1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ VNUA nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của rệp xơ trắng (ceratovacuna lanigera zehntner) hại mía và biện pháp phòng trừ tại mai sơn, sơn la năm 2015

71 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn Thạc sĩ VNUA nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của rệp xơ trắng (Ceratovacuna lanigera Zehntner) hại mía và biện pháp phòng trừ tại Mai Sơn, Sơn La năm 2015
Tác giả Nguyễn Thị Vân
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Oanh
Trường học Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Bảo vệ thực vật
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 11,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngành: Bảo vệ thực vật Mã số: 60.62.01.12 Tên cơ sở đào tạo: Học viện nông nghiệp Việt Nam Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở xác định được đặc điểm sinh học, diễn biến mật độ và khảo ngh

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ VÂN

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI

CỦA RỆP XƠ TRẮNG (CERATOVACUNA LANIGERA

ZEHNTNER) HẠI MÍA VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

TẠI MAI SƠN, SƠN LA NĂM 2015

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Kim Oanh

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực, khách quan và chưa từng được sử dụng để bảo vệ lấy bất kì một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Vân

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn

bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Thị Kim Oanh đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám Đốc, Ban quản lý đào tạo,

Bộ môn Côn trùng Khoa Nông học – Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp

đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Vân

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục hình viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis Abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

2.2 Đặc điểm tình hình vùng nguyên liệu mía đường tại Sơn La 3

2.3 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước 4

2.3.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 4

2.3.2 Tình hình nghiên cứu rệp xơ trắng hại mía ở Việt Nam 9

Phần 3 Địa điểm, thời gian, vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 18

3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18

3.2 Đối tượng, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 18

3.2.1 Đối tượng 18

3.2.2 Vật liệu nghiên cứu 18

3.2.3 Dụng cụ nghiên cứu 18

3.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 18

3.3.1 Nội dung nghiên cứu 18

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu 19

Phần 4 Kết quả và thảo luận 25

4.1 M ột số đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của rệp xơ trắng (C lanigera) 25

4.1.1 Một số đặc điểm hình thái, tập tính sinh sống và gây hại của rệp xơ trắng (C lanigera) 25

4.1.2 Đặc điểm sinh học của rệp xơ trắng (C lanigera) 28

4.2 Diễn biến mật độ của rệp xơ trắng (C lanigera) trên ruộng mía tại vùng

Trang 5

nguyên liệu mía đường Mai Sơn, Sơn La năm 2015 30

4.2.1 Mật độ rệp xơ trắng (C lanigera) trên lá mía trước và sau mưa to tại Mai Sơn, Sơn La 30

4.2.2 Sự phân bố của rệp xơ trắng (C lanigera) trên cây mía tại vụ xuân, năm 2015 tại Mai Sơn, Sơn La 31

4.2.3 Diễn biến mật độ rệp xơ trắng (C lanigera) và tỷ lệ hại trên giống mía ROC 22 năm 2015 tại Cò Nòi, Mai Sơn, Sơn La 31

4.2.5 Diễn biến mật độ rệp xơ trắng (C lanigera) trên cây mía trồng ở chân đất cao và thấp tại vụ xuân, năm 2015 tai Cò Nòi, Mai Sơn, Sơn La 33

4.2.6 Ảnh hưởng của biện pháp bóc lá mía đến mật độ của rệp xơ trắng (C lanigera) trên giống ROC22 năm 2015 tại Cò Nòi, Mai Sơn, Sơn La 34

4.2.7 Ảnh hưởng của trồng mía xen đậu tương và trồng mía thuần đến diễn biến mật độ rệp xơ trắng (C lanigera) hại mía năm 2015 tại Cò Nòi, Mai Sơn, Sơn La 36

4.2.8 Ảnh hưởng của đốt lá mía hoặc cày vùi lá mía vụ trước đến mật độ rệp xơ trắng (C lanigera) hại mía năm 2015 tại Cò Nòi, Mai Sơn, Sơn La 37

4.2.9 Ảnh hưởng của sự gây hại của loài rệp xơ trắng (C lanigera) đến độ Brix trong cây mía 39

4.3 Các biện pháp phòng trừ rệp xơ trắng (C lanigera) hại mía tại Cò Nòi, Mai Sơn, Sơn La năm 2015 39

4.3.1 Diến biến mật độ rệp xơ trắng (C lanigera) và các loài thiên địch trên giống ROC22 tại Cò Nòi, Mai Sơn, Sơn La năm 2015 39

4.3.2 Phòng trừ rệp xơ trắng (C lanigera) hại mía bằng thuốc hóa học và thuốc thảo mộc tại Cò Nòi, Mai Sơn, Sơn La năm 2015 41

4.4 Thảo luận 44

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 49

5.1 Kết luận 49

5.2 Kiến nghị 49

Tài liệu tham khảo 50

Phụ lục 54

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

BVTV Bảo vệ thực vật

Bx Brix CCS Lượng đường công nghiệp chế biến có thể thu hồi được từ cây mía qua quá trình chế biến của nhà máy

NXB KH-KT Nhà xuất bản khoa học-kỹ thuật THPT Trung học phổ thông

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

Trang 7

Bảng 4.4 Mật độ rệp xơ trắng (C lanigera) trên lá mía trước và sau mưa to ngày

30/8/ 2015 tại Mai Sơn, Sơn La 30

Bảng 4.5 Sự phân bố của rệp xơ trắng (C lanigera) trên cây mía năm 2015 tại

Mai Sơn, Sơn La 31

Bảng 4.6 Diễn biến mật độ rệp xơ trắng (C lanigera) và tỷ lệ lá bị hại trên giống

mía ROC 22 năm 2015 tại Cò Nòi, Mai Sơn, Sơn La 32

Bảng 4.7 Diễn biến mật độ rệp xơ trắng (C lanigera) trên hai giống mía năm

2015 tại Cò Nòi, Mai Sơn, Sơn La 33

Bảng 4.8 Diễn biến mật độ rệp xơ trắng (C lanigera) trên mía trồng ở chân đất

cao và thấp năm 2015 tại Cò Nòi, Mai Sơn, Sơn La 34 Bảng 4.9 Ảnh hưởng của biện pháp bóc lá mía đến diễn biến mật độ của rệp xơ

trắng (C lanigera) trên giống ROC22 năm 2015 tại Cò Nòi, Mai Sơn,

Sơn La 35 Bảng 4.10 Ảnh hưởng của trồng mía xen đậu tương và trồng mía thuần đến diễn

biến mật độ rệp xơ trắng (C lanigera) hại mía năm 2015 tại Cò Nòi,

Mai Sơn, Sơn La 37 Bảng 4.11 Ảnh hưởng của đốt lá mía hoặc cày vùi lá mía vụ trước đến rệp xơ

trắng (C lanigera) hại mía năm 2015 tại Cò Nòi, Mai Sơn, Sơn La 38 Bảng 4.12 Mức độ hại của rệp xơ trắng (C lanigera) ảnh hưởng đến độ Brix trên

giống mía ROC 22 tại Cò Nòi, Mai Sơn, Sơn La 39

Bảng 4.13 Diến biến mật độ rệp xơ trắng (C lanigera) và các loài thiên địch trên

giống ROC22 tại Cò Nòi, Mai Sơn, Sơn La năm 2015 40

Trang 8

Bảng 4.14 Hiệu lực trừ rệp xơ trắng (C lanigera) của một số loại thuốc trên giống

mía ROC 22 trong phòng thí nghiệm 42

Bảng 4.15 Hiệu lực trừ rệp xơ trắng (C lanigera) của một số loại thuốc trên giống

mía ROC 22 tại Cò Nòi, Mai Sơn, Sơn La năm 2015 43

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Hình thái rệp xơ trắng (C lanigera) tuổi 1 25

Hình 4.2 Hình thái rệp xơ trắng (C lanigera) tuổi 2 26

Hình 4.3 Hình thái rệp xơ trắng (C lanigera) tuổi 3 26

Hình 4.4 Hình thái rệp xơ trắng (C lanigera) tuổi 4 26

Hình 4.5 Hình thái rệp xơ trắng (C lanigera) tuổi 5 27

Hình 4.6 Vị trí sống và triệu chứng gây hại của rệp xơ trắng (C lanigera) trên cây mía tại Mai Sơn, Sơn La năm 2015 27

Hình 4.7 Ruộng không sử dụng biện pháp bóc lá mía 35

Hình 4.8 Ruộng sử dụng biện pháp bóc lá mía 36

Hình 4.9 Bọ rùa và ấu trùng của bọ rùa ăn rệp xơ trắng (C lanigera) 41

Hình 4.11 Hiệu lực trừ rệp xơ trắng (C lanigera) của một số loại thuốc trên giống mía ROC 22 trong phòng thí nghiệm 42

Hình 4.12 Hiệu lực trừ rệp xơ trắng của một số loại thuốc trên giống mía ROC 22 tại Cò Nòi, Mai Sơn, Sơn La năm 2015 44

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Thị Vân

Tên luận văn: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của rệp xơ trắng

(Ceratovacuna lanigera Zehntner) hại mía và biện pháp phòng trừ tại Mai Sơn,

Sơn La năm 2015”

Ngành: Bảo vệ thực vật Mã số: 60.62.01.12 Tên cơ sở đào tạo: Học viện nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở xác định được đặc điểm sinh học, diễn biến mật độ

và khảo nghiệm một số biện pháp phòng chống rệp xơ trắng hại mía (Ceratovacuna

lanigera Zehntner) tại Sơn La để làm cơ sở cho việc đề xuất biện pháp quản lý chúng

