1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ VNUA nghiên cứu tác dụng ức chế vi khuẩn in vitro và ứng dụng điều trị bệnh viêm tử cung bò của nano bạc và dịch chiết cây bồ công anh lactuca indica l

86 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tác dụng ức chế vi khuẩn in vitro và ứng dụng điều trị bệnh viêm tử cung bò của nano bạc và dịch chiết cây bồ công anh Lactuca indica L.
Tác giả Nguyễn Thị Thúy
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thanh Hải, PGS.TS. Nguyễn Văn Thanh
Trường học Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Thú y
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 2,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN THỊ THÚY “NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG ỨC CHẾ VI KHUẨN IN VITRO VÀ ỨNG DỤNG ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM TỬ CUNG BÒ CỦA NANO BẠC VÀ DỊCH CHIẾT CÂY BỒ CÔNG ANH LACTUCA

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THÚY

“NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG ỨC CHẾ VI KHUẨN IN VITRO

VÀ ỨNG DỤNG ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM TỬ CUNG BÒ CỦA NANO BẠC VÀ DỊCH CHIẾT CÂY BỒ CÔNG ANH

LACTUCA INDICA L.”

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thanh Hải

PGS.TS Nguyễn Văn Thanh

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm

ơn và các thông tin trích dẫn, tài liệu tham khảo đều được chỉ rõ nguồn gốc trong danh mục tài liệu tham khảo của luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thúy

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực thực sự của bản thân, tôi đã luôn nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo trong Khoa Thú y, Khoa Công nghệ Sinh học, Ban quản lý đào tạo - Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Văn Thanh và PGS.TS Ngyễn Thanh Hải đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm của ban lãnh đạo, các thầy cô giáo trong

bộ môn Ngoại Sản - Khoa Thú y, bộ môn Công nghệ Sinh học Thực vật – Khoa Công nghệ Sinh học; tập thể cán bộ, kỹ thuật viên phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Sinh học Thú y đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn

bè, những người luôn tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thúy

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình ảnh viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1 1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

Phần 2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Bệnh viêm tử cung ở trâu bò cái và chẩn đoán bệnh 4

2.1.1 Viêm tử cung 4

2.1.1.1 Viêm nội mạc tử cung (Endometritis) 4

2.1.1.2 Viêm cơ tử cung (Myomestritis Puerperalis) 6

2.1.1.3 Viêm tương mạc tử cung (Perimestritis Puerperalis) 6

2.1.2 Viêm cổ tử cung (Cervitis) 7

2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung ở bò sữa 7

2.2.1 Mùa vụ 7

2.2.2 Vệ sinh thú y 8

2.2.3 Phương pháp phối giống 8

2.2.4 Quá trình đẻ 8

2.3 Hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn và tồn dư kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi 8

2.3.1 Hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn 8

2.3.2 Tồn dư kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi 11

2.4 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm tử cung trên thế giới và tại Việt Nam 13

2.4.1 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm tử cung trên thế giới 13

2.4.2 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm tử cung tại Việt Nam 14

Trang 5

2.5 Tình hình nghiên cứu và sử dụng sản phẩm thảo dược trên thế giới và Việt

Nam 15

2.5.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng sản phẩm thảo dược trên thế giới 15

2.5.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng sản phẩm thảo dược ở Việt Nam 16

2.5.3 Một số nghiên cứu ứng dụng thảo dược điều trị bệnh viêm tử cung 19

2.6 Dược liệu Bồ Công Anh 21

2.6.1 Nguồn gốc phân loại 21

2.6.2 Mô tả thực vật 22

2.6.3 Phân bố, thu hái và bào chế 22

2.6.4 Thành phần hóa học 23

2.6.5 Tác dụng dược lý 23

2.7 Nano bạc và các ứng dụng trong nhân y và thú y 24

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 30

3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30

3.2 Đối tượng nghiên cứu 30

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu 30

3.2.2 Cao khô dược liệu Bồ công anh 30

3.2.3 Vi khuẩn nghiên cứu 30

3.2.4 Nano bạc 30

3.2.5 Thiết bị, dụng cụ và hóa chất thí nghiệm 31

3.2.5.1 Thiết bị, dụng cụ 31

3.2.5.2 Hóa chất - môi trường 31

3.3 Nội dung nghiên cứu 31

3.3.1 Định tính flavonoid 33

3.3.2 Định tính tanin 33

3.3.3 Định tính alkaloid bằng thuốc thử chung 33

3.3.4 Định tính carotenoid 34

3.3.5 Định tính polyphenol 34

3.3.6 Định tính đường khử 34

3.3.7 Định tính chất nhầy 34

3.3.8 Định tính coumarin 34

3.4 Phương pháp đánh giá khả năng kháng khuẩn invitro của nano bạc 34

3.5 Phương pháp đánh giá khả năng kháng khuẩn in vitro của dịch chiết thực vật khi phối trộn với nano bạc 35

Trang 6

Phần 4 Kết quả và thảo luận 36

4.1 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên bò sữa ở một cố địa phương thuộc huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 36

4.2 Kết quả phân lập và giám định thành phần vi khuẩn trong dịch tử cung của bò sữa 37

4.2.1 Kết quả xác định sự biến đổi về tổng số vi khuẩn hiếu khí có trong dịch tử cung của bò sữa 38

4.2.2 Kết quả xác định sự biến đổi về thành phần vi khuẩn hiếu khí có trong dịch viêm tử cung của bò sữa 39

4.3 Đánh giá hiệu suất và định tính các nhóm chất trong cao khô dịch chiết Bồ Công Anh sử dụng các dung môi tách chiết khác nhau 41

4.3.1 Hiệu suất tách chiết cao khô dịch chiết Bồ Công Anh sử dụng các dung môi tách chiết khác nhau 41

4.3.2 Định tính xác định một số nhóm hoạt chất hòa tan trong cao khô dịch chiết lá Bồ Công Anh 44

4.4 Đánh giá khả năng ức chế vi khuẩn in vitro của cao khô dịch chiết trong các dung môi khác nhau với vi khuẩn phân lập từ dịch viêm tử cung bò 48

4.4.1 Khả năng ức chế in vitro của cao khô dịch chiết sử dụng các dung môi khác nhau trên vi khuẩn Staphylococcus spp phân lập từ dịch viêm tử cung bò 48

4.4.2 Khả năng ức chế in vitro của cao khô dịch chiết sử dụng các dung môi khác nhau trên vi khuẩn Streptococcus spp phân lập từ dịch viêm tử cung bò 51

4.4.3 Khả năng ức chế in vitro của cao khô dịch chiết sử dụng dung môi ethyl acetate trên vi khuẩn phân lập từ dịch viêm tử cung bò khi pha loãng 54

4.5 Đánh giá khả năng ức chế vi khuẩn Streptococcus spp và Staphylococcus spp của nano bạc 57

4.6 Đánh giá tác dụng ức chế vi khuẩn in vitro khi phối hợp nano bạc và cao dịch chiết Bồ Công Anh 59

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 65

5.1 Kết luận 65

5.2 Kiến nghị 66

Tài liệu tham khảo 67

Tài liệu tiếng Việt 67

Tài liệu tiếng Anh 70

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nghĩa Tiếng Việt CFU Colony Forming Units

DC Dịch chiết DNA Deoxyribonucleic acid (gen sợi kép) DMSO Dimethyl sulphoxit

ĐV Động vật NSP Non structural protein (Protein phi cấu trúc)

LB Luria–Bertani

PƯ Phản ứng VTC Viêm tử cung VHHK Vi khuẩn hiếu khí

VK Vi khuẩn NSP Nanosilver pratices HIV Human Immuno-deficiency Virus

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Tỷ lệ bò sữa mắc bệnh VTC tại một số xã thuộc huyện Ba Vì, HN 36

Bảng 4.2 Tổng số vi khuẩn hiếu khí có trong dịch tử cung của bò 38

Bảng 4.3 Tần suất xuất hiện của một số VKHK trong dịch tử cung 39

Vi khuẩn 39

Bảng 4.4 Hiệu suất tách chiết Bồ công anh trong các loại dung môi khác nhau 42

Bảng 4.5 Kết quả định tính sơ bộ thành phần hóa học của cao khô dịch chiết Bồ công anh sử dụng dung môi khác nhau 44

Bảng 4.6 Khả năng ức chế in vitro của cao khô dịch chiết Bồ công anh sử dụng các dung môi khác nhau với vi khuẩn Staphylococcus spp 48

Bảng 4.7 Khả năng ức chế in vitro của cao khô dịch chiết Bồ công anh sử dụng các dung môi khác nhau với vi khuẩn Streptococcus spp 52

Bảng 4.8 Khả năng ức chế vi khuẩn khi pha loãng cao khô dịch chiết dược liệu Bồ công anh 55

Bảng 4.9 Kết quả khảo sát hoạt tính diệt khuẩn in vitro của dung dịch nano bạc đối với vi khuẩn Streptococcus spp và Staphylococcus spp 58

Bảng 4.10 Khả năng ức chế VK khi pha loãng cao khô dịch chiết dược liệu Bồ công anh (sử dụng dung môi ethanol 70%) phối hợp với nano bạc 60

Bảng 4.11 Kết quả thử nghiệm điều trị bò mắc bệnh viêm tử cung 62

Trang 9

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 4.1 Tỷ lệ bò sữa mắc bệnh VTC ở một số xã thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội 37 Hình 4.2 Dược liệu Bồ công anh và bột 41 Hình 4.3 Hiệu suất tách chiết Bồ công anh trong các loại dung môi khác nhau 42 Hình 4.4 Phản ứng định tính xác định các nhóm hoạt chất có trong cao dịch chiết

Bồ công anh 47 Hình 4.5 Khả năng ức chế in vitro của cao khô dịch chiết sử dụng các dung môi

khác nhau với vi khuẩn Staphylococcus spp 49 Hình 4.6 Khả năng ức chế vi khuẩn Staphylococcus spp in vitro của các cao khô

dịch chiết Bồ công anh 51 Hình 4.7 Khả năng ức chế in vitro của cao khô dịch chiết Bồ công anh sử dụng

các dung môi khác nhau với vi khuẩn Streptococcus spp 52 Hình 4.8 Khả năng ức chế VK Streptococcus spp in vitro của cao khô dịch chiết

Bồ công anh 54 Hình 4.9 Khả năng ức chế vi khuẩn in vitro khi pha loãng của cao khô dịch chiết

Bồ công anh 56 Hình 4.10 Tác dụng ức chế VK in vitro của Nano bạc khi pha loãng 58 Hình 4.11 So sánh khả năng ức chế vi khuẩn in vitro của cao dịch chiết Bồ công

anh, có và không bổ sung nano bạc 60 Hình 4.12 Kết quả điều trị thử nghiệm trên bò mắc bệnh VTC 63

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Thị Thúy Tên luận văn: “Nghiên cứu tác dụng ức chế vi khuẩn in vitro và ứng dụng điều trị bệnh viêm tử cung bò bằng nano bạc và dịch chiết cây Bồ Công Anh Lactuca indica L.”

