1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN Môn học: Những vấn đề lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

26 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Cương Thảo Luận Môn Học: Những Vấn Đề Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Trường học Trung Cấp Chính Trị Hành Chính
Chuyên ngành Những vấn đề lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Thể loại đề cương
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 44,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đại hội lần thứ XII của Đảng 1-2016 với chủ đề “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huysức mạnh toàn dân tộc, dân chủ XHCN; đẩy mạnh toàn diện,đồng bộ công cuộc đổi mới;

Trang 1

Câu 3

Nội dung cơ bản của đường lối Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

1.Từ năm 1954 đến năm 1975

2.Từ 1975 đến 1986

3.Từ năm 1986 đến nay.

Sự bổ sung, phát triển đường lối đổi mới của Đảng từnăm 1986 (Đại hội VI) đến năm 2016 (Đại hội XII) đã diễn ratừng bước dựa trên sự nghiên cứu lý luận và tổng kết thựctiễn, từ yêu cầu của thực tiễn công cuộc đổi mới, trong đó nổibật là ở các Đại hội của Đảng

Sự bổ sung, phát triển đường lối đổi mới của Đảng từnăm 1986 (Đại hội VI) đến năm 2016 (Đại hội XII) đã diễn ratừng bước dựa trên sự nghiên cứu lý luận và tổng kết thựctiễn, từ yêu cầu của thực tiễn công cuộc đổi mới, trong đó nổibật là ở các Đại hội của Đảng

Đại hội VII (1991) đã thông qua "Cương lĩnh xâydựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, đưa

ra được quan niệm tổng quát nhất về xã hội XHCN ở ViệtNam, phương hướng cơ bản để xây dựng xã hội đó; khẳngđịnh chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng

tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng; khẳng địnhphát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận độngtheo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo địnhhướng XHCN; thực hiện đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệquốc tế,

Đại hội VIII (1996) khẳng định nước ta đã ra khỏikhủng hoảng kinh tế- xã hội, tiếp tục làm rõ hơn quan niệm vềchặng đường đầu tiên và chặng đường tiếp theo trong thời kỳquá độ; chỉ rõ mục tiêu đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước làphấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp

Trang 2

văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa

là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội; làm rõ hơnđịnh hướng XHCN trong việc xây dựng nền kinh tế hàng hoánhiều thành phần; tiếp tục khẳng định xây dựng Nhà nướcpháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; nhấn mạnh pháttriển giáo dục- đào tạo và khoa học- công nghệ là quốc sáchhàng đầu

Đại hội IX (2001), xác định mục tiêu chung của cáchmạng nước ta trong giai đoạn hiện tại là “độc lập dân tộc gắnliền với CNXH, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh" (điểm mới trong mục tiêu chung này có thêm

từ "dân chủ); đánh giá sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, toàn diện hơn

vị trí, vai trò tư tưởng Hồ Chí Minh; khẳng định mô hình kinh

tế tổng quát của cả thời kỳ quá độ là nền kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN

Đại hội X (2006), đã rút ra 5 bài học lớn và cho rằngnhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH của Đảng đãngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về côngcuộc đổi mới, về xã hội XHCN và con đường đi lên CNXH ởViệt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản, xác định môhình chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là 8 đặc trưng

Đại hội XI (2011)đã thông qua Cương lĩnh bổ sung,phát triển năm 2011, nêu lên mục tiêu tổng quát khi kết thúcthời kỳ quá độ ở nước ta là: xây dựng được về cơ bản nền tảngkinh tế của CNXH với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tưtưởng, văn hoá phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành mộtnước XHCN ngày càng phồn vinh, hạnh phúc; phải ra sứcphấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệphiện đại, theo định hướng XHCN vào giữa thế kỷ XX

Đại hội lần thứ XII của Đảng (1-2016) với chủ đề

“Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huysức mạnh toàn dân tộc, dân chủ XHCN; đẩy mạnh toàn diện,đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữvững môi trường hoà bình ổn định; phấn đấu sớm đưa nước ta

cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Đó lànhững quan điểm vừa có tính kế thừa, vừa có sự đổi mới sángtạo, mở ra giai đoạn phát triển nhanh và bền vững cho côngcuộc đổi mới theo định hướng XHCN trong thời gian tới

Phần B: Chứng minh bằng những thành tựu nổi bật của thời kỳ chủ nghĩa xã hội ở miền bắc từ 1954 đến

1975 và thời kỳ đổi mới 1986 đến nay.