đạt hiệu quả

Phương pháp nghiên cứu: Để xác định được đặc điểm sinh học, sinh thái của rệp xơ

trắng chúng tôi tiến hành nuôi rệp xơ trắng không cánh trong phòng thí nghiệm tại trường PHPT Mường La, Sơn La với thức ăn là giống ROC 22 và ở nhiệt độ trung bình

là 29,290C ± 1,080C, ẩm độ trung bình là 82,09 ± 1,65%

Để đánh giá sự gây hại của rệp xơ trắng đến nồng độ Bx trong cây, chúng tôi tiến hành treo thẻ đánh dấu vào các cây mía có các cấp rệp hại khác nhau, mỗi cấp hại treo 20 cây bắt đầu từ khi mía vươn lóng

Để đánh giá một số biện pháp canh tác kĩ thuật ảnh hưởng đến rệp xơ trắng trên đồng ruộng chúng tôi tiến hành điều tra diễn biến của rệp xơ trắng dựa vào Quy chuẩn QCVN 01-38: 2010/BNNPTNT về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng Điều tra định kỳ 7 ngày/lần trong suốt thời gian nghiên cứu Mỗi vườn đại diện điều tra 10 điểm ngẫu nhiên, mỗi điểm 1 cây, mỗi cây điều tra trên 3 loại lá (3 lá non, 4 lá bánh tẻ và 3 lá già), tính tỉ lệ lá bị hại và mật độ con/lá

Để tìm hiểu hiệu lực của một số loại thuốc tác động đến diễn biến rệp xơ trắng, chúng tôi đã tiến hành thử nghiệm 4 loại thuốc khác nhau, trong đó đáng chú ý có 2 loại thuốc thảo mộc

Kết quả chính và kết luận: Kết quả thu được vòng đời của rệp không cánh từ 16 đến

21 ngày, trung bình 19,10 ± 1,85 Một đời của rệp không cánh là 20 đến 29 ngày, trung bình 25,58 ± 2,31 Sau khi hóa trưởng thành 2-3 ngày rệp xơ trắng bắt đầu sinh sản số

Trang 11

lượng rệp con được sinh ra/ rệp mẹ đạt cao nhất vào ngày thứ 3, thứ 4 (từ 2-6 con/ 1 rệp mẹ) sau đó giảm dần vào những ngày thứ 7, thứ 8 Một rệp mẹ đẻ trung bình 26,04 con

Khi mía bị rệp xơ trắng gây hại cấp 4 thì độ brix giảm khoảng 2,36 lần so với mía không bị rệp xơ trắng gây hại

Hầu hết các giống mía đang trồng phổ biến ở vùng nguyên liệu mía đường Mai

Sơn, Sơn La đều bị nhiễm rệp xơ trắng (C lanigera), trong đó giống mía MY55-14 bị nhiễm rệp xơ trắng (C lanigera) nặng hơn giống ROC 22 Rệp xơ trắng gây hại nặng

hơn trên cây mía trồng ở chân đất thấp, ẩm (mật độ cao nhất là 117,48 con/lá), chân đất cao (mật độ cao nhất là 92,26 con/lá).Với ruộng mía không bóc lá, ruộng cày vùi lá mía

vụ trước, mía trồng trên ruộng thấp, mía trồng thuần mật độ rệp xơ trắng (C lanigera)

tập trung gây hại cao hơn trên ruộng mía có bóc lá, ruộng đốt lá mía vụ trước, mía trồng xen đậu tương

Bốn loại thuốc Elsin 10EC, Oshin 20WP, lá xoan, hạt củ đậu đều có hiệu lực khá cao đối với rệp xơ trắng Tuy nhiên đạt hiệu quả cao và nhanh chóng vẫn là thuốc

Elsin 10EC Và Oshin 20WP, còn lá xoan và hạt củ đậu hiệu quả kém hơn

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Nguyen Thi Van

Thesis title: "Study on Ceratovacuna lanigera Zehntner’s biological and ecological

characteristics and control methodology in Mai Son, Son La in 2015"

Major: Plant protection Code: 60.62.01.12

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Research Objectives: Identifying biological characteristics, population dynamic as

well as testing some methodology to control Ceratovacuna lanigera Zehntner in Son La provided a basis for proposing effective management against C.lanigera

Material and Methods:

In order to determine Ceratovacuna lanigera Zehntner’s biological and ecological characteristics, we reared C lanigera, the apterous aphid, in the laboratory in Muong La

High School, Son La on sugacane (ROC 22 variety) at the average temperature of 29.290C ± 1.080C and average humidity of 82.09 ± 1.65%

To assess the harm of the C lanigera to the Brix concentrations, we mesured Brix concentrations of the sugar canes having different levels of damage caused by C

lanigera, each level 20 sugar canes at knag development were mesured

In order to evaluate some technical farming practices affecting C lanigera in the field,

we investigated the development of C lanigera based on National Technical Regulation

No 01-38: 2010/BNNPTNT on survey methods to detect plant damages and surveyed periodically 7 days/times during the research period Each field surveyed 10 random points Each point selected one tree Each tree tested 3 types of leaves (3 young leaves,

4 moderate leaves and 3 old leaves) Then the proportion of damaged leaves and density

of individuals/leaf were calculated

To find out the effect of some insecticies affecting the developments of C lanigera, we

tested 4 different insecticides including two herbal insecticides

Main findings and conclusions:

The results showed that C lanigera’s life cycle lasted from 16 to 21 days, the

average life cycle was 19.10 ± 1.85 days The individual ‘s life cycle prolonged from 20

to 29 days, and the average longivity was about 25.58 ± 2.31 days After 2-3 days of

maturation, the C lanigera could give birth On the first day, the rate of reproduction

was the lowest, with 1-3 nymphs per adult The rate increased on the second day and

Trang 13

reached the highest rate on the third day and the fourth day (2-6 nymphs per adult) This decreased in the last days

The results showed that the more sugar canes’ damages by C lanigera were

severe, the more yield and quality decreased, especially Brix concentration The two factors yield and quality of sugar cane was the most apparent when sugar canes was

affected by C lanigera at level 4, the Brix level decreased about 2.36 times compared

with sugar canes without damages

Most of the sugarcane varieties widely planted in Mai Son - Son La were

infected by C lanigera The density of C lanigera in MY55-14 variety was higher than ROC 22 variety Ceratovacuna lanigera damaged heavier in sugar canes planted at

lowland areas with difficulties in water drainage (highest density: 117.48 individuals/leaf), compared to highland areas (highest density: 92.26 individuals/leaf)

In sugar cane fields without peeling leaves, fields buried cane leaves in the previous

season and fields only growing sugar cane, the densities of C lanigera were higher than

in sugar cane fields with peeled leaf cane fields, fields burning sugar cane leaves in the previous crop, fields planting both sugar cane and soybeans, respectively

Four insecticides Elsin 10EC, Oshin 20WP, Melia azedarach Neem leaves and seeds of Pachyrrhizus had relatively high effect However, Elsin 10EC and Oshin 20WP were higher effect compared to Melia azedarach Neem leaves and seeds of

Pachyrrhizus Nevertheless, we still recommend farmers to use the herbal insecticides

to eradicate pestilent insect when they are in early development Because the effect of the herbal insecticides are quite high without polluting the environment, poisoning humans and other warm-blooded animals and they are cost-saving for farmers In addition, we also encourage farmers to peel sugar cane leaves in the phase of tree-trunk

development to help sugar cane field clear and limit C lanigera

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Cây mía (Saccharum oficinarum L.) là cây công nghiệp có nguồn gốc

nhiệt đới có khả năng cho năng suất cao Mía còn là nguồn nguyên liệu quan trọng của ngành chế biến đường ăn trên thế giới và là nguồn nguyên liệu chế biến đường duy nhất ở nước ta

Mặt khác cây mía đã giải quyết và tạo điều kiện việc làm cho hàng trăm ngàn lao động nông nghiệp đặc biệt là khu vực miền núi, góp phần tích cực trong việc giải quyết công ăn việc làm và ổn định tình hình kinh tế xã hội của đất nước Việt Nam là nước nhiệt đới ẩm có khí hậu thích hợp cho cây mía sinh trưởng phát triển tốt Năng suất tiềm năng có thể đạt trên 200 tấn mía cây trên một ha và có trữ đường cao, do có mùa khô lạnh trùng vào thời gian mía chín,.… Do đó cây mía là cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao Năm 2013-2014 diện tích mía nguyên liệu của công ty mía đường Sơn La là 4.497 ha, sản lượng 252.000 tấn, sản xuất trên

29000 tấn đường (phòng lưu trữ công ty mía đường Sơn La, năm 2014)

Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới của khu vực Bắc miền Bắc Việt Nam nói chung và tỉnh Sơn La nói riêng thì mùa đông thường có sương muối, mùa hè nắng mưa xen kẽ, quá trình xói mòn, rửa trôi xảy ra mạnh ở vùng đất đồi, đất có

độ dốc cao nguyên nhân do tập quán canh tác của bà con dân tộc miền núi phá rừng làm nương rẫy, du canh du cư, làm cho đất bị cạn kiệt và nghèo dinh dưỡng, tình hình dịch hại phát sinh, phát triển và gây hại nặng, làm cho chữ lượng đường trong mía giảm, dẫn đến tỷ lệ tạp chất trong quá trình chế biến đường tăng, đó là mối nguy hại lớn cho ngành mía đường Riêng rệp xơ trắng hại mía là đối tượng xuất hiện và gây hại phổ biến tại các vùng trồng mía đặc biệt là ở Sơn La, mía bị rệp xơ trắng gây hại quanh năm làm tổn thất đến năng suất và chất lượng mía