Ngành: Thú y Mã số: 60 64 01 01 Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu Phân lập và đánh giá tỷ lệ các loài vi khuẩn có trong dịch tử cung bò Đánh giá khả năng ức chế vi khuẩn in vitro của cao khô dịch chiết cây Bồ Công Anh sử dụng các dung môi khác nhau và nano bạc đối với vi khuẩn Staphylococus spp và Streptococus spp phân lập từ dịch viêm tử cung bò

Thử nghiệm hiệu quả điều trị của cao khô dịch chiết Bồ Công Anh và nano bạc

Phương pháp nghiên cứu Lấy mẫu dịch viêm tử cung bò Sau đó xác định vi khuẩn gây bệnh viêm tử cung

bò bằng phương pháp phân lập vi khuẩn

Kiểm tra tác dụng diệt khuẩn của các dịch chiết bằng phương pháp kháng sinh đồ khuếch tán trên đĩa thạch của Kirby-Bauer

Pha dịch chiết nồng độ 100mg/ml Phối trộn dịch chiết với nano bạc ở các nồng

độ pha loãng khác nhau cho vào các ống nghiệm Hút 100µl hỗn hợp dịch chiết thực vật

và nano bạc nhỏ lên các lỗ thạch trong đĩa môi trường đã được chang khuẩn Sau đó nuôi ủ ở điều kiện 370C, sau 24h lấy ra đo đường kính vòng vô khuẩn, đánh giá khả năng kháng khuẩn của hỗn hợp dịch chiết thực vật và nano bạc dựa vào đường kính vòng vô khuẩn

Kết quả chính và kết luận Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh giá khả năng ức chế vi khuẩn in vitro của cao khô dịch chiết dược liệu Bồ Công Anh đối với 02 chủng vi khuẩn (Staphylococcus spp., và Streptococcus spp.) phân lập từ dịch Viêm tử cung bò Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu suất tách chiết dược liệu Bồ Công Anh sử dụng 05 dung môi khác nhau dao động lớn từ 7,2 % (dung môi methanol) đến 12,34% (dung môi n-hexan)

Cao khô dịch chiết Bồ Công Anh sử dụng dung môi ethyl acetate có hoạt tính ức chế vi khuẩn tốt nhất trên cả hai chủng vi khuẩn phân lập từ dịch viêm tử cung Nồng độ ức chế tối thiểu của cao khô dịch chiết sử dụng dung môi ethyl acetate đối với vi khuẩn Streptococcus spp là 0,20 mg/ml, với vi khuẩn Staphylococcus spp là 0,78 mg/ml

Trang 11

Nano bạc có khả năng ức chế in vitro đối với cả 02 chủng vi khuẩn nghiên cứu

Bổ sung nano bạc vào cao khô dịch chiết Bồ Công Anh làm tăng khả năng ức chế vi khuẩn

in vitro của cao dịch chiết Có thể sử dụng cao dịch chiết Bồ Công Anh kết hợp với nano bạc trong điều trị bệnh viêm tử cung trên bò cho tỷ lệ khỏi bệnh đạt 88,89% và thời gian điều trị trung bình là 04 ngày

Từ khóa: dịch chiết lá dược liệu, ức chế vi khuẩn, Staphylococcus spp., Streptococcus spp Viêm tử cung bò

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Nguyen Thi Thuy Thesis title: “Study on In vitro antibacterial effect and application to treatment of metritis in dairy cows by silver nanoparticles and extracts of Lactuca indica L.”

Major: Veterinary Code: 60 64 01 01 Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives

Bacterial species in cow metritis succus were isolated and evaluated their ratio

The present study aimed to examine the effect of herbsextract Lactuca indica L, extracted by several different solvents, and evaluating the anti-bacterial effect of the extracts on Staphylococcus spp and Streptococcus spp which were isolated from cow metritis Effect of the treatment using dry Lactuca indica L extracts and silver nanoparticles were tested

Materials and Methods Took succus samples from cow metritis The bacteria causing cow metritis inflammation then were identified by method of bacterial isolation

The bactericidal effect of the extracts was examined by Kirby-Bauer disc diffusion test on agar

The herbsextracts were prepared with the concentration of 100 mg/ml The herbsextracts were mixed with silver nanoparticles at different dilution concentrations into the test tubes The mixture of plant herbsextracts and silver nanoparticles were sucked out 100μl and dropped onto holes of agar plates cultured bacteria Then, incubation was carried out at 370C After 24 hours, diameters of the sterile rings were measured to evaluate the antibacterial effect of the mixture of plant extracts and silver nanoparticles

Main findings and conclusions This study was conducted to evaluate in vitro bacterial inhibition of dry Lactuca indica L extracts for two strains of bacteria (Staphylococcus spp and Streptococcus spp.) isolated from cow metritis The results showed that Lactuca indica L extraction efficiencies using 05 different solvents varied in a large range from 7.2% (methanol solvent) to 12.34% (n-hexane solvent) The dry Lactuca indica L extract using ethyl acetate solvent had the best antibacterial activity against both strains isolated from cow

Trang 13

metritis Minimum inhibitory concentration of the dry extract using ethyl acetate solvent for Streptococcus spp was 0.20 mg/ml, for Staphylococcus spp was 0.78 mg/ml

Silver nanoparticles had in vitro inhibitory effect on both strains Addition of nano silver to dry Lactuca indica L extract increased in vitro antibacterial ability of the extract Treatment of cow metritis using dry Lactuca indica L extracts combined with silver nanoparticles can recover cows up to the ratio of 88.89% and average treatment time was 04 days

Key words: Extract of herbs, Anti-bacterial effect, Staphylococcus spp., Streptococcus spp., cow metritis

Trang 14

Việt Nam có chi phí sản xuất ở mức trung bình do chăn nuôi không tập trung và quy mô nhỏ (không đạt được lợi ích kinh tế theo quy mô), sản lượng thấp (12-15 lít/con/ngày), giá thức ăn chăn nuôi và thú y ở mức cao, gặp nhiều khó khăn theo Báo cáo chuyên sâu ngành Sữa Việt Nam Quý 2/2016 (2017)

Để giảm bớt những khó khăn trong chăn nuôi bò sữa, nhà nước đã có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ kỹ thuật, tài chính, song hoạt động chăn nuôi bò sữa vẫn chưa phát triển để tận dụng tối đa điều kiện nhân lực và nguyên liệu thức

ăn như ở nước ta Chính do tập quán và truyền thống chăn nuôi, cùng với sự hiểu biết chưa tốt về kỹ thuật chăm sóc, khai thác và phòng chữa bệnh cho đàn bò sữa,

là một trong những nguyên nhân khiến chúng mắc các bệnh, đặc biệt là bệnh về sinh sản như viêm tử cung Viêm tử cung là bệnh hay xảy ra trên đàn bò sữa và hậu quả của nó thường dẫn tới hiện tượng rối loạn sinh sản, chậm sinh, vô sinh, viêm vú, mất sữa… làm tổn thất lớn đến phát triển chăn nuôi bò sữa và kinh tế gia đình Kháng sinh là một hướng mà người chăn nuôi sẽ nghĩ đến đầu tiên khi vật nuôi bị bệnh

Trong chăn nuôi, kháng sinh đóng vai trò quan trọng trong phòng trị bệnh, kích thích tăng trưởng, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn cho gia súc gia cầm Tuy nhiên, tồn dư kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi đang là mối quan tâm lớn của người tiêu dùng và cơ quan an toàn thực phẩm Kháng sinh tích lũy trong sản phẩm chăn nuôi không những gây độc mà có thể gây dị ứng cho người tiêu dùng,

dư lượng kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi còn là rào cản xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam Điều đáng lo ngại là việc sử dụng kháng sinh phổ biến

và không đúng cách trong chăn nuôi thú y đã dẫn đến sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn, và nguy hiểm hơn là khả năng truyền gen đề kháng kháng sinh cho

Trang 15

vi khuẩn gây bệnh ở người cũng như vi khuẩn trong môi trường, ảnh hưởng đến việc sử dụng thuốc điều trị cho người và vật nuôi

Người tiêu dùng luôn quan tâm đến tác dụng phụ của kháng sinh đối với thực phẩm có nguồn gốc động vật Kháng sinh không phải lúc nào cũng tốt đối với sức khỏe của vật nuôi cũng như người Thuốc có thể gây ra tác dụng phụ Vì

lý do này, kháng sinh hiện bị hạn chế hoặc không được phép (cấm cho vào thức

ăn gia súc) dùng để điều trị trong chăn nuôi ở một số quốc gia, ví dụ như ở Bỉ cấm sử dụng kháng sinh điều trị cho gia cầm bệnh

Do đó, hiện nay trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, đã và đang tìm cách giảm sử dụng kháng sinh trên gia súc gia cầm và dần dần thay thế bằng thảo dược thân thiện với môi trường, phát triển sản xuất theo hướng an toàn Một

số loại thảo dược, gia vị và chiết xuất có thể kích thích khẩu và dịch vị hay có chức năng kháng khuẩn, kháng cầu trùng hoặc tẩy giun (Wenk, 2002)

Bên cạnh đó, công nghệ nano đang làm một cuộc cách mạng trong nhiều ngành công nghiệp Đối với ngành nông nghiệp, công nghệ nano, đặc biệt là nano bạc cũng đang được áp dụng để tăng sản lượng và chất lượng sản phẩm của cây lương thực, tăng thời gian dự trữ rau quả, tăng hiệu quả phân bón và thuốc bảo vệ thực vật Đối với ngành chăn nuôi, thú y, công nghệ nano bạc đang được áp dụng để cải thiện khả năng miễn dịch, giảm sử dụng kháng sinh, ngăn ngừa bệnh, giảm mùi hôi của chất thải, tăng năng suất chăn nuôi và chất lượng sản phẩm

Xuất phát từ tình hình thực tế, nhằm giảm thiệt hại, giảm chi phí điều trị và khắc phục hiện tượng tồn dư kháng sinh trong thực phẩm, hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tác dụng ức chế vi khuẩn in vitro và ứng dụng điều trị bệnh viêm tử cung bò bằng nano bạc và dịch chiết cây Bồ Công Anh Lactuca indica L”

1.2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI Đánh giá khả năng ức chế vi khuẩn in vitro của cao khô dịch chiết cây Bồ Công Anh sử dụng các dung môi khác nhau và nano bạc đối với vi khuẩn Staphylococus spp và Streptococus spp phân lập từ dịch viêm tử cung bò

Đánh giá hiệu quả điều trị thử nghiệm của cao khô dịch chiết Bồ Công Anh

và nano bạc

Trang 16

1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Kết quả ngh ên cứu của đề tà nhằm bổ sung cơ sở lý luận về tác dụng dược

lý và khả năng ứng dụng điều trị của dược l ệu Bồ Công Anh và nano bạc Sự thành công của đề tài sẽ là nền tảng để bước đầu xây dựng phương pháp điều trị bệnh viêm tử cung cho bò hạn chế tối đa sử dụng thuốc kháng sinh, góp phần hạn chế sự kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn, góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng

- Kết quả nghiên cứu là một phần quan trọng để tổng hợp và khuyến cáo tình hình bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa và biện pháp phòng trị

Trang 17

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở TRÂU BÒ CÁI VÀ CHẨN ĐOÁN BỆNH Trong số các bệnh ở đường sinh dục trâu bò cái, bệnh thường gặp và gây thiệt hại về kinh tế lớn nhất là bệnh ở tử cung Chúng bao gồm: viêm tử cung và viêm cổ tử cung

2.1.1 Viêm tử cung

Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, là nơi làm tổ của thai đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Bệnh viêm tử cung đã được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu S.J Roberts (1980) đã khảo sát các trạng thái bất thường của tử cung bò; Dawson F.L.M (1983) nghiên cứu về hệ vi khuẩn trong

tử cung bò; Kopecky K.E., B Larsen (1977) đã theo dõi các hiện tượng nhiễm trùng tử cung do bệnh lao bò gây ra Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản Theo Đặng Đình Tín (1985) viêm tử cung có thể chia ra ba thể: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung

2.1.1.1 Viêm nội mạc tử cung (Endometritis) Theo Black W.G (1983) viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc của

tử cung Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm khả năng sinh sản của gia súc cái

Viêm nội mạc tử cung phổ biến và chiếm tỷ lệ cao nhất trong các thể viêm

ở tử cung Samad A., C.S Ali (1987) theo dõi 17.2293 trâu mắc bệnh đường sinh dục, rối loạn sinh sản cho biết: tỷ lệ trâu bị viêm nội mạc tử cung là cao nhất và chiếm 35,9% Bệnh viêm nội mạc tử cung thường xảy ra sau khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong những trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ làm niêm mạc tử cung bị xây sát, tổn thương Sau đó là do sự tác động của các vi khuẩn Streptococcus, Staphylococcus, E.coli, Salmonella, Brucella, roi trùng gây viêm nội mạc tử cung (Athur G.H, 1964 ; Settergreen, 1986) Căn

cứ vào tính chất, trạng thái của quá trình bệnh lý, viêm nội mạc tử cung có thể chia ra làm hai loại: viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ và viêm nội mạc tử cung có màng giả