I Thời kỳ chủ nghĩa xã hội ở miền bắc từ 1954 đến 1975

Trang 3

1 Khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, hoàn thành về cơ bản những nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủ (1954-1957)

Sau chín năm kháng chiến trường kỳ, gian khổ, miềnBắc bị chiến tranh tàn phá nặng nề: 14 vạn hécta ruộng đấthoang hoá; các công trình thuỷ lợi lớn và vừa đều bị phá hỏng;

đê điều không được củng cố; trâu bò, công cụ sản xuất bịcướp phá; thiên tai liên tiếp làm mất mùa, gây đói kém kéo dài

từ vụ mùa năm 1954 đến giữa năm 1955; công nghiệp đìnhđốn; giao thông hư hại nặng; buôn bán sút kém; Đứng trướctình hình đó, Hội nghị Bộ Chính trị tháng 9-1954 đã chỉ rõ:công việc trước mắt là ổn định đời sống nhân dân, chốngchính sách cưỡng ép di cư vào Nam của địch, hàn gắn vếtthương chiến tranh, phục hồi nền kinh tế quốc dân Trong

đó, phục hồi và phát triển sản xuất nông nghiệp là vấn đềtrọng tâm Đây là chủ trương đúng đắn của Đảng, có ý nghĩalớn đối với việc cải thiện đời sống nhân dân, tạo tiền đề chocông cuộc cải tạo nông nghiệp và xây dựng mô hình quản lýnông nghiệp phù hợp với tình hình đất nước

Việc khôi phục kinh tế nông nghiệp có liên quan mậtthiết với việc giải quyết vấn đề ruộng đất nhằm giải phóng lựclượng sản xuất của hàng triệu nông dân, thực hiện khẩu hiệu

"Người cày có ruộng" đã được nêu lên trong Cương lĩnh đầutiên của Đảng Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấphành Trung ương khóa II (5-1955) nêu rõ chủ trương: để củng

cố miền Bắc, trước hết cần phải hoàn thành cải cách ruộng đất

và coi đây là chính sách bất di bất dịch Để đảm bảo cho côngcuộc cải cách ruộng đất giành được thắng lợi, Đảng xác định

rõ phương pháp tiến hành là: dựa hẳn vào bần cố nông, đoànkết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp với phú nông, đánh đổgiai cấp địa chủ, tiêu diệt chế độ phong kiến từng bước Hộinghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳngđịnh: cải cách ruộng đất quan hệ đến củng cố miền Bắc, chẳngnhững đưa lại quyền làm chủ ruộng đất cho nông dân, mà còntạo điều kiện cho công cuộc khôi phục và phát triển sản xuất,củng cố quốc phòng, củng cố cơ sở của Đảng và chính quyền

ở nông thôn, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất

Tháng 12-1955, cải cách ruộng đất đợt 5 được triểnkhai ở 1.732 xã, với 6 triệu dân trong 20 tỉnh và 2 thành phố.Toàn đợt cải cách ruộng đất và giảm tô (từ tháng 9-1954 đếntháng 7-1956) đã đạt được kết quả như sau:

+ Tiến hành 8 đợt giảm tô ở 1.777 xã với 1.106.995

ha ruộng đất; 5 đợt cải cách ruộng đất ở 3.653 xã trên toànvùng đồng bằng, trung du và 280 xã miền núi với 2.435.518

Trang 4

nhân khẩu, can thiệp vào 1,5 triệu hécta; đã tịch thu, trưng thu,trưng mua: 810.000 ha ruộng đất chia cho 2,2 triệu hộ nôngdân gồm 9,5 triệu người (72,8% số hộ ở nông thôn được chiaruộng đất).

+ Hoàn thành việc xoá bỏ giai cấp địa chủ và quan hệsản xuất phong kiến ở miền Bắc; nâng cao quyền làm chủ chonông dân ở nông thôn, giải phóng một bước sức sản xuất trongnông nghiệp, nông thôn

Bên cạnh những thắng lợi to lớn đó, trong khi tiếnhành cải cách ruộng đất và chỉnh Đảng, chúng ta đã phạm một

số sai lầm nghiêm trọng trong chỉ đạo thực hiện

Với tinh thần tự phê bình và phê bình, với ý thức tráchnhiệm cao trước toàn thể nhân dân, Đảng ta một mặt nhanhchóng sửa chữa sai lầm, mặt khác có những biện pháp củng cố

và phát huy thắng lợi Cho đến cuối năm 1957, công tác sửasai đã đưa lại kết quả tốt: nông thôn dần dần ổn định; nội bộĐảng đoàn kết, nhất trí; lòng tin của quần chúng đối với Đảngđược khôi phục; sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh; khốiliên minh công - nông được củng cố

