HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM LÊ HỒNG MẠNH NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC, SINH THÁI HỌC CỦA LOÀI MỌT THÓC ĐỎ Tribolium castaneum Herbst GÂY HẠI TRÊN HOA CÚC KHÔ NHẬP KHẨU TẠI CỬA K
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ HỒNG MẠNH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC, SINH THÁI HỌC
CỦA LOÀI MỌT THÓC ĐỎ Tribolium castaneum (Herbst)
GÂY HẠI TRÊN HOA CÚC KHÔ NHẬP KHẨU TẠI CỬA KHẨU CHI MA, LẠNG SƠN NĂM 2019
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hồ Thị Thu Giang
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Lê Hồng Mạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của cơ quan, các thầy cô, bạn bè và người thân
Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS
Hồ Thị Thu Giang đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của tập thể các thầy, cô giáo bộ môn Côn trùng - Khoa Nông học, Ban quản lý đào tạo Học viện nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt cho tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban lãnh đạo và tập thể cán bộ Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng 7 Lạng Sơn đã động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học và thực hiện đề tài nghiên cứu
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến tất cả bạn bè, người thân và gia đình đã luôn động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Lê Hồng Mạnh
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn x
Thesis abstract xii
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
1.4.1 Những đóng góp mới 2
1.4.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
Phần 2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước về loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) 4
2.2.1 Vị trí phân loại 4
2.2.2 Phạm vi ký chủ và phân bố 5
2.2.3 Một số đặc điểm hình thái, sinh vật học, sinh thái học của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) 6
2.2.4 Nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ côn trùng gây hại trong kho bảo quản 11
2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước 13
2.3.1 Những nghiên cứu trong công tác kiểm dịch thực vật 13
Trang 62.3.2 Một số đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của loài mọt thóc đỏ
Tribolium castaneum (Herbst) 14
2.3.3 Nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ côn trùng gây hại trong kho bảo quản 17
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 20
3.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 20
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
3.1.2 Thời gian nghiên cứu 20
3.1.3 Địa điểm nghiên cứu 20
3.2 Vật liệu nghiên cứu 20
3.3 Nội dung nghiên cứu 20
3.4 Phương pháp nghiên cứu 21
3.4.1 Phương pháp điều tra thành phần sâu mọt gây hại và diễn biến mật độ sâu mọt gây hại trên nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu 21
3.4.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu 22
3.4.3 Thử nghiệm hiệu lực của phosphine đối với mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) gây hại nguyên liệu hoa cúc khô 25
3.5 PHương pháp bảo quản sâu mọt 27
3.6 Phương pháp xử lý số liệu 28
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 29
4.1 Thành phần sâu mọt hại nguyên liệu hoa cúc nhập khẩu qua cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn 29
4.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học của loài mọt Tribolium castaneum (Herbst) 30
4.2.1 Đặc điểm hình thái của mọt Tribolium castaneum (Herbst) 31
4.2.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) 37
4.2.3 Tỉ lệ chết các pha trước trưởng thành của mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) 47
4.2.4 Điều tra mật độ của loài mọt Tribolium castaneum (Herbst) 52
4.3 Khảo nghiệm thuốc hoá học phòng trừ loài mọt Tribolium castaneum (Herbst) hại nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu 54
Trang 7Phần 5 Kết luận và đề nghị 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Đề nghị 57
Tài liệu tham khảo 58
Phụ lục 63
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Thành phần côn trùng gây hại nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu tại
cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn năm 2018 - 2019 29
Bảng 4.2 Kích thước các pha phát dục của mọt Tribolium castaneum (Herbst) ở
hai mức nhiệt độ 31
Bảng 4.3 Thời gian phát dục của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)
ở 2 mức nhiệt độ khác nhau với thức ăn trên hoa cúc 38
Bảng 4.4 Thời gian phát dục của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum
(Herbst) ở 2 mức nhiệt độ khác nhau với thức ăn trên bột mỳ 40 Bảng 4.5 Ảnh hưởng của thức ăn khác nhau đến sức sinh sản của mọt thóc đỏ
Tribolium castaneum (Herbst) ở hai mức nhiệt độ 42
Bảng 4.6 Thời gian sống của trưởng thành mọt thóc đỏ Tribolium castaneum
(Herbst) trong điều kiện có thức ăn và không có thức ăn ở nhiệt độ 25
oC 43
Bảng 4.7 Thời gian sống của trưởng thành mọt thóc đỏ Tribolium castaneum
(Herbst) trong điều kiện có thức ăn và không có thức ăn ở nhiệt độ 30
oC 44 Bảng 4.8 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tỷ lệ trứng nở của mọt thóc đỏ
Tribolium castaneum (Herbst) ở nhiệt độ 25
oC 45 Bảng 4.9 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tỷ lệ trứng nở của mọt thóc đỏ
Tribolium castaneum (Herbst) ở nhiệt độ 30
oC 45 Bảng 4.10 Ảnh hưởng của nhiệt độ và thức ăn đến tỷ lệ đực cái của loài mọt thóc
đỏ Tribolium castaneum (Herbst) ở nhiệt độ 25
oC 46 Bảng 4.11 Ảnh hưởng của nhiệt độ và thức ăn đến tỷ lệ đực cái của loài mọt thóc
đỏ Tribolium castaneum (Herbst) ở nhiệt độ 30
oC 47 Bảng 4.12 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tỷ lệ chết các pha trước trưởng thành của
mọt thóc đỏ Triborium castaneum H với thức ăn là bột mỳ 48
Bảng 4.13 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tỷ lệ chết các pha trước trưởng thành của
mọt thóc đỏ Triborium castaneum H với thức ăn là hoa cúc khô 48 Bảng 4.14 Mức độ gây hại của mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên
các loại thức ăn khác nhau ở nhiệt độ 25
oC 50
Trang 9Bảng 4.15 Mức độ gây hại của mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên
các loại thức ăn khác nhau ở nhiệt độ 30
oC 51
Bảng 4.16 Điều tra mật độ loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên
nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu tại cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn 53
Bảng 4.17 Hiệu lực phòng trừ mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) của
thuốc Phosphine ở các liều lượng khác nhau 55
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Điều tra thành phần sâu mọt gây hại và diễn biến mật độ sâu mọt gây
hại trên nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu 22
Hình 3.2 Hình ảnh nuôi sinh học loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) 23
Hình 3.3 Thí nghiệm hiệu lực của phosphine đối với mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) gây hại nguyên liệu hoa cúc khô 25
Hình 4.1 Mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) 29
Hình 4.2 Mọt râu dài Cryptolestes ferrugineus (Stephens) 29
Hình 4.3 Mọt răng cưa Oryzaephilus surinamensis (Linnaeus) 30
Hình 4.4 Mọt râu dài Cryptolestes pusillus (Schönherr) 30
Hình 4.5 Trứng của Tribolium castaneum (Herbst) 32
Hình 4.6 Sâu non tuổi 1 Tribolium castaneum (Herbst) 32