Trang 18

* Viêm nội mạc tử cung thể Cata cấp tính có mủ (Endometritis Catarrhalis Purulenta)

Bệnh này gặp nhiều ở bò sau sinh đẻ, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo bị tổn thương, sây sát dẫn đến nhiễm khuẩn nhất là khi gia súc bị sát nhau, đẻ khó phải can thiệp

Khi bị bệnh, gia súc biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu: thân nhiệt tăng nhẹ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khi cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết Khi con vật nằm, dịch viêm thải ra càng nhiều, xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm có khi nó khô lại hình thành từng đám vẩy, màu trắng xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch viêm thải ra nhiều Cổ tử cung hơi

mở và có mủ chảy qua cổ tử cung Niêm mạc âm đạo bình thường, kiểm tra qua trực tràng có thể phát hiện được một hay cả hai sừng tử cung sưng to, hai sừng

tử cung không cân xứng nhau, thành tử cung dày và mềm hơn bình thường Khi kích thích nhẹ lên sừng tử cung thì mức độ phản ứng co lại của chúng yếu ớt

Trường hợp trong tử cung tích lại nhiều dịch viêm, nhiều mủ thì có thể phát hiện được trạng thái chuyển động sóng

* Viêm nội mạc tử cung màng giả Thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Vết thương đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử, lúc này con vật xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: Thân nhiệt lên cao, lượng sữa giảm có khi hoàn toàn mất sữa,

kế phát viêm vú, con vật ăn uống kém và không nhai lại, biểu hiện trạng thái đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch: Dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch

Chẩn đoán chủ yếu dựa vào khám âm đạo Nếu có thể thì lấy dịch làm sinh thiết tử cung Quan sát dưới kính hiển vi những phần lắng lại lấy từ dịch cổ tử cung hay trong tử cung sau khi ly tâm và nhuộm Giemsa để đếm bạch cầu và kiểm tra vi khuẩn Kết quả xét nhiệm vi khuẩn sẽ cho chúng ta hướng điều trị và kháng sinh cần sử dụng Qua sinh thiết tiêu bản tử cung xem xét hình thái tổ chức mô cơ nội mạc tử cung sẽ cho chúng ta tiên lượng của bệnh Tuy nhiên, trong điều kiện sản xuất hiện nay thì khám lâm sàng vẫn là ưu tiên số một Đồng thời phải kiểm tra cẩn thận những rối loạn có thể có trên buồng trứng như u nang, thể vàng tồn lưu

Trang 19

2.1.1.2 Viêm cơ tử cung (Myomestritis Puerperalis) Theo Settergreen I (1986) viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung, niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tử cung làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương mạch quản và lâm ba quản Từ đó làm cho các lớp cơ và một ít lớp tương mạc tử cung bị hoại tử Trường hợp này có thể dẫn đến hiện tượng nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ Có khi vì lớp cơ và lớp tương mạc

tử cung bị phân giải, bị hoại tử mà tử cung bị thủng hay bị hoại tử từng đám

Ở thể viêm này, gia súc biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, sản lượng sữa giảm hay mất hẳn Con vật kế phát chướng bụng đầy hơi, viêm vú, có khi viêm phúc mạc Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh thối

Kiểm tra qua âm đạo bằng mỏ vịt thấy cổ tử cung mở, hỗn dịch càng chảy ra ngoài âm đạo nhiều hơn, phản xạ đau của con vật càng rõ hơn Khám qua trực tràng thì tử cung to hơn bình thường, hai sừng tử cung to nhỏ không đều nhau, thành tử cung dày và cứng Khi kích thích lên tử cung, con vật rất mẫn cảm, đau nên càng rặn mạnh hơn, từ tử cung thải ra nhiều hỗn dịch bẩn

2.1.1.3 Viêm tương mạc tử cung (Perimestritis Puerperalis) Theo Athur G.H (1964); Đặng Đình Tín (1985) viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ thể viêm cơ tử cung Thể viêm này thường cấp tính cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng Lúc đầu lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển thành màu đỏ sẫm rồi trở nên sần sùi mất tính trơn bóng Sau đó các tế bào bị hoại tử và bong ra, dịch thẩm xuất tăng tiết

Trường hợp viêm nặng, lớp tương mạc ở một số vùng có thể dính với các tổ chức xung quanh, gây nên tình trạng viêm mô tử cung (Parametritis) và dẫn đến viêm phúc mạc Thân nhiệt tăng cao, mạch đập nhanh, con vật ủ rũ, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn, hiện tượng nhai lại giảm hay ngừng Lượng sữa còn rất ít hay mất hẳn, thường kế phát viêm vú Con vật luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm

hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có màu nâu và mùi thối khắm

Kiểm tra qua trực tràng thấy thành tử cung dày, cứng, hai sừng tử cung mất cân đối, khi kích thích con vật biểu hiện đau đớn càng rõ và càng rặn mạnh

Trang 20

hơn Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng Thể viêm này thường dẫn đến kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ

2.1.2 Viêm cổ tử cung (Cervitis)

Cổ tử cung được cấu tạo bởi các lớp cơ rắn chắc và lớp niêm mạc có nhiều gấp nếp Nó là hàng rào bảo vệ tử cung Cổ tử cung luôn đóng, chỉ hé mở khi động dục và mở hoàn toàn khi sinh đẻ (Nguyễn Văn Thanh và Trần Tiến Dũng, 2002)

Bệnh viêm cổ tử cung ở gia súc thường là hậu quả của những sai sót về kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, do thao tác đỡ đẻ nhất là các trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hay sử dụng dụng cụ không phù hợp làm cổ tử cung bị sây sát

Viêm cổ tử cung còn do kế phát từ viêm âm đạo, (Nguyễn Văn Thanh và Trần Tiến Dũng, 2002) Hậu quả của viêm cổ tử cung làm cổ tử cung bị tắc, khi gia súc động dục niêm dịch không thoát ra ngoài được Dùng mỏ vịt và đèn soi khám qua âm đạo: cổ tử cung mở đường kính 1– 2 cm thấy niêm mạc xung huyết hoặc phù rõ, cá biệt có vết loét, dính mủ (Nguyễn Văn Thanh,1999)

Kiểm tra qua trực tràng: cổ tử cung sưng to và cứng do tổ chức tăng sinh theo Đặng Đình Tín (1985)

2.2 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở

BÒ SỮA 2.2.1 Mùa vụ Khí hậu Việt Nam bao gồm bốn mùa với các đặc tính thời tiết khác nhau:

xuân, hạ, thu, đông Song thể hiện sự phân hoá rõ hơn là xuân - hạ và thu - đông

Trong mùa xuân hạ thời tiết mưa nhiều, nhiệt độ cao, độ ẩm trong không khí cao là điều kiện thuận lợi để các vi sinh vật gây bệnh phát triển Nhiệt độ cao làm cho khả năng thu nhận thức ăn giảm, sức khoẻ, sức đề kháng của con vật giảm nên tỷ lệ mắc bệnh của bò sữa rất cao, đặc biệt là bệnh ở đường sinh dục

Ngược lại, thời tiết trong giai đoạn thu đông thì nhiệt độ mát mẻ làm sức

đề kháng của con vật được nâng cao Mặt khác có những thời điểm nhiệt độ hạ thấp xuống rất thấp gây sự bất lợi cho các vi khuẩn gây bệnh phát triển Vì thế

mà các bệnh xảy ra trên đàn bò sữa cũng giảm Điều đó cho thấy tỷ lệ bệnh viêm tử cung ở hai thời điểm khác nhau có sự khác nhau rõ rệt

Trang 21

2.2.2 Vệ sinh thú y Công tác vệ sinh thú y đối với bò sữa là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến bệnh viêm tử cung Vệ sinh thú y bao gồm vệ sinh môi trường và vệ sinh trong quá trình sinh sản Vệ sinh thú y tốt được đánh giá bởi các yếu tố:

- Vệ sinh môi trường bao gồm: Cọ rửa máng ăn hàng ngày, thu dọn phân, rác trong chuồng hàng ngày, rửa chuồng hàng ngày, phun sát trùng định kỳ 1 tuần 1 lần

- Vệ sinh trong quá trình sinh sản bao gồm: vệ sinh các dụng cụ thụ tinh, vệ sinh bò sữa trong quá trình thụ tinh, vệ sinh khai thác tinh, dụng cụ phối, vệ sinh trước và sau khi đẻ…

2.2.3 Phương pháp phối giống Phương pháp phối giống cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung Thụ tinh nhân tạo ở bò cái dễ gây xây xát do đưa dụng cụ phối vào con cái, con cái dịch chuyển trong khi phối gây sây sát niêm mạc, dụng cụ phối không được vô trùng… rất dễ gây viêm

2.2.4 Quá trình đẻ

Bò sữa đẻ bình thường sẽ làm khả năng nhiễm bệnh đường sinh dục thấp hơn khi bò đẻ phải can thiệp Tuy nhiên thời gian đẻ kéo dài và có một số yếu tố khác dẫn đến cần sự can thiệp của công nhân Công nhân dùng tay hoặc dây và các thiết bị hỗ trợ khác để đưa thai ra gây sây sát niêm mạc và dễ gây nhiễm vi khuẩn vào gây viêm

Theo các tác giả Đặng Đình Tín (1985); Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (1994) cho rằng phương pháp đỡ đẻ thô bạo, không đúng kỹ thuật là nguyên nhân chính gây bệnh viêm tử cung Đặc biệt các trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay và dụng cụ

2.3 HIỆN TƯỢNG KHÁNG THUỐC CỦA VI KHUẨN VÀ TỒN DƯ KHÁNG SINH TRONG SẢN PHẨM CHĂN NUÔI

2.3.1 Hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn Ngày nay, khắp thế giới người ta rất lo ngại trước sự gia tăng không ngừng của hiện tượng lờn thuốc đối với nhiều loại vi khuẩn Không ít thuốc kháng sinh từ trước giờ được xem như những cứu tinh của biết bao là bệnh tật, ngày nay đã tỏ ra không còn công hiệu chữa trị nữa Kho thuốc kháng sinh càng ngày càng trở nên hạn hẹp và khan hiếm hơn Hiện tượng kháng kháng sinh đã và đang tiếp tục xảy ra

Trang 22

Thuốc kháng sinh là gì? Thuốc kháng sinh là những chất thiên nhiên được nuôi cấy từ vi sinh vật, hoặc được tổng hợp hay bán tổng hợp hóa học Chúng có khả năng hủy diệt hoặc làm ức chế sự phát triển của vi sinh vật gây bệnh Các chất này có thể là thuốc trụ sinh (antibiotique), các sulfa (sulfamide), thuốc diệt siêu vi (antiviraux), thuốc diệt nấm (antifongiques), chất tẩy uế (desinfectants),

và các loại thuốc sát trùng (antiseptiques)

Hiện tượng kháng kháng sinh xảy ra khi mầm bệnh hay vi khuẩn không bị diệt bởi thuốc kháng sinh, chúng vẫn tồn tại, sinh sản ra những thế hệ con cháu không có tính cảm ứng (sensible) với một hay với nhiều loại thuốc kháng sinh nào đó

