệt (M glutaeus medius)(mm)

F là độ dày cơ từ tận cùng phía trước của cơ bán nguyệt đến giới hạn trên của cột sống (mm)

- Độ dày mỡ lưng (cm): là độ dày trung bình của độ dày mỡ ở ba vị trí:

Vị trí thứ nhất: đo tại nơi dày nhất trên lưng (đốt sống ngực 2 - 3) (a)

Vị trí thứ hai: đo tại điểm giữa xương sườn thứ 13 và 14 (b)

Vị trí thứ ba: đo tại điểm giữa trên cơ bán nguyệt (c) Độ dày mỡ lưng (cm) = a + b + c

Ngày đăng: 16/12/2022, 10:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
30. Pig Internation (2015). Số liệu thống kê lợn trên thế giới năm 2015 Truy cập ngày 5/5/2017 từ http://goldcoin.com.vn/vi/news/nhung-quoc-gia-va-cong-ty-co-so-luong-heo-nhieu-nhat-the-gioi-54 Link
58. Viện KHKT Nông nghiệp Miền Nam (2014). Thành phần dinh dưỡng trong sắn. Truy cập ngày 5/5/2017 từ http://iasvn.org/chuyen-muc/Gia-tri-dinh-duong-cua-San-4488.html Link
1. Cục chăn nuôi (2016). Báo cáo tổng kết tình hình chăn nuôi năm 2010. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Khác
2. Đinh Hồng Duyên, Phạm Thị Thảo Nguyên và Phạm Thúy Kiều (2010). Đánh giá đặc tính sinh học và định tên nấm dùng trong xử lý phế thải nông nghiệp. Tạp chí khoa học và phát triển tập 8. Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội. (2) tr. 287 - 295 Khác
3. Đinh Văn Cải (1999). Nghiên cứu sản xuất và sử dụng chế phẩm sinh học có nguồn gốc từ men vi sinh trong khẩu phần của bò sữa và bê Khác
4. Đoàn Phương Thúy, Phạm Văn Học, Trần Xuân Mạnh, Lưu Văn Tráng, Đoàn Văn Soạn, Vũ Đình Tôn và Đặng Vũ Bình (2016). Khả năng sinh trưởng, độ dày mỡ lưng và định hướng chọn lọc đối với lợn đực Duroc, Landarace và Yorkshire tại công ty lợn giống hạt nhân Dabaco. 14. (01). tr. 70-78 Khác
5. Đoàn Văn Thược (2005). Tuyển chọn và nghiên cứu một số chủng vi sinh vật có khả năng sinh amylaza trên bã sắn phế thải để sản xuất enzym cho chăn nuôi gia súc. Luận văn Thạc sĩ Sinh học. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khác
6. Đỗ Thị Ngọc Huyền (2005). Phân lập, tuyển chọn và định loại các chủng vi khuẩn Bacillus subtilis có khả năng sinh phytase. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn kỳ 1 tháng 4/2005 Khác
7. Đỗ Thị Ngọc Huyền (2007). Nghiên cứu tính chất và công nghệ sản xuất phytase từ vi khuẩn Bacillus subtilis. Luận văn tiến sỹ, Viện CNSH Khác
8. Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006). Sinh lý Động vật. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội. tr. 58 Khác
9. Hồ Trung Thông và Đặng Văn Hồng (2009). Ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm enzyme chứa protease, amylase và phytase vào khẩu phần đến sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn của lợn F1(Landrace x Yorkshire). Tạp chí Khoa học - Đại học Huế. 22 (56). tr. 95-104 Khác
10. Lã Văn Kính (2011). Nghiên cứu một số chế phẩm có nguồn gốc thảo dược trong chăn nuôi lợn và gia cầm, Đề tài cấp bộ, Viện khoa học kĩ thuật Nông nghiệp miền Nam Khác
11. Lê Duy (2010). Nghiên cứu sử dụng bã dong riềng làm thức ăn bổ sung nuôi bò thịt tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp.Đại học Thái Nguyên Khác
13. Lê Thanh Hải, Nguyễn Văn Đồng, Nguyễn Ngọc Phục và Phạm Duy Phẩm (2006). Năng suất sinh trưởng và khả năng cho thịt của lợn lai 3 giống ngoại Landrace, Yorkshire và Duroc. Tạp chí khoa học kỹ thuật Chăn nuôi Khác
14. Lương Đức Phẩm (2004). Công nghệ vi sinh. Tái bản lần 1. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Khác
15. Lương Đức Phẩm (2009). Nấm men công nghiệp. Tái bản lần 2. NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Khác
16. Lương Đức Phẩm, Nguyễn Thế Trang, Nguyễn Phương Nhuệ và Nguyễn Văn Huế (2000). Tuyển chọn các chủng vi sinh vật từ các sản phẩm lên men truyền thống.Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong sinh học. Viện Công nghệ sinh học Khác
17. Mai Thị Thơm và Bùi Quang Tuấn (2006). Sử dụng bã sắn ủ chua với cám đỗ xanh để vỗ béo bò thịt. Tạp chí KHKT Nông nghiệp. (2) Khác
18. Nguyễn Ngọc Tuân và Lê Thanh Hiền (2004). Giáo trình chế biến và bảo quản thịt sữa. NXB Nông nghiệp chi nhánh Tp. Hồ Chí Minh Khác
19. Nguyễn Lê Hoàng, Hoàng Ngọc Duy Quang, Nguyễn Thị Kim Vân, Nguyễn Ngọc Trung và Nguyễn Nhân Luân (2010). Báo cáo về enzyme amylase. Trường ĐH Kỹ thuật Công nghệ Tp. Hồ Chí Minh. tr. 4-16 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w