Hình 4.7 Sâu non tuổi 2 Tribolium castaneum (Herbst) 32
Hình 4.8 Sâu non tuổi 3 Tribolium castaneum (Herbst) 32
Hình 4.9 Sâu non tuổi 4 Tribolium castaneum (Herbst) 33
Hình 4.10 Sâu non tuổi 5 Tribolium castaneum (Herbst) 33
Hình 4.11 Sâu non tuổi 6 Tribolium castaneum (Herbst) 34
Hình 4.12 Sâu non tuổi 7 Tribolium castaneum (Herbst) 34
Hình 4.13 Sâu non tuổi 8 Tribolium castaneum (Herbst) 34
Hình 4.14 Nhộng Tribolium castaneum (Herbst) 35
Hình 4.15 Trưởng thành mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) 36
Hình 4.16 Vòng đời của mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên 2 loại thức ăn hoa cúc và bột mỳ ở nhiệt độ 25
oC và 30
oC, ẩm độ 70-80% 40
Hình 4.17 Ảnh hưởng của các loại thức ăn và nhiệt độ đến tỷ lệ trứng nở của mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) 46
Hình 4.18 Tỷ lệ chết trước trưởng thành của mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) 49
Hình 4.19 Tỷ lệ gây hại của mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên các loại thức ăn khác nhau trong điều kiện 25
oC, độ ẩm 70-80% 50
Hình 4.20 Tỷ lệ gây hại của mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên các loại thức ăn khác nhau trong điều kiện 30
oC, độ ẩm 70-80% 51
Trang 11Hình 4.21 Điều tra mật độ loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên
nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu tại cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn đợt 1 (từ 19/10/2018 - 28/12/2018) 53
Hình 4.22 Điều tra mật độ loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên
nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu tại cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn đợt 2 (từ 22/2/2019 đến 3/4/2019) 54
Hình 4.23 Hiệu lực phòng trừ mọt Tribolium castaneum (Herbst) của thuốc
Phosphine ở các liều lượng khác nhau 55
Trang 12TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Lê Hồng Mạnh Tên Luận văn: Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của của loài mọt thóc
đỏ Tribolium castaneum (Herbst) gây hại trên hoa cúc khô nhập khẩu tại cửa khẩu Chi
Ma, Lạng Sơn năm 2019
mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) từ đó đề xuất biện pháp quản lý dịch hại có nguy
cơ theo hàng hoa cúc khô nhập khẩu từ Trung Quốc qua cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu trên đối tượng loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) Điều
tra xác định thành phần côn trùng gây hại trên hoa cúc khô nhập khẩu qua cửa khẩu Chi
Ma, Lạng Sơn được tiến hành theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: QCVN 01- 141:
2013/BNNPTNN về phương pháp lấy mẫu Kiểm dịch thực vật
Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài mọt thóc đỏ Tribolium
castaneum (Herbst) theo William Azalekor (1999)
Phương pháp xử lý và bảo quản sâu mọt theo Bùi Công Hiển (1995)
Thử nghiệm biện pháp phòng trừ trong phòng thí nghiệm được thực hiên theo quy chuẩn Việt Nam 01-19/2010/BNNPTNT (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2010) Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy trình kỹ thuật xông hơi khử trùng
Cryptolestes ferrugineus (Stephens)
Ở nhiệt độ 25
oC, độ ẩm 70-80% vòng đời của loài mọt thóc đỏ Tribolium
castaneum (Herbst) trên hoa cúc khô và bột mỳ trung bình là 92,92 ± 4,02 ngày và 83,5
± 3,14 ngày Tổng số trứng đẻ trung bình của mọt trưởng thành cái cao nhất là
Trang 13149,15±31,02 quả/cái khi được nuôi với thức ăn là bột mỳ Tỷ lệ đực/cái trên hoa cúc khô là 1/0,86 và bột mỳ là 1/1,10 Tỷ lệ chết các pha trước trưởng thành ở hoa cúc là 36,36% cao hơn bột mỳ là 32,73%
Ở nhiệt độ 30
oC, độ ẩm 70-80% vòng đời của loài mọt thóc đỏ Tribolium
castaneum (Herbst) trên hoa cúc khô và bột mỳ trung bình là 78,23 ± 2,18 ngày và 69,3
± 1,75 ngày Tổng số trứng đẻ trung bình của mọt trưởng thành cái cao nhất là 251,17±45,19 quả/cái khi được nuôi với thức ăn là bột mỳ Tỷ lệ đực/cái trên hoa cúc khô là 1/1,20 và bột mỳ là 1/1,42 Tỷ lệ chết các pha trước trưởng thành ở hoa cúc là 29,09% cao hơn bột mỳ là 20%
Sau thời gian 120 ngày bảo quản tỷ lệ hao hụt trọng lượng với thức ăn bột mỳ
và hoa cúc khô ở nhiệt độ 25
oC là 42,7% và 27,8%; tỷ lệ này ở nhiệt độ 30
oC là 51,3% và 37,4%
Mật độ mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên nguyên liệu hoa cúc khô
nhập khẩu tại cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn giữa đợt 1 (trung bình 5,2 con/kg) và đợt 2 (6,1 con/kg) sự khác nhau không đáng kể
Thuốc Phosphine có hiệu lực phòng trừ mọt thóc đỏ Tribolium castaneum
(Herbst) đạt 100% khi sử dụng liều lượng 3 gam PH
3/m
3sau 7 ngày xử lý, thấp nhất thuốc ở liều lượng 1g/m
3sau 3 ngày xử lý thuốc (đạt 31%)
Trang 14THESIS ABSTRACT
Author's name: Le Hong Manh
Name of the thesis: Biological and Ecological characteristics of Tribolium castaneum
(Herbst) on imported dried chrysanthemum flower at Chi Ma border gate, Lang Son province in 2019;
Name of training institution: Vietnam National University of Agriculture Research purposes:
The survey composition of insect pests were carried out on imported dried chrysanthemum flowers from China Study on some biological and ecological
characteristics of Tribolium castaneum (Herbst) causing major damage; These would
provide a basis to detect and management pests infecting dried chrysanthemum flowers from China through Chi Ma border gate, Lang Son
Research Methods
The composition of insect pests on improted dried chrysanthemum flower at Chi
Ma border gate, Lang Son was Sampling by method carried out in accordance with National Technical Regulation 01-141: 2013/MARD on sampling methods of plant
quarantine Study on the biological and ecological characteristics of Tribolium
castaneum (Herbst) according to William Azalekor (1999)
Pest handling and preservation method according to Bui Cong Hien (1995)
Assessment the effectiveness of Phosphine Laboratory tests are performed in accordance with Vietnamese standards 01-19/2010/ MARD National technical regulation on disinfection vaporization technical process
Main results and conclusions
The insect pest on imported dried chrysanthemum materials at Chi Ma border gate, Lang Son province from 2018 to 2019 were determine 4 species belong 3 families Four
species were very common: Tribolium castaneum Herbst, Oryzaephilus surinamensis L.,
Cryptolestes pusillus (Schönherr) và Cryptolestes ferrugineus (Stephens)
At 25
oC, the life cycle of Tribolium castaneum Herbst on dried chrysanthemum
and wheat averages were 92.92 ± 4.02 days and 83.5 ± 3.14 days, respectively The highest average number of laying eggs of the adult the red flour beetle was 149.15 ± 31.02 eggs/female when fed with wheat flour The male/female ratio for dried chrysanthemum were 1/0.86 and wheat flour is 1/1.10 The mortality rate of pre-mature
Trang 15stage in chrysanthemum was 36.36% higher than that of wheat flour of 32.73%
At 30
oC, the life cycle of Tribolium castaneum Herbst on dried chrysanthemum
and wheat averages were 78.23 ± 2.18 days and 69.3 ± 1.75 days, respectively The highest average number of laying eggs of the adult the red flour beetle was 251.17 ± 45.19 eggs/female when fed with wheat flour The male/female ratio for dried chrysanthemum is 1/1.20 and wheat flour is 1/1.42 The mortality rate of pre-mature stage in chrysanthemum was 29.09% higher than that of wheat flour of 20%
