Thực trạng hiện nay về thị trường mạng di động ở Việt Nam Tình hình về thị trường và thị phần của toàn mạng viễn thông Theo số liệu tại Sách Trắng CNTT-TT Việt Nam 2017, tính đến cuối
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT KHOA LUẬT KINH TẾ
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM
HIỆN NAY DƯỚI GÓC ĐỘ CẠNH TRANH ĐỘC QUYỀN.
Giảng viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thế Minh Nhật
BÀI TẬP LỚN
Trang 2MỤC LỤC
I Phần mở đầu 2
1 Mục đích nghiên cứu 2
2 Đối tượng nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
II Nội dung nghiên cứu 3
1 Cơ sở lý luận về thị trường độc quyền 3
Thị trường độc quyền hoàn toàn 3
Thị trường độc quyền nhóm 3
2 Thực trạng hiện nay về thị trường mạng di động ở Việt Nam 5
Tình hình về thị trường và thị phần của toàn mạng viễn thông 5
Xu hướng phát triển của ngành viễn thông 9
III Các hình thức độc quyền về dịch vụ 10
1 Việc chèn ép của các nhà mạng độc quyền theo lợi ích nhóm đang gây rất nhiều khó khăn cho các nhà mạng nhỏ hơn 10
2 Các nhà mạng lớn liêp tiếp đưa ra các đợt khuyến mãi và các gói dịch vụ để thu hút thêm nhiều khách hàng 11
3 Khó khăn cho các mạng viễn thông nhỏ 11
IV Một số giải pháp khắc phục được đề xuất 12
V Kết luận 13
Trang 3I Phần mở đầu
Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, do đó tính chất độc quyền trên thị trường là một vấn đề rất được quan tâm Nhất là đối với một lĩnh vực điển hình như lĩnh vực mạng di động, khi mà tình trạng độc quyền nhóm đã xảy ra từ rất lâu Cần phải có sự nghiên cứu để hướng tới lợi ích cho người tiêu dùng và sự phát triển của ngành
1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm mục đích hệ thống hóa các kiến thức cơ bản của môn học Kinh tế vi mô nhất là kiến thức của thị trường độc quyền, từ đó có thể rút ra những nhận xét, đánh giá, áp dụng giải thích thực tiễn bằng lý luận
2 Đối tượng nghiên cứu
Các mạng điện thoại di động hiện nay ở Việt Nam, thị phần, chiến lược kinh doanh, xu hướng phát triển của ngành
3 Phạm vi nghiên cứu
Thị trường Việt Nam nói chung và thị trường mạng điện thoại di động trong nước nói riêng
II Nội dung nghiên cứu
1 Cơ sở lý luận về thị trường độc quyền
Thị trường độc quyền hoàn toàn
Có duy nhất một người bán/ doanh nghiệp trong ngành
Sản phẩm của doanh nghiệp là duy nhất không có sản phẩm thay thế tương tự
Đường cầu của doanh nghiệp chính là đường cầu thị trường
Trang 4► Doanh nghiệp trong thị trường hoàn toàn là người định giá
Thị trường độc quyền nhóm
Khái niệm: Xét từ phía người bán, thị trường độc quyền nhóm là dạng thị
trường mà trên đó chỉ có một nhóm nhỏ doanh nghiệp cùng hoạt động Tuy không phải là một doanh nghiệp duy nhất độc chiếm thị trường, doanh nghiệp độc quyền nhóm thường có quy mô tương đối lớn so với quy mô chung của thị trường Điều này cho phép nó có một quyền lực thị trường hay khả năng chi phối giá đáng kể Sản phẩm của các doanh nghiệp trên thị trường độc quyền nhóm có thể giống hệt hoặc gần như giống hệt nhau (những sản phẩm được tiêu chuẩn hóa như thép, hóa chất…), song cũng có thể khác biệt nhau (như ô tô, máy tính, dịch vụ hàng không…) Tính đồng