Cùng với việc hoàn thành cải cách ruộng đất, Nhànước đã ban hành các chính sách kinh tế quan trọng, như:khuyến khích phát triển kinh tế hộ nông dân; bảo đảm quyền

sử dụng ruộng đất của nông dân; bảo vệ tài sản của các tầnglớp nhân dân; cho tự do vay mượn và thuê mướn nhân công;khuyến khích các hình thức đổi công; sửa đổi chính sách thuế,nhằm giảm bớt sự đóng góp của nông dân, v.v Những biệnpháp đó đã tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong nền kinh tếmiền Bắc, góp phần hoàn thành công cuộc khôi phục kinh tế,hàn gắn vết thương chiến tranh Đến cuối năm 1957, 85% diệntích ruộng hoang hoá đã được khôi phục, nhiều công trìnhthuỷ lợi được sửa chữa, diện tích tưới nước tăng thêm Sảnlượng lương thực trung bình hằng năm đạt gần 4 triệu tấn,vượt mức trước chiến tranh (năm 1939 chỉ đạt 2,4 triệu tấn).Trong công nghiệp, hầu hết các xí nghiệp quan trọng đượcphục hồi, nâng cấp và xây dựng thêm một số nhà máy mới;chú trọng phát triển tiểu thủ công nghiệp Hệ thống giao thôngđược cải tạo và nâng cấp, nhất là các tuyến đường thuỷ, đường

bộ và bốn tuyến đường sắt nối Thủ đô Hà Nội với các tỉnhphía Bắc, bảo đảm giao lưu giữa các vùng, phục vụ côngcuộc khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội

Các lĩnh vực giáo dục, văn hoá, y tế phát triển nhanh.Sau ba năm đã có hơn một triệu người thoát nạn mù chữ.Tổng số học sinh phổ thông lên tới trên 1 triệu Số học sinhtrung học chuyên nghiệp là 7.783 người Số sinh viên đại học

Trang 5

lên tới 3.664 người, gấp hơn 6 lần số sinh viên thời kỳ chiếntranh, gần 2.000 học sinh được gửi đi học tại các nước xã hộichủ nghĩa.

Hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở được củng

cố, phát huy tốt vai trò là nhân tố quyết định bảo đảm pháthuy quyền làm chủ của nhân dân trong công cuộc khôi phụckinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh Chính quyền cáchmạng đập tan mọi hành động chống phá của bọn phản độngđội lốt tôn giáo (Quỳnh Lưu, Nghệ An), các vụ xúi giục dântộc thiểu số ở một số tỉnh miền núi phía Bắc, đặc biệt là nhóm

"Nhân văn giai phẩm" (1956)

2 Cải tạo xã hội chủ nghĩa, bước đầu phát triển kinh tế và văn hoá (1958-1960)

Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng(khoá II) tháng 11-1958 đã xác định: Nhiệm vụ chung củatoàn Đảng, toàn dân ta là ra sức củng cố miền Bắc, đưa miềnBắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời kiên quyết đấutranh chống Mỹ - Diệm nhằm thực hiện thống nhất nước nhàtrên cơ sở độc lập và dân chủ

Nhiệm vụ trước mắt của miền Bắc là đẩy mạnh cải tạo

xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế cá thể của nôngdân, thợ thủ công và thành phần kinh tế tư bản tư doanh; đồngthời ra sức phát triển thành phần kinh tế quốc doanh, làm chothành phần kinh tế này giữ vai trò nền tảng của nền kinh tếquốc dân

Tiếp đó, Hội nghị lần thứ 16 Ban Chấp hành Trungương Đảng (4-1959) đã xác định những vấn đề cơ bản củađường lối, chính sách hợp tác hoá nông nghiệp Hội nghịkhẳng định chỉ có đi vào con đường hợp tác hoá, làm ăn tậpthể mới khắc phục được những khó khăn trong sản xuất, cảithiện đời sống Phương châm tiến hành hợp tác hoá là: "tíchcực lãnh đạo, vững bước tiến lên; quy hoạch về mọi mặt, sátvới từng vùng; làm tốt, vững và gọn" Hình thức, bước đi, tốc

độ của quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa phải phù hợp, từ thấplên cao, tập dượt cho nông dân và thợ thủ công quen dần vớicung cách làm ăn tập thể, từ tổ đổi công, hợp tác xã bậc thấp,tiến lên hợp tác xã bậc cao Quy mô cũng phải từ nhỏ lên lớn.Việc đẩy mạnh cải tạo quan hệ sản xuất cũ và xây dựng quan

hệ sản xuất mới phải tuân thủ nguyên tắc "tự nguyện, cùng cólợi và quản lý dân chủ"

Thực hiện chủ trương của Đảng, phong trào hợp táchoá được đẩy mạnh từ cuối năm 1958 và nhanh chóng trởthành cao trào Mùa thu năm 1958, tiến hành thí điểm ở 134hợp tác xã, đến cuối năm 1960 miền Bắc về cơ bản đã hoàn