After 120 days of infestation, percent weight loss of wheat flour and dried chrysanthemum was 42.7% and 27.8% at 25
oC; and 51.3% and 37.4% at 30
oC
Changes in the density of Tribolium castaneum (Herbst) on imported dried
chrysanthemum flowers through the Chi Ma, Lang Son from 10-12/2018 and from 2- 5/2019 were not difference significant
Phosphine effective with Tribolium castaneum (Herbst) was 100% at 3 grams of
PH3 /m3 dose after 7 days treaments, the lowest dose is 1g of PH3 / m
3at 3 days after treaments effective was 31%
Trang 17PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Hoa cúc có tên khoa học là Chrysanthemum indicum, họ Asteraceae, có vị
đắng, cay, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, hạ hỏa, giải độc, bổ não và chữa suy nhược thần kinh Từ nhiều năm nay, cả hoa cúc khô và tươi đều được dùng để chế biến thành các loại trà (gọi là trà hoa cúc) và làm vị thuốc Đông y có tác dụng phòng, chữa nhiều bệnh rất tốt Hoa cúc việc được gieo trồng trong nước thì
đa số được nhập khẩu vào Việt Nam từ Trung Quốc, theo số liệu báo cáo hàng năm của Chi cục kiểm dịch thực vật vùng 7 - Cục Bảo vệ thực vật như sau; năm 2016: 203,104 tấn; năm 2017: 196,193 tấn; sáu tháng đầu năm 2018 là 75,52 tấn (Chi cục KDTV VII, 2018)
Qua công tác điều tra thành phần dịch hại hại trên các lô hàng hoa cúc nhập khẩu qua các năm gần đây thì một trong những nhóm gây hại có nguy cơ làm ảnh hưởng rõ rệt nhất tới sự tổn thất là do nhóm côn trùng hại gây ra trong số đó có
loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) xuất hiện ở mức độ phổ biến qua
các lô hàng nhập khẩu hoa cúc khô tại cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn mà Trạm kiểm dịch thực vật Chi Ma đã phát hiện
Mục tiêu của công tác Kiểm dịch thực vật là hoạt động ngăn chặn, phát hiện, kiểm soát đối tượng kiểm dịch thực vật, đối tượng phải kiểm soát và sinh vật gay hại lạ theo hàng hoá trong quá trình xuất nhập khẩu để bảo vệ tốt nền sản xuất trong nước, đảm bảo uy tín chất lượng sản phẩm hàng hoá Việt Nam trên trường quốc tế, tránh thiệt hại cho người sản xuất, kinh doanh, người tiêu dùng, bảo vệ môi trường sinh thái và sức khoẻ của con người Trong công tác Kiểm dịch thực vật, việc điều tra thành phần, nghiên cứu đặc điểm hình thái, đặc tính sinh học của các loài dịch hại chủ yếu là công việc rất cần thiết, giúp cho việc phát hiện và xử lý kịp thời, nhanh chóng, chính xác sinh vật gây hại nói chung, côn trùng nói riêng, là cơ sở khoa học để phân tích đánh giá và quản lý dịch hại trên hàng nông sản nhập khẩu vào Việt Nam Để góp phần đáp ứng yêu cầu của
khoa học và thực tiễn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc
điểm sinh vật học, sinh thái học của của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) gây hại trên hoa cúc khô nhập khẩu tại cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn năm 2019”
Trang 181.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.2.1 Mục tiêu chung
Xác định thành phần sâu mọt gây hại trên mặt hàng hoa cúc khô nhập khẩu qua cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn Đi sâu nghiên cứu một số đặc điểm sinh học,
sinh thái của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) từ đó đề xuất biện
pháp quản mọt thóc đỏ gây hại trên hoa cúc khô nhập khẩu từ Trung Quốc qua cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác định thành phần sâu mọt hại trên hoa cúc khô nhập khẩu từ Trung Quốc qua cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn
- Xác định đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của của loài mọt thóc đỏ
Tribolium castaneum (Herbst) gây hại trên hoa cúc khô và bột mỳ
- Thử nghiệm phòng trừ sâu mọt bằng thuốc Phosphine tại phòng kỹ thuật Chi cục KDTV vùng 7 Lạng Sơn
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu tại cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn
- Thành phần sâu mọt gây hại trên nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu Đặc
biệt là loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) gây hại trên nguyên liệu
hoa cúc khô
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Xác định thành phần sâu mọt hại trên hoa cúc khô nhập khẩu từ Trung Quốc qua cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn
- Đi sâu nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của của loài mọt
thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)
- Thử nghiệm phòng trừ sâu mọt bằng thuốc Phosphine tại phòng kỹ thuật Chi cục KDTV vùng 7 Lạng Sơn
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.4.1 Những đóng góp mới
- Bổ sung thêm một số dẫn liệu về đặc điểm sinh học, sinh thái của loài mọt
Trang 19thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên mặt hàng hoa cúc khô nhập khẩu
- Cung cấp về mức độ phổ biến của sâu mọt hại hoa cúc khô nhập khẩu qua cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn
1.4.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Góp phần bổ sung vào danh mục thành phần côn trùng gây hại nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu Nhằm phát hiện kịp thời loài côn trùng thuộc danh mục đối tượng Kiểm dịch thực vật của Việt Nam
- Cung cấp thêm một số dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh học, sinh thái của
loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) trên nguyên liệu hoa cúc khô
nhập khẩu Đề xuất biện pháp quản lý sâu mọt gây hại trên nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu
Trang 20PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Các loại thảo dược được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi trong việc chữa trị
từ lâu đời Các loài hoa là các vị thuốc được khai thác và bào chế theo sách của Trung Quốc truyền sang và được phát triển bởi các lương y người Việt Thuốc Nam là các vị thuốc do các thầy thuốc khám phá trên lãnh thổ Việt Nam Các vị thầy thuốc nổi tiếng được xem là bậc tổ của nghề y Việt Nam là Lê Hữu Trác (còn lưu truyền bộ Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh là sách căn bản của Đông y Việt Nam) và Tuệ Tĩnh (tác giả của câu nói nổi tiếng "Nam dược trị Nam nhân" - thuốc Nam dùng chữa bệnh cho người Nam)
Thuốc đông y khi sử dụng không chỉ an toàn hơn các loại thuốc hoá học đắt tiền, mà còn có tác dụng điều trị nhằm tăng cường sức khoẻ, sức đề kháng của cơ thể đặc biệt đẩy lùi được một số căn bệnh hiểm nghèo Một trong những mặt hàng truyền thống được người Việt Nam sử dụng từ rất lâu đó là nguyên liệu các loại thảo dược Lượng nguyên liệu thảo dược nhập khẩu hàng năm ngày càng tăng cả về số lượng, khối lượng và chủng loại
Hiện nay, việc bảo quản nguyên liệu thảo dược nhập khẩu còn gặp nhiều khó khăn do các điều kiện về kho tàng, cách bảo quản, nhất là do sự gây hại của nhiều loại côn trùng làm hao hụt nguyên liệu, giảm giá trị hàng hóa trong kho bảo quản Một trong những đối tượng thường xuyên xuất hiện và gây hại nghiêm trọng trong các kho bảo quản nguyên liệu thảo dược là loài mọt thóc đỏ
Tribolium castaneum (Herbst) được phát hiện trên nhiều loại nông sản bảo quản
khác nhau và các nhà khoa học cũng đã có công trình nghiên cứu quan tâm đến loài côn trùng này Tuy nhiên, ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về loài mọt
thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) chưa nhiều, nhất là trên mặt hàng bảo
quản là nguyên liệu thảo dược