Hiện tượng lờn thuốc xảy ra do rất nhiều nguyên nhân, như sự sử dụng thuốc kháng sinh một cách bừa bãi, không đúng cách, không tôn trọng liều lượng

và thời gian trị liệu Ngoài ra việc lạm dụng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi thú

y, canh nông và ngư nghiệp cũng dự phần không nhỏ trong sự hình thành của hiện tượng kháng kháng sinh ở người Cuối cùng là vấn đề dùng các chất diệt khuẩn (nettoyant antibacterien) để chùi rửa, khử trùng quá thường xuyên, không đúng chỉ dẫn cũng có thể sản sinh ra những dòng vi khuẩn có tính kháng thuốc Y bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, thú y sĩ và bệnh nhân đều có trách nhiệm trong vấn đề kháng kháng sinh

Vi khuẩn tiếp nhận tính kháng thuốc từ nhiều ngõ Từ các vi khuẩn khác có mang sẵn tính chất này, hoặc do hiện tượng ngẫu biến (mutation ) tự nhiên Phải chăng đây là một hiện tượng thiên nhiên nhằm để bảo vệ sự sống còn của một sinh vật? Tính đề kháng được gắn trên gen của vi khuẩn, hoặc cũng có thể nằm trong những đơn vị phụ thuộc của nhiễm sắc thể (chromosome), gọi là những plasmides

Đây là những vòng DNA cực nhỏ và di động Khi vi khuẩn chết đi, các plasmides này sẽ được thải vào môi sinh, và từ đó nhiễm vào các vi khuẩn khác Còn đối với siêu vi (virus), khi sinh sản chúng cần phải xâm nhập vào vi khuẩn để trích lấy plasmides và đem truyền sang cho những vi khuẩn khác

Vi khuẩn kháng được thuốc có thể xảy ra theo một trong những cơ chế sau đây:

- Làm thay đổi mục tiêu tác động của thuốc trên vi khuẩn Ví dụ làm thay đổi protein trên vi khuẩn mà thuốc Penicilline sẽ bám vào để tác động

(Penicilline với Streptococcus pneumoniae)

Trang 23

- Vô hiệu hóa thuốc bằng enzyme bêta lactamase (Penicilline với Staphilococcus aureus)

- Làm giảm độ thẩm thấu của màng tế bào vi khuẩn nên thuốc không tác động được (Gentamycine với Pseudomonas aeroginosa )

Sự sang nhượng tính kháng thuốc: hiện tượng đáng ngại Có bằng chứng cho thấy vi khuẩn mang tính kháng thuốc có thể vượt hàng rào chủng loài để truyền tính này sang cho những vi khuẩn của một chủng loại khác, ví dụ vi khuẩn gốc ở thú vật truyền tính đề kháng sang cho vi khuẩn gốc ở người chẳng hạn

Ngoài ra, do đa số thuốc kháng sinh bên thú y đều có cùng một cơ cấu hóa học như những thuốc đồng loại bên người Bởi lý do này, cho nên khi một vi khuẩn

đề kháng với một loại thuốc thú y thì nó cũng có thể đồng thời đề kháng với các loại thuốc cùng nhóm bên người

Trong y khoa, năm 1954 Hoa Kỳ chỉ sản xuất có 2 triệu cân thuốc kháng sinh Ngày nay số sản xuất đã tăng vọt lên trên 50 triệu cân/năm Theo The Centers for Disease Control& Prevention (CDC) Hoa Kỳ cho biết, có thể nói là

có trên 50% toa kháng sinh do bác sĩ kê cho bệnh nhân đều không cần thiết và không xác đáng vì được kê ra để chữa trị những bệnh do virus như ho hen cảm cúm Thuốc kháng sinh chỉ có công hiệu để trị những bệnh cảm nhiễm do vi khuẩn gây ra mà thôi Cơ quan Y tế Canada cũng đưa ra một nhận định như trên

Ngày nay, một số lớn vi khuẩn không còn cảm ứng với các loại thuốc kháng sinh

cũ thường được sử dụng từ trước tới nay (Nguyễn Thượng Chánh, 2004)

Vi khuẩn Streptococcus pneumoniae, tác nhân của viêm phổi và viêm màng não đã không còn cảm ứng với Penicilline và một số thuốc khác Vancomycine là kháng sinh đặc trị vi khuẩn Staphylococcus aureus, giờ cũng không còn hữu hiệu nữa

Các vi khuẩn như Enterococcus faecalis, Mycobacterium tuberculosis, Pseudomonas aeruginosa đều đề kháng với rất nhiều loại kháng sinh

Tử vong của bệnh lao phổi trước đây đã giảm thiểu ở các quốc gia Tây phương, nay có khuynh hướng gia tăng trở lại Cơ quan Y Tế Thế giới (OMS) cho biết các chủng vi khuẩn bệnh lậu mủ (gonorrhea ) gốc Châu Á và Châu

Âu ngày nay đã thấy xuất hiện khắp thế giới Tình trạng nhiễm trùng hậu giải phẫu tại các bệnh viện Canada là một vấn đề thật đáng ngại, trong đó nhiễm khuẩn Staphylococcus aureus là một trong nhiều loại vi khuẩn thường gặp nhất

Trang 24

Gần đây Clostridium difficile, vi khuẩn gây viêm ruột xảy ra trong các bệnh viện cũng có chiều hướng gia tăng lên nhiều (Nguyễn Thượng Chánh, 2004)

Trong thú y, thuốc kháng sinh dược dùng để phòng và trị bệnh gia súc, gia cầm, nhưng phần lớn trên 90% thuốc được sử dụng như những chất kích thích tăng trưởng trong chăn nuôi và ngư nghiệp Thuốc kháng sinh được trộn vào thức ăn hỗn hợp với những nồng độ thấp để giúp thú mau lớn và tăng trọng nhanh Kỹ nghệ nuôi cá hồi vùng ven biển Vancouver, Canada cũng áp dụng phương pháp này Việc sử dụng quá bừa bãi thuốc kháng sinh từ mấy chục năm nay đã làm phát sinh ra rất nhiều chủng vi khuẩn mang tính kháng thuốc Vi khuẩn Salmonella đã

đề kháng cùng một lúc với thuốc Ampicilline, Chloramphenicol, Streptomycine, và Tetracycline Vào cuối thập niên 90, tại Anh quốc vi khuẩn Salmonella typhimurium DT 104 đã hoành mạnh trong chăn nuôi

Một thời gian sau đó, người ta đã phát hiện những vi khuẩn này ở người và điều tai hại nhất là chúng đã đề kháng với nhiều loại thuốc kể cả với thuốc Trimethoprim sulfa và Fluoroquinolone Năm 1985, tại Californie trên

1000 người đã ngã bệnh vì ăn phải hamburger có nhiễm khuẩn Salmonella newport đề kháng với nhiều loại thuốc … Ngày nay các vi khuẩn thông thường của đường ruột như Enterobacter, Campylobacter, và E.coli 0157 : H7 (bệnh Hamburger) cũng đã đề kháng với nhiều loại thuốc kháng sinh (Nguyễn Thượng Chánh, 2004)

2.3.2 Tồn dư kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi Tồn dư kháng sinh trong thực phẩm có rất nhiều nguyên nhân, như việc người chăn nuôi sử dụng kháng sinh cho việc kích thích sự tăng trưởng của vật nuôi, dùng kháng sinh để bảo quản thực phẩm gia súc trong quá trình vận chuyển, lưu trữ…

Sự thiếu hiểu biết của người dân chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng là một vấn

đề khá nghiêm trọng Có những người dân chăn nuôi gia súc, gia cầm chưa ý thức được hết những việc lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi của mình gây nên hậu quả nghiêm trọng như thế nào, chỉ suy nghĩ đến lợi ích kinh tế mà không nghĩ đến việc làm tổn hại cho sức khỏe của người tiêu dùng, thậm chí là chính bản thân và gia đình mình

Bất cứ kháng sinh nào dùng để chữa bệnh cho người và động vật, nếu còn tồn dư một lượng dù nhỏ nhất cũng có thể gây kháng thuốc của E.Coli Khi

Trang 25

E.Coli đã kháng thuốc thì nó có thể truyền plasmid kháng thuốc của nó cho các loại vi khuẩn gây bệnh khác sống trong đường ruột

Tại Việt Nam, lượng kháng sinh trong chăn nuôi được sử dụng khá nhiều với nhiều mục đích, có trên 4.000- 5.000 chế phẩm kháng sinh Theo Cục Chăn nuôi, hiện có khoảng 24 loại kháng sinh, hóa chất được đưa vào quá trình chăn nuôi với mục đích tăng trọng và phòng bệnh

Kết quả kiểm tra hàm lượng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi và kiểm tra tồn dư kháng sinh trong thịt lợn khi phân tích 143 mẫu thức ăn chăn nuôi, 143 mẫu thịt và 30 mẫu gan lợn tại 5 tỉnh Nam Định, Thái Bình, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu để xét nghiệm các chỉ tiêu Sulfadimidin, Tylosin, Lincomycin

Sulfadimidin là loại chất kháng khuẩn dùng chung cho cả người và động vật Việc thịt lợn có tồn dư kháng sinh Sulfadimidin gây nguy cơ kháng thuốc rất cao khi dùng kháng sinh này điều trị cho người

Hàm lượng kháng sinh Sulfadimidin trong thức ăn cao nhất phát hiện trong mẫu thức ăn chăn nuôi (53.915,50 ppb), trong khi tiêu chuẩn Bộ Nông nghiệp không cho phép bổ sung kháng sinh Sulfadimidin Các mẫu phát hiện có hàm lượng từ 58,53-53.915,50 ppb Đây là thực trạng đáng báo động, vì sao thời gian vừa qua số mẫu thịt lợn phát hiện có tồn dư Sulfadimidin rất cao ở một số địa phương (Đậu Ngọc Hào, 2016)

Sự tồn dư hóa chất và kháng sinh có trong thực phẩm không chỉ ảnh hưởng trước tiên đến vật nuôi mà còn gây nguy hại cho sức khỏe người tiêu dùng khi tiêu thụ thực phẩm Nó gây ảnh hưởng ngay lập tức sau khi tiêu thụ sản phẩm như xảy

ra phản ứng quá mẫn cảm đối với người nhạy cảm kháng sinh, gây dị ứng sau khi tiêu thụ thịt tồn dư kháng sinh… Bên cạnh đó, nó ảnh hưởng muộn hơn khi tiêu thụ thịt tồn dư kháng sinh như tạo ra thể vi sinh vật kháng thuốc, gây khó khăn cho công tác điều trị nhiễm khuẩn, làm giảm sự đáp ứng miễn dịch của cơ thể Đặc biệt, một số kháng sinh, hóa dược có thể gây ung thư cho người tiêu thụ

Th.S Đoàn Khang (Viện Chăn nuôi) cho biết: “Đề kháng kháng sinh hiện nay là một trong những vấn đề quan trọng, mang tính chất toàn cầu Trên thực tế, khoảng vài chục năm trở lại đây, chưa có thêm loại kháng sinh mới nào được phát hiện và tất cả mọi loại kháng sinh đều có thể bị kháng Trong đó, nguyên nhân chủ yếu là do sử dụng các loại sản phẩm từ động vật đã bị kháng kháng sinh trong quá trình chăn nuôi”

Trang 26

Th.S Đoàn Khang cũng cho biết thêm, người tiêu dùng, tiêu thụ các sản phẩm, thực phẩm từ động vật khó nhận biết được những sản phẩm có tồn dư kháng sinh trong quá trình chăn nuôi nếu không có chuyên môn Đặc biệt nguy hiểm đối với những người có sẵn cơ địa dị ứng với một số loại thuốc (phổ biến nhất là penicillin chiếm đầu bảng với tỷ lệ sốc phản vệ 1/70.000) Chính vì vậy, vấn đề này cần phải được bắt đầu giải quyết từ những người nông dân chăn nuôi gia súc, gia cầm Khi đó, mới có hy vọng cải thiện được chất lượng của thực phẩm chế biến từ động vật cũng như tránh được tình trạng kháng kháng sinh cho người”