Trang 6

thành cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp, có 41.401hợp tác xã (chủ yếu là hợp tác xã bậc thấp) với 85% số hộnông dân tham gia, chiếm 76% ruộng đất của nông dân.Phong trào hợp tác hoá nhanh chóng hoàn thành là do nhiềunhân tố: sự quyết tâm của Đảng và chính quyền các cấp; khíthế cách mạng và khát vọng của nông dân muốn sớm thoátkhỏi cuộc sống đói nghèo và niềm tin tuyệt đối vào con đườngcách mạng xã hội chủ nghĩa Phong trào hợp tác hoá nôngnghiệp thời gian này đã có tác dụng tích cực trong việc đẩymạnh sản xuất, đưa mức tăng trưởng bình quân của sản xuấtnông nghiệp đạt 5,6%, đưa tổng sản lượng lương thực lên mứccao vào năm 1959 là 5,15 triệu tấn; đời sống vật chất và vănhoá của nhân dân miền Bắc được cải thiện một bước.

Bên cạnh những thành công nổi bật đó, quá trình tiếnhành hợp tác hoá nông nghiệp bộc lộ một số thiếu sót Nhiềuđịa phương chạy theo thành tích, gò ép, áp đặt theo kiểu hànhchính mệnh lệnh, cưỡng bức tập thể hoá tư liệu sản xuất, viphạm nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi, vi phạmnguyên tắc của Đảng về hợp tác hoá Các hợp tác xã mới thiếtlập gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong tổ chức lao động, sảnxuất, quản lý và phân phối Tham ô, lãng phí dần xuất hiện

Nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là do bệnh chủquan, nóng vội trong quá trình hợp tác hoá; đồng nhất hợp táchoá với tập thể hoá; chưa chuẩn bị được những điều kiện cầnthiết cho hợp tác xã tồn tại và phát triển Đặc biệt là cơ sở vậtchất - kỹ thuật còn nghèo nàn, lạc hậu, sản xuất hàng hoá cònyếu kém; cán bộ quản lý vừa yếu lại vừa thiếu, chưa được đàotạo; quần chúng chưa được chuẩn bị tốt về tư tưởng, v.v

Về cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thợ thủ công vànhững người buôn bán nhỏ: đến cuối năm 1960 đã có 88% thợthủ công miền Bắc gia nhập các hợp tác xã tiểu thủ côngnghiệp bậc thấp và bậc cao; 45% người buôn bán nhỏ được tổchức vào hợp tác xã mua bán, gần 5 vạn người được chuyểnsang sản xuất Sau hợp tác hoá, thủ công nghiệp dần dần kếthợp với công nghiệp quốc doanh địa phương, phát huy tácdụng hỗ trợ cho công nghiệp quốc doanh trung ương phục vụsản xuất, đời sống nhân dân và xuất khẩu Khuyết điểm củacông tác cải tạo thợ thủ công và người buôn bán nhỏ là tưtưởng nóng vội, mệnh lệnh, gò ép, không tính đến yêu cầu xãhội và hiệu quả thực tế Vì những điều kiện cho sự ra đời vàtồn tại của các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp và mua bánchưa hình thành nên không ít hợp tác xã làm ăn thua lỗ, thậmchí tan rã

Việc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh được

Trang 7

tiến hành bằng phương pháp hoà bình với phương châm: tốt,vững, gọn Đảng chủ trương chuộc lại những tư liệu sản xuấtcủa giai cấp tư sản theo phương thức "trả dần", đồng thời sắpxếp công ăn việc làm hợp lý cho các nhà tư sản và gia đình họ.Chính sách này về cơ bản được giai cấp tư sản hưởng ứng.Đến tháng 11-1960, đã cải tạo được 2.097 cơ sở thươngnghiệp tư bản tư doanh với tổng số vốn là 25 triệu đồng Song,việc sớm xoá bỏ nền kinh tế nhiều thành phần và "trong sảnxuất kinh doanh không áp dụng những quy luật của sản xuấthàng hoá, đã tác động tiêu cực không ít đến đời sống kinh tế,hạn chế việc phát triển lực lượng sản xuất"1.

Cùng với nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa, Nhànước tăng cường đầu tư xây dựng một bước cơ sở vật chất -

kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Từ năm 1958 đến năm 1960, đãxây dựng 130 công trình công nghiệp trên hạn ngạch như: khugang thép Thái Nguyên, nhà máy Súppe phốt phát LâmThao với tổng số vốn là 3.481 triệu đồng và đã đưa được 86nhà máy, xí nghiệp vào sản xuất Nếu như năm 1957, miềnBắc mới có 97 xí nghiệp thì đến năm 1960 đã có 172 xínghiệp do trung ương quản lý và trên 500 xí nghiệp do địaphương quản lý Công nghiệp quốc doanh tăng từ 10,8% năm