2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC VỀ LOÀI MỌT THÓC
ĐỎ Tribolium castaneum (Herbst)
2.2.1 Vị trí phân loại
Vị trí phân loại và danh pháp như sau:
- Ngành chân đốt (Phylum): Arthropoda
- Lớp côn trùng (Class): Insecta
Trang 21Tên khác: Colydium castaneum (Herbst), Tribolium navala auct
Theo CABI (2018) mọt thóc đỏ có tên khoa học là Tribolium castaneum
(Herbst) và có tên tiếng anh là mọt bột đỏ (Red flour beetls), Bọ cám (Bran bug), Mọt bột đỏ gỉ sắt (Rust red flou beetle), Mọt bột (Flour beetle), Mọt thóc đỏ gỉ sắt (Rust red grain beetle), Mọt bột xay đỏ (Red meal beetle)
2.2.2 Phạm vi ký chủ và phân bố
Mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) là côn trùng hại thứ phát đối với
các sản phẩm kho và có phổ ký chủ rộng (Adil, 1982) Thức ăn gồm ngũ cốc và các sản phẩm từ ngũ cốc; bột mì, ngô, lúa mì, lúa mạch, bột ngô, hạt kê, yến mạch, gạo, lúa mạch đen, cám lúa mì, quả đậu, sữa bột, hạt cỏ khô, mẫu cây bảo tảng, bả độc tẩm Asen, thức ăn gia súc khô, gia vị, nhiều loại thực phẩm cất trữ, hầu hết các sản phẩm của thực vật và động vật khô, thậm chí còn có thể ăn lẫn nhau như pha trứng
và pha nhộng côn trùng sống trong điều kiện quần thể quá đông (Subramanyam et
al.,1996; Haines, 2001)
Ký chủ chính: ngô, lúa gạo, lúa mì, sản phẩm khô cất giữ, yến mạch, lúa miến, lúa mạch đen, lúa mạch, đậu, đậu Hà Lan, đậu lăng, đậu lima, lạc, quả óc chó, quả hạch, lúa mì spenta (CABI, 2003)
Ký chủ phụ: sắn, hạt nhục đậu khấu, hạt kê, hạt kê trai, thuốc lá, cám mì,
cỏ đinh lăng, cây lanh, cao su, bông, cánh hoa rum khô, hạt hướng dương, đậu tương, củ gừng, ớt chuông, bột quế, bột ca cao, củ từ, củ khoai sọ, khoai lang, kê xay, đậu quả, đậu đen, đậu bầu dục, chà là, lúa miến, lúa mì
Tribolium castaneum (Herbst) (Coleoptera: Tenebrionidae) là một loại côn
trùng được lưu trữ rộng rãi và phá hoại ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, trưởng thành của mọt thóc đỏ và sâu non tấn công nhiều nhà máy bột mì, nhà kho
và cửa hàng tạp hóa và ăn nhiều loại rau khô, chẳng hạn như các sản phẩm ngũ cốc xay Côn trùng gây thiệt hại nghiêm trọng về trọng lượng và chất lượng của
các sản phẩm được lưu trữ (Abdelgaleil et al., 2015)
Trang 222.2.3 Một số đặc điểm hình thái, sinh vật học, sinh thái học của loài mọt
thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)
2.2.3.1 Đặc điểm hình thái loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)
Theo Haines (1991), họ Tenebronidae là một nhóm côn trùng lớn và đa dạng chứa hơn 10.000 loài trong đó có khoảng 100 loài được ghi nhận ở sản phẩm lưu trữ Hầu hết các loài trong giống Tenebrionidae có màu đen hoặc tối,
có thể được tìm thấy trong các cửa hàng có chứa ngũ cốc bị nhiễm khuẩn, đặc biệt trong vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới
Rizana (2005), cho biết mọt thóc đỏ Triborium castaneum đẻ trứng nhỏ,
hình trụ, màu trắng nằm rải rác trong sản phẩm Sâu non có màu vàng với đầu màu nâu nhạt, chúng sống bên trong các hạt cho đến khi hóa nhộng Trưởng thành dài khoảng 3 - 4 mm và có thể sống từ một năm trở lên
Adil (1982), ghi nhận trưởng thành của mọt thóc đỏ Triborium castaneum
có chiều dài từ 3 đến 4 mm, cơ thể có màu nâu Râu đầu 11 đốt và 3 đốt cuối phình to Mắt kép, khoảng cách giữa 2 mắt kép bằng đường kính của mắt kép
Chiều dài trung bình của mọt thóc đỏ Triborium castaneum là 3,32 và chiều rộng
là 1,03 mm Nhộng có màu nhạt và không hoạt động, ngoại trừ cũng có khả năng uốn cong cơ thể giữa ngực và bụng William (2000) đã nghiên cứu về loài
Triborium castaneum và cho rằng chiều dài của nhộng đực là 3,81 ± 0,03 mm và
chiều rộng là 1,07 ± 0,03 mm Chiều dài và chiều rộng của nhộng cái là 4,12 ± 0,01 mm và 1,15 ± 0,01 mm
Chitrangad (2012), đã mô tả: trứng của mọt thóc đỏ Triborium castaneum
có hình bầu dục, màu trắng hoặc không màu và gần như trong suốt khi mới đẻ và sau đó chuyển màu vàng nhạt, vỏ bên ngoài được phủ một chất dính, trứng có chiều dài trung bình 0,56 mm rộng 0,27 mm Sâu non có 7 tuổi, cơ thể màu vàng trắng Nhộng có màu trắng với chiều dài 3,5- 4,0 mm và rộng 1,1 mm Trưởng thành mọt thóc đỏ mới vũ hóa có màu vàng nhạt, sau đó dần biến thành màu nâu
đỏ và nâu đen, trưởng thành có chiều dài từ 3 đến 4 mm, chiều rộng là khoảng 1
mm, hẹp, dài, cơ thể hình chữ nhật
Singh et al (2006), cho biết sâu non mọt thóc đỏ Triborium castaneum có
từ 5-12 tuổi, cơ thể sâu non màu vàng trắng và có hình trụ, sâu non tuổi 1 thường
từ dưới 1 mm, sâu non trưởng thành thay đổi từ 5 đến 7 mm
Bhubaneshwari and Devi (2014), mô tả trứng mới đẻ rất nhỏ, màu trắng,
Trang 23hình trụ thường có bột bọc xung quanh trứng và khiến trứng trở nên khó nhìn, chiều dài của trứng dao động từ 0,54 đến 68 mm với giá trị trung bình 0,59 ± 0,02 mm, trong khi chiều rộng dao động từ 18 đến 29 mm với giá trị trung bình 0,23 ± 0,02 mm Chiều dài trung bình trứng được tìm thấy là 0,42 mm, và chiều rộng là 0,13 mm Sâu non mới nở cơ thể có màu kem trắng, trong suốt, đầu màu nâu nhạt với mắt nâu, sâu non đẫy sức cơ thể có màu vàng nâu
Nhộng có đôi mắt phát triển đầy đủ, nhộng không có kén và ban đầu có màu trắng ngày đầu tiên, sau đó chuyển dần sang màu vàng ở giai đoạn thứ hai và cuối cùng chuyển thành màu nâu Phía lưng được bao phủ bởi lớp lông mịn Ở giai đoạn này nhộng không hoạt động và không ăn (Bhubaneshwari and Devi, 2014)
Trưởng thành mọt thóc đỏ có màu đỏ nâu, đầu dẹt và rộng Mắt kép màu đen, nhìn ở mặt dưới đầu thì thấy khoảng cách của 2 mắt kép bằng đường kính của mắt kép Râu hình chùy có 11 đốt, 3 đốt đầu phồng to lên Trưởng thành đực
có một gai lồi ở phía sau của xương đùi trước trong khi trưởng thành cái không
có Chiều dài của trưởng thành đực là 3,06 ± 0,03 mm và chiều rộng là 1,28 ± 0,30 mm, chiều dài và chiều rộng của trưởng thành cái là 3,70 ± 0,01 mm và 1,28
± 0,03 tương ứng (Bhubaneshwari and Devi, 2014)
2.2.3.2 Vòng đời và thời gian phát dục các pha loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)
Theo Stuart (2003), mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst) đẻ 300-400
trứng trong bột mì hoặc các loại thực phẩm khác trong khoảng thời gian từ 5 đến 8 tháng (2-3 trứng /ngày) Thời gian phát dục của trứng dao động từ 5 -12 ngày, sâu non có hình trụ, màu trắng sau đó chuyển dần sang màu vàng Thời gian phát dục của sâu non từ 22 - 100 ngày Sâu non phát triển đẫy sức chuyển sang pha nhộng ở dạng nhộng trần và trong một tuần trưởng thành xuất hiện Vòng đời từ 7 đến 12 tuần, thời gian sống của trưởng thành từ 3 năm trở lên
Chitrangad (2012), đã nghiên cứu sinh học của loài mọt thóc đỏ Triborium
castaneum trên bột mì và cho rằng vòng đời của mọt thóc đỏ Triborium castaneum khoảng 22 ngày
Bhubaneshwari and Devi (2015) đã ghi nhận ở nhiệt độ 29
oC và ẩm độ 59% thời gian phát dục của trứng mọt thóc đỏ là 4 - 5 ngày, sâu non có 7 lần lột xác và tổng thời gian phát triển của giai đoạn trước trưởng thành dao động từ 70 -
83 ngày, trung bình là 76,5 ngày Thời gian phát dục của nhộng kéo dài từ 6 đến
Trang 249 ngày, trung bình là 7,5 ngày Thời gian sống của trưởng thành đực và cái không giao phối lần lượt là từ 45 đến 67 ngày và 75 đến 89 ngày Tổng thời gian phát triển kéo dài từ 164- 194 ngày
Đối với thức ăn là bột mì, thời gian phát dục dao động từ 6 đến 9 ngày với trung bình 7,5 ngày và trưởng thành đực và cái thời gian phát dục dao động từ 45