Theo một số nghiên cứu tại Mỹ, người ta phát hiện thịt sản xuất có chất diethylstibestrol có liên quan đến một số bệnh ung thư trên người Nguy cơ ung thư cơ quan sinh dục của những người mẹ được điều trị hormon này trong thời gian có thai rất cao Năm 1980 tại Ý, người ta phát hiện ra sự tồn dư của chất này trong thịt bê đóng hộp cho trẻ con ăn đã gây ra một vụ bê bối lớn Các trường hợp đàn ông có vú to như phụ nữ, người pê đê thường được quan sát thấy ở những trẻ em trong vùng được quy là tại có diethylstibestrol trong thức ăn của trẻ khi chúng còn nhỏ Tác động gây độc cấp tính của các beta-agoniste đã được đề cập đến rất nhiều vụ ngộ độc trên người sau khi tiêu thụ gan, kể cả thịt có nhiễm chất clenbuterol, một dạng beta-agoniste Các triệu chứng ngộ độc như run cơ, tim nhanh, hồi hộp, thần kinh bị kích thích có thể kéo dài nhiều giờ cho đến nhiều ngày (Nguyễn Phương, 2016)

2.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH VIÊM TỬ CUNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM

2.4.1 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm tử cung trên thế giới Chăn nuôi trâu bò là một nghề chiếm tỷ trọng cao trong ngành chăn nuôi ở nhiều nước trên thế giới Nhằm khai thác hiệu quả giá trị dinh dưỡng và sinh khối của loài, các nước phát triển trên thế giới không ngừng đầu tư cải tạo đàn giống trâu bò và áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng sinh sản của chúng Trong đó các vấn đề về bệnh sinh sản của gia súc cũng

là chủ đề được các nhà thú y đặc biệt quan tâm Hàng năm các chương trình đào tạo quốc tế về sinh sản gia súc được tổ chức tại một số Trường Đại học thú y, Trung tâm Khoa học quốc tế về Nông nghiệp của các nước có ngành chăn nuôi phát triển như Pháp, Thủy Điển, Úc, Ai Cập…Nội dung của các khóa đào tạo chủ yếu về nghiên cứu phương pháp chẩn đoán phát hiện và điều trị các bệnh

Trang 27

sinh sản, vì hàng năm các bệnh sinh sản đã gây tổn thất rất lớn trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi bò sữa nói riêng

Trong các bệnh của cơ quan sinh dục cái thì bệnh ở tử cung đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Ở các nước có ngành chăn nuôi bò phát triển (Pháp, Úc, Hà Lan, Mỹ, Canada), để hạn chế các bệnh sản khoa, nhiều công trình nghiên cứu đã tập trung giải quyết đã có kết quả cao trong việc khống chế các bệnh sản khoa đã nghiên cứu vấn đề dịch tễ với sự quan tâm đặc biệt đến chu kỳ tính để hạn chế bệnh viêm tử cung ở bò sữa Các tác giả Chuffaux S.Y., Recorbet Y (1987) đã tiến hành sinh thiết niêm mạc tử cung bò bị bệnh sản khoa để tìm hiểu quá trình sinh bệnh cho biết: hậu quả của thụ tinh nhân tạo thô bạo, sai nguyên tắc đã làm tăng tỷ lệ bệnh viêm tử cung trong chăn nuôi bò sữa

2.4.2 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm tử cung tại Việt Nam Hơn 10 năm trở lại đây, phong trào chăn nuôi bò sữa tại Việt Nam đang phát triển mạnh về số lượng ở trang trại cũng như trong nông hộ Tình hình dịch bệnh cũng không ngừng tăng lên, đặc biệt là các bệnh sản khoa, trong khi người chăn nuôi chưa được trang bị đầy đủ những kiến thức cần thiết về đặc tính sinh

lý và các bệnh thường gặp trên bò sữa Mặt khác, các công trình nghiên cứu về bệnh sinh sản của trâu bò tại Việt Nam, đặc biệt là bệnh viêm tử cung còn rất ít,

do đó tỷ lệ bò sữa mắc bệnh đang ngày càng gia tăng

Theo Nguyễn Văn Thanh (1999), bệnh Viêm tử cung ở đại gia súc nói chung là một quá trình bệnh lý phức tạp được thể hiện dưới nhiều thể khác nhau Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới rối loạn sinh sản, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của gia súc cái Các tác giả Đặng Đình Tín (1985); Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (1994) đã có những nghiên cứu, tổng kết về một số bệnh đường sinh dục cái ở đại gia súc Theo Nguyễn Văn Thanh (1996) nghiên cứu trên đàn trâu tại một số địa phương phía Bắc nước ta cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở đường sinh dục cái khá cao chiếm 21,6%, trong đó cao nhất là bệnh ở buồng trứng 54,7%, bệnh ở tử cung 27,4%, thấp nhất là bệnh ở âm đạo tiền đình 17,9% Các tác giả đã đưa ra phác đồ điều trị đạt hiệu quả khá cao, khỏi bệnh 70,6%-70,8% trong số này động dục trở lại 20-

90 ngày Về tỷ lệ nhiễm vi khuẩn trong đường sinh dục của trâu, tác giả Nguyễn Văn Thanh (1996) cho biết ở trâu khỏe 37,5% phân lập có Salmonella; 78,2%

có Streptococcus; 78,26% có Staphylococcus; 82,16% có E.coli và 100% trâu bị bệnh đường sinh dục phân lập được các loại vi khuẩn trên Tuy nhiên cho đến nay, các tư liệu về bệnh sản khoa ở đại gia súc còn rất ít

Trang 28

2.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG SẢN PHẨM THẢO DƯỢC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

2.5.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng sản phẩm thảo dược trên thế giới Trong kết quả nghiên cứu của Wu Y C và cộng sự đã tìm được hơn 100 hoạt tính sinh học của các chất tách ra từ cây họ Na (Annonaceae) Trong đó có nhiều chất có độc tính, hoạt tính kháng vi trùng, ức chế sự tái tạo tế bào HIV, chống đông tụ tiểu cầu…Năm 1999, Viện dược học, Học viện Khoa học y dược

và Trường Đại học Bắc Kinh - Trung Quốc đã nghiên cứu và tách được các chất

có khả năng chống u bướu từ thực vật họ Na: có khoảng 50 acetogenin, 12 styrylpyron và 25 polyoxygenat cyclohexen mới được tách ra từ 5 loài Uvaria, 4 loài Goniothalamus và 1 loài Annona Bước đầu kiểm ta hoạt tính sinh học, phần lớn các chất mới tách ra đều có hoạt tính chống u bướu quan trọng

Ví dụ: Cây Mãng cầu xiêm (lá, rễ và hạt) được dùng làm thuốc rất nhiều nơi trên thế giới, nhất là tại các quốc gia Nam Mỹ:

- Tại Peru, trong vùng núi Andes, lá Mãng cầu được dùng làm thuốc trị cảm, xổ mũi; hạt nghiền nát làm thuốc trừ sâu Trong vùng Amazon vỏ cây và lá dùng trị tiểu đường, làm dịu đau, chống co giật

- Tại Guyana: lá và vỏ thân cây nấu thành trà giúp trị đau và bổ tim

- Tại Batay: trong vùng Amazon, lá nấu thành trà trị bệnh gan; dầu ép từ lá

và quả non trộn với dầu oliu làm thuốc thoa bên ngoài trị thâp khớp, đau sưng gân cốt

- Tại Jimaica, Haiti và West Indies: quả hay nước ép từ quả dùng trị nóng sốt, giúp sinh sữa và trị tiêu chảy; vỏ thân cây và lá dùng để trị đau nhức, chống

co giật, ho, suyễn…

Vỏ cây, lá và rễ của cây đã được sử dụng trong y học dân gian dùng để điều trị bệnh nhiễm trùng, bệnh ho, bệnh về gan, bệnh tiêu chảy và bệnh ung thư Các nghiên cứu cho thấy đã tìm thấy khả năng kháng nấm, kháng khuẩn, độc tính tế bào, hạ huyết áp

Chi Polyalthia thuộc họ Annonaceae Polyalthia là một từ tiếng Hy Lạp có rất nhiều ý nghĩa trong đó có ý nghĩa dùng để chữa bệnh (Wu YC and Duh CY, 1990) Huyền diệp (Polyalthia longifolia) là một cây cao và lá màu xanh, cây trưởng thành có hình kim tự tháp đối xứng với chi nhánh rủ yểu điệu và lá hình

Trang 29

mũi mác dài và hẹp với mép lá răng cưa (Krishnamurthi A, 1987)) Chúng được trồng nhiều ở châu Phi, châu Á, Úc, Ấn Độ và New Zealand

Polyalthia longifolia có nguồn gốc từ Ấn Độ, thường được trồng để giảm ô nhiễm tiếng ồn Đã được sử dụng trong các hệ thống truyền thống của y học để điều trị sốt, bệnh ngoài da, bệnh nhân tiểu đường và cao huyết áp Các bộ phận của cây huyền diệp (Polyalthia longifolia) được sử dụng để điều trị sốt, bệnh lậu,

hạ huyết áp, đái đường và rong kinh, và đã được biết đến để được sử dụng như một loại thảo dược khá thông dụng ở Ấn Độ (Ramakrishna NV and Vijaya KEKS, 2000)

Theo dân gian vỏ Polyalthia longifolia có tác dụng tốt để chữa cao huyết

áp, kích thích hô hấp và đặc trị làm hạ cơn sốt, bệnh ngoài da, bệnh tiểu đường

và cao huyết áp (Nair R and Kalariya T, 2004) Tại Ấn Độ, hạt của cây này đã được sử dụng để g ả nh ệt

Vỏ cây cũng được sử dụng như một loại thuốc g ả nh ệt khá thông dụng ở huyện Balasore của bang Orissa (K.R Kirtikar and B.D Basu, 1993) Vỏ thân cây được nghiền thành bột và trộn với bơ để điều trị bệnh lậu vùng Genitalial Ấn

Độ (Parinitha Mahishi and B H Srinivasa, 2005) Vỏ cây còn được sử dụng để điều trị bệnh viêm tử cung (Rosakutty PJ and Roslin AS, 2000)

Chất chiết suất từ vỏ thân cây huyền diệp (Polyalthia longifolia) còn được

sử dụng để chữa bệnh loét miệng (K Raghunathan and M.K Mitra, 2002)

Theo báo Ethanopharmacological cho rằng P.longifolia gây ức chế cơ tim, làm giảm huyết áp và kích thích hô hấp (S Faizi and Rashid Ali, 2003)

Nghiên cứu gần đây còn cho thấy trên cuống lá, rễ, vỏ rễ đã cho thấy tiềm năng kháng khuẩn tuyệt vời và hoạt động hạ huyết áp đáng kể của cây huyền diệp (Polyalthia longifolia) (S Faizi and Rashid Ali, 2003)

2.5.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng sản phẩm thảo dược ở Việt Nam Việt Nam có độ đa dạng sinh học cao, có tới 2/3 diện tích đất tự nhiên trong nước là rừng, đồi núi và cao nguyên Theo Nguyễn Thượng Dong, Việt Nam có

10386 loài thực vật trong đó có 3830 loài có khả năng sử dụng làm thuốc Trong công nghiệp dược phẩm nhân y đã có 1340/5577 loại thuốc chiếm 24% được sản xuất từ dược liệu hay hoạt chất từ dược liệu như: berberin, palmatin, artemisinin (Nguyễn Thượng Dong, 2006) Nhân y sử dụng dược liệu với nhiều mục đích khác nhau: thức ăn thay thế, phòng trị các bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng, nội

Trang 30

khoa, ngoại khoa, sản khoa, ung thư… với rất nhiều dạng thuốc khác nhau: thuốc sắc, thuốc cao, viên hoàn, viên nén…

