TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Bùi Mạnh Thắng Tên luận văn: “Phát triển sản xuất cây dược liệu trên địa bàn huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh” Ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 60 62 01 1
Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất cây dược liệu
Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất cây dược liệu
Phát triển trong từ điển Tiếng Việt được hiểu là quá trình vận động và tiến bộ theo hướng tăng lên, ứng dụng trong các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa và xã hội Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, phát triển là phạm trù triết học mô tả tính chất của các biến đổi đang diễn ra trong thế giới và là một thuộc tính của vật chất Mọi sự vật và hiện tượng trong thực tế không tồn tại trong trạng thái cố định, mà luôn thay đổi từ khi hình thành đến khi tiêu vong, với nguồn gốc của sự phát triển nằm ở sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập.
Phát triển được hiểu là quá trình lớn lên và tăng tiến trong mọi lĩnh vực, bao gồm sự gia tăng về chất và lượng, thay đổi về cơ cấu, thể chế, chủng loại, tổ chức, cùng với sự biến đổi của thị trường Quá trình này còn đòi hỏi duy trì công bằng xã hội, đảm bảo an ninh và trật tự, đồng thời phù hợp với các tiêu chuẩn phát triển bền vững (Fajardo, 1999).
Lưu Đức Hải (2001) cho biết, phát triển là một quá trình tăng trưởng bao gồm nhiều yếu tố cấu thành như kinh tế, chính trị, kỹ thuật và văn hóa Quá trình này không chỉ tập trung vào tăng trưởng về mặt kinh tế mà còn liên quan đến các lĩnh vực xã hội, chính trị và công nghệ để thúc đẩy sự tiến bộ toàn diện của một quốc gia hoặc cộng đồng Việc phát triển bền vững đòi hỏi sự cân đối và hài hòa giữa các yếu tố này nhằm đảm bảo sự thịnh vượng lâu dài và nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng.
Phát triển chính là quá trình thay đổi liên tục nhằm nâng cao mức sống của con người và đảm bảo công bằng trong phân phối các thành quả tăng trưởng xã hội Theo Vũ Ngọc Phùng (1997), phát triển không chỉ tập trung vào tăng trưởng kinh tế mà còn hướng tới việc nâng cao chất lượng cuộc sống và phân phối lợi ích một cách công bằng cho mọi thành viên trong xã hội.
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
2.1.1.2 Khái niệm phát triển sản xuất
Sản xuất của cải vật chất là quá trình con người tác động vào tự nhiên để biến đổi các vật thể tự nhiên thành sản phẩm phù hợp với nhu cầu của mình, đóng vai trò nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Thông qua lao động sản xuất, con người không chỉ cải tạo và phát triển về vật chất mà còn hoàn thiện về tinh thần, góp phần thúc đẩy các hoạt động xã hội phát triển bền vững Hoạt động sản xuất chính là trung tâm, tiền đề quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ các hoạt động xã hội khác.
Phát triển sản xuất được hiểu là quá trình vận động của đối tượng sản xuất từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, và từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Quá trình này bao gồm cả sự tiến bộ về lượng và chất của sản xuất, phản ánh sự nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Việc phát triển sản xuất không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn nâng cao năng lực công nghiệp và vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Phát triển sản xuất theo chiều rộng tập trung vào việc tăng quy mô sản xuất thông qua mở rộng các yếu tố đầu vào như đất đai, nhà xưởng, máy móc, thiết bị, vốn và lao động Trong khi đó, phát triển sản xuất theo chiều sâu dựa trên việc nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất, đồng thời hướng tới tối ưu hóa các lợi ích về kinh tế, môi trường và xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững (Nguyễn Thị Phương Nhâm, 2013).
Theo tác giả Nguyễn Thị Phương Nhâm (2013), các yếu tố chính ảnh hưởng đến phát triển sản xuất bao gồm điều kiện tự nhiên và các nguồn lực đầu vào, góp phần quyết định khả năng mở rộng và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Vốn sản xuất đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình sản xuất, ảnh hưởng đến hiệu quả và quy mô hoạt động của doanh nghiệp Khi năng suất lao động không đổi, việc tăng tổng vốn đầu tư sẽ dẫn đến tăng sản lượng sản phẩm hàng hóa, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh doanh và nâng cao lợi nhuận.