- 67 ngày và từ 75 - 89 ngày Tổng vòng đời của mọt thóc đỏ là 164 - 194 ngày
Thời gian phát dục của sâu non tuổi 1 dao động từ 16 - 18 ngày Tuổi 2 dao động
từ 10 - 14 ngày Tuổi 3, 4, 5, 6 từ 8 - 10 ngày Tuổi 7 từ 9 - 11 ngày Nhộng từ 6 -
7 ngày đối với nhộng đực và 7 - 9 ngày đối với nhộng cái Trưởng thành đực có thể sống từ 45 - 50 ngày và từ 75 - 80 ngày đối với trưởng thành cái
2.2.3.3 Một số đặc điểm sinh thái của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)
Thời gian phát triển của mọt thóc đỏ ảnh hưởng bởi nhiệt độ và thức ăn Theo Adil (1982), loài mọt thóc đỏ gây hại trên nhiều loại thực phẩm khác nhau và được cho là ăn tạp Mọt thóc đỏ ăn trên hơn 100 loại thức ăn khác nhau gồm ngũ cốc và hạt giống các loại bột mì và các sản phẩm ngũ cốc khác bao gồm các chất động vật, gỗ, rau khô, trái cây và gia vị Bột ngũ cốc là nguyên liệu
chính bị mọt thóc đỏ Triborium castaneum phá hoại thực tế bất kỳ loại bột nào
cũng có thể bị nhiễm khuẩn, và bột mì nguyên cám dường như mọt thóc đỏ
Triborium castaneum không thể ăn hạt nguyên vẹn, không bị hư hại vì các hạt
của nó không đủ mạnh để nhai qua lớp phủ ngoài cứng rắn Thực tế, tất cả các hạt chứa một tỷ lệ phần trăm nhất định của hạt bị hỏng, vì vậy mọt thóc đỏ có thể được tìm thấy hầu hết trên các loại hạt được biết đến.Nhiệt độ có ảnh hưởng đáng
kể đến thời gian phát dục pha nhộng của mọt thóc đỏ và thời gian ngắn nhất của
mọt thóc đỏ Triborium castaneum là 4,5 ngày ở nhiệt độ 35
oC, trong đó tỷ lệ chết của sâu non thấp Thời gian phát dục pha nhộng của mọt thóc đỏ là 5,8 ngày trong tháng 7 (nhiệt độ trung bình 30
oC) và dài nhất là 18,5 ngày trong tháng 10 (nhiệt độ trung bình 20
oC) (Adil, 1982)
Theo White (1987), cho rằng tỷ lệ sống và phát triển của các giai đoạn
trước trưởng thành của mọt thóc đỏ Triborium castaneum được xác định trong
hạt lúa mì ở nhiệt độ không đổi từ 20 - 37,5
oC và độ ẩm tương đối không đổi từ 25
- 65% Tỷ lệ trứng và nhộng tương tự như đối với Triborium castaneum trong bột
mỳ nhưng sự phát triển của sâu non chậm hơn và tỷ lệ chết lớn hơn, ngoại trừ nhiệt
độ thấp và ẩm độ cao Khả năng sinh sản giảm đáng kể khi mật độ của trưởng thành
Trang 25lớn hơn một cặp trên 250g
Alan (1998), đã nghiên cứu về tỷ lệ chết của mọt thóc đỏ Triborium
castaneum (Herbst) tiếp xúc với nhiệt độ cao, bụi và cho biếtở nhiệt độ 34
oC trong 15 hoặc 30 phút không làm tăng tỷ lệ chết Tuy nhiên, ở 50
oC, tăng tỷ lệ chết lên 8,0 ± 100% Khi không có thức ăn tỷ lệ chết cao gấp 2,0 ± 4 lần so với
có thức ăn
Sattigi et al (1995), đã nghiên cứu sinh học của mọt thóc đỏ Triborium
castaneum trên lúa, lúa mì, ngô và bột miến trong phòng thí nghiệm ở 24- 29°C
và 70% RH và đã cho rằng lúa mì là thức ăn phù hợp nhất đối với phát triển của
loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)
Thời gian phát dục của pha sâu non mọt thóc đỏ dao động từ 22 đến hơn
100 ngày (William, 2000) Theo Rizana Mahroof (2005), nhiệt độ vượt quá giới hạn sinh lý cho việc trứng nở thành sâu non hoặc trưởng thành và nhộng làm tăng nhanh tỷ lệ chết Nhiệt độ 50
oC đối với mọt thóc đỏ Tribolium castaneum làm giảm
sự sống sót của trứng đến trưởng thành
Dhaliwal (2006) cho biết thời gian phát triển của pha sâu non kéo dài từ
70 đến 83 ngày Theo nghiên cứu của Brijwani et al (2010), tỷ lệ chết của mọt
thóc đỏ được nuôi trong bột mì tại 28
oC và ẩm độ 65% Các pha trứng, sâu non, nhộng và trưởng thành được đưa vào ngăn nhựa bên trong một hộp nhựa hình chữ nhật dài 27 cm, rộng 17,5 cm và cao 4,2 cm, có 12 ngăn nhỏ bên trong hộp nhựa này Hàng trên cùng của các ngăn có lớp bột sâu 2 cm và hàng dưới cùng có bụi bột (0,5g/ngăn) Tỷ lệ chết được đo sau 24 giờ và nhận thấy rằng sâu non có
tỉ lệ chết cao hơn so với nhộng và trưởng thành là 37%
Xue and Hartzer (2010), đã nghiên cứu sự phát triển, sức sinh sản của mọt
thóc đỏ Triborium castaneum trên sáu loại tinh bột, bột mì và bột cộng với men khác nhau Chiều dài của sâu non, độ rộng đầu của Triborium castaneum được
đo bằng cách nuôi sâu non trên tinh bột, bột và bột cộng với 5% chế độ ăn cho 30 ngày ở 28
oC và 65% RH và kết luận rằng sâu non nuôi trên bột với men khả năng
phát triển tốt hơn so với sâu non được nuôi trên bột, Triborium castaneum đẻ ít
hơn 3 quả trứng / cái trong thời gian 15 ngày trên tất cả tinh bột
Al-Iraqi and Abdulla (2012), nghiên cứu về loài Triborium castaneum trên
14 loại thức ăn khác nhau trong điều kiện là 33±1
oC và 60±5 % RH và thấy rằng
tỷ lệ nở trứng dao động từ 92,85% đến 97,29% và phân tích thống kê cho thấy sự khác biệt không đáng kể giữa các loại gia vị trong tỷ lệ nở trứng Tỷ lệ nở trứng
của mọt thóc đỏ Triborium castaneum khi nuôi trên bột mì dao động từ 62% đến
Trang 2696% dưới 20
oC và 30
oC, tương ứng trên lúa mì
Chitrangad (2012), đã ghi nhận mọt thóc đỏ Triborium castaneum trong
điều kiện có thức ăn và không có thức ăn đã ảnh hưởng đến thời gian sống của trưởng thành mọt thóc đỏ trong điều kiện có thức ăn trưởng thành mọt thóc đỏ có thể sống sót từ 47 - 64 ngày với trung bình 55,5 ngày Nhưng trong điều kiện không có thức ăn, trưởng thành mọt thóc đỏ chỉ sống được từ 9 - 12 ngày, trung bình là 10,5 ngày
Giai đoạn sâu non phụ thuộc vào nguồn thức ăn, nhiệt độ và độ ẩm, trong
điều kiện phòng thí nghiệm mọt thóc đỏ Triborium castaneum có thời gian phát
dục trong vòng 6 tháng tùy thuộc vào nguồn cung cấp thực phẩm, nhiệt độ và độ
ẩm Bhubaneshwari and Devi (2015)
Shweta and Prakash (2015), cho rằng vòng đời của mọt thóc đỏ Triborium
castaneum không bị ảnh hưởng bởi độ ẩm mà bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ Thời
gian phát dục ngắn nhất ở pha nhộng là 4 ngày ở 40°C Nhiệt độ giảm thì thời kỳ nhộng càng kéo dài: 4 ngày ở 40°C, 5 ngày ở 35°C, 8 ngày ở 30°C, 12 ngày ở
25°C và 24 ngày ở 20°C Sâu non Triborium castaneum ở 35°C và 70% độ ẩm tương đối sâu non được phát triển trong khoảng 27 ngày Mọt thóc đỏ Triborium
castaneum có thể hoàn thành vòng đời trong 32-40 ngày, ở điều kiện tối ưu
Beeman et al (2012), cho rằng thời gian trứng mọt thóc đỏ Triborium
castaneum dao động từ 3 ngày ở 30
oC và 2 ngày ở 34
oC Ở nhiệt độ tối ưu là 32,5
oC, trưởng thành cái cái đẻ tối đa 11 trứng mỗi ngày Con cái có thể đẻ tối đa
1000 trứng trong suốt cuộc đời, trong khoảng nhiệt độ từ 22
oC- 40
oC và là khoảng nhiệt độ mọt thóc đỏ phát triển Loài này cũng có khả năng chịu được độ
ẩm thấp đến 11% Trưởng thành rất thích nghi với thức ăn trên một phạm vi rất rộng của hàng hóa và môi trường sống mới (Chitrangad Kumar, 2012)
Theo Rizana and Hagstrum (2012), cho biết sự phát triển từ trứng đến
trưởng thành của loài mọt thóc đỏ Triborium castaneum từ 41,8 ngày ở 25
oC đến 21,7 ngày ở 35,5
oC
Theo dõi ở nhiệt độ 35
oC và 37,5
oC ở độ ẩm tương đối (RH) hơn 70%, thời gian phát dục được hoàn thành trong 19 - 20 ngày (trứng trung bình 3 ngày; sâu non dao động từ 12 - 13 ngày; nhộng 4 ngày Trưởng thành của mọt thóc đỏ sống vài tháng đến vài năm Ở 18
oC - 29
oC, mọt thóc đỏ có thể sống dao động từ 130 - 198 ngày Trưởng thành có khả năng sinh sản suốt đời Ở 25
oC và 70% RH, một trưởng thành cái giao phối đẻ từ 3-5 quả trứng mỗi ngày cho một vài ngày Một trưởng thành
Trang 27cái một đời có thể đẻ tổng cộng 360 quả trứng (Rizana and Hagstrum 2012)
Shrikant and Ganesh (2013), cho rằng loài mọt thóc đỏ Triborium
castaneum nuôi trên hạt cacao có khả năng sinh sản cao (60%) và tỷ lệ nở (93%)