1955 lên 52,4% năm 1960 trong tổng sản lượng công nghiệp

Những thành quả kinh tế tạo thêm điều kiện cho sựnghiệp văn hoá, giáo dục, y tế phát triển Hệ thống giáo dụcphổ thông phát triển mạnh, số học sinh năm 1960 tăng 80 lần

so với năm 1957 Cơ sở y tế năm 1960 tăng hơn 11 lần so vớinăm 1955 Đời sống văn hoá, trình độ hiểu biết của các tầnglớp nhân dân được nâng lên rõ rệt

3 Thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1965)

(1961-Từ ngày 5 đến ngày 10-9-1960, Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ III của Đảng được tiến hành tại Hà Nội Đại hội

đã thảo luận và thông qua đường lối cách mạng xã hội chủnghĩa ở miền Bắc

Đại hội xác định đặc điểm chi phối toàn bộ cuộc cáchmạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là đất nước ta còn tạm thời

bị chia làm hai miền Vì vậy, sự nghiệp cách mạng xã hội chủnghĩa ở miền Bắc trước hết phải nhằm mục tiêu biến miền Bắcthành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng cả nước, hậu thuẫncho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.Nhận thức rõ xuất phát điểm thấp của miền Bắc, Đại hội xácđịnh cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa của miền Bắc là mộtquá trình cải biến về mọi mặt Đó là quá trình đấu tranh gay

go giữa hai con đường: xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa

Trang 8

-trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá.Trong đó, trọng tâm là đưa miền Bắc từ một nền kinh tế chủyếu dựa trên chế độ sở hữu cá thể về tư liệu sản xuất tiến lênnền kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ sở hữu toàn dân

và tập thể, từ nền sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất lớn xã hội chủnghĩa Cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội

về kinh tế được xem là hai mặt của cuộc cách mạng xã hội chủnghĩa về quan hệ sản xuất Hai mặt này có quan hệ tác độngqua lại và thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển, trong đó cải tạo

xã hội chủ nghĩa cần đi trước một bước để mở đường

Đại hội đã xác định: muốn cải biến tình trạng kinh tếlạc hậu của nước ta thì không có con đường nào khác ngoàicon đường công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa Công nghiệphoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, nhằm xây dựng cơ sở vậtchất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội

Đồng thời với cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa vềkinh tế, phải tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trênlĩnh vực tư tưởng và văn hoá, nhằm thay đổi căn bản đời sống

tư tưởng, tinh thần và văn hoá của xã hội, phù hợp với chế độ

xã hội chủ nghĩa

Phương châm lúc này là đưa miền Bắc “tiến nhanh,tiến mạnh, tiến vững chắc” lên chủ nghĩa xã hội, nhằm xâydựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc ở miền Bắc và củng cốmiền Bắc thành cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thốngnhất nước nhà

Trên cơ sở đường lối chung, Đại hội lần thứ III đãvạch ra phương hướng, nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm lần thứnhất (1961-1965) Phương hướng của kế hoạch 5 năm là

"chúng ta cần phải chuyển sang lấy xây dựng chủ nghĩa xã hộilàm trọng tâm, thực hiện một bước công nghiệp hoá xã hộichủ nghĩa, xây dựng bước đầu cơ sở vật chất và kỹ thuật củachủ nghĩa xã hội, đồng thời hoàn thành cải tạo xã hội chủnghĩa, làm cho nền kinh tế miền Bắc nước ta trở thành mộtnền kinh tế xã hội chủ nghĩa"2

Nhiệm vụ cơ bản của kế hoạch 5 năm là:

- Ra sức phát triển công nghiệp và nông nghiệp, thựchiện ưu tiên phát triển công nghiệp nặng; đồng thời ra sứcphát triển nông nghiệp một cách toàn diện, phát triển côngnghiệp thực phẩm và công nghiệp nhẹ, phát triển giao thôngvận tải, tăng cường thương nghiệp quốc doanh và thươngnghiệp hợp tác xã, chuẩn bị cơ sở để đưa nước ta trở thànhmột nước công nghiệp và nông nghiệp xã hội chủ nghĩa

- Hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối

Trang 9

với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và côngthương nghiệp tư bản tư doanh, tăng cường mối quan hệ giữa

sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, mở rộng quan hệ sản xuất

xã hội chủ nghĩa trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân

- Nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân, đẩy mạnhcông tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; nâng cao năng lực quản lýkinh tế của cán bộ, công nhân và nhân dân lao động, tăngcường đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề; xúc tiến công táckhoa học kỹ thuật, xúc tiến thăm dò tài nguyên thiên nhiên vàtiến hành điều tra cơ bản, nhằm phục vụ nhu cầu phát triểnkinh tế và văn hoá xã hội chủ nghĩa

- Cải thiện thêm một bước đời sống vật chất và vănhoá của nhân dân lao động, làm cho nhân dân ta được ấm no,tăng thêm sức khoẻ, có thêm nhà ở và được học tập, mở mangthêm phúc lợi công cộng, xây dựng đời sống mới ở nông thôn

và thành thị

- Đi đôi và kết hợp với phát triển kinh tế cần ra sứccủng cố quốc phòng, tăng cường an ninh trật tự, bảo vệ sựnghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương khoá III gồm