Tuy nhiên, các nghiên cứu về rệp xơ trắng hại mía tại tỉnh Sơn La còn rất ít

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên cho thấy, việc nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật nhằm khắc phục những bất lợi của điều kiện thời tiết khí hậu, đất đai không chỉ

có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa lớn trong hạn chế tác hại do rệp xơ trắng gây ra Việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất mía, từng bước cải tạo độ phì nhiêu đất, hạn chế tác hại do dịch hại gây ra đặc biệt là rệp xơ trắng đảm bảo cho sản xuất mía ổn định và phát triển bền

Trang 15

vững vùng nguyên liệu mía phục vụ công nghiệp chế biến đường là vấn đề mang tính

cấp thiết Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đặc điểm

sinh học, sinh thái của rệp xơ trắng (Ceratovacuna lanigera Zehntner) hại mía

và biện pháp phòng trừ tại Mai Sơn, Sơn La năm 2015” là rất cần thiết

1.2 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 1.2.1 Mục đích

Trên cơ sở xác định được đặc điểm sinh học và diễn biến mật độ và khảo

nghiệm một số biện pháp phòng chống rệp xơ trắng hại mía (Ceratovacuna

lanigera Zehntner) tại Sơn La để làm cơ sở cho việc đề xuất biện pháp quản lý

chúng đạt hiệu quả

1.2.2 Yêu cầu

- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, gây hại của rệp xơ trắng (Ceratovacuna

lanigera Zehntner) hại mía

- Điều tra diễn biến mật độ của rệp xơ trắng (Ceratovacuna lanigera

Zehntner) hại mía trên các giống mía, chân đất trồng, trồng xen hoặc trồng thuần

- Xác định ảnh hưởng của một số biện pháp phòng trừ tới diễn biến mật độ

rệp xơ trắng (Ceratovacuna lanigera Zehntner) hại mía:

+ Biện pháp Canh tác: bóc lá mía và không bóc lá mía, cày vùi

+ Biện pháp sinh học + Biện pháp hóa học

Trang 16

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

Mía hiện nay là cây trồng có diện tích lớn trên thế giới với diện tích khoảng 23,8 triệu ha Cây mía được trồng ở hơn 90 quốc gia, chủ yếu là ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, sản lượng hàng năm trung bình là 1,69 tỉ tấn

Trong những năm gần đây ngành mía đường trên cả nước Việt Nam đang có những bước tiến đáng kể cả về diện tích, năng suất và sản lượng Sản lượng mía của Việt Nam hiện nay đang đứng ở vị trí thứ 21 trong tổng số các quốc gia sản xuất đường trên thế giới Tuy nhiên, để phát triển sản xuất mía ổn định và bền vững thì công nghệ sản xuất phải tiên tiến, tăng cường kiểm tra phát hiện sâu bệnh để kịp thời phòng trừ nhằm đem lại năng suất và chất lượng đường cao nhất Và rệp xơ trắng làm giảm năng suất, chất lượng mía thương phẩm đang là câu hỏi và thách thức lớn cho người trồng mía của nước ta hiện nay Theo Trần Văn Sỏi (2003) Thì những ruộng mía bị rệp xơ trắng gây hại đã làm giảm năng suất từ 20-30%, mía lưu gốc bị rệp xơ trắng gây hại nặng không thể tái sinh được, ngọn mất khả năng nảy mầm Chính vì vậy mà người trồng mía đã sử dụng thuốc trừ sâu trung bình 55-70kg/ha/năm, gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cũng như tài chính của con người

Trên cơ sở các thành tựu khoa học công nghệ đã đạt được như sử dụng giống mía chống sâu bệnh, trồng mía che phủ nilon, ươm hom một mầm trong bầu nilon, sử dụng các chế phẩm sinh học BT, NPV trừ sâu Vậy vấn đề nghiên cứu đặc điểm sịnh học, sinh thái và biện pháp phòng trừ rệp xơ trắng hại mía tại Mai Sơn, Sơn La là cơ sở vững chắc để xây dựng vùng mía phát triển an toàn và bền vững

2.2 ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH VÙNG NGUYÊN LIỆU MÍA ĐƯỜNG TẠI SƠN LA

Cây mía có nguồn gốc nhiệt đới, nước ta nằm trong vùng khí hậu đó, điều

phát triển với tiềm năng năng suất và chất lượng cao như các nước trong khu vực

có cùng điều kiện

Vùng nguyên liệu mía đường Sơn La được phân bố dọc theo trục Quốc Lộ

6, trên 2 huyện và 1 thành phố, với diện tích là 4.936,36 ha/6.135 hộ, gồm 4 dân

Trang 17

tộc: Thái, Kinh, Hmông, Nhắng với trình độ dân trí phát triển không đồng đều, trình độ thâm canh còn thấp, diện tích mía không tập trung, còn manh mún, hệ thống hạ tầng cơ sở chưa phát triển, nhất là hệ thống đường giao thông còn khó khăn Thời tiết ngoài mưa, khô hanh còn có gió lào và sương muối

Trong những năm gần đây vùng nguyên liệu mía đường tại Sơn La có những bước tiến đáng kể về diện tích, năng suất, sản lượng Điều đó được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng mía qua các năm

tại Công ty Mía đường Sơn La

STT Niên vụ Diện tích (ha) Năng suất

(tấn/ha)

Sản lượng (tấn) Ghi chú

ta thì năng xuất và sản lượng vẫn còn thấp

2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI VÀ TRONG NƯỚC 2.3.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

2.3.1.1 Thành phần loài, đặc điểm gây hại và tác hại của rệp hại mía

Akbar et al (2010), cho rằng các giống mía thuộc trạm nghiên cứu nông nghiệp Louisiana thường bị gây hại bởi 2 loài rệp muội là rệp mía Menalaphis

sacchari và rệp mía màu vàng Sipha flava (forbes) (Hemiptera: Aphididae), tìm hiểu mối liên quan giữa rệp mía Menalaphis sacchari trong việc truyền lan bệnh

virus gây bệnh vàng lá mía, tác nhân truyền bệnh vàng lá mía không bền vững

Theo Raychaudhuri (1984), đã phát hiện được 17 loài rệp gây hại trên cây mía, trong đó có 7 loài thuộc họ phụ Aphidinae, 5 loài thuộc họ phụ Pemphiginae, 2 loài thuộc họ phụ Drepanosiphinae và 3 loài thuộc họ phụ Hormaphidinae, trong số 3 loài thuộc họ phụ Hormaphidinae có giống

Trang 18

Ceratovacuna , thì loài rệp xơ trắng Ceratovacuna lanigera Zehntner là loài rệp

hại nguy hiểm nhất trên cây mía ở một số vùng phía Đông Ấn Độ

Anonymous (1963), trong số 14 loài thuộc giống Ceratovacuna đã được

biết đến trên thế giới thì có 7 loài đã xuất hiện ở một số vùng của Ấn Độ như

Silvestrii takahashi, Perglandulosa Bausun Ghosh & Raychaudhura indica Ghosh, Pal & Raychaudhura spinulosa Ghosh & Raychaudhura lanigera Zehntner, Graminum Van der Goot & nekoashi (Sasaki) Trong đó Indica,

glandulosa & Spinulosa là những loài đặc hữu của Ấn Độ và chỉ thấy có dạng rệp không cánh đẻ con

Setokuchi (1993), điều tra trên đồng ruộng để nghiên cứu về thành phần loài và thời điểm có nhiều rệp rễ hại mía tại đảo Amami Osam, quận Kagoshima trong năm 1989-1990 Đã thu thập được 4 loài rệp hại trên rễ cây mía tại vùng

nghiên cứu bao gồm Rhopalosiphum rufiabdominalis (Sasaki), Anoecia

fulviabdominalis (Sasaki), Tetraneura javensis van Der Goot và Geocia lucifuga (Zehntner) Mật độ của chủng quần Rhopalosiphum rufiabdominalis và Anoecia

fulviabdominalis cao từ tháng 4 tới tháng 5, nhưng không tìm thấy chúng trong

mùa hè Tetraneura javensis và Geocia lucifuga được tìm thấy trong cả mùa xuân và mùa hè Loại trừ rệp Tetraneura javensis đã được chỉ ra rằng loài rệp

này qua đông như loài rệp đẻ con và gây hại lớn tại Nhật Bản

Setokuchi and Muta (1993), đã nghiên cứu mối liên quan giữa sự xuất

hiện của rệp muội có cánh là môi giới truyền bệnh khảm lá virus (SCMV) và tỷ

lệ cây nhiễm bệnh từ năm 1986-1987 Sự ảnh hưởng của giai đoạn sinh trưởng của cây mía tới số lượng của rệp muội có cánh ở các cánh đồng khác nhau đã được điều tra vào năm 1989 tại đảo Anami Oshim, Quận Kagoshima Rệp trưởng thành có cánh đã bị bẫy bắt bằng bẫy màu vàng và tỷ lệ cây nhiễm bệnh khảm lá đã được xác định một cách định kì trên cánh đồng mía được trồng ở các thời gian khác nhau

Những rệp được xác định là môi giới truyền bệnh khảm lá mía bao gồm Lapiphis

erysimi, Aphis gosypii, Hyperomyzus lactucae và Myzus persicae đã được thu thập

đủ số lượng Số lượng cá thể của chủng quần rệp muội có cánh là môi giới truyền bệnh virus bắt đầu cao từ tháng 4 đến tháng 6 và từ tháng 10 đến tháng 11 và đỉnh cao của tỷ lệ cây nhiễm bệnh SCMV thì cũng liên quan với thời điểm có đỉnh cao số lượng rệp môi giới Số lượng của rệp muội có cánh là môi giới truyền bệnh đã được thu bắt bằng bẫy dính màu vàng cao trên đồng ruộng vào thời kì cây mía còn non