Shweta and Prakash (2015), cho biết, sâu non của loài mọt thóc đỏ Triborium
castaneum mẫn cảm hơn các điều kiện khắc nghiệt Không có sâu non nào phát
triển mạnh ở 40°C và độ ẩm 90%, 30% và 10% Ở 20°C không có sâu non phát triển đến trưởng thành
Thức ăn ưa thích cho mọt thóc đỏ Triborium castaneum là bột mì hoặc hạt
xay nhỏ cũng như gạo, lúa mạch, kê và đậu đũa nhưng không phải đậu lăng
Nhiệt độ tối ưu cho hầu hết các loại sâu bệnh được lưu trữ trong khoảng từ
25-30°C Dưới 20°C, hoạt động của mọt thóc đỏ Triborium castaneum trở nên yếu,
dẫn đến sự suy giảm tỷ lệ đẻ trứng và kéo dài sinh sản Tiếp xúc ở nhiệt độ 5C°
trong một thời gian dài, hầu hết các loài sâu hại trong đó có mọt thóc đỏ
Triborium castaneum của các cửa hàng đều chết Ở 35°C trưởng thành khôngđẻ
trứng dẫn đến mậtđộ quần thể côn trùng bị ảnh hưởng (Dhary, 2016)
2.2.4 Nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ côn trùng gây hại trong kho bảo quản
Carter et al (1975), cho biết khả năng phòng trừ côn trùng gây hại của 3 hợp
chất được đánh giá dựa trên số côn trùng thuộc bộ cánh cứng hại sản phẩm trong kho
dễ bị tổn thương và có sức kháng cự Những hợp chất đó là DU dichlorobenzoyl)-3-(4-chlorophenyl)-urea, PH60-38 (1-2,6-difliorobenzoyl) -3- (4chlorophenyl)-urea và PH60-40 (1-chlorophenyl)-3-(2,6 difliorobenzoyl) -urea
1911(1-2,6-Hợp chất PH 60- 40 được xem là hợp chất có tác dụng nhất, dựa trên mức độ bị
tiêu diệt của các loài Sitophilus granarius, Sitophilus oryzae, Tribolium
castaneum và Lasioderma serricorne (F.) nhưng cả 3 hợp chất trên đều không có
hiệu lực tiêu diệt đối với Stegobium panoceum
Việc xử lý trên lớp hạt bề mặt (khoảng 10 cm) với một lượng nhỏ chế
phẩm Bacillus thuringiensis đã hạn chế khoảng 81% quần thể ngài Ấn Độ (Plodia interpunctella) và ngài Địa trung hải (Esphestia cautella) và kết quả đã
hạn chế sự ăn hại của chúng tới hơn 92% (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995)
Levinson and Levinson (1986), giải thích rằng hoạt động ức chế pheromone là sự kết hợp của hai đồng phân quang học serricornin và anhyd -
roserricornin đối với mọt đực Lasioderma serricorne( F) được giải thích dựa trên
cơ sở hoạt động đối kháng của 4S, 6S,7R - serricornin
Trang 28Arthur (1992), đã cho biết ảnh hưởng của ba nồng độ 0,75%, 1,0%, 1,5%
prallethrin đến các loài côn trùng gây hại trong kho đều đem lại hiệu quả cao trong việc phòng trừ côn trùng gây hại
Khi được sử lý phosphine ở nồng độ 1- 1,25g/m
3trong 7 hoặc 8 ngày với nồng độ > 0,1g/m
3và kiểm tra kho sau 24h phơi sáng với nồng độ 0,07g/m
3xuất
hiện các chủng Lasioderma serricorne (F.) kháng phosphine Khi xông hơi khử
trùng bằng phosphine nếu phosphine bị rò rỉ thông qua các lỗ hở của tấm bạt bao phủ hoặc các tấm bạt có độ lưu giữ khí kém thì tỉ lệ kháng phosphine rất cao
Môt số thử nghiệm đã chứng minh rằng một liều 2g/m
3tiếp xúc trong 10 ngày và nồng độ thiết bị đầu cuối 0,5g/m
3có hiệu quả chống lại tất các giai đoạn của các chủng kháng phosphine (Arthur, 1992)
Theo Hashem (2000), việc xử lý côn trùng gây hại bằng các khí qua các giai đoạn phát dục khác nhau: ở giai đoạn nhộng, trưởng thành của loài mọt
Lasioderma serricorne ( F.) dễ bị tác động bởi hỗn hợp khí CO
2, kết quả thí nghiệm với các nồng độ 20%, 30%, 40% và 60% Khi hàm lượng khí CO
2càng tăng dẫn đến hàm lượng khí O
2giảm, do đó sẽ dẫn đến tử vong của sâu mọt cao hơn
Theo Gunasekaran et al (2005), nồng độ khí CO
2có ảnh hưởng trực tiếp đến
tỷ lệ chết đối với mọt thuốc bắc S.panoceum và mọt thuốc lá L.serricorne Nồng độ
khí CO
2ảnh hưởng rõ rệt đối với pha trưởng thành của cả S panoceum và L
Serricorne ( F.) Việc xử lý các cá thể ở pha trưởng thành gây ra sự giảm đáng kể
cũng như tiềm năng sinh sản của chúng ở các thế hệ tiếp theo
Chiếu xạ cũng là một phương pháp phòng chống hiệu quả cho quá trình
bảo quản trong kho Wang et al (2011), đã cho biết những ảnh hưởng của việc
chiếu xạ từ 150-450 Gy làm ức chế các quá trình sinh trưởng phát triển của trứng,
ấu trùng, nhộng cũng như là trưởng thành Kết quả cho thấy trứng không thể nở được hoàn toàn ở trên 150 Gy Việc chiếu xạ không ảnh hưởng nhiều đến quá trình hóa nhộng nhưng lại làm cho trưởng thành bị bất dục
Phòng chống côn trùng hại kho từ tinh dầu thảo mộc đã được nghiên cứu thành phần hóa học của tinh dầu thu được bằng hydrodistillation từ các bộ phần
trên Mentha haplocalyx Tổng hợp 23 thành phần, 92,88% là tinh dầu và các hợp
chất chính được xác định là tinh dầu bạc hà (59,71%), mentyl acetate (7,83%),
limonene (6,98%), và menthone (4,44% ) (Zhang et al 2015)
Năm 2014 ở Trung Quốc đã tìm ra được một số hoạt chất có trong các cây
thảo dược có tác dụng phòng chống loài mọt Lasioderma serricorne (F.) trưởng
Trang 29thành và loài Liposcelis bostrychophila Các loại hoạt tính này có tính chất tiếp
xúc và xông hơi mạnh so với hai loài côn trùng gây hại sản phẩm trong kho lưu trữ Ba hoạt chất citral, d -limonene và linalool đã tiếp xúc mạnh mẽ ngăng lại bộ
cánh cứng Lasioderma serricorne (F.), còn tinh dầu trong β-pinen và α-pinen có tác dụng phòng chống kém hơn các hoạt chất trên (Kai et al., 2014)
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC 2.3.1 Những nghiên cứu trong công tác kiểm dịch thực vật
Với chính sách mở cửa, việc buôn bán giữa Việt Nam với các nước ngày càng phát triển nên lượng hàng hoá thuộc diện KDTV nhập khẩu vào nước ta với
số lượng ngày càng tăng, đa dạng về chủng loại, xuất xứ từ nhiều vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới
Theo thống kê của cơ quan kiểm dịch thực vật mỗi năm hàng triệu tấn hàng thuộc diện kiểm dịch thực vật nhập khẩu vào Việt Nam nhằm phục vụ sản xuất và tiêu dùng trong nước, mặt khác với chủ trương đi tắt đón đầu về công nghệ, đa dạng hoá cây trồng, chúng ta đã và đang tích cực đưa các loại giống cây trồng chủ đạo có năng xuất cao vào thay thế dần các giống cũ trong nước (Báo cáo Công tác Chi cục kiểm dịch thực vật vùng 7, 2018) Các mặt hàng thuộc diện kiểm dịch thực vật được nhập khẩu từ Trung Quốc vào nước ta khá lớn, nó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sinh vật gây hạı nói chung, sâu mọt gây hại nói riêng xâm nhập, lây lan vào trong nội địa
Những năm qua tình hình sinh vật gây hại xuất hiện trên hàng nhập khẩu diễn biến tương đối phức tạp, thành phần rất đa dạng như nấm bệnh, côn trùng, cỏ dại, tuyến trùng, vi khuẩn, virus… Hầu hết các lô hàng nông sản đều bị nhiễm sinh vật gây hại nhưng với mức độ và tính chất khác nhau, nguồn gốc đa dạng phong phú
Việt Nam công bố: 114 loài sinh vật thuộc diện đối tượng KDTV trong đó
có 60 loài côn trùng Việc nghiên cứu thành phần sinh vật gây hại nói chung và sâu mọt gây hại nói riêng trên các sản phẩm thuộc nông sản xuất nhập khẩu của ngành BVTV cho thấy: từ năm 1998 đến năm 2002, đã phát hiện hơn 40 loài côn trùng, gần 30 loài nấm bệnh, 58 loài cỏ dại, hàng chục loài tuyến trùng, vi khuẩn, vi rus là
dịch hại thuộc đối tượng KDTV như: Radopholus similis; Ephilis oryzae;
Trogoderma granarium; Trogoderma inclusum; Spongospora subterranea; Lolium temulentum; Zabrotes subfasciatus; Acanthoscelides obtectus…(Cục BVTV, 2002)
Năm 2002 tại các chi cục kiểm dịch thực vật đã phát hiện 531 lần dịch hại thuộc đối tượng KDTV, một trong những dịch hại quan trọng đó là bệnh ghẻ bột
Trang 30khoai tây phát hiện tới 350 lần và 124 lần phát hiện Trogoderma inclusum, 53 lần phát hiện Trogoderma granarium Trong những năm qua sinh vật gây hại xuất