Trang 5nhất hay khác biệt của sản phẩm không phải là những tính chất đặc thù của thị trường này
Đặc trưng: Đặc trưng cơ bản của một ngành độc quyền nhóm là sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các doanh nghiệp Mỗi khi ra quyết định về sản lượng,
giá cả hay các quyết định kinh doanh có liên quan khác, mỗi doanh nghiệp đều phải cân nhắc xem quyết định của mình có ảnh hưởng gì đến các quyết định của các đối thủ, khiến cho các đối thủ phản ứng như thế nào Trong trường hợp này, việc luôn luôn phải tính đến hành vi của các đối thủ làm cho quá trình ra quyết định của các doanh nghiệp trở nên khó khăn và phụ thuộc vào nhau
► Đường cầu trong thị trường độc quyền nhóm là đường gãy khúc
Trang 62 Thực trạng hiện nay về thị trường mạng di động ở Việt Nam
Tình hình về thị trường và thị phần của toàn mạng viễn thông
Theo số liệu tại Sách Trắng CNTT-TT Việt Nam 2017, tính đến cuối năm ngoái, Việt Nam đã có gần 36,2 triệu thuê bao băng rộng di động (3G)
Số liệu thống kê trong Sách Trắng CNTT-TT 2017 cũng cho thấy, thời gian qua thị trường viễn thông, Internet của Việt Nam tiếp tục có sự cạnh tranh tích cực Năm
2016, cả nước có 74 doanh nghiệp đang cung cấp dịch vụ viễn thông di động mặt đất, giảm 6 doanh nghiệp so với năm 2015; số doanh nghiệp đang cung cấp dịch vụ Internet là 51, giảm 1 doanh nghiệp so với năm 2015 Tổng doanh thu lĩnh vực viễn thông, Internet năm 2016 đạt 136.499 tỷ đồng, tương đương 6,16 tỷ USD, tăng 1,6% so với năm 2015
Tổng thuê bao điện thoại di động phát sinh lưu lượng thoại, tin nhắn và dữ liệu (cả 2G và 3G) đạt trên 128 triệu thuê bao, trong đó có gần 36,2 triệu thuê bao băng rộng di động (3G), đạt tỷ lệ 39 thuê bao/100 dân Tổng số thuê bao truy cập băng rộng cố định đạt hơn 9 triệu thuê bao
Thị phần (thuê bao) các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ di động mặt đất phát sinh lưu lượng thoại, tin nhắn, dữ liệu (2G và 3G) của Việt Nam năm 2016 (Nguồn: Sách Trắng CNTT-TT Việt Nam 2017)
Trang 7Đáng chú ý, theo số liệu thống kê trong Sách Trắng CNTT-TT năm 2017, trong năm 2016, thị trường cung cấp dịch vụ viễn thông di động (gồm cả 2G và 3G) tiếp tục có sự góp mặt của 5 doanh nghiệp là Viettel, VNPT, MobiFone, Vietnamobile
và GTel Tuy nhiên, so với số liệu tại thời điểm năm 2013 đã được công bố trong Sách Trắng CNTT năm 2014, trong khi 2 doanh nghiệp lớn là Viettel và VNPT nâng được tỷ lệ nắm giữ trong “miếng bánh” thị trường dịch vụ di động, thì 3 nhà mạng khác là MobiFone, Gtel và Vietnamobile đều bị thu hẹp thị phần dịch vụ viễn thông di động
Cụ thể, Viettel đã nâng thị phần dịch vụ viễn thông di động từ 43,5% của năm
2013 lên chiếm 46,7% trong năm 2016; VNPT chiếm 22,2% thị phần, tăng 4,8%
so với năm 2013 Thị phần dịch vụ viễn thông di động của MobiFone bị giảm mạnh hơn cả, từ chỗ chiếm 31,78% thị phần năm 2013 thì đến năm 2016 con số này là 26,1% Tỷ lệ giảm thị phần dịch vụ viễn thông di động của Vietnamobile và GTel trong năm 2016 so với thời điểm 2013 lần lượt là 1,17% (từ 4,07% xuống còn 2,9%) và 1,12% (từ 3,22% xuống còn 2,1%)