- Lực lượng lao động là yếu tố đặc biệt quan trọng của quá trình sản xuất
Chất lượng lao động quyết định kết quả và hiệu quả sản xuất, vì mọi hoạt động sản xuất đều phụ thuộc vào lao động của con người, đặc biệt là những người có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ năng lao động cao.
Đất đai là yếu tố sản xuất thiết yếu, không chỉ đóng vai trò chủ chốt trong ngành nông nghiệp mà còn quan trọng trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Với đặc điểm là yếu tố cố định và có giới hạn về quy mô, việc khai thác đất đai đòi hỏi đầu tư thêm vốn và lao động trên mỗi đơn vị diện tích để duy trì và nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Cơ sở thực tiễn về phát triển sản xuất cây dược liệu
Những cơ sở xây dựng định hướng:
Việt Nam sở hữu hệ sinh thái đa dạng, vô cùng phong phú về tài nguyên dược liệu, gồm cả thực vật, động vật và khoáng vật Theo kết quả điều tra năm 2016, hơn 5.000 loài thực vật đã được ghi nhận sử dụng làm thuốc, trong đó gần 200 loài có tiềm năng khai thác và phát triển trồng để đáp ứng nhu cầu nội địa và hướng tới xuất khẩu Những loài nổi bật như quế, hồi, nghệ, actiso, sa nhân, kim tiền thảo, đinh lăng, thảo quả thể hiện tiềm năng lớn của ngành dược liệu Việt Nam.
Việc nuôi trồng dược liệu giúp các hộ nông dân nâng cao hiệu quả kinh tế, mang lại lợi nhuận gấp 3-5 lần so với trồng các loại cây nông nghiệp truyền thống như lúa, ngô, sắn Các loại cây dược liệu phân bố rộng khắp cả nước và bao gồm nhiều loài quý hiếm, nằm trong danh sách đặc biệt trên thế giới như Sâm Ngọc Linh, Bách hợp, Thông đỏ, Vàng đắng, Hoàng liên ô rô, Hoàng liên gai, Thanh thiên quỳ, Ba gạc Vĩnh Phú Đây là những cây dược liệu có giá trị cao, góp phần thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp bền vững và đa dạng sinh học.
Theo thống kê, trong năm 2014, doanh thu sản xuất thuốc từ dược liệu tại Việt Nam đạt 3.500 tỷ đồng (gấp hơn 1,75 lần so với doanh thu năm 2012)
Trong số 20 loại dược liệu có nhu cầu dùng cho sản xuất thuốc lớn nhất năm
2011, Artiso đứng đầu danh sách với số lượng tiêu thụ lên tới 2000 tấn/năm, tiếp theo là Đinh lăng với hơn 900 tấn/năm…
Việt Nam tuy phải nhập khẩu lượng lớn dược liệu mỗi năm nhưng cũng có khả năng xuất khẩu đáng kể, với hàng trăm mặt hàng thuốc dược liệu và thuốc y học cổ truyền được sản xuất bởi nhiều công ty trong nước Các mặt hàng nổi bật như kim tiền thảo, Hydan, Ampelop, Bổ phế, Cảm xuyên hương, Hoạt huyết dưỡng não, Abivina, Artemisinin và Curcumin đã đạt quy mô sản xuất lớn và giữ vị trí vững chắc trên thị trường quốc tế Mỗi năm, Việt Nam xuất khẩu khoảng 10.000 tấn dược liệu các loại và thêm khoảng 10.000 tấn thành phẩm như tinh dầu bạc hà, các sản phẩm chiết xuất từ dược liệu để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu toàn cầu.