Trồng mía trong tháng 5 có thể tránh được nhiễm môi giới truyền bệnh SCMV

Trang 19

Trpathi et al (2008) nghiên cứu về rệp xơ trắng hại mía đã viết:

Ceratovacuna lanigera Zehntner lần đầu tiên được tìm thấy trên cây mía ở đảo Java năm 1897 và được ghi nhận đã nhiễm trên cây mía ở 20 nước khác nhau

Chúng thường có số lượng lớn ở vùng có khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới của Ấn

Độ Chúng thường nằm ở mặt dưới của lá mía khi gây hại, rệp xơ trắng hại mía thường tiết ra những giọt sương mật tạo điều kiện cho nấm muội đen phát triển, điều này ảnh hưởng đến diện tích quang hợp của cây mía, có khi giảm 25,04-26,71% diện tích quang hợp Theo tác giả Gupta and Goswami (1995), đã ghi nhận sự gây hại của rệp rệp xơ trắng hại mía đã làm giảm lượng đường tới 15%

Người ta cũng đã nghiên cứu về sự có mặt của những loài bắt mồi trong việc khống chế số lượng rệp xơ trắng hại mía Nhưng chưa có những công trình công

bố cụ thể Những nghiên cứu về mùa vụ thì đã ghi nhận được sự có mặt của rệp

xơ trắng hại mía trong mùa hè và mùa thu Ghi nhận được sự biến động số lượng của rệp với kẻ thù tự nhiên của chúng

2.3.1.2 Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của rệp xơ trắng (Ceratovacula lanigera Zehnter) hại mía

Joshi and Viraktamath (2004), cho biết rệp xơ trắng hại mía hoàn thành

vòng đời khi sống trên cây thuộc họ lúa (Poaceae) ở Nhật Bản Basu and

Banerjee (1958), đã tìm thấy nhiều trưởng thành của rệp không cánh sinh sản đơn

tính trong các quần thể rệp nuôi trên mía trong phòng thí nghiệm Tại Nhật Bản

cũng không có ghi nhận về kí chủ phụ của rệp Takano (1934), đã có những kết

quả công bố về sự chu chuyển của rệp từ cây Saccharum .sang Miscanthus

sinensis trong nghiên cứu về sự lan truyền của rệp xơ trắng hại mía tại Đài Loan

Thậm chí đã có những ý kiến cho rằng không có sự giao phối của rệp xơ trắng hại mía trong tự nhiên Ông đã nghiên cứu về đặc tính sinh vật học của rệp xơ trắng hại mía và đã xác định rằng giai đoạn rệp non kéo dài trong khoảng 10 ngày và trưởng thành không cánh khoảng 14 ngày

Tripathi et al (2008) trong những năm 2005-2006 thì đã điều tra về

biến động số lượng cá thể trong quần thể của rệp xơ trắng hại mía và những loài kẻ thù tự nhiên của chúng vào mùa hè và mùa thu với số lượng nghiên cứu được ghi nhận hàng tuần từ khi bắt đầu trồng cho tới khi thu hoạch Số lượng của rệp xơ trắng hại mía non và trưởng thành cũng được đếm bằng cách

sử dụng khung có kích thước 2,5 x 2,5cm và số lượng được quan sát lặp lại trên 5 lá bị nhiễm rệp xơ trắng hại mía vào tuần cuối của tháng 10 Ghi nhận

Trang 20

được 65-76% diện tích lá bị nhiễm rệp, các số liệu về nhiệt độ cao, thấp, ẩm

độ và lượng mưa cũng được ghi nhận lại để xem mối liên hệ giữa số lượng cá thể của quần thể rệp xơ trắng hại mía với các nhân tố vô sinh Số lượng rệp xơ trắng lên cao nhất là 265,4 rệp/ 1 khung 2,5 x 2,5cm ở tuần thứ 43 sau trồng (vào khoảng tuần cuối tháng 10 năm 2005)

Gupta and Goswami (1995), ghi nhận được mật độ thấp nhất của rệp xơ trắng hại mía vào tháng 6 và mật độ cao nhất ở thời điểm ấy là 90,32% vào tháng 9

Shetgar et al (2004) ghi nhận số lượng cá thể chủng quần rệp xơ trắng

hại mía cao nhất là 80,1 rệp/ 1 khung 2,5 x 2,5 cm vào tuần thứ 50 sau trồng Số lượng rệp xơ trắng bắt đầu tăng vào tuần đầu tiên của tháng 7 năm 2006

2.3.1.3 Biện pháp phòng trừ rệp xơ trắng hại mía

- Biện pháp sinh học

Venkatesan et al (2008) đã nghiên cứu loài Dipha aphidivova (Meyrick)

trong việc khống chê số lượng rệp xơ trắng hại mía, ông đã nuôi thành công 3 thế hệ, lần đầu nuôi ấu trùng với thức ăn nhân tạo là gan bò khô lạnh, tác giả đã

so sánh các chỉ tiêu sinh học, thời gian sống của ấu trùng, trọng lượng trưởng thành, thời gian trước đẻ và thời gian đẻ, khả năng sinh sản, độ mắn đẻ và thời

gian sống của trưởng thành cái của Dipha aphidivova khi nuôi trên thức ăn bán

nhân tạo và nuôi bằng rệp xơ trắng hại mía Thời gian phát triển của ấu trùng nuôi từ tuổi 1 đến nhộng là 20,6 ngày trên thức ăn nhân tạo và 12 ngày trên thức

ăn là rệp xơ trắng hại mía Tỷ lệ sống sót của ấu trùng đến trưởng thành là 61,8%

trên thức ăn nhân tạo và 91,8% trên thức ăn là rệp xơ trắng hại mía Sức sinh sản

là 41,8 trứng/con cái khi được nuôi trên thức ăn nhân tạo từ ấu trùng đến trưởng thành không có sai khác có ý nghĩa khi được nuôi trên thức ăn là rệp xơ trắng sức sinh sản là 58 trứng/ con cái Mặc dù sức sinh sản và thời gian sống của trưởng thành cái nuôi trên hai loại thức ăn không có sự sai khác có ý nghĩa Nghiên cứu

đã phát hiện được khả năng có thể nuôi ấu trùng của Dipha aphidivova bằng thức

ăn nhân tạo

Trpathi et al (2008) trong thời gian điều tra đã ghi nhận được sự có mặt

của một số loài bắt mồi thuộc các họ: họ ngài sáng Pyralidae (bộ cánh vảy), ruồi

ăn rệp (thuộc họ Syrphidae); Bộ cánh mạch tìm thấy 6 loài; và một loài bắt mồi

thuộc bộ cánh vảy (loài Dipha aphidivora) và loài Micromus igorotus Loài ruồi

ăn rệp có tên là Metasyrphus confrator, một loài nhện bắt mồi Theridula angula

sự xuất hiện của tất cả các loài bắt mồi này không chỉ ra được mối liên quan nào

Trang 21

cụ thể đối với số lượng rệp xơ trắng hại mía, tuy nhiên có 1 loài bắt mồi được

đánh giá là quan trọng là loài thuộc bộ cánh vảy (loài Dipha aphidivora), tác giả

đã điều tra mật độ của loài Dipha aphidivora với mật độ của rệp xơ trắng hại

mía trong suốt mùa vụ mía Người ta nhìn thấy mật độ cao nhất của ấu trùng bộ

cánh vảy Dipha aphidivora là 6,27 ấu trùng/1 lá Quan sát này nhìn thấy ở tuần cuối tháng 1 năm 2006 Số lượng cao nhất của loài Micromus igorotus là 4,65 ấu trùng/lá vào tuần thứ 2 của tháng 10 năm 2005 Mặc dù vậy số lượng của M

Confrator cũng lên tới 2,56 ấu trùng/lá vào tuần thứ 2 tháng 10 năm 2005 Theo tác giả Chakravarthy and Thyagaraj (2005), đã ghi nhận được số lượng rệp cao nhất nhiễm vào lá khoảng tháng 12 và tháng1, số lượng thấp nhất là tháng 4 Họ cũng ghi nhận được số lượng cao nhất của loài bắt mồi trùng với thời gian số lượng rệp cao Số lượng thấp nhất loài bắt mồi được ghi nhận vào tháng 5 Từ việc xác định mối liên hệ giữa số lượng rệp xơ trắng hại mía và loài bắt mồi là

kẻ thù tự nhiên của rệp Nhân tố vô sinh như nhiệt độ cao, nhiệt độ thấp, độ ẩm trung bình và lượng mưa có mối tương quan có ý nghĩa giữa rệp xơ trắng và các

loài bắt mồi của nó như Dipha aphidivora là (r = 0,304, p = 0,001), Micromus

igorotus (r = 0,808, p = 0,001) và M confrator (r = 0,669, p = 0,001) Theo tác giả Chakravarthy and Thyagaraj đã tìm thấy 2 loài bắt mồi là Dipha aphidivora

và Micromus có mối liên quan tới ẩm độ trung bình và lượng mưa Những xem

xét này có mối liên quan với sự xuất hiện của nó với lượng mưa là (r = 0,222, p = 0,05; r = 0,359, p = 0,001) và sự xuất hiện số lượng rệp xơ trắng hại mía

Roy (1975), đã tìm ra lượng mưa như là một nhân tố kìm hãm việc tăng

số lượng của loài Lipaphis erysimi cả nhiệt độ cao và nhiệt độ thấp đều tỷ lệ

nghịch với sự tăng số lượng rệp Có hệ số tương quan (r = 0,206, p = 0,05; r = 0,110, p = 0,05) với số lượng rệp xơ trắng