48 uỷ viên chính thức và 31 uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trịgồm 11 uỷ viên chính thức và 2 uỷ viên dự khuyết Hồ ChíMinh được bầu làm Chủ tịch Đảng, Lê Duẩn được bầu làm Bíthư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Để thực hiện nhiệm vụ, phương hướng đã đề ra,Trung ương Đảng đã tiến hành nhiều hội nghị cụ thể hoáđường lối của Đại hội Năm 1961, Đảng ta họp các hội nghịTrung ương: về công tác xây dựng Đảng trong quá trình lãnhđạo thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa (4-1961),

về phát triển nông nghiệp (7-1961), về phát triển công nghiệp(7-1961), về công tác thương nghiệp và giá cả (12-1964), v.v Các hội nghị này đều phân tích rõ mối quan hệ giữa ba mặtcủa cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta: cách mạng vềquan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng

tư tưởng và văn hoá (thường gọi là ba cuộc cách mạng) vànhiều vấn đề quan trọng khác như tích luỹ vốn ban đầu, mốiquan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng, giữa xây dựng kinh tế vàcủng cố quốc phòng, giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữacông nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ, giữa công nghiệp trungương và công nghiệp địa phương

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân miền Bắc đãhoà chung vào không khí thi đua sôi nổi, lao động sáng tạo

Do đó, mặc dù kế hoạch 5 năm mới thực hiện được trong 4năm và phải bước vào chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất

Trang 10

của đế quốc Mỹ, nhưng với sự giúp đỡ to lớn của các nước xãhội chủ nghĩa và sự nỗ lực của nhân dân, miền Bắc đã căn bảnhoàn thành các mục tiêu chủ yếu của kế hoạch đề ra.

Về nông nghiệp, tiếp tục hoàn thành cải tạo xã hội chủnghĩa, đưa 88,8% số hộ nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp,trong đó 71,7% số hộ vào hợp tác xã bậc cao Tổng thu bìnhquân trên một hécta canh tác tăng 43,7%; cuối năm 1965 có

162 xã, gần 700 hợp tác xã đạt và vượt trên 5 tấn thóc trên 1hagieo trồng hai vụ; lương thực bình quân đầu người đạt15kg/tháng; đời sống xã viên được cải thiện; thu nhập củangười lao động từ kinh tế tập thể tăng khá Phong trào thâmcanh ở những vùng trọng điểm lúa được đẩy mạnh và xuấthiện nhiều điển hình tốt

Cơ sở vật chất - kỹ thuật trong nông nghiệp tăng đángkể: nhiều công trình thuỷ lợi lớn đã được xây dựng, tưới tiêucho hơn nửa triệu hécta ruộng đất; vốn đầu tư cho xây dựng

cơ bản trong nông nghiệp tăng 4,9 lần; điện cấp cho nôngnghiệp tăng 9 lần; số máy kéo tiêu chuẩn tăng 11 lần so vớithời kỳ 1958-1960; vốn bình quân cho 1 ha canh tác tăng 2,1lần; hệ thống các công trình thuỷ lợi, sửa chữa cơ khí, sânphơi, sức kéo, chuồng trại, v.v của hợp tác xã tiếp tục tăng.Đến năm 1965, bình quân cứ 6 hợp tác xã có 1 máy bơmnước, 3 hợp tác xã có 1 máy tuốt lúa, 10 hợp tác xã có 1 máyxay xát, bình quân mỗi hợp tác xã có 9 nhà kho (của đội sảnxuất) và 436m2 sân phơi,

Bên cạnh thành tích đó, việc đưa ồ ạt các hợp tác xãbậc thấp thành các hợp tác xã bậc cao và quy mô lớn đã làmcho những yếu kém trước đó của các hợp tác xã tiếp tục bộclộ: trình độ quản lý và điều hành của đội ngũ cán bộ khôngđáp ứng được đòi hỏi của thực tế; tham ô, lãng phí vẫn cònphổ biến; tốc độ tăng thu nhập chậm hơn tốc độ tăng chi phísản xuất; hiệu quả kinh tế giảm dần; số hợp tác xã yếu kémcòn lớn, chiếm 18% tổng số hợp tác xã; tỷ lệ xã viên xin rahợp tác xã tăng Nguyên nhân của hiện trạng này là do quan

hệ sản xuất đẩy lên quá cao, không phù hợp với trình độ vàsức phát triển của lực lượng sản xuất, dẫn đến làm suy yếu sảnxuất nông nghiệp mặc dù mới được giải phóng sau cải cáchruộng đất

Nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên, ngày

19-2-1963, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết về cuộc vận động cải tiếnquản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật, nhằm phát triển nôngnghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc Cuộc vận động này

có ba yêu cầu lớn: 1- Cải tiến quản lý hợp tác xã; 2- Cải tiến

kỹ thuật và bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của hợp

Trang 11

tác xã; 3- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đốivới nông nghiệp và hợp tác xã sản xuất nông nghiệp Cuộcvận động này được triển khai sâu rộng trong tất cả các địaphương, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợptác xã nông nghiệp.