Ngày nay, nhiều cây thuốc đã có hiệu quả điều trị rõ rệt, nhưng cơ chế tác dụng vẫn chưa được giải thích và chứng minh Xu hướng chung hiện nay là kết hợp Đông y và Tây y với phương châm vừa áp dụng những kinh nghiệm chữa bệnh của cha ông ta bằng thuốc nam, vừa nghiên cứu khảo sát các tính năng tác dụng của cây thuốc bằng cơ sở khoa học hiện đại Đỗ Tất Lợi (1991)

Các công trình nghiên cứu về lĩnh vực Đông dược, Y dược cổ truyền bên nhân y đã và đang thu hút được sự chú ý của nhiều nhà khoa học ở Việt Nam và trên thế giới Các nhà khoa học nước ta đã chú ý đến việc sử dụng các loại thảo dược trong phòng và trị bệnh truyền nhiễm; bệnh ký sinh trùng; bệnh nội khoa;

bệnh ngoại khoa; bệnh sản khoa,… Riêng lĩnh vực thú y, nghiên cứu về cây thuốc trong phòng trị bệnh cho vật nuôi còn ít và cũng chỉ giới hạn trong việc khai thác, áp dụng các bài thuốc cổ truyền

Về lĩnh vực thú y, các nghiên cứu sử dụng các kháng sinh thực vật trong nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn, đặc biệt bệnh lợn con phân trắng đạt hiệu quả cao (Bùi Thị Tho,1996) Theo Trần Quang Hùng (1995) trong thuốc lá, thuốc lào có chứa alkaloid thực vật – nicotin và nornicotin trừ được ngoại ký sinh trùng và côn trùng hại rau, cây công nghiệp Theo Lê Thị Ngọc Diệp (1999) cây Actiso (Cynara Scolymus L) chứa hoạt chất có tác dụng chống viêm, lợi tiểu, thông mật, bổ gan

Nghiên cứu tác dụng phòng trị bệnh lợn con phân trắng của các cây tỏi, tô mộc, hành, hẹ và hoàng đằng Đặc biệt, tác giả còn cho thấy vi khuẩn E.coli kháng lại kháng sinh thực vật của tỏi, hẹ lại chậm hơn rất nhiều so với các thuốc hoá học trị liệu khác: tetracyclin, neomycin,… Riêng mảng sử dụng các cây dược liệu: lá thuốc lào, thuốc lá, hạt na, vỏ rễ xoan, hạt cau, củ bách bộ, dây thuốc cá, hạt củ đậu… dùng để trị nội, ngoại ký sinh trùng thú y cũng đã thu được những kết quả nhất định (Nguyễn Văn Tý, 2002)

Kết quả nghiên cứu của Bùi Thị Tho và Nguyễn Thành Trung (2010), khi

sử dụng dịch chiết cây Xuân hoa trong điều trị lợn con bị viêm ruột tiêu chảy tỉ lệ khỏi theo các công thức khác nhau đạt từ 87,51% đến 100%, thời gian khỏi bình quân là 2,3 – 3,08 (ngày)

Bùi Thị Tho (2003) đã nghiên cứu tác dụng của rễ thuốc cá trong phòng trị bệnh ngoại ký sinh trùng thú y cho kết quả tốt Nhóm tác giả trên cũng đã sản

Trang 31

xuất thuốc dạng mỡ từ hạt cây củ đậu để điều trị bệnh ghẻ chó và ve kí sinh (Nguyễn Mạnh Hiển Bùi Thị Tho (2006)) Hơn nữa, việc sử dụng thảo dược điều trị bệnh, hạn chế tồn dư kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi cũng đã được quan tâm từ lâu của nhóm nghiên cứu trên khi các tác giả trên sử dụng bồ công anh (Lactuca indica L.) chống tồn dư kháng sinh enrofloxacin trong điều trị tiêu chảy

ở gà (Bùi Thị Tho và Nguyễn Thị Thanh Hà (2009)) Ở một nghiên cứu khác, lá xuân hoa cho thấy có tác dụng điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con (Bùi Thị Tho và Nguyễn Thành Trung (2010)) Trong định hướng tiến tới sử dụng kháng sinh thảo dược một cách rộng rãi trong chăn nuôi thì việc bảo quản sản phẩm kháng sinh thảo dược cũng có một vai trò then chốt, nhóm nghiên cứu trên cũng đã nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian và điều kiện bảo quản đến tác dụng dược lý của dịch chiết củ Bách bộ (Bùi Thị Tho (2004)) Tác giả cho thấy nên thu dịch chiết trong vòng 24h sau khi thu hái Việc sử dụng kháng sinh thực vật từ tỏi và

hẹ để điều trị các bệnh trên gia súc gia cầm cho thấy nó vừa cho hiệu quả cao, vừa ít bị kháng thuốc, thời gian phát sinh kháng thuốc chậm hơn so với kháng sinh tổng hợp và từ nấm, hơn nữa vi khuẩn lại nhanh tái mẫn cảm với kháng sinh thực vật hơn các thuốc hóa học trị liệu (Bùi Thị Tho (2001))

Nguyễn Hồng Loan (2010) công bố kết quả nghiên cứu sử dụng chất chiết xuất từ cây hoàng kỳ (Astragalus membranaceus) để tăng cường khả năng đề kháng của cá tra với bệnh mủ gan do nhiễm vi khuẩn Edwardsiella ictaluri

Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Thanh Hải (2014) cho biết, dịch chiết cây

mò hoa trắng tiêu diệt vi khuẩn Salmonella in vitro và cho kết quả điều trị cao đối với lợn con bị bệnh phân trắng Trong nghiên cứu trên, nhóm tác giả đã sử dụng ethanol ở các nồng độ 35%, 70%, acetic 5% và aceton 70% để chiết xuất phytoncid từ thân, lá và rễ cây mò hòa trắng Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng, chiết xuất bằng ethanol nồng độ 35% cho dịch chiết có hiệu quả tiêu diệt vi khuẩn và điều trị bệnh lợn con hoa trắng cao nhất Nhóm tác giả trên cũng thấy rằng dịch chiết từ quả lựu (Punica gramatum) cho kết quả cao khi điều trị các bệnh giun sán cho gia súc (Nguyen Thanh Hai and Miyamoto Atsushi, 2014)

Nhóm tác giả sử dụng ethanol 5% để chiết xuất phytoncid từ quả lựu, dịch chiết được có thể tiêu diệt giun đũa lợn, sán dây ở lợn, giun đũa ở gà và sán lá ở gà

Các chiết xuất của tỏi gừng cũng được nhóm tác giả trên công bố có khả năng tiêu diệt vi khuẩn E coli và Salmonella phân lập từ vịt bị tiêu chảy (Nguyen Thanh Hai và Nguyen Van Thanh, 2014) Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng

Trang 32

ethanol 5% và acetic 5% để chiết xuất phytoncid từ tỏi và gừng Kết quả cho thấy phương pháp dùng acetic 5% cho dịch chiết có tính kháng khuẩn cao hơn dịch chiết thu được từ phương pháp dùng ethanol 5%

Nhóm tác giả trên cũng nghiên cứu ảnh hưởng của dịch chiết của ngưu tất (Achyranthes Bidentata Blume), muồng trâu (Cassia Alata L ), phi tử (Embelia Ribes Burn ), bìm bìm ( Ipomoea Hederacea Jacq), keo dậu (Leucaena Glauca Benth ) và cà gai leo (Solanumtorvum Swartz ) lên quá trình nở của trứng kí sinh trùng Haemonchus contortus phân lập từ dê (Nguyen Van Thanh và Nguyen Thanh Hai, 2015) Các giả trên cho thấy muồng trâu và phi tử có tác dụng ức chế trứng nở của Haemonchus contortus tốt nhất, trong khi ngưu tất có tác dụng tốt nhất lên sự chuyển động của ấu trùng Ở nồng độ 20%, chỉ có chất chiết bìm bìm, keo dậu là có cả hai tác dụng vừa ức chế không cho trứng Haemonchus contortus

nở và ức chế sự chuyển động của ấu trùng

2.5.3 Một số nghiên cứu ứng dụng thảo dược điều trị bệnh viêm tử cung Mặc dù là một ngành cho hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu thiết yếu

và góp phần tăng cường sức khỏe cho con người, ngành chăn nuôi bò sữa cũng còn gặp nhiều trở ngại Ngoài các yếu tố về thời tiết, dinh dưỡng, quản lí thì các bệnh trên bò sữa cũng có ảnh hưởng rất lớn trong chăn nuôi bò sữa Bệnh ở đường sinh dục bò là nguyên nhân quan trọng nhất gây ra các thiệt hại về năng suất sinh sản, năng suất sữa Tầm quan trọng của nó được xếp đứng trên các bệnh về móng

và viêm vú Trong số các bệnh ở đường sinh dục bò cái, bệnh thường gặp và gây thiệt hại về kinh tế lớn nhất là bệnh viêm tử cung Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, là nơi làm tổ của thai đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Bệnh viêm tử cung đã được nhiều tác giả nghiên cứu Dawson F.L.M (1983) nghiên cứu về hệ vi khuẩn trong tử cung bò; Kopecky K.E., B Larsen (1977) đã theo dõi các hiện tượng nhiễm trùng tử cung do vi khuẩn lao bò gây ra Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản

Tỉ lệ viêm tử cung ở bò sau đẻ thường rất cao Theo một nghiên cứu trên bò Holstein Friesian, tỉ lệ viêm nội mạc tử cung dao động từ 37-74% tùy thuộc vào các trại bò khác nhau, với tỉ lệ trung bình là 53% (R.O Gilbert and S.T Shin , 2005) Bệnh viêm tử cung làm giảm năng suất sinh sản, kéo dài thời gian động dục,

có chửa sau đẻ, tăng số lần phối giống/có chửa, tăng tỉ lệ thải loại, giảm sản lượng sữa, giảm số con sinh ra trong một đời bò mẹ (R.O Gilbert and S.T Shin, 2005)

Trang 33

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm ra các biện pháp phòng và điều trị bệnh viêm tử cung ở bò sữa sử dụng các chế phẩm và phương pháp khác nhau D Duricic and M Lipar (2014), sử dụng ozone điều trị viêm tử cung ở bò giúp giảm thời gian từ khi đẻ đến khi động dục trở lại Toufik Meziane and Rahla Meziane (2013) sử dụng 3 phác đồ điều trị bao gồm sử dụng khángsinh oxytretracyclin đơn độc, kháng sinh oxytetracyclin kết hợp với kháng viêm flunizin và hormone PGF2α cho biết tỷ lệ khỏi bệnh ở bò được tiêm hormone và kháng viêm cao hơn so với nhóm còn lại

Một bài viết tổng quan về thảo dược cho thấy có trên 40 loại thảo dược được

sử dụng để chống viêm, điều trị vết thương cho kết quả cao tại châu Phi Trong nghiên cứu này cũng cho thấy một số thảo dược được sử dụng nhiều là hoa hồng (Acaena argentea), Aristotelia chilensis, Blechnum chilense, Francoa appendiculta, phỉ Chi Lê (Gevuina avellana) và đại hoàng Chi Lê (Laureliopsis philippiana)

Nghệ (Curcuma longa) cũng có tác dụng tốt trong việc điều trị bệnh lạc nội mạc tử cung nhờ khả năng ức chế estradiol Các chiết xuất từ trà xanh, oải hương (Lavandula angustifolia), nguyệt quế (thyme), bạc hà (Mentha piperita) đều cho khả năng kháng khuẩn cao đối với Enterococcus faecalis, E.coli, Staphylococcus aureus, Candida albican (Nilima Thosar and Silpi Basak, 2013)

Các chất chiết xuất từ cây rễ vàng (Rhodiola rosea), hương thảo (Rosmarinus officinalis) đều có tính chống oxi hóa cao (D Cui and J Li, 2014)

Chúng ta biết rằng trong quá trình viêm, các chất có tính chất oxi hóa được sinh

ra làm trầm trọng thêm tác dụng có hại của viêm đối với tế bào tổ chức Vì thế nếu các chất chiết thảo dược trên có tác dụng chống oxi hóa thì chúng có thể có tác dụng tốt trong điều trị các quá trình viêm như viêm tử cung ở bò do tác dụng chống lại các chất oxi hóa sinh ra trong quá trình viêm