-Theo Shantibala et al (1997) có những ghi nhận về mật độ của vật mồi (rệp xơ trắng) phụ thuộc vào sự tăng về số lượng của các loài bắt mồi trên Cer-

vaphis rappardi indica còn những phát hiện của tác giả Saha và Agarwalacũng

có những công bố tương tự như vậy và ông xác định được loài bắt mồi Dipha

aphidivora được áp dụng như một tác nhân sinh học thành công trong việc phòng trừ rệp xơ trắng hại mía Vai trò của những tác nhân sinh học cần được điều tra nhiều hơn nữa trong tương lai

Mehetre et al (2008) đã nghiên cứu một loài nấm gây bệnh côn trùng, tìm

hiểu khả năng sử dụng chúng như một tác nhân sinh học để quản lí rệp xơ trắng

Trang 22

Ceratovacuna lanigera (Homoptera: Aphididae) hại mía tại trạm nghiên cứu cây

mía của Ấn Độ Nấm Gibberella fufikuroi có một tên khác là Fusarium

verticillioides và một tên khác nữa là Fusarium moniliforme đã được tìm thấy và là

một tác nhân phòng trừ sinh học có nhiều hứa hẹn Các nghiên cứu về đặc điểm và

các hình thức sinh sản của nấm Fusarium moniliforme đã được tiến hành Việc sử dụng nấm Fusarium moniliforme để phòng trừ rệp xơ trắng đã làm giảm 60% số

lượng rệp, khi phun 2 lần trên đồng ruộng, một tuần phun 2 lần

- Biện pháp giống chống chịu Akbar et al (2010) nghiên cứu được thực hiện trong nhà kính để xác định

các giống mía khi bị hai loài rệp hại và các đặc tính sinh học của rệp bị thay đổi khi nuôi trên các giống mía khác nhau Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng diệp lục của lá mía bị giảm khi bị 2 loài rệp hại là không khác nhau, nhưng kết quả nghiên cứu cho thấy việc thử nghiệm chất kháng sinh (antibiosis) là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá giống kháng rệp mía Tuy nhiên theo kết quả thử nghiệm cho thấy một số đặc tính sinh học như thời gian sinh sản, độ mắn đẻ của

cả hai loài rệp nghiên cứu là không sai khác có ý nghĩa khi nuôi chúng trên hai loại thức ăn là giống mía HoCP91-555 so với L 97-128 Từ phép thử với kháng sinh của các giống mía

- Biện pháp IPM (xác định ngưỡng gây hại) Breen and Teetes (1990), đã được xác lập ngưỡng gây hại kinh tế cho rệp

mía màu vàng Sipha flava (forbes), đây là loài dịch hại không thường xuyên trên

cây lúa miến Ngưỡng thiệt hại kinh tế được xác định dựa trên số liệu thu thập được từ 5 thí nghiệm trên đồng ruộng thực hiện trong năm 1983 và 1984 gần trạm nghiên cứu của trường Đại học Texzac Tính toán mức thiệt hại kinh tế với

số lượng rệp được nhiễm theo cấp số nhân, khoảng cách cây, độ cao cây tới năng suất/cây Ngưỡng thiệt hại kinh tế thay đổi từ 3-27%, 4-43% và 11-100% cây nhiễn rệp đối với cây có độ cao 3,5; 4,5 và 5,5cm Khi chi phí phòng trừ thay đổi

từ 5-25đô la /ha và giá trị cây từ 250-500 đô la/ha

2.3.2 Tình hình nghiên cứu rệp xơ trắng hại mía ở Việt Nam

2.3.2.1 Nghiên cứu về đặc điểm gây hại và tác hại của rệp xơ trắng hại mía

Theo Trần Văn Sỏi (2003), thì rệp xơ trắng hại mía tập trung ở mặt dưới của lá, dọc theo gân lá, chúng sống thành tập đoàn, có rất nhiều xơ bông trắng bao phủ trên cơ thể nên người ta thường gọi là rệp xơ bông trắng Các chất bài

Trang 23

tiết của rệp xơ bông trắng là môi trường tốt cho nấm muội đen phát triển, tạo nên một màu đen dọc theo lá và thân Ruộng mía bị rệp hại nặng nhìn vào thấy vừa

có màu trắng vừa có màu đen Rệp thường xuất hiện nhiều vào mùa hè, phá hoại mạnh nhất vào cuối mùa thu , đầu mùa đông và có thể kéo dài đến cuối năm

Theo Lê Văn Ninh (2009), “trên cùng một cây mía, ở tầng lá giữa của tán lá mía là lá bánh tẻ thì rệp xơ trắng hại mía sinh trưởng phát triển mạnh do rệp xơ trắng không ưa ánh sáng trực xạ nên thường ít xuất hiện trên tầng lá trên (tầng ngọn), các

lá non hàm lượng hydracabon trong lá thấp nên rệp xơ trắng phát sinh với mật độ thấp Các lá già hàm lượng hydracabon cao nhưng hàm lượng silic ở vách tế bào cao làm cho rệp xơ trắng khó xâm nhiễm và gây hại Sự phân bố của rệp xơ trắng hại mía có sự khác nhau rõ rệt, rệp xuất hiện chủ yếu trên các lá bánh tẻ, từ lá thứ 3 đến

lá thứ 5 tính từ đỉnh sinh trưởng xuống, không có cá thể rệp xơ trắng nào xuất hiện trên lá thứ nhất (lá nõn) Trung bình trên cây mía có 3 lá có rệp xơ trắng, chúng thường tập trung nhiều nhất ở mặt dưới của các lá 3,4 và 5, đó là các lá bánh tẻ”

Theo Nguyễn Văn Đĩnh và cs (2012) thì rệp xơ trắng hại mía sinh sản bằng cách đẻ ra sâu non (đẻ ra con) Trưởng thành và sâu non sống quần tụ tập trung ở dọc hai bên gân chính mặt sau của lá mía Rệp xơ trắng không ưa ánh sáng trực xạ, sâu non hoạt động nhanh nhẹn hơn trưởng thành

Theo Trần Văn Sỏi (1980), đánh giá rệp xơ trắng là đối tượng gây hại lớn nhất đối với cây mía ở các tỉnh trồng mía thuộc khu vực phía Bắc Việt Nam, rệp thường xuất hiện nhiều vào mùa hè (tháng 4-5), phá hại mạnh nhất vào cuối thu, đầu mùa đông (tháng 8-10) và có thể kéo dài đến khi thu hoạch mía Các lô mía

bị rệp xơ trắng hại nặng có khả năng làm giảm năng suất 20-30% Hàm lượng đường trong mía nguyên liệu giảm đến mức mía không thể đưa vào chế biến

đọng và khó kết tinh thành đường, ngọn mía thì mất khả năng nẩy mầm, gốc mía không còn khả năng tái sinh

Theo Nguyễn Thị Kim Oanh (1996), rệp xơ trắng sống tập trung ở dọc gân chính ở mặt dưới của lá mía, rệp chích hút dịch cây, làm cây sinh trưởng còi cọc Trong quá trình sống rệp thải ra chất thải có hàm lượng Hydracacbon cao là môi trường thuận lợi cho nấm muội đen phát triển, làm giảm khả năng quang hợp, làm cho cây mía bị giảm năng suất tới 20-30% và độ Brix giảm từ 25-50%, dẫn đến chất lượng mía bị giảm mạnh

Trang 24

Theo Hồ Khắc Tín (1981), đánh giá rệp xơ trắng và nhóm sâu đục thân là những đối tượng gây hại chủ yếu và nghiêm trọng trên các vùng trồng mía ở miền Bắc nước ta, nhiều địa phương trồng mía đặc biệt là các vùng nguyên liệu mía đường chuyên canh như: Thanh Hóa, Nghệ An, Tuyên Quang có những năm rệp xơ trắng gây hại nặng trên diện rộng, làm ảnh hưởng lớn đến lợi ích của người trồng mía

2.3.2.2 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của rệp xơ trắng (Ceratovacuna lanigera Zehnter) hại mía

Mức độ gây hại của rệp xơ trắng hại mía là nghiêm trọng ở các vùng chuyên canh mía, vì vậy đã có một vài tác giả nghiên cứu về đặc điểm sinh học của rệp xơ trắng nhằm phục vụ cho công tác dự tính dự báo và phòng trừ chúng

Theo Nguyễn Văn Đĩnh và cs (2012) sâu non rệp xơ trắng có 4 tuổi Rệp non không có mầm cánh phát triển thành rệp trưởng thành không có cánh, thời gian phát triển 15-30 ngày Sau khi hóa trưởng thành được 2 ngày thì chúng bắt

và độ ẩm 75-95% là điều kiện thích hợp cho rệp xơ trắng gia tăng nhanh số

thuận lợi cho rệp xơ trắng phát triển mạnh Sự xuất hiện của các loại hình trưởng thành có cánh và không có cánh phụ thuộc điều kiện nước, thức ăn và thời tiết

của rệp xơ trắng: Để theo dõi thời gian qua các pha phát dục của rệp xơ trắng tác giả tiến hành nuôi rệp vào các tháng 4-5 và tháng 8-9, trên lá mía giống ROC 10,