hiện trên hàng thực vật nhập khẩu ngày càng tăng, đa dạng về loài; đặc biệt là các dịch hại thuộc đối tượng KDTV bị phát hiện gần 900 lần Chúng có nguồn gốc xuất xứ từ nhiều vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới Những dịch hại trên đã được xử lý triệt để tại các cửa khẩu (Viện BVTV, 2008)
Việc phát hiện thành phần sinh vật gây hại cũng như nguồn gốc xuất xứ của các lô vật thể thuộc diện KDTV làm cơ sở để phân tích, đánh giá nguy cơ dịch hại từ đó đề xuất những biện pháp xử lý và quản lý sinh vật gây hại trên hàng nhập khẩu vào Việt Nam
2.3.2 Một số đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của loài mọt thóc đỏ
Tribolium castaneum (Herbst) 2.3.2.1 Đặc điểm hình thái loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)
Bùi Công Hiển (1995), mô tả mọt thóc đỏ có màu nâu đỏ sáng đến nâu tối, dài 3 - 4,2 mm Râu đầu hình chùy và có 3 đốt phình to rõ ràng Trứng có dạng dài, chiều dài 0,6 mm và chiều rộng 0,4 mm, màu trắng bóng và được phủ bên ngoài bằng một lớp quánh dính do con cái tiết ra Sâu non có 6 chân với đầu màu nâu thẫm, lúc đầu cơ thể màu trắng sau chuyển nâu vàng, chiều dài sâu non mới
nở là 1,2 mm, đốt bụng thứ chín mang đôi phần phụ dung để bò Sâu non đẫy sức
có chiều dài 6 - 7 mm Nhộng dài 3,5 - 4 mm
Nguyễn Thị Bích Yên (1998), cho rằng trứng dài 0,47 - 0.55mm, rộng 0,29 - 0,33mm (ở 25
oC) và dài 0,52 - 0,56mm, rộng 0,31 - 0,37mm (ở 30
oC);
Nhộng dài 3,61mm - 4,0mm và rộng 1,05 - 1,2mm
Theo Vũ Quốc Trung (2008), Tenebrionidae là một họ bọ cánh cứng được tìm thấy trên toàn thế giới, ước tính khoảng hơn 20.000 loài Nhiều con bọ cánh cứng có cánh màu đen, dẫn đến tên gọi chung của họ là Bọ cánh cứng bóng tối
Ngoài 9 phân họ liệt kê ở đây Tenebrionidae là họ lớn nhất và quan trọng nhất trong bộ Coleoptera, đa dạng về kích thước và hình dạng
Đặc điểm chủ yếu:
+ Thân dẹt hình bầu dục hay hình ống
+ Bàn chân trước và giữa có 5 đốt, bàn chân sau có 4 đốt + Đốt hang chân trước hình cầu, ở đốt hang kiểu đóng
Hà Thanh Hương (2008), bố trí thí nghiệm nuôi mọt ở 2 ngưỡng nhiệt độ
Trang 3125
oC và 30
oC thu được kết quả trứng của loài mọt thóc đỏ Triborium castaneum
hình bầu dục, màu trắng sữa, kết cấu màng vỏ mỏng và xù xì, phủ bên ngoài một chất keo dính nên dễ dàng bám vào giá thể, trứng được đẻ thành từng quả hoặc thành từng cụm nhỏ, ở 25
oC trứng có chiều dài trung bình từ 0,65 - 0,67 mm, chiều rộng trung bình 0,33 - 0,35 mm, ở 30
oC chiều dài trung bình của trứng từ 0,64 - 0,66 mm và chiều rộng trung bình 0,31 - 0,33 mm Sâu non mới lột xác có màu trắng sau mới chuyển màu vàng, ở 25
oC sâu non đẫy sức có chiều dài trung bình 5,63 - 5,77 mm, chiều rộng (độ rộng đầu) trung bình 0,77 - 0,79 mm Ở
30
oC chiều dài trung bình 5,52 - 5,66 mm, chiều rộng trung bình 0,78 - 0,80 mm
Nhộng thuộc loại nhộng trần, mới lột xác màu trắng hơi vàng, sau chuyển sang màu vàng đậm, mặt lưng có lông Dạng trưởng thành của mọt thóc đỏ có cơ thể dẹt, hình chữ nhật, màu nâu đỏ sẫm, rầu đầu có 11 đốt, 3 đốt cuối phình to hình chùy rõ ràng, đầu và phần trên của mảnh lưng ngực có nhiều điểm lõm nhỏ xếp thành hang, trưởng thành mới vũ hóa có mảnh lưng ngực màu trắng hơi vàng, hai cánh màu trắng, công thức bàn chân 5 - 5 - 4
Theo Vũ Văn Hậu (2013), sâu non mọt thóc đỏ Triborium castaneum có
4 tuổi Chiều dài của sâu non tăng dần theo từng tuổi, tuổi 1 và tuổi 2 kích thước
ít thay đổi nhưng tuổi 3, tuổi 4 kích thước tăng nhanh, sâu non đẫy sức có chiều dài trung bình 6,31±0.010; rộng 0,39±0,009 Về kích thước nhộng, chiều dài trung bình 4,3 ± 0,007mm, chiều rộng trung bình 1,26 ± 0,010mm Pha trưởng thành cơ thể dẹt, hình chữ nhật, màu nâu đỏ sẫm, râu đầu có 11 đốt, 3 đốt cuối phình to hình chùy rõ ràng Kích thước của trưởng thành trung bình 4,03 ±0,009 mm; chiều rộng trung bình 4,18±0,015mm
2.3.2.2 Vòng đời và thời gian phát dục các pha loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)
Vòng đời của sâu non mọt thóc đỏ Triborium castaneum ở 30
oC là 5 tuần và tuổi thọ của mọt trưởng thành 1 năm hoặc dài hơn (Vũ Quốc Trung và cs., 1991)
Theo Bùi Công Hiển (1995), sau 8 - 13 ngày (tùy theo nhiệt độ) trứng nở thành sâu non và sâu non lột xác từ 6 - 12 lần, mỗi ngày con cái đẻ 2 - 18 trứng và thời
kỳ đẻ trứng kéo dài hơn 150 - 400 ngày, nên số lượng đẻ ra tối đa hơn 1000 trứng, trung bình 350 - 400 trứng Thời kỳ nhộng dài từ 7 - 12 ngày, tùy theo nhiệt độ, thời gian của một vòng đời dao động từ 7 tuần - 3 tháng
Trong điều kiện tự nhiên của phòng thí nghiệm (t=28
oC, RH=73,5%), kết quả khảo sát chu kỳ sinh sinh trưởng của mọt thóc đỏ có vòng đời trung bình là
Trang 3253,7 ngày, tỷ lệ vũ hoá 100% Khả năng đẻ trứng cao, trung bình 1 ngày đẻ khoảng 5 trứng/1 trưởng thành cái, trứng được đẻ liên tục ở các ngày trong thời gian khảo sát (Trần Văn Mì, 2004)
Vũ Văn Hậu (2013), chỉ ra rằng thời gian phát dục của pha trứng trung bình là 4,1 ± 0,16 ngày Thời gian phát dục của pha sâu non trung bình là 73,5
±2,58 ngày Thời gian phát dục của pha nhộng trung bình là 6,55 ±0,24 ngày
Thời gian phát dục của pha giai đoạn tiền đẻ trứng trung bình là 11,3 ±0,62 ngày
Vòng đời của loài mọt thứ cấp Tribolium castaneum (Herbst) trên môi trường
thức ăn là sắn lát ở điều kiện 25
oC trung bình là 95,33 ± 3,58 ngày
2.3.2.3 Một số đặc điểm sinh thái của loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)
Bùi Công Hiển (1995), cho rằng ở 7
oC tất cả các giai đoạn phát triển đều chết trong vòng 25 ngày Đa số các loài côn trùng có khả năng tồn tại trong kho đều có thể xâm nhiễm vào một lớp sâu của hàng hóa nhưng loài mọt thóc đỏ
Tribolium castaneum (Herbst) có xu hướng thích ở gần bề mặt
Mọt thóc đỏ Triborium castaneum có xu hướng thích phá hại ở những hạt
đã bị vỡ hay sản phẩm dạng bột, ngoài ra chúng còn có tập tính ăn thịt, ăn cả hàng hóa dự trữ của các côn trùng còn sống khác
Hà Thanh Hương (2008), đưa ra kết luận rằng một số yếu tố sinh thái (nhiệt độ và sự khác biệt về địa điểm thu thập) không ảnh hưởng đến kích thước trung bình của các pha (trứng, sâu non đẫy sức và trưởng thành) và tỷ lệ trứng nở
của mọt thóc đỏ Triborium castaneum Nhưng lại ảnh hưởng mạnh mẽ đến thời gian phát dục của mọt thóc đỏ Triborium castaneum, đặc biệt vòng đời cũng như
sức đẻ trứng trung bình của một con cái
Hà Thanh Hương (2008), cho biết ở nhiệt độ 25
oC, ẩm độ trung bình 70%
thì vòng đời của loài mọt thóc đỏ Triborium castaneum là 99,62±3,68 ngày Ở
nhiệt độ 30
oC và ẩm độ trung bình là 70%
vòng đời của loài mọt thóc đỏ
Triborium castaneum trung bình 70,09±1,99 ngày Tùy thuộc vào nhiệt độ, Triborium castaneum có thời gian phát triển của trứng từ 3 - 7 ngày, sâu non từ
29 - 118 ngày, nhộng từ 3 - 11 ngày và vòng đời từ 48 ngày đến 132 ngày Vũ Văn Hậu (2013) Ở giai đoạn đầu của các kỳ điều tra mọt thứ cấp mọt thóc đỏ
Triborium castaneum cũng giống như các loài sâu mọt khác chưa xuất hiện hoặc
xuất hiện với mật độ ít Ở kho sắn đổ rời mật độ mọt thứ cấp Triborium
Trang 33castaneum cao nhất 9 con/kg Ở kho sắn xếp bao là 6 con/kg và đưa ra kết luận
rằng mọt gây hại nhiều hơn trên sắn và ít gây hại hơn trên ngô
2.3.3 Nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ côn trùng gây hại trong kho bảo quản