Ahmed F., Saxena M (2014) sử dụng một số chiết xuất thảo dược từ các cây sầu đông (Aradirachta indica), bông Cận Đông (Gossypium berbaceum), bạch hoa xà (Plumbago zeylanica) và keo (Aacacia catechu) để điều trị bệnh viêm tử cung cho bò Các tác giả trên cho biết với các tính chất kháng nấm, kháng vi khuẩn, kháng virus và kháng viêm của các hoạt tính trong các chiết xuất

từ các thảo dược trên, chúng đều có khả năng điều trị bệnh viêm tử cung cho bò

Sử dụng chiết xuất từ tỏi và hormone PGF2α để điều trị bệnh viêm tử cung cho

bò, (Sarkar S and R.L.Stoms, 2006) cho thấy tỉ lệ bò khỏi bệnh ở hai nhóm là

Trang 34

tương đương nhau Marquez A., Gonzalez M (2007) cho biết chiết xuất từ cây sim (Montanoa tomentosa) cho hiệu quả điều trị bệnh viêm tử cung ở bò sữa rất cao mà không làm ảnh hưởng đến chức năng của buồng trứng D Cui and J Li (2014) cho biết dịch chiết từ cây ích mẫu (Herba Leonuri), đương qui (Angelicae Sinensis Radix), hồng hoa (Flos Carthami), cỏ gấu (Rhizoma Cyperi) và mộc dược (Myrrha) hòa tan trong cồn 70 làm tăng nhanh quá trình đào thải nhau thai ở

bò bị sát nhau

Đã có hơn 140 hoạt chất được xác định có mặt trong dịch chiết của cây ích mẫu và dịch chiết của cây này cũng cho thấy các tác dụng chống viêm, chống oxi hóa, chống ung thư, đặc biệt là trên tế bào tử cung (Xiaofei Shang and Hu Pan, 2014) Cỏ ban (Hypericum aethiopicum), đinh lăng (Polygala fruticosa) cũng được chứa các hoạt chất có tác dụng chống lại các vi khuẩn ở đường sinh dục của người (Van Vuuren SF and Naiddo D, 2010)

Trong một nghiên cứu sử dụng bột tỏi và metronidazole để điều trị bệnh viêm âm đạo cho trên 120 phụ nữ từ 18-44 tuổi, các tác giả của công trình trên cho thấy chỉ số Amsel ở nhóm dùng tỏi giảm nhiều hơn so với nhóm dùng kháng sinh (70 và 48.3%), nhóm dùng tỏi cũng có ít tác dụng phụ hơn là nhóm dùng metroniazole (Farnaz Mohammadzade and Mahrokh Dolatian, 2014)

Ở một nghiên cứu khác cũng cho thấy quế (Cinnamomum zeylanicum), gừng (Zingiber officinale), nghệ (Curcuma longa), trà xanh (Camellia sinensis) đều tăng cường khả năng miễn dịch tế bào trong điều trị bệnh viêm tử cung ở người (Harris T and Vlass AM., 2015)

Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thiết kế các phân tử thuốc mới, cũng như trong nghiên cứu mối tương quan Cấu trúc – Hoạt tính đang ngày càng phát triển Mặc dù đa số các công ty dược trên thế giới trong thời gian qua chưa đầu tư tích cực lắm cho việc nghiên cứu hóa học các hợp chất thiên nhiên Song, việc nghiên cứu hóa học các hợp chất thiên nhiên vẫn được đấy mạnh trong những thập niên vừa qua và chắc chắn sẽ phát triển mạnh trong thời gian tới

2.6 DƯỢC LIỆU BỒ CÔNG ANH 2.6.1 Nguồn gốc phân loại

Cây Bồ Công Anh còn gọi là rau bồ cóc, diếp hoang, diếp dại, mót mét, mũi mác, diếp trời, rau mũi cày (Đỗ Tất Lợi, 1991) Tên khoa học Lactuca indica L.;

Thuộc họ Cúc Asteraceae

Trang 35

2.6.2 Mô tả thực vật

Bồ Công Anh là loài cây nhỏ, cao 0,6 m đến 1 m, có thể cao tới 3 m Thân mọc thẳng, nhẵn, không cành hoặc rất ít cành Lá có nhiều hình dạng, lá phía dưới dài 30cm, rộng 5-6cm, gần như không có cuống, chia thành nhiều thùy hay rang cưa to, thô; lá phía trên ngắn hơn, không chia thùy, mép có răng cưa thưa

Bấm lá và thân đều thấy tiết ra nhũ dịch màu trắng đục như sữa, vị hơi đắng

Cụm hoa hình đầu, màu vàng, có loại màu tím Có người gọi loài hoa vàng là Hoàng hoa địa đinh và loài hoa màu tím Tử hoa địa đinh Cả hai loại đều được dùng làm thuốc

2.6.3 Phân bố, thu hái và bào chế Lactuca L là một chi tương đối lớn, gồm những cây sống một năm, vài loài sống nhiều năm phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Bắc bán cầu, ở

Ấn Độ có khoảng 25 loài, Việt Nam cũng có hơn 10 loài Bồ công anh mọc ở hầu hết các tỉnh từ miền núi đến đồng bằng, độ cao phân bố thường không quá 1500m Cây cũng gặp ở nhiều nước khác như Trung Quốc, Lào, Ấn Độ, Nhật Bản, Philippin, Indonesia

Bồ Công Anh mũi mác (Taraxacum officinale Wigg) là cây ưa ẩm và sáng, thường mọc trên những nơi đất tương đối màu mỡ nhất là các bãi bồi ven song, vườn bỏ hoang hoặc nương rẫy Hàng năm cây mọc từ hạt thường xuất hiện vào cuối mùa xuân, cây sinh trưởng nhanh trong mùa hè, ra hoa quả vào đầu mùa thu

và sau đó tàn lụi Hạt có túm lông ở đỉnh

Bồ Công Anh (cây diếp dại: Lactuca indica L.) mọc hoang tại nhiều tỉnh miền bắc nước ta, ít thấy trồng Việc trồng rất dễ dàng bằng hạt Mùa trồng vào tháng 3-4 hoặc 9-10 Có thể trồng bằng gốc, sau 4 tháng có thể bắt đầu thu hoạch

Thường nhân dân ta dùng lá, lá hái về dùng tươi Một số người hái cả cây,

cả rễ nhỏ phơi khô để dùng (Đỗ Tất Lợi, 1991) Rửa sạch, cắt ngắn 3-5cm, phơi khô dùng Bồ Công Anh rửa sạch, phơi khô, nấu thành cao đặc, dùng uống kết hợp với dán ngoài trong các trường hợp viêm nhọt (1ml=10g) Bồ Công Anh cũng có thể dùng tươi bằng cách rửa sạch, giã nhỏ cho vào một ít muối đắp vào chỗ bị viêm nhọt hoặc giã nhỏ hòa một ít nước sôi để nguội, vắt lấy nước uống Để đảm bảo hoạt tính dược liệu Bồ Công Anh khi bảo quản cần được phơi thật khô bỏ vào bao tải, để nơi cao ráo, thường xuyên phơi, bị ẩm rất mau mục và mốc

Trang 36

2.6.4 Thành phần hóa học Theo tài liệu nước ngoài, một số loài Lactuca virosa, Lactuca sativa L thấy có lactuxerin là một este axetic của hai chức rượu no là lactuxerola α và lactuxerola β;

ngoài ra còn 3 chất đắng có tên acid lacturic, lactucopisrin và lactuxin Lactucopicrin

là este hydroxyl phenylaxetic của lactuxin (Đỗ Tất Lợi, 1991)

Nghiên cứu của Đỗ Huy Bích (2006) cho biết Bồ công anh chứa 91,8%

nước; 3,4% protid; 1,1% glucid; 2,9% xơ; 1,2% tro; 3,4mg% carotene; 25mg%

vitamin C Còn có β-amyrin, taraxasterol germanicol

2.6.5 Tác dụng dược lý Theo sự nghiên cứu của nước ngoài, những loài Lactuca nói trên không có độc, tính chất gây ngủ nhẹ Bồ Công Anh được thử nghiệm với phương pháp lồng

cử động đã thể hiện tác dụng an thần Flavonoid của Bồ Công Anh đã được nghiên cứu tác dụng sinh học thấy có tác dụng ức chế men oxy hóa khử peroxidase và catalase máu chuột cống trắng Những thí nghiệm tiến hành với huyết thanh người cũng cho những kết quả ức chế men oxy hóa khử rõ rệt Tính

vị, công năng của Bồ Công Anhcó vị ngọt, hơi đắng, tính hàn, có tác dụng giải độc, tiêu viêm, thanh nhiệt, tán kết

Bồ Công Anh Việt Nam là một vị thuốc kinh nghiệm trong nhân dân để chữa bệnh sưng vú, tắc ti sữa, mụn nhọt đang mưng mủ, hay bị mụn đinh râu

Còn dùng uống trong chữa bệnh đau dạ dày, ăn uống kém tiêu Liều dùng hàng ngày: 20 đến 40g lá tươi hoặc 10 đến 15g lá khô hay cành khô Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác, thường dùng dưới dạng thuốc sắc có thêm đường cho dễ uống Còn dùng giã nát đắp ngoài không kể liều lượng Kiêng kỵ trong các trường hợp âm hư hoặc tràng nhạc, ung nhọt đã vỡ mủ, khi dùng bồ công anh nên thận trọng

Dựa theo kinh nghiệm truyền thống Bồ Công Anhcó thể chữa sưng vú, tắc tia sữa: Hái 20g đến 40g lá Bồ Công Anhtươi, rửa sạch, thêm ít muối giã nát, vắt lấy nước uống, dùng bã đắp lên nơi vú sưng đau Thường chỉ dùng 2-3 lần là đỡ (kinh nghiệm dân gian); Chữa ăn uống kém tiêu, hay bị mụn nhọt: lá Bồ công anh khô 10-15g, nước 600ml (3 bát), sắc còn 1 bát Uống liên túc trong 3-5 ngày,

có thể kéo dài hơn Chữa đau dạ dày: lá Bồ Công Anh khô 20g, lá khôi 15g, lá khổ ssam 10g, thêm 300ml nước, sắc đun sôi trong vòng 15 phút, thêm ít đường vào mà uống (chia 3 lần uống trong ngày) Uống liên tục trong vòng 10 ngày,

Trang 37

nghỉ 3 ngày rồi lại tiếp tục cho đến khi khỏi Trị gai đâm làm cho thịt sưng phù:

Bồ công anh giã nát bôi vào nhiều lần thì khỏi (Đỗ Kính Phương) Trị sản hậu không cho con bú, sữa tích lại làm cho vú căng, sưng: Bồ Công Anhgiã nát đắp lên chỗ song ngày 3-4 lần (Mai Sư Phương) Trị viêm đường tiết niệu, viêm bàng quang, tiêu hóa kém, căng đau vùng dạ dày: Bồ Công Anh40g, quất bì 24g, sa nhân 12g, tán bột Mỗi lần uống 1-2 g, ngày 3 lần (Lâm Sàng Thượng Dụng Trung Dược Thủ Sách)

2.7 NANO BẠC VÀ CÁC ỨNG DỤNG TRONG NHÂN Y VÀ THÚ Y

Công nghệ nano là một khoa học phát triển nhanh chóng của sản xuất và sử dụng các hạt có kích cỡ nano đo ở nanomet (1nm = 1 phần tỷ của một mét)