Thị phần các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ di động mặt đất phát sinh lưu lượng thoại và tin nhắn (2G) của Việt Nam năm 2016 (Nguồn: Sách Trắng CNTT-TT Việt Nam 2017)
Trang 8Thị phần (thuê bao) các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ di động mặt đất phát sinh lưu lượng thoại, tin nhắn, dữ liệu (3G) của Việt Nam năm 2016 (Nguồn: Sách Trắng CNTT-TT Việt Nam 2017)
Trong đó, nếu xét riêng về thị phần (thuê bao) dịch vụ 2G, Viettel dẫn đầu, chiếm 42,5%; tiếp đó là MobiFone và VNPT, lần lượt nắm giữ 30% và 21,5% thị phần Tương tự, đối với thị trường cung cấp dịch vụ 3G, năm 2016 số thuê bao di động 3G của mạng Viettel chiếm tới 57,7% tổng số thuê bao 3G, tăng hơn 16% so với năm 2013 Còn thị phần dịch vụ 3G của VNPT là 23,9%, tăng 1,4% so với năm 2013; thị phần dịch vụ 3G của MobiFone bị giảm từ 33,5% năm 2013 xuống còn 16,1% năm 2016
Về thị phần (thuê bao) của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ băng rộng cố định mặt đất, trong số các doanh nghiệp đang triển khai kinh doanh dịch vụ này, năm
2016, thị phần của VNPT vẫn lớn nhất, chiếm 46,1%; tiếp đó là Viettel, chiếm 26,1%; FPT chiếm 18,6%; SCTV chiếm 5,7%; và 3,5% thi phần dịch vụ băng rộng
cố định mặt đất thuộc về các doanh nghiệp khác như CMC, SPT, NetNam, GDS, VTC…
Trang 9Thị phần (thuê bao) các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ băng rộng cố định mặt đất tại Việt Nam năm 2016
Cùng với lĩnh vực viễn thông, Internet, ấn phẩm Sách Trắng CNTT-TT Việt Nam
2017 còn cung cấp thông tin, số liệu thống kê chính thức về các lĩnh vực khác do
Bộ TT&TT quản lý như ứng dụng CNTT, Công nghiệp CNTT, An toàn thông tin; Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử; Bưu chính; Nghiên cứu và đào tạo về CNTT-TT…
Từ các số liệu trên, chúng ta có thể thấy các nhà mạng lớn hầu như đã thâu tóm toàn bộ thị trường và thị phần Vì vậy khả năng để xâm nhập vào thị trường của các hãng mới gần như là không có
Xu hướng phát triển của ngành viễn thông
Tính đến cuối năm 2017, tổng số thuê bao điện thoại cả nước ước tính đạt khoảng 127 triệu, giảm 2,1% so cùng kỳ năm 2016 Lý do giảm số thuê bao một phần vì các nhà mạng thực hiện thu hồi sim "rác" theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông Ðiều này cũng cho thấy thị trường viễn thông vẫn đang tiếp tục trạng thái bão hòa Tuy nhiên, dù gặp nhiều khó khăn trong phát triển thuê bao mới, nhưng kết quả kinh doanh của các DN viễn thông vẫn duy trì mức tăng trưởng cao
Trang 10 Cuối cùng chính là những thách thức đến từ cuộc CMCN 4.0 Thực tế, bản chất của CMCN 4.0 là những đột phá chưa từng có trong nền tảng công nghệ liên quan kết nối in-tơ-nét như điện toán đám mây, in-tơ-nét vạn vật (IoT), trí thông minh nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, Vì thế, các DN viễn thông cần phải luôn chủ động, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ thì mới có thể bắt kịp và khai thác hiệu quả các cơ hội to lớn mà cuộc cách mạng này mang lại
Cùng với đó là xu hướng cạnh tranh hóa trên toàn cầu, dần dần thì thị trường viễn thông sẽ mất đi tính độc quyền mà thay vào đó là thị trường cạnh tranh của rất nhiều các doanh nghiệp không có nhiều vốn đầu tư của nhà nước nữa