Hiện nay, trong bảo quản nông sản trong kho phòng trừ côn trùng là biện pháp cần thiết Trong đó, trước hết là đề phòng côn trùng gây hại trong kho bằng cách tiến hành biện pháp kiểm dịch chặt chẽ, thường xuyên điều tra phát hiện kịp thời sự xuất hiện gây hại của các loài côn trùng kho, thực hiện cách ly giữa các sản phẩm cũ và mới Sau đó áp dụng các biện pháp diệt trừ như biện pháp vật lý, biện pháp xử lý nhiệt hay xông hơi khử trùng
Theo Bùi Công Hiển (1995), thủy phần sản phẩm nông sản có liên quan đến thành phần và mật độ của mọt hại Ở những kho nông sản mới nhập, nông sản được phơi thật khô, thủy phần nông sản dưới 10% hầu như không tìm thấy mọt hại; tại các kho mà nông sản có thủy phần 10 -12% có tìm thấy vài cá thể trưởng thành của một số loài nhưng khi thủy phần sắn vượt quá 13% thì thành phần và mật độ các loài mọt rất cao Như vậy, việc phơi nông sản thật khô, cất trữ ở các kho kín, cao ráo, không bị dột ướt để giữ được thủy phần nông sản dưới 13% có ý nghĩa trong việc hạn chế sự phát sinh gây hại của tập đoàn mọt
2.3.3.1 Phòng trừ bằng biện pháp vật lý cơ giới
đối với trưởng thành 5 loài mọt kho là mọt gạo Sitophilus ozyzae (L.), mọt đục hạt Rhizopertha dominica (F.), mọt khuẩn đen Alphitobius diaperinus (Panz), mọt bột đỏ Tribolium castaneum (Herbst) và mọt râu dài Cryptolestes sp.chỉ sống
được trung bình từ 17 - 46 phút
* Bụi tro: Bụi tro được làm từ các vật liệu khác nhau, từ thực vật như tro
trấu, tro gỗ hay từ khoáng vật như bột đất, cao lanh… Tùy theo tính chất của bụi tro có thể dùng với tỷ lệ 1 - 30% so với trọng lượng hạt bảo quản Tro bếp cũng được ứng dụng nhiều trong bảo quản hạt đậu ở qui mô hộ kinh doanh
* Chiếu xạ: Ở nước ta, đã có một số kết quả nghiên cứu về việc sử dụng
tia bức xạ Gamma trong phòng trừ côn trùng hại kho Bùi Công Hiển (2005) đã nghiên cứu phối hợp biện pháp xử lý chiếu xạ bằng tia Gamma và túi bảo quản
để phòng trừ mọt đậu xanh (Callosobruchus chinensis) trong bảo quản đậu
xanh, khi xử lý chiếu xạ bằng tia Gamma với liều chiếu xạ nhỏ hơn 1kGy sau
Trang 34đó bảo quản đậu xanh trong túi nhựa tổng hợp (PVC) đã có hiệu quả cao để phòng trừ mọt đậu xanh sau 3 tháng bảo quản
2.3.3.2 Phòng trừ bằng biện pháp sinh học
Bọ xít bắt mồi (Xylocoris flavipes) là loài thiên địch khá phổ biến trong các
kho nông sản Ở nước ta, đã có một số kết quả nghiên cứu bước đầu về sử dụng loài
bọ xít bắt mồi này để phòng trừ mọt hại kho và cho kết quả tương đối khả quan
Từ lâu con người đã biết sử dụng các loại thực vật để phòng trừ các loài côn trùng gây hại như sử dụng lá cây xoan, cỏ mật, cây ruốc cá, thuốc lá, thuốc lào,… Thuốc thảo mộc được sử dụng để phòng trừ côn trùng gây hại dưới nhiều hình thức như dùng tươi, khô, chiết lấy dịch hoặc hoạt chất sau đó dùng ngâm, tẩm, trộn, phun Đối với nhóm côn trùng hại kho, ở nước ta cũng đã có một số kết quả nghiên cứu về sử dụng thuốc thảo mộc như dùng bột cây ruốc cá để phòng trừ mọt hại ngô (Nguyễn Thượng Dong, 2006) Hiện nay, thuốc thảo mộc đang được khuyến khích nghiên cứu phát triển với những ưu điểm vượt trội và là nguồn thuốc có xu hướng dần thay thế cho thuốc hóa học trong nhiều lĩnh vực nói chung và trong bảo quản nói riêng Việc xác định, chiết xuất và giữ ổn định được các hoạt chất có khả năng tiêu diệt, gây ngán, dẫn dụ hoặc xua đuổi các loài côn trùng gây hại đang được nhiều đơn vị nghiên cứu và thử nghiệm, có nhiều thành công bước đầu
2.3.3.3 Phòng trừ bằng biện pháp hóa học
Hiện nay, ở Việt Nam chủ yếu dùng thuốc xông hơi để xử lý phòng trừ đối với côn trùng gây hại trong kho Theo Cục Bảo vệ thực vật (2002), một số loại thuốc hóa học như Actellic, DDVP, Sumithion, Deltamethrin và Permethrin đã được sử dụng ở nước ta để phòng trừ côn trùng gây hại trong kho Tuy nhiên, chỉ
có thuốc Sumithion là được sử dụng rộng rãi do có hiệu quả đối với nhiều loài côn trùng hại kho Sử dụng Cypermethrin phun xử lý diệt côn trùng kho đạt hiệu quả 90% và có khả năng duy trì mật độ côn trùng ở mức cho phép trong vòng 2 -
3 tháng Hiện nay, Việt Nam chủ yếu dùng thuốc xông hơi để xử lý phòng trừ đối với côn trùng gây hại trong kho Cũng như các nước trên thế giới, thuốc hóa học sử dụng trong bảo quản kho tại Việt Nam cũng gồm 2 loại chính là Methyl bromide
và Phosphine Thuốc phosphine hiện được xác định là loại thuốc chủ lực để phòng trừ côn trùng gây hại trong kho nông sản nói chung Thuốc xông hơi phosphine có thể sử dụng đơn lẻ hoặc phối hợp với khí CO
2ở liều lượng 2 gam PH3 + 50 gam
Trang 35CO
2/m
3trong 3 ngày để xông hơi trừ côn trùng trên hàng hoá bảo quản và xuất khẩu đã giảm được 50% chi phí tiền thuốc và giảm ô nhiễm môi trường
Hà Quang Hùng (2006), cho rằng quá trình quản lý côn trùng gây hại phải kết hợp các biện pháp kỹ thuật một cách hiệu quả vừa đảm bảo vấn đề kinh tế, vừa đảm bảo ngăn chặn các sản phẩm khỏi sự xâm nhập của các loài gây hại nhằm đảm bảo cả về số lượng và chất lượng Việc kết hợp áp dụng các biện pháp bao gồm: Nâng cao chất lượng sản phẩm; Chọn lựa các sản phẩm từ vùng không
có các loài sinh vật gây hại; Ngăn chặn sự tràn vào phá hoại trong quá trình vận chuyển, cất giữ và bảo quản; Sử dụng biện pháp xông khói; Sự chế biến của các sản phẩm sau thu hoạch và bảo quản
Trang 36PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum (Herbst)
3.1.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 10/2018 - tháng 9/2019
3.1.3 Địa điểm nghiên cứu
- Điều tra thành phần sâu mọt gây hại trên hoa cúc khô tại cửa khẩu Chi
Ma, Lạng Sơn
- Phòng kỹ thuật Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng 7- Lạng Sơn
3.2 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
- Nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu qua cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn
- Dụng cụ thí nghiệm:
+ Ống nghiệm, vợt bắt côn trùng, bộ rây côn trùng, đĩa petri đường kính 10
cm, các loại hộp nhựa có đường kính 15 cm, cao 20 cm, nắp lưới, túi đựng mẫu, pince, kéo, bút lông, bút chì, khay đựng dụng cụ, xiên các loại, đồ dùng mở bao, hộp, cốc đong, găng tay, đồ dùng trộn chia mẫu
+ Kính hiển vi, kính lúp, hộp nuôi sâu, sổ sách ghi chép nghiên cứu
+ Cân kỹ thuật có độ nhạy ± 1 gam
+ Cồn 70
0, formol 5%, lọ thuỷ tinh để lưu mẫu, nhãn ghi rõ thời gian
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Điều tra thành phần sâu mọt hại trên hoa cúc khô nhập khẩu từ Trung Quốc qua cửa khẩu Chi Ma - Lạng Sơn
- Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của của loài mọt thóc đỏ
Tribolium castaneum (Herbst) gây hại trên hoa cúc khô nhập khẩu
- Đánh giá hiệu lực phòng trừ loài mọt thóc đỏ Tribolium castaneum
(Herbst) hại nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu bằng thuốc hoá học Phosphine
Trang 373.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.4.1 Phương pháp điều tra thành phần sâu mọt gây hại và diễn biến mật độ sâu mọt gây hại trên nguyên liệu hoa cúc khô nhập khẩu
Mẫu được lấy theo tiêu chuẩn Việt Nam QCVN 01 - 141:2013/BNNPTNT (Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2013) về phương pháp lấy mẫu kiểm dịch thực vật
Điều tra các lô hàng được nhập về lấy mẫu lưu kho qua cửa khẩu ở Lạng Sơn theo từng tháng (2 - 4 lần/tháng) ghi chép nguồn gốc xuất xứ của lô hàng ở các vùng khác nhau của Trung Quốc
Các điểm lấy mẫu được quy định theo nguyên tắc 5 điểm chéo góc
* Số lượng bao được chỉ định lấy mẫu ban đầu phân bố đều trong lô
bao được chỉ định
bao được chỉ định
thêm 1 bao được chỉ định
- Khối lượng mẫu ban đầu 2 kg/bao
Trang 38