Trong chăn nuôi gia súc và gia cầm, công nghệ nano hướng chủ yếu vào việc ngăn ngừa bệnh vì bệnh là yếu tố nguy cơ nhất gây tác hại đến năng suất và hiệu quả chăn nuôi Muốn ngăn ngừa bệnh thì việc làm tăng sức đề kháng của động vật cũng như làm sạch môi trường nuôi là những biện pháp quan trọng Một số nguyên tố khoáng vi lượng ở dạng kích thước nano đã được dùng khá phổ biến như một phụ gia thức ăn chăn nuôi trong việc nâng cao năng lực miễn dịch của lợn hay gia cầm Các nguyên tố vi khoáng dạng nano đi vào cơ thể bằng con đường hấp thu trực tiếp cho nên có tỷ lệ lợi dụng cao hơn rất nhiều so với các nguyên tố vi khoáng vô cơ thông thường Các nghiên cứu khoa học cho biết nếu

tỷ lệ lợi dụng các nguyên tố vô cơ là 30% thì tỷ lệ này đối với các nguyên tố dạng nano lên tới gần 100% (Mingxia Huang and Mackenzie J Parker, 2014)

Trong thú y, công nghệ nano hướng vào chiến lược phá vỡ những con đường truyền bệnh và hạn chế các bệnh truyền nhiễm của gia súc và gia cầm Các thuốc

vô trùng mới và những chất phủ bề mặt các thiết bị chuồng nuôi bằng chất liệu nano (nanocoating) đã được nghiên cứu và ứng dụng vào sản xuất Các chất phủ

bề mặt này vừa dễ làm sạch, vừa có tính sát khuẩn

Việc phát hiện và chẩn đoán bệnh bằng các công cụ nano cũng đã được áp dụng trong nhân y cũng như trong thú y Nhờ các chip thử sử dụng công nghệ nano với chức năng kép, vừa có tác dụng bắt giữ, vừa phát hiện vi khuẩn bệnh đã được phát triển và cho kết quả rất nhanh so với các phép thử cổ điển Ví dụ, với công cụ cũ việc phát hiện vi khuẩn trong máu của người bệnh bị nhiễm trùng cần 2-5 ngày thì với công cụ mới (sử dụng công nghệ nano) công việc này chỉ mất 30 phút, có nghĩa là tốc độ phát hiện nhanh hơn tới 100 lần (Mingxia Huang and Mackenzie J Parker , 2014) Kỹ thuật keo vàng miễn dịch (immune colloidal gold

Trang 38

technique) dựa trên công nghệ tách miễn dịch từ (immunomagnetic separation technology) đã được sử dụng và thành công trong việc phát hiện một quần thể trực khuẩn gây hôn mê (Vibrio choleras) Công nghệ microarray oligonucleotide với màng nitrocellulose như một chất mang và nhuộm nano vàng đã được chỉ ra là một phương pháp phát hiện nhanh và chính xác đối với các vi khuẩn E coli, Samonella, V.cholera, V.parahaemolyticus, Proteus, Listeriamonocytogenes, Bacillus cereus, Clostridium botulium và Campylobacter jejuni

Phép thử nano-PCR đã được phát triển để phát hiện virus sốt lợn châu Phi;

sự khuếch đại được nâng cao một cách hiệu quả nhờ các hạt nano vàng sử dụng như một chất điều giải nhiệt trong hệ thống khuếch đại Độ nhậy của phương pháp nano-PCR lớn hơn 1000 lần so với phương pháp PCR thông thường và đặc biệt không có phản ứng chéo với các vi khuẩn khác như E.coli, porcine circovirus type II hay các virus như giả dại, tai xanh hay sốt cổ điển của lợn (Cui D., Li C., 2013)

Bạc đã được sử dụng để điều trị bệnh y tế trong hơn 100 năm do thuộc tính của nó kháng khuẩn và kháng nấm tự nhiên Các hạt nano bạc thường đo 25nm

Các hạt Nano bạc có diện tích mặt rất lớn, gia tăng tiếp xúc của chúng với vi khuẩn hoặc nấm, và nâng cao hiệu quả diệt khuẩn và diệt nấm Nano bạc khi tiếp xúc với vi khuẩn và nấm bất lợi sẽ ảnh hưởng đến chuyển hóa tế bào và ức chế

sự phát triển của tế bào Nano bạc ức chế hô hấp, quá trình trao đổi chất cơ bản của hệ thống truyền và vận chuyển chất nền trong các màng tế bào vi khuẩn Ion Bạc có ái lực rất mạnh đối với các nhóm chức mang điện tích âm trong cơ thể phân tử sinh học như nhóm –SH, -COOH,… cũng như các nhóm chức tích điện

âm khác trong khắp tế bào vi khuẩn Chính phản ứng liên kết đó đã làm thay đổi cấu trúc của các đại phân tử sinh học, làm chúng trở nên mất tác dụng trong tế bào Vì vậy hầu như các vi sinh vật không thể có khả năng chống lại tính sát khuẩn của nano bạc Nano bạc ức chế sự nhân và tăng trưởng của các vi khuẩn và nấm gây nhiễm trùng, mùi, ngứa và lở loét

Các ưu điểm của Nano bạc là hiệu quả cao; có tác dụng nhanh chóng;

không độc; không kích thích; không dị ứng; không dung sai; ưa nước Nhờ những tính năng này, Nano bạc được xem là chất kháng khuẩn tự nhiên an toàn

và hiệu quả Hiệu quả trong việc làm sạch khuẩn của những sản phẩm có ứng dụng công nghệ Nano bạc đã được giới chuyên môn kiểm chứng và công nhận

Hơn nữa, những sản phẩm được ứng dụng công nghệ này không gây kích ứng

Trang 39

cho người dùng và vật nuôi và đó là những tính năng ưu việt và vượt trội hoàn toàn hơn so với các sản phẩm khử trùng diệt khuẩn sử dụng hóa chất được hại cho cây trồng và vật nuôi

Đối với thủy sản, Nano bạc khi phân tán trong môi trường ao nuôi chúng sẽ phòng và diệt nguồn bệnh trong ao nuôi, ổn định màu nước, khử mùi hôi tanh của nước, đặc biệt đối với những ao có chất thải hữu cơ từ phân gia súc và gia cầm, hạn chế cá ăn nổi và các bệnh như đốm đỏ, đốm trắng, bệnh nấm thủy my, nấm mang, nấm bào tử…

Đối với chăn nuôi, Nano bạc cũng được sử dụng như một loại thuốc sát khuẩn chuồng trại, khử mùi hôi chuồng trại, tiêu diệt mầm bệnh, các loại vi khuẩn, vi rút có hại cho vật nuôi, cực kỳ hiệu quả trong việc phòng dịch và dập dịch, và hoàn toàn không độc hại cho người và vật nuôi Đối với thủy sản, Nano bạc khi phân tán trong môi trường ao nuôi chúng sẽ phòng và diệt nguồn bệnh trong ao nuôi, ổn định màu nước, khử mùi hôi tanh của nước, đặc biệt đối với những ao có chất thải hữu cơ từ phân gia súc và gia cầm, hạn chế cá ăn nổi và các bệnh như đốm đỏ, đốm trắng, bệnh nấm thủy my, nấm mang, nấm bào tử…

(Mingxia Huang and Mackenzie J Parker, 2014)

Trường Đại học Copenhaghen – Đan Mạch đang tiến hành nghiên cứu nano sinh học, được gọi là “nanobiotics”, đặc biệt là những nghiên cứu về nano bạc (Nanobiotic Silver) ứng dụng trong ngành chăn nuôi gia cầm Những nghiên cứu này của Đại học Copenhaghen đã kết hợp với Đại học Warsaw từ năm 2007

Bạc (Ag) và những ion của nó từ lâu đã được biết là có tính kháng khuẩn

Công nghệ nano đã tạo ra được những hạt bạc có kích thước nano (Nanobiotic-Ag) có đặc tính sinh học cao, độc tính thấp và không có tính kháng thuốc Không những thế Nanobiotic-Ag còn có thể tăng hoạt động chuyển hoá tế bào, từ đó dẫn đến tăng tốc độ sinh trưởng của động vật Các nhà khoa học của các trường đại học trên dự kiến Nanobiotic có thể thay thế kháng sinh cũng như các thuốc chống cầu trùng (coccidiostate) vào năm 2010

Tính kháng khuẩn của Nano bạc (NSP-Nanosilver pratices) Các NSP có tác dụng kháng khuẩn rộng rãi đối với một số vi khuẩn Gram

âm và Gram dương và khuẩn kháng kháng sinh Hiệu quả kháng khuẩn của NSP phụ thuộc vào kích thước và nồng độ Thông thường, nồng độ cao hoạt tính kháng khuẩn hiệu quả hơn, trong khi các hạt kích thước nhỏ có thể giết chết vi

Trang 40

khuẩn ở nồng độ thấp hơn Ngoài kích thước hạt và nồng độ, hình dạng cũng ảnh hưởng đến hiệu quả kháng vi rút của NSPs Sadeghi B and Garmaroudi FS (2012) điều tra hoạt động kháng khuẩn của các dạng nano khác nhau trên Staphylococcus aureus và E coli Cũng có báo cáo rằng các NSP kết hợp với các kháng sinh khác nhau có tác dụng kháng vi khuẩn tốt hơn so với chỉ sử dụng NSPs hoặc chỉ sử dung kháng sinh Ví dụ, Li P, Li J (2005) đã chứng minh tác dụng kháng khuẩn lớn hơn đối với E coli khi kết hợp amoxicillin và nano bạc khi chúng được dùng riêng

Cơ chế diệt khuẩn của Nano Bạc Bạc là một nguyên tố có tính kháng khuẩn tự nhiên, có khả năng tiêu diệt phổ rộng các loài vi sinh vật gây bệnh, nhưng đồng thời là một chất kháng khuẩn thân môi trường, bởi vì không gây tác dụng độc hại đối với cơ thể con người và động vật nếu được sử dụng với liều lượng phù hợp cho việc khử trùng

Mặc dù hiệu quả kháng khuẩn của nano bạc đã được nghiên cứu rộng rãi, nhưng cơ chế chính xác của NSP vẫn còn khó nắm bắt NSPs có thể bám vào và sau đó xâm nhập vào thành tế bào vi khuẩn, do đó gây ra sự thay đổi cấu trúc của màng tế bào và tăng tính thấm của tế bào, dẫn đến sự chết của tế bào và sự hình thành của các gốc tự do (Kim KJ and Sung WS, 2009) Ngoài ra các NSP có thể giải phóng các ion bạc và tương tác với các nhóm thiol của nhiều enzyme quan trọng và nguyên tố phospho, do đó ức chế một số chức năng trong các tế bào, chẳng hạn như ngăn chặn sự phân chia tế bào và tái tạo DNA Ngoài ra, các NSP

có thể điều chỉnh việc truyền tín hiệu thông qua việc thay đổi cấu hình phosphoxyrosine của các peptide vi khuẩn đối với cơ chế kháng khuẩn tiềm ẩn

Các nhà khoa học thuộc hãng INOVATION Hàn Quốc cho rằng Bạc tác dụng trực tiếp lên màng bảo vệ của tế bào vi khuẩn Màng này là một cấu trúc gồm các glycoprotein được liên kết với nhau bằng cầu nối axit amin để tạo độ cứng cho màng Các ion Bạc vừa mới được giải phóng ra từ bề mặt các hạt nano Bạc tương tác với các nhóm Peptidoglican và ức chế khả năng vận chuyển oxy của chúng vào bên trong tế bào, dẫn đến làm tê liệt vi khuẩn Nếu các ion bạc được lấy ra khỏi tế bào ngay sau đó, khả năng hoạt động của vi khuẩn có thể lại được phục hồi Các tế bào động vật thuộc nhóm sinh vật bậc cao (Sinh vật đa bào: động vật nói chung bao gồm cả con người là ĐV bậc cao) có lớp màng bảo

vệ hoàn toàn khác so với tế bào vi sinh vật đơn bào (Nấm, Vi khuẩn và Virus)

Chúng có hai lớp Lipoprotein giàu liên kết đôi bền vững có khả năng cho điện tử

Ngày đăng: 16/12/2022, 10:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w