Về công nghiệp, bước đầu xây dựng được một số cơ

sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Những cơ sở đầutiên của các ngành công nghiệp chủ yếu như điện, cơ khí,luyện kim, hoá chất, nhiên liệu, vật liệu xây dựng, đã đượcđưa vào sản xuất Đến năm 1965, đã có 1.045 xí nghiệp, nhàmáy lớn; trong đó có 250 xí nghiệp, nhà máy do trung ươngquản lý Công nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp cũng phát triểnmạnh, đã sản xuất được 12.000 mặt hàng, bảo đảm được 90%hàng tiêu dùng của xã hội và một phần tư liệu sản xuất phục

vụ nông nghiệp mà phần lớn trước đây phải nhập khẩu

Trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và phát triển côngnghiệp, chúng ta còn mắc một số khuyết điểm, nhất là giáođiều về đường lối công nghiệp hoá, quá nhấn mạnh đến việc

ưu tiên phát triển công nghiệp nặng; cơ cấu đầu tư chưa hợp

lý, đầu tư quá nhiều cho xây dựng cơ bản nhưng đầu tư chonông nghiệp và công nghiệp nhẹ lại không tương xứng vớichủ trương đề ra; nhận thức về mối quan hệ giữa xây dựngkinh tế với củng cố quốc phòng còn hạn chế, chưa tính đếnkhả năng bảo vệ khi Mỹ ném bom đánh phá miền Bắc, vì vậykhi chiến tranh phá hoại nổ ra đã bị tổn thất lớn Đặc biệt làquản lý kinh tế nói chung và quản lý công nghiệp nói riêngtheo cơ chế hành chính, quan liêu, bao cấp đã bộc lộ nhiềumặt yếu kém, gây trở ngại cho phát triển sản xuất

Trước tình hình đó, ngày 24-7-1963, Bộ Chính trị chủtrương mở cuộc vận động Nâng cao ý thức trách nhiệm, tăngcường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật; chống tham

ô, lãng phí, quan liêu trong công nghiệp và thương nghiệp (gọi

là "ba xây, ba chống") Yêu cầu của cuộc vận động là thựchiện một cuộc chuyển biến cách mạng trên các mặt tư tưởng

và tổ chức, đưa công tác quản lý trong công nghiệp và thươngnghiệp lên một trình độ mới, nâng cao chất lượng, hạ giáthành sản phẩm, nâng cao đời sống nhân dân Cuộc vận độngnày kéo dài trong ba năm (1963-1965), qua nhiều đợt, tuy cólàm chuyển biến tình hình nhưng vẫn không đạt được kết quảnhư mong muốn Nguyên nhân chủ yếu là cơ chế quản lý kếhoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp đã làm triệt tiêu độnglực của sản xuất, kinh doanh

Sự nghiệp phát triển về văn hoá, giáo dục, y tế trongthời kỳ này đạt thêm nhiều thành tích mới: trình độ văn hoá,

Trang 12

khoa học, kỹ thuật của cán bộ và nhân dân được nâng lên rõrệt; số học sinh phổ thông tăng gấp 3,5 lần, số sinh viên đạihọc và trung học tăng 25 lần Hầu hết các xã đều có trườngphổ thông cấp I, cấp II, các huyện có trường phổ thông cấp III.Năm 1965 có 18 trường đại học, với 26.100 sinh viên; đã có21.332 cán bộ tốt nghiệp đại học và 55.000 cán bộ tốt nghiệptrung học chuyên nghiệp.

Công tác y tế, bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân được coitrọng Đến năm 1965, 70% số huyện có bệnh viện, 90% số xãđồng bằng và 78% số xã miền núi có trạm y tế Số bác sĩ,dược sĩ từ năm 1960 đến năm 1965 tăng 5 lần (năm 1965 có1.525 bác sĩ và 8.043 y sĩ, trong đó có 3.220 y sĩ phục vụ ởxã)

Đời sống của nhân dân đã được nâng lên rõ rệt Bìnhquân thu nhập quốc dân nói chung tăng lên 6,1% và bình quântheo đầu người tăng 3,4%