Sả, Hương nhu, Quế, Bạch đàn chanh, Hồi, Húng quế, Màng tang, Tràm, Long não Các hóa chất: Artemisnin và các dẫn chất; Acid shikimic
Theo Nguyễn Duy Thuần (2003) công bố trong Hội nghị dược liệu toàn quốc tổ chức vào tháng 3 năm 2003, nhu cầu sử dụng dược liệu ở nước ta khoảng
50.000 tấn/năm phục vụ cho 145 bệnh viện y học cổ truyền, 242 khoa y học cổ truyền và xuất khẩu
Vấn đề bảo tồn và phát triển các nguồn gien cây dược liệu hiện nay gặp nhiều khó khăn do nhiều loài cây thuốc quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, như các loài sâm mọc tự nhiên gồm 3 loài, các loài hoàng liên gồm 7 loài thuộc 3 chi khác nhau, cùng với các loài cây như một lá (3-4 loài), bách hợp, bát giác liên và bảy lá một hoa.
Hiện nay, Việt Nam đã xác định có 144 loài cây thuốc quý hiếm bị suy giảm nghiêm trọng và có nguy cơ tuyệt chủng, thuộc 58 họ thực vật bậc cao có mạch Theo phân hạng của IUCN (2001), có 18 loài đang trong tình trạng cực kỳ nguy cấp (CR), 57 loài nguy cấp (EN), và 69 loài sắp nguy cấp (VU), cho thấy mức độ đe dọa đối với các loài cây thuốc này ngày càng gia tăng.
Danh mục Đỏ cây thuốc Việt Nam là danh sách các loài cây thuốc có giá trị quan trọng, đóng vai trò là căn cứ khoa học rõ ràng để bảo tồn nguồn gen cây thuốc quý tại Việt Nam Việc duy trì và phát triển các loài trong danh mục này góp phần bảo vệ đa dạng sinh học, đồng thời thúc đẩy ngành công nghiệp dược liệu nước nhà phát triển bền vững Chính sách phát triển sản xuất cây dược liệu của Việt Nam đang hướng tới việc khai thác có responsible các nguồn tài nguyên này nhằm nâng cao chất lượng dược phẩm và đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cộng đồng trong nước và thị trường quốc tế.
Trong chiến lược phát triển ngành Dược giai đoạn 2002 - 2010, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược đầu tư trọng điểm vào các cơ sở sản xuất hoá chất và nguyên liệu làm thuốc, nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành Chính phủ ưu tiên sản xuất các loại thuốc thiết yếu, thuốc có lợi thế xuất khẩu, thuốc từ dược liệu, cũng như thuốc mang tên gốc thay thế thuốc nhập khẩu, nhằm nâng cao năng lực nội địa và giảm phụ thuộc vào nguồn bất kỳ Đặc biệt, chú trọng phát triển dược liệu để đa dạng hóa nguồn nguyên liệu, góp phần thúc đẩy ngành Dược phát triển mạnh mẽ hơn trong giai đoạn này.
Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 (Bộ Y tế, 2013) đặt ra mục tiêu phát triển ngành dược liệu dựa trên việc tận dụng tối đa tiềm năng tự nhiên và xã hội Định hướng này nhấn mạnh việc kết hợp bảo tồn, khai thác hợp lý nguồn dược liệu tự nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường sinh thái Các chính sách hướng tới phát triển bền vững ngành dược liệu, nâng cao năng lực sản xuất và thúc đẩy ứng dụng công nghệ mới nhằm đảm bảo cung cấp nguồn dược liệu chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
* Quy hoạch 08 vùng trồng tập trung các loài dược liệu có thế mạnh, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và sinh thái, cụ thể như sau:
Vùng núi cao có khí hậu á nhiệt đới tại Lào Cai (Sa Pa), Lai Châu (Sìn Hồ) và Hà Giang (Đồng Văn, Quản Bạ) tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các loại dược liệu quý Hiện nay, nơi đây đã chú trọng vào việc trồng 13 loài dược liệu nổi bật, góp phần nâng cao giá trị y học cổ truyền và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Việc mở rộng phát triển các loại thảo dược này không chỉ bảo tồn các loại cây thuốc quý mà còn thúc đẩy ngành nông nghiệp sinh thái bền vững.