III Các hình thức độc quyền về dịch vụ
1 Việc chèn ép của các nhà mạng độc quyền theo lợi ích nhóm đang gây rất nhiều khó khăn cho các nhà mạng nhỏ hơn.
Mạng S-Fone gia nhập thị trường tương đối sớm, từ tháng 7/2003 và cũng từng có những dấu ấn nhất định trên thị trường Là liên doanh với đối tác là nhà mạng lớn nhất Hàn Quốc SK Telecom, S-Fone cũng góp phần không nhỏ trong việc ép VNPT rời bỏ vị thế độc quyền và là nhà mạng mang nhiều cái “đầu tiên” vào Việt Nam: áp dụng cách tính cước theo block 10 giây và sau đó là block 6 giây; tính cước thống nhất một vùng; nhiều gói cước linh hoạt… S-Fone từng thu hút hàng triệu thuê bao mới với chiến dịch tặng máy điện thoại – nhà mạng đầu tiên áp dụng phương thức tặng máy điện thoại kèm SIM Đây cũng là nhà mạng đầu tiên cung cấp 3G và các dịch vụ 3G tại Việt Nam
Trang 11 Những ai theo dõi thị trường viễn thông di động hẳn không quên nhà mạng Beeline – với sự đầu tư hợp tác giữa hãng di động Nga Vimpelcom và Tổng công ty Viễn thông Toàn cầu (Gtel) của Bộ Công an – đã từng có những chiến dịch phát triển thuê bao rất táo bạo, đặc biệt là sự ra đời của các gói cước như Big Zero, Tỉ phú 1, Tỉ phú 2 đã thu hút rất nhiều thuê bao mới, mức tăng trưởng có lúc đạt 400%/ngày, khiến các nhà mạng lớn phải giật mình kinh sợ
Cho đến cùng thì đều bị các nhà mạng lớn là Viettel và VNPT áp dụng các quy tắc bán với giá rẻ hơn và áp dụng giá sàn để đẩy họ vào thế khó khăn
Các doanh nghiệp nhỏ không có đủ tiềm lực tài chính để có thể áp dụng mức giá sàn, vì họ sẽ vị thua lỗ dẫn đến phá sản
2 Các nhà mạng lớn liêp tiếp đưa ra các đợt khuyến mãi và các gói dịch vụ để thu hút thêm nhiều khách hàng
Nổi bật là việc hai nhà mạng MobiFone, VinaPhone đưa ra các gói cước trả sau “siêu rẻ” trọn gói chỉ từ 69.000 đồng/tháng (gồm cả phí thuê bao tháng
và cước thoại nội mạng), tính chung cước gọi nội mạng chỉ 10 đồng/phút Cùng với đó là các ưu đãi về cước dữ liệu với hạn mức “khủng” dành cho thuê bao; các gói cước tích hợp dịch vụ thoại, data, truyền hình với các dịch
vụ viễn thông công nghệ thông tin khác với nhiều ưu đãi cho thuê bao…
Sẽ là thiếu sót nếu không kể đến việc các nhà mạng lớn liên tục cung cấp các dịch vụ với tiện ích mới cho khách hàng thông qua việc hợp tác với các đối tác ở nhiều lĩnh vực khác nhau từ ẩm thực, thời trang, nghỉ dưỡng đến các dịch vụ bảo hiểm, tài chính hoặc đẩy mạnh hợp tác với nhà sản xuất smartphone để cung cấp bộ combo mua máy kèm gói cước ưu đãi giá rẻ hơn đến 60% so với thị trường…
Trang 12 Với việc miễn phí từ 120 GB dung lượng tốc độ cao 3G cho chủ thuê bao với điều kiện chỉ cần nạp thẻ trên 20.000 đồng mỗi tháng, Thánh SIM của Vietnamobile đã bị Cục Viễn thông (Bộ TT&TT) yêu cầu ngừng phân phối