Trong quá trình thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhấttuy còn bộc lộ những hạn chế, nhược điểm về xác định mụctiêu, bước đi, cũng như việc tổ chức chỉ đạo các ngành kinh tếchủ yếu, song những thành tựu đạt được là rất quan trọng,đem lại những biến đổi quan trọng trên tất cả các lĩnh vực.Đánh giá những thắng lợi đó, tại Hội nghị chính trị đặc biệt(3-1964), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Miền Bắcnước ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sửdân tộc Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới"

4 Chuyển hướng xây dựng kinh tế trong hoàn cảnh "vừa sản xuất, vừa chiến đấu"

Nhận thức rõ vai trò của miền Bắc đối với cuộc khángchiến chống Mỹ, cứu nước của miền Nam, từ tháng 3-1964đến tháng 8-1964, đế quốc Mỹ đã lập kế hoạch và dựng lên

“Sự kiện vịnh Bắc Bộ” để tiến hành cuộc chiến tranh phá hoạilần thứ nhất đối với miền Bắc nước ta Trong điều kiện chiếntranh lan rộng, tháng 3-1965, Hội nghị lần thứ 11 của Trungương Đảng đã đề ra nhiệm vụ cách mạng mới của quân và dânmiền Bắc là:

- Chuyển hướng xây dựng kinh tế phù hợp với tìnhhình có chiến tranh phá hoại, bảo đảm yêu cầu chiến đấu vàsẵn sàng chiến đấu, tích cực chi viện cho miền Nam, đồng thờivẫn bảo đảm phù hợp với phương hướng lâu dài về côngnghiệp hoá, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa

xã hội và chú ý đúng mức đến các nhu cầu thiết yếu về đờisống của nhân dân

- Tăng cường nhanh chóng lực lượng quốc phòng chokịp với sự phát triển tình hình có chiến tranh trong cả nước, ra

Trang 13

sức tăng cường công tác phòng thủ để bảo vệ miền Bắc Cốgắng hạn chế đến mức thấp nhất sự thiệt hại do địch gây ra vàgây thiệt hại cho địch đến mức cao nhất Nắm vững phươngchâm dựa vào sức mình là chính, đồng thời chú trọng tranhthủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa.

- Chi viện cao nhất cho miền Nam để đánh bại cácchiến lược chiến tranh xâm lược của Mỹ trên chiến trườngmiền Nam

- Kịp thời chuyển hướng tư tưởng và tổ chức đi đôivới việc chuyển hướng kinh tế và tăng cường quốc phòng chophù hợp với tình hình mới

Việc chuyển hướng nêu trên là một chủ trương đúngđắn của Đảng, phản ánh quyết tâm của Đảng và nhân dân tatrong việc kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa, tiếp tục tăngcường sức mạnh vật chất và tinh thần của miền Bắc, làm chỗdựa vững chắc, cùng miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâmlược

Từ năm 1965 đến cuối năm 1968, giặc Mỹ đã huyđộng lực lượng không quân và hải quân rất lớn tiến hànhchiến tranh phá hoại ở miền Bắc Chúng trút hơn 1 triệu tấnbom đạn tàn phá nhiều thành phố, thị xã, thị trấn, xóm làng;huỷ hoại nhiều công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi,bệnh viện, trường học, nhà ở; giết hại nhiều dân thường, gâynên những tội ác tày trời đối với nhân dân ta

Quán triệt đường lối của Đảng, phong trào thi đuachống Mỹ, cứu nước diễn ra sôi nổi với khẩu hiệu "mỗi ngườilàm việc bằng hai" do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động từ Hộinghị chính trị đặc biệt năm 1964 Các lực lượng vũ trang nêucao khẩu hiệu "Nhằm thẳng quân thù mà bắn"; công nhân thựchiện khẩu hiệu "Tay búa tay súng"; phấn đấu để đạt ba điểmcao trong sản xuất (năng suất cao, chất lượng tốt, tiết kiệmnhiều), dũng cảm trong chiến đấu và bảo vệ nhà máy, xínghiệp; nông dân xã viên các hợp tác xã thực hiện khẩu hiệu

"Tay súng tay cày", phấn đấu mỗi lao động đạt 5 tấn thóc, haicon lợn trên 1ha gieo trồng Đoàn Thanh niên Lao động cóphong trào "Ba sẵn sàng" (sẵn sàng chiến đấu và phục vụchiến đấu; sẵn sàng đi bất cứ nơi nào và làm bất cứ việc gì mà

Tổ quốc cần; sẵn sàng tòng quân, lên đường diệt Mỹ); phụ nữ

có phong trào "Ba đảm đang" (sản xuất, công tác thay namgiới đi chiến đấu; lo việc nhà để chồng con phục vụ trongquân đội; phục vụ chiến đấu và chiến đấu tại chỗ chống chiếntranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc); trí thức có phong trào "Baquyết tâm" (phục vụ tốt sản xuất, chiến đấu, đời sống; đẩymạnh cách mạng kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá;

Ngày đăng: 16/12/2022, 10:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w