Cho thấy: Vòng đời của rệp xơ trắng có cánh kéo dài từ 28-34 ngày, trung bình 31,5±0,46 ngày, của rệp xơ trắng không cánh là 14-19 ngày, trung bình 16,3±0,34 ngày Đời của rệp xơ trắng có cánh từ 32-39 ngày, trung bình 34,9±0,67 ngày Đời của rệp xơ trắng không cánh từ 20-29 ngày, trung bình 22,1±0,56 ngày Kết quả nghiên cứu hoàn toàn phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hoan (2001) Do đó, trong quá trình điều tra tác giả nhận thấy mật độ của rệp xơ trắng không cánh trên ruộng mía bao giờ cũng cao hơn loại rệp

có cánh

+ Sức sinh sản của rệp xơ trắng trong phòng thí nghiệm: rệp xơ trắng sau khi

hóa trưởng thành 2-3 ngày là bắt đầu sinh sản, đối với loại có cánh, thời gian đẻ từ 2-5 ngày, trung bình 3,8±0,05 ngày Rệp không cánh thời gian đẻ từ 3-7 ngày, trung

Trang 25

bình 5,6±0,53 ngày 1 rệp mẹ có cánh đẻ là 11-17 con, trung bình 14,08±0,56 con, rệp không cánh đẻ từ 19-31 con, trung bình 25,05±1,42 con Vậy rệp không cánh có thời gian và khả năng đẻ lớn hơn so với rệp có cánh

+ Nhịp điệu sinh sản của rệp xơ trắng trong phòng thí nghiệm: Kết quả

cho thấy, 1 rệp xơ trắng mẹ có cánh ngày thứ nhất đẻ ít nhất (1-3 con), trung bình 2,32±0,42 con Đến ngày thứ 2 số lượng rệp con được đẻ ra của một rệp mẹ tăng

và đạt cao nhất vào ngày thứ 3 (3-5 con), trung bình 3,52±0,35 con, Ngày thứ 6

số lượng rệp con được đẻ giảm dần (1-2) con, trung bình 1,57±con Rệp không cánh đẻ nhiều hơn, ngày đầu 1 rệp mẹ đẻ ít nhất 2-3 con, trung bình 2,5±0,18 con Sang ngày thứ 2 số lượng rệp con đẻ ra của 1 rệp mẹ đẻ tăng dần và đạt cao nhất vào ngày thứ 3 (3-6 con), trung bình 4,53±0,46 con Số lượng rệp con được

đẻ ra giảm dần thấp nhất vào ngày cuối, trung bình là 2,19±0,18 con Rệp không cánh có thời gian đẻ 8 ngày, số lượng rệp con được đẻ ra cao nhất là 6 con vào các ngày thứ 3, sau đó giảm dần vào các ngày cuối Loại có cánh thời gian đẻ 6 ngày, số lượng rệp con được đẻ ra trong ngày cao nhất là 5 con vào ngày thứ 3, sau đó giảm vào các ngày cuối

- Đặc điểm sinh thái của rệp xơ trắng

Theo Lương Minh Khôi (1997), Rệp xơ trắng có kí chủ chính là mía, mùa đông lạnh hoặc những thời kì trên đồng ruộng chưa có mía thì rệp xơ trắng di chuyển sang các loại cây khác Qua điều tra ở Thanh Hóa thấy rệp xơ trắng xuất hiện trên cỏ lồng vực, còn ở Ninh Bình thì rệp xuất hiện trên cỏ mần trầu

Theo Trần Văn Sỏi (2003), thì mỗi năm rệp xơ trắng hại mía có nhiều lứa, trung bình khoảng 20 lứa/năm Loại hình rệp không có cánh, mỗi con đẻ 50-130 con

2.3.2.3 Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ rệp xơ trắng Ceratovacuna lanigera hại mía

Do tính chất và mức độ gây hại nguy hiểm của rệp xơ trắng đối với mía nên đã có một vài tác giả đã nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ rệp như biện pháp sinh học, biện pháp kĩ thuật, biện pháp hóa học, biện pháp quản lý tổng hợp

Biện pháp sinh học

Theo tác giả Lê Văn Ninh (2009) Phòng chống rệp xơ trắng hại mía bằng biện pháp sinh học: Ở Công ty TNHH Sao Vàng-Lam Sơn trong những năm qua

Trang 26

đã sử dụng những loài thiên địch có sẵn trong hệ sinh thái để diệt các loại sâu hại mía nói chung và rệp hại mía nói rieng Các loài thiên địch trên sâu hại mía bắt gặp nhiều nhất là kiến ba khoang 9trên giống mía thuần), kiến nhỏ ăn mồi (trên mía xen lạc) Hầu như không bắt gặp ruồi ăn rệp, bọ đui kẹp trên mía thuần, nhưng lại khá phổ biến trên mía xen lạc

Theo tác giả Vũ Quang Côn (2010), “Năm 1888 loài bọ rùa Rodolia

cardinalis (Muls) đã được nhập từ châu Úc vào California để tiêu diệt rệp hại

cam Icerya purchasi Mask Chỉ sau một thời gian ngắn đã cứu vãn được tai họa của vườn cam do rệp Icerya purchasi Mask gây nên Sau loài bọ rùa này được sử dụng để phòng trừ có kết quả loài Icerya purchasi Mask ở nhiều nơi trên thế giới

như Florida, Angeri, Pháp, Tân Tây-lan, Nhật Bản và một số nước nhiệt đới khác Một thực tế khác, để phòng trừ rệp phấn, Liên Xô đã nhập rồi nuôi và thả

ra đồng ruộng, vườn cây ăn quả loài bọ rùa Cryptolaemus, công việc này đã

mang lại nhiều kết quả đáng kể Ngoài ra Liên Xô còn sử dụng một số côn trùng

ăn sâu khác để phòng trừ sâu hại Trong những loài sâu nhập vào để chống lại

sâu hại của Liên Xô phải kể đến: Rhodolia, Cryptolaemus, Lindorus gurneyi

comp, Phytoseiulus persimillis A.N

Nguyễn Đình Hương (2009), rệp mía có rất nhiều loài thiên địch ăn rệp như bọ rùa, nhện, sâu non vệt xanh, bọ đuôi kìm (một ngày 1 con bọ đuôi kìm ăn

từ 20-30 con rệp-ta có thể nuôi bọ đuôi kìm để thả vào ruộng mía

Biện pháp canh tác

Theo tác giả Lê Văn Ninh (2009), thì phương pháp canh tác phòng trừ sâu hại mía: Biện pháp cnh tác BVTV là những kĩ thuật canh tác tạo ra điều kiện sinh thái thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây mía cũng như thiên địch của sâu hại mà không thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển, tích lũy và lây lan của rệp xơ trắng nói riêng, sâu hại mía nói chung Các biện pháp canh tác BVTV mang tính chất phòng ngừa sâu hại là: Kĩ thuật làm đất; tiến hành làm đất đúng lúc, đúng kĩ thuật không chỉ làm cho tầng canh tác tơi xốp đáp ứng các yêu cầu của cây mía, mà còn góp phần làm cho đất canh tác sạch mầm mống sâu bênh hại cây trồng Xen canh cây trồng: Là biện pháp tốt nhất để đồng thời sử dụng tối ưu các điều kiện, tăng hệ số sử dụng đất, ánh sáng, nước, chất dinh dưỡng trong đất, góp phần tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích cho người dân, thu hút thiên địch đến cư trú, từ đó hạn chế được các loài sâu hại di cư đến pát sinh, phát triển

Trang 27

và gây hại Bón phân hợp lí: Vai trò của từng loại phân bón là rất khác nhau, phụ thuộc vào từng giống mía, đối tượng sâu hại và điều kiện môi trường, thời điểm bón phân, để mía cứng cây, chống chịu được sâu bệnh; Vệ sinh đồng ruộng: Đây

là một nhóm thao tác kĩ thuật khác nhau nhằm tiêu diệt các mầm mống sâu hại có trong đất, trên tàn dư cây trồng vụ trước và trên cỏ dại Đối với cây mía, sau mỗi

vụ tiến hành dọn sạch và tiêu hủy tất cả các tàn dư thực vật có ý nghĩa lớn trong hạn chế nguồn sâu hại từ đầu vụ Trước khi trồng mới mía, dọn sạch gốc, rễ mía

cũ, dọn cỏ trong lô mía đem đốt, xử lý đất Làm như vậy hạn chế được rệp hại rễ mía Diệt cỏ quanh bờ lô, trong hàng mía rất có ý nghĩa trong phòng chống rệp

xơ trắng, rệp sáp đốt hại mía; Ảnh hưởng của khoảng cách trồng: Đất đồi khoảng cách là 0,8-1m là thích hợp, đất bãi 1-1,2m là thích hợp

Biện pháp thuốc thảo mộc

Theo sách Khuyết Danh (2006) Thì thuốc chế biến từ cây xoan (tên khoa

học là Melia azedorach L) bằng cách lấy lá xoan khô ngâm một ngày trong nước

với tỷ lệ 1kg lá khô/20 lít nước Sau khi ngâm đủ thời gian thì vò nát rồi lọc lấy dung dịch Khi sử dụng thì thêm 0,1% xà phòng rồi mới đem phun Liều dùng cho 1 ha là 28 kg bột lá xoan pha trong 560 lít nước cộng với 2800g xà phòng

Phun thuốc nên phun vào lúc trời mát mới đem lại hiệu quả cao Thuốc có tác dụng diệt trừ sâu, rệp Nó ít độc với động vật và côn trùng có ích

Thuốc trừ sâu chế biến từ hạt cây củ đậu (Pachyrhizus erossusurb) thuốc

diệt sâu tơ, sâu xanh bướm trắng, rệp, bọ nhảy Trên rau muống diệt sâu ba ba

Thuốc còn diệt bọ nẹt, bọ xít đùi to Sử dụng thuốc chế từ hạt củ đậu có ưu thế là loại trừ sâu phá hoại nhưng không ảnh hưởng đến loài sâu có ích cho mùa màng