và báo cáo đầy đủ số liệu kinh doanh do có dấu hiệu vi phạm quy định của pháp luật về quản lý giá cước viễn thông
Theo tổng đài CSKH của Viettel, gói MT5C đã được nhà mạng này triển khai từ ngày 28/6/2017 và "rẻ vượt trội" so với các gói cước thông thường của nhà mạng này Giá gói cước trên là 5.000 đồng cho 3 GB dung lượng 4G tốc độ cao trong 24 giờ, tương đương 150.000 đồng cho 90 GB trong một tháng
3 Khó khăn cho các mạng viễn thông nhỏ
Nỗi khó khăn lớn nhất có lẽ là đến từ mặt vốn đầu tư và cơ sở hạ tầng
Vì thiếu vốn, nên việc xây dựng và lắp đạt các trạm thu phát sóng sẽ rất hạn chế, khiến cho chất lượng cuộc gọi của các nhà mạng này vẫn kém hơn nhiều so với các nhà mạng lớn Đây là điều rất quan trọng để mọi người lựa chọn sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp nào
Ví dụ điển hình chính là Beeline: cho dù đã rất cố gắng trong việc xây dựng các gói cước độc đáo và vô cùng rẻ thì họ vẫn vấp phải khó khăn đến từ việc đường truyền phát sóng phải ổn định
Trang 13IV Một số giải pháp khắc phục được đề xuất
♦ Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ gia nhập thị trường theo các hình thức nương nhờ cơ sở vật chất của các doanh nghiệp lớn hơn
♦ Giá cước dịch vụ 4G: Kinh nghiệm từ các quốc gia đã triển khai 4G như
Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc… thì đơn giá trên một Mb của 4G không cao hơn 3G nhưng tổng mức chi trả thì cao hơn do dung lượng tiêu tốn của 4G lớn hơn
♦ Để giữ chân được khách hàng cũ và phát triển được thuê bao mới chỉ còn cách buộc nhà mạng phải nâng cao chất lượng dịch vụ và chăm sóc khách hàng; đổi mới phương thức kinh doanh dịch vụ viễn thông
♦ Xây dựng các gói cước thoại và tin nhắn miễn phí dành cho cả thuê bao trả trước và trả sau nhằm cạnh tranh với dịch vụ OTT (dịch vụ nội dung trên nền mạng viễn thông); Xây dựng gói cước Bundles (tích hợp Internet-Truyền hình cáp – Viễn thông cố định/di động) cho các nhóm đối tượng khách hàng khác nhau với giá cước hợp lý nhằm tận dụng các lợi thế về hạ tầng mạng viễn thông hiện nay để cạnh tranh với các DN cung cấp dịch vụ truyền hình (cáp, số, vệ tinh)
V Kết luận
Độc quyền cho dù thế nào thì vẫn là một thất bại của thị trường, người bị ảnh hưởng nhiều nhất chính là người sử dụng dịch vụ vì họ không có quá nhiều lựa chọn cho chính bản thân mình Cho dù theo xu thế thời đại độc quyền cũng dần biến mất nhưng nhà nước cũng cần chú ý để mang lại lợi ích tốt nhất cho người tiêu dùng
Trang 14Tài liệu tham khảo
1 Số liệu tổng hợp, báo cáo tổng kết của các doanh nghiệp viễn thông từ các báo: Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Lao Động, Dân trí, VietnamNET, ICTNews ;
2 Một số trang web: www.mic.gov.vn; vnta.gov.vn; mobifone.com.vn; vnpt.com.vn; viettel.com.vn