04 loài bản địa: Bình vôi, Đảng sâm, Hà thủ ô đỏ, Tục đoạn và 09 loài nhập nội:
Actisô, Đỗ trọng, Độc hoạt, Đương quy, Hoàng bá, Mộc hương, Ô đầu, Tam thất, Xuyên khung với diện tích trồng khoảng 2.550 ha Ưu tiên phát triển các loài:
Actisô, Đương quy và Đảng sâm là những loại cây thuốc quý, đang được trồng kết hợp với nghiên cứu sản xuất giống để nâng cao năng suất và chất lượng dược liệu Việc nhập nội các giống cây thuốc từ phương Bắc giúp tạo nguồn nguyên liệu ổn định, phục vụ công tác phát triển dược liệu bền vững Công tác nghiên cứu chọn giống phù hợp góp phần tăng giá trị kinh tế cho ngành dược liệu Việt Nam.
Vùng núi trung bình có khí hậu á nhiệt đới, tiêu biểu như Lào Cai (Bắc Hà), Sơn La (Mộc Châu) và Lâm Đồng (Đà Lạt), là các địa phương có điều kiện lý tưởng để phát triển trồng trọt Tại đây, đã mở rộng phát triển nuôi trồng 12 loài dược liệu quý, góp phần nâng cao giá trị kinh tế nông nghiệp địa phương Những loại dược liệu này phù hợp với khí hậu và đất đai của khu vực, thúc đẩy ngành dược liệu bền vững và tăng thu nhập cho người dân.
Trong lĩnh vực trồng trọt, có 5 loài bản địa gồm Bình vôi, Đảng sâm, Hà thủ ô đỏ, Tục đoạn và Ý dĩ, cùng với 7 loài nhập nội như Actisô, Bạch truật, Bạch chỉ, Dương cam cúc, Đỗ trọng, Đương quy và Huyền sâm, với tổng diện tích trồng khoảng 3.150 ha Trong đó, việc ưu tiên phát triển các loài như Bạch truật, Đỗ trọng và Actisô giúp thúc đẩy ngành nông nghiệp địa phương phát triển bền vững.
Vùng trung du miền núi Bắc Bộ, gồm các tỉnh Bắc Giang, Yên Bái, Quảng Ninh và Lạng Sơn, đang phát triển trồng 16 loài dược liệu, trong đó có 13 loài bản địa như Ba kích, Đinh lăng, Địa liền, Gấc, Giảo cổ lam, Ích mẫu, Kim tiền thảo, Hồi, Quế, Sả, Sa nhân tím, Thanh hao hoa vàng, Ý dĩ, cùng 3 loài nhập nội như Bạch chỉ, Bạch truật, Địa hoàng, với diện tích trồng khoảng 4.600 ha Chính quyền ưu tiên phát triển các loài như Ba kích, Gấc, Địa hoàng, đồng thời duy trì và khai thác bền vững các loài Quế và Hồi trên diện tích đã có, góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững của khu vực.
Vùng đồng bằng sông Hồng gồm các tỉnh Hà Nội, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Nam Định và Thái Bình đang đẩy mạnh phát triển trồng 20 loài dược liệu, trong đó có 12 loài bản địa như Cúc hoa, Diệp hạ châu đắng, Địa liền, Đinh lăng, Gấc, Hòe, Củ mài, Hương nhu trắng, Râu mèo, Ích mẫu, Thanh hao hoa vàng, Mã đề, góp phần thúc đẩy ngành y học cổ truyền và phát triển nông nghiệp bền vững Ngoài ra, còn có 08 loài dược liệu nhập nội phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe cộng đồng ngày càng tăng.
Với diện tích trồng khoảng 6.400 ha, các loại cây thuốc như Bạc hà, Bạch chỉ, Bạch truật, Cát cánh, Địa hoàng, Đương quy, Ngưu tất và Trạch tả đang được phát triển mạnh tại địa phương Trong đó, ngành nông nghiệp tập trung ưu tiên phát triển các loài cây thuốc có tiềm năng cao như Ngưu tất, Bạc hà, Hòe và Thanh hao hoa vàng để nâng cao giá trị và thúc đẩy kinh tế bền vững.