Thuốc trừ sâu hạt củ đậu có tác động đến sâu theo 3 hướng:

+ Trực tiếp tác động vào sâu bằng con đường tiếp xúc Nếu sâu bị dính thuốc thì sẽ bị chết nhanh chóng, tuy thuốc chỉ phát huy mạnh nhất khi nó còn đang ướt, nếu thuốc khô thì khả năng diệt trừ sẽ không cao

+ Thuốc dính lại trên lá cây sẽ khiến cho sâu không ăn lá Đây là hiện tượng “gây ngán” cho sâu Nếu thân, lá đã bị dính thuốc thì kể cả con sâu nào tham ăn nhất cũng phải bỏ đi

+ Khi phun thuốc sẽ xua đuổi được sâu tơ, sâu non, bướm sâu tơ ra khỏi ruộng Hơn nữa nó còn loại trừ được trứng sâu trên đồng ruộng

Trang 28

Theo Trần Thị Tuyết và cs (2014) Đã nghiên cứu về phòng trừ rệp xơ trắng bằng chế phẩm và đã có kết luận

1 Thí nghiệm trong phòng, hiệu lực trừ rệp xơ bông trắng của DC1 (dịch chiết từ phụ phẩm chế biến thuốc lá) khi sử dụng ở nồng độ 5% đạt từ 69,74-75,35%; với nồng độ 10% đạt từ 88,45-92,84% và ở nồng độ 15% đạt 92,16-97,70% Tỷ lệ gây chết với rệp non tuổi 1-2 đạt từ 87,19-92,93% và với rệp trưởng thành đạt từ 86,04-91,78%

2 Trong điều kiện nhà lưới, sử dụng DC1 với nồng độ 5,10 và 15% thì hiệu lực phòng trừ rệp xơ bông trắng 73,89; 89,84; 93,09%

3 Sử dụng chế phẩm DC1 với nồng độ 10% và lượng phun 500 lit/ha phòng trừ rệp xơ trắng hại mía ngoài đồng trên diện hẹp cho hiệu quả đạt tới 80,38% vào

Biện pháp hóa học

Theo tác giả Lê Văn Ninh (2009) Phương pháp hóa học phòng trừ sâu hại mía: Để bảo vệ cây mía đạt kết quả tốt, không ảnh hưởng đến môi trường, đến hệ sinh thái nông nghiệp Để phát huy tốt những ưu điểm và khắc phục những nhược điểm do thuốc hóa học gây ra, thì công tác BVTV chuyển sang một chiến lược mới, đó là hệ thống phòng trừ dịch hại tổng hợp, lấy các biện pháp sinh học và sinh thái học làm trọng tâm, kết hợp việc sử dụng thuốc hóa học một cách hợp lí mà vẫn đạt được hiệu quả phòng trừ cao, đồng thời góp phần tạo dựng và thiết lập nên một nền nông nghiệp an toàn và bền vững

Theo Trần Văn Sỏi (2006), khuyến cáo nên dùng một trong các loại thuốc sau đây để phun diệt rệp xơ trắng khi mía đã cao, hoặc rệp quá nhiều

+ Dùng Trebon 10ND pha với nồng độ 1/500 đến 1/600 phun ướt đẫm các

lá của khóm có rệp và các khóm xung quanh

+ Supracid 40EC, Ofatox 40EC, Bassa 50EC, Bi 58 40EC pha với nồng

độ 0,1-0,15% để phun thì hiệu quả trừ rệp xơ trắng cao

Theo Nguyễn Thị Quỳnh Trang và cs (2014) Hiệu lực trừ rệp xơ trắng của một số loại thuốc BVTV ngoài đồng ruộng tại Hòa Bình Kết quả thí nghiệm xác định thuốc Elsin 10EC đạt hiệu quả tốt nhất là 89,51%, Oshin 20Wp là 87,65%, Confidor 100SL là 82,33%, Actaza 25WP đạt 81,03% Hiệu lực của thuốc ở 7 và 10 ngày sau phun đều có xu hướng giảm nhưng Elsin 10EC

Trang 29

(86,55%) vẫn đạt cao nhất và thấp nhất là Confidor 100SL (72,93%) Như vậy tất

cả các thuốc trên đều chi hiệu lực cao trong phòng trừ rệp xơ bông trắng hại mía

và có thể khuyễn cáo đưa vào sử dụng trong phòng trừ rệp xơ bông trắng trong sản xuất

Nguyễn Đình Hương (2005), nhằm giảm thiểu thiệt hại, biện pháp bắt buộc là phải dùng thuốc BVTV để phun trừ với lượng hàng chục tấn thuốc/năm,

có vùng bà con phải phun trừ 3 đến 4 lần, thậm chí 5-6 lần Việc dùng thuốc BVTV không phải là vấn đề tăng chi phí đầu tư mà là vấn đề về ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng sức khỏe con người, sâu bệnh hại kháng thuốc, tiêu diệt thiên địch và tạo điều kiện cho sâu hại phát triển thành dịch Thời gian gần đây việc nhân nuôi bọ đuôi kìm đã được thực hiện bước đầu cho kết quả rất khả quan (bọ đuôi kìm có khả năng ăn rệp, sâu khoang, sâu tơ, sâu đục quả cà – riêng ăn rệp

xơ trắng một con bọ ăn từ 75-120 con/ngày đêm)

Biện pháp quản lí tổng hợp

Theo tác giả Lê Văn Ninh (2009) Đề xuất biện pháp quản lí tổng hợp rệp xơ

trắng hại mía tại Công ty Sao Vàng-Thọ Xuân: Rệp xơ trắng hại mía phá hại trên cây mía từ cây con và gây hại nặng nhất vào thời kì mía chín Nhìn chung, rệp xơ trắng xuất hiện ở hầu hết các tháng trong năm Phát sinh gây hại mạnh là từ tháng

7 đến tháng 11 Để phòng trừ rệp xơ trắng đạt kết quả cao, cần thực hiện tốt các biện pháp sau

- Ngăn chặn sự du nhập và lây lan của rệp xơ trắng từ vùng này sang vùng khác

- Trồng mới cần cày sâu, làm đất kỹ, tiêu hủy tàn dư cây trồng vụ trước để hạn chế nơi cư trú của rệp

- Mía lưu gốc cần dọn sạch và cày vùi tàn dư cây mía của vụ trước cùng với phân bón vào rãnh giữa hai hàng mía

- Cần xen canh mía với một số loại cây họ đậu để tăng dinh dưỡng trong đất, tăng số lượng các loài thiên địch có trên cây họ đậu để chúng tham gia vào việc khống chế số lượng rệp xơ trắng du nhập vào lô mía

- Không nên trồng hai vụ mía liên tiếp trên một khu ruộng hoặc ở các khu đồng gần nhau để tránh sự chu chuyển rệp xơ trắng từ mía vụ này sang vụ khác

- Trồng mới mía nên sử dụng hom giống khỏe để trồng Xử lí đất trước khi trồng bằng cách dùng vôi bột rắc trên toàn bộ bề mặt diện tích gieo trồng

Trang 30

- Bố trí mật độ trồng hợp lý với từng chân đất, độ dốc với đất đồi, với khoảng cách 0,8-1m, đất bãi trồng khoảng cách 1-1,2m

- Trong quá trình thâm canh không để ruộng mía quá ẩm, không bón quá nhiều đạm để mía cứng cây, hạn chế rệp xơ trắng hại mía phát triển

- Đảm bảo ruộng mía thông thoáng, tăng cường chăm sóc vun luống cao, bón phân đầy đủ cân đối, dọn sạch cỏ, tỉa bỏ lá già, thu gom những lá bị rệp xơ trắng đưa đi tiêu hủy để tránh sự lây lan của rệp xơ trắng hại mía

- Thường xuyên thăm đồng theo dõi khả năng sinh trưởng, phát triển và biến động mật độ của các loài rệp hại, thiên địch có trên lô mía, để có biện pháp

xử lý kịp thời

Trang 31

PHẦN 3 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, VẬT LIỆU, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

- Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu trong phòng được thực hiện tại phòng thí nghiện trường THPT Mường La, Sơn La

- Nghiên cứu ngoài đồng được thực hiện trên cánh đồng mía thuộc xã Cò Nòi, Mai Sơn, Sơn La

- Thời gian nghiên cứu: đề tài được thực hiện từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 12 năm 2015

3.2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ DỤNG CỤ NGHIÊN CỨU 3.2.1 Đối tượng

- Rệp xơ trắng (Ceratovacuna lanigera Zehntner), họ Aphididae, Bộ

Hopmoptera và thiên địch của chúng

3.2.2 Vật liệu nghiên cứu

- Các giống mía chủ yếu như: ROC 22, MY55-14

- Các loại thuốc hoá học, thảo mộc: Lá xoan, hạt củ đậu, thuốc Elsin 10EC, Oshin 20WP

3.2.3 Dụng cụ nghiên cứu

12 lít và các dụng cụ pha thuốc khác, máy ảnh cùng các phụ kiện để chụp ảnh …

- Ôn ẩm kế theo dõi nhiệt độ và ẩm độ trong phòng, sổ tay theo dõi ở ngoài đồng, trong phòng

3.3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.3.1 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, gây hại của rệp xơ trắng hại mía

(C lanigera)

- Điều tra diễn biến mật độ của rệp xơ trắng (C lanigera) hại mía trên các

giống, chân đất trồng, trồng xen, trồng thuần

- Xác định biện pháp phòng trừ rệp xơ trắng hại mía:

Trang 32

- Biện pháp Canh tác: bóc lá mía, trồng xen, trồng thuần ,

- Biện pháp thuốc BVTV: Sử dụng một số thuốc thảo mộc để trừ rệp xơ trắng (lá xoan, hạt củ đậu) và sử dụng một vài loại thuốc hóa học phòng trừ rệp

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.3.2.1 phương pháp Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài rệp xơ trắng Ceratovacuna lanigera Zehntner hại mía

Chuyển vào mỗi hộp nuôi 20 rệp mẹ mới lấy từ ngoài ruộng mía về, trong hộp có sẵn lá mía sạch được đặt trên giấy thấm nước để giữ ẩm, cho rệp đẻ, quan sát sau khi rệp đẻ 1 đêm, dùng bút lông tác động thật nhẹ nhàng vào cuối cơ thể rệp tuổi 1, chuyển rệp mới đẻ vào riêng từng hộp, mỗi hộp 1 con có sẵn lá mía

(giống ROC 22) đặt trên giấy thấm nước

Thí nghiệm được tiến hành với 50 con rệp non, ghi lại ngày rệp đẻ ra và bắt đầu tiến hành nuôi, đánh số thứ tự rệp nuôi và hàng ngày tiến hành bổ sung nước một lần, bỏ xác rệp để xác định tuổi rệp, tới giai đoạn rệp bắt đầu sinh sản thì hàng ngày bắt rệp non mới đẻ xác định nhịp điệu sinh sản, sức sinh sản của rệp mẹ, hai ngày thay lá mía một lần sử dụng lá mía bánh tẻ trên giống ROC 22 làm nguồn thức ăn cho rệp

Thu thập số liệu nuôi sinh học theo các chỉ tiêu:

+ Ngày rệp lột xác qua các tuổi để xác định thời gian các pha phát triển của rệp

+ Ngày rệp bắt đầu đẻ ra các rệp non (để xác định thời gian vòng đời), Sau khi trưởng thành rệp xơ trắng đẻ cá thể đầu tiên, hàng ngày quan sát, đếm số lượng rệp non được đẻ ra và dùng bút lông chuyển rệp non sang các hộp nuôi rệp khác, ghi số lượng rệp non của từng trưởng thành mẹ đẻ trong mỗi ngày vào bảng nuôi sinh học (để xác định nhịp điệu sinh sản và sức sinh sản), ngày rệp chết sinh lý (để xác định thời gian của một đời rệp)

+ Xác định sức sinh sản của rệp:

* Phương pháp tính toán các chỉ tiêu sinh học + Thời gian phát dục của các tuổi ấu trùng (tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3, tuổi 4) được tính bằng thời gian trung bình giữa hai lần lột xác chuyển tuổi hoặc chuyển pha của các cá thể nuôi Thời gian của vòng đời là khoảng thời gian tính từ khi rệp non được đẻ ra đến khi trưởng thành đẻ ra cá thể rệp non đầu tiên Thời gian của một đời là khoảng thời gian tính từ khi rệp non được sinh ra đến khi trưởng

Trang 33

thành chết sinh lí Thời gian trưởng thành trước đẻ là khoảng thời gian tính từ thời điểm ấu trùng tuổi 4 lột xác hóa trưởng thành đến khi trưởng thành bắt đầu

đẻ Thời gian sống của trưởng thành là khoảng thời gian được tính từ thời điểm

ấu trùng tuổi 4 lột xác hóa trưởng thành đến khi trưởng thành chết sinh lí

Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của sự gây hại của loài rệp xơ trắng đến độ Brix trong cây mía

Đánh giá tác hại của rệp xơ trắng (C lanigera) đến độ Brix: sử dụng

phương pháp đo độ brix bằng máy cầm tay

Phân cấp rệp hại theo quy chuẩn QCVN 01-38: 2010/BNNPTNT Cấp 0: Không có rệp xơ trắng

Cấp 1: Bị nhiễm rệp xơ trắng rải rác, có từ một cá thể rệp xơ trắng tới một

ổ rệp nhỏ trên lá Cấp 2: Bị nhiễm nhẹ, xuất hiện một vài ổ rệp xơ trắng nhỏ trên lá

Cấp 3: Bị nhiễm trung bình, rệp xơ trắng có số lượng lớn, thành từng đám khó phân biệt từng ổ

Cấp 4: Bị nhiễm nặng, rệp xơ trắng có số lượng lớn phủ kín mặt lá, ảnh hưởng tới tất cả các lá, thân và những lá ngọn thường kín rệp xơ trắng

+ Phân cấp rệp gây hại vào giai đoạn mía vươn lóng, tiến hành treo thẻ

trên cây với các cấp hại khác nhau, mỗi cấp hại treo 20 cây

- Các cây đối chứng hàng tuần lau sạch rệp trên lá và thân cây

Mỗi cấp hại chọn 10 cây ngẫu nhiên xác định các chỉ tiêu:

+ Đo độ brix của mía ở 3 vị trí thân: (gốc thân, giữa và ngọn), sau đó tính bình quân (Sau khi chọc kim lấy nước mía từ thân cây ra, quan sát ngay, không để lâu trong kim để phòng hiện tượng bốc hơi nước làm cho độ brix cao hơn thực tế)

3.3.2.2 Phương pháp điều tra diễn biến mật độ của rệp xơ trắng (C lanigera)

Để thực hiện việc điều tra, thu thập rệp xơ trắng hại mía trên đồng ruộng chúng tôi dựa vào Quy chuẩn QCVN 01-38: 2010/BNNPTNT về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng

-Điều tra mật độ con/lá định kỳ 7 ngày/lần trong suốt thời gian nghiên cứu

- Mỗi vườn đại diện điều tra 10 điểm ngẫu nhiên, mỗi điểm 1 cây, mỗi cây điều tra trên 3 loại lá (3lá non, 4lá bánh tẻ và 3lá già), tính tỉ lệ lá bị hại và

Trang 34

mật độ con/lá

- Không điều tra các khóm mía gần bờ, gần đường đi, các vị trí mất cây

Ghi chép đầy đủ diễn biến thay đổi của các yếu tố ngoại cảnh trong suốt quá trình nghiên cứu

- Chỉ tiêu theo dõi: tính tỉ lệ lá bị rệp xơ trắng hại và mật độ con rệp xơ trắng/lá

+ Nghiên cứu mật độ rệp xơ trắng (C lanigera) hại mía trên các giống mía, mía trồng thuần và trồng xen :

- Chọn ruộng đại diện cho giống mía được trồng phổ biến tại địa điểm nghiên cứu đó là giống mía ROC 22 và giống MY55-14

Chọn ruộng đại diện cho mía trồng xen canh với đậu tương và trồng thuần (Giống mía ROC 22)

Phương pháp điều tra tương tự (mục 2.3.2.2)

+ Nghiên cứu ảnh hưởng của địa hình ruộng mía trồng đến diễn biến mật độ rệp

xơ trắng (C lanigera) hại mía (mía trồng chân đất thấp và chân đất cao)

mía được 3 lá thật đến khi thu hoạch mía Phương pháp điều tra giống như phương pháp đã nêu tại (mục 2.3.2.2)

+ Phương pháp xác định ảnh hưởng của lượng mưa tới sự biến động mật

độ rệp xơ trắng

Xác định ảnh hưởng của lượng mưa: Dựa vào dự báo khí tượng để định ngày điều tra Điều tra mật độ rệp xơ trắng (con/lá) trước khi mưa và sau khi mưa một ngày, xác định lượng mưa để phân tích ảnh hưởng của lượng mưa tới mật độ rệp xơ trắng hại mía

+ Nghiên cứu ảnh hưởng của vệ sinh lô mía đến diễn biến rệp xơ trắng

C lanigera hại mía

Thí nghiệm được bố trí ngoài đồng ruộng với 2 mô hình (lô mía được bóc là già khô và lô mía không được bóc lá già khô) trên hai lô mía trồng mới và mía lưu gốc), định kì 1 tháng bóc lá mía 1 lần

Trang 35

lanigera) hại mía từ khi cây mía được 3 lá thật đến khi thu hoạch mía Phương pháp điều tra giống như phương pháp đã nêu tại (mục 2.3.2.2)

+ Nghiên cứu ảnh hưởng của đốt lá mía với cày vùi lá mía vụ trước đến rệp

xơ trắng, các loại thiên địch và khả năng sinh trưởng của cây mía

trước với cày vùi lá mía vụ trước đến thiên địch) để theo dõi diễn biến của rệp xơ

trắng (C lanigera) hại mía, các loại thiên địch trên loại 2 mô hình canh tác như

thế nào Giống mía được trồng là giống ROC 22 Điều tra mật độ các loài thiên

định và rệp xơ trắng (C lanigera) hại mía từ khi cây mía được 3 lá thật đến khi

thu hoạch mía

Phương pháp điều tra như phương pháp đã nêu tại (mục 2.3.2.2)

+ Phương pháp điều tra diễn biến mật độ thiên địch của loài rệp xơ trắng C lanigera hại mía tại Mai Sơn, Sơn La

Thu thập mẫu thiên địch được thực hiện cùng với thu thập mẫu rệp xơ trắng hại trong các thời kì điều tra Mẫu của các loài thiên địch bắt mồi được xử lý và lưu giữ để quan sát tương tự như phương pháp xử lý, cố định mẫu côn trùng

Các loài côn trùng là thiên địch được đối chiếu với mẫu gốc ở phòng thí nghiệm trường Học viện Nông nghiệpViệt Nam, kết hợp với sự mô tả đặc điểm hình thái, màu sắc, kích thước của các tác giả trong nước, những mẫu vật không xác định được đưa về bộ môn Côn trùng trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam

để định loại dưới sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và các thầy cô trong bộ môn Côn trùng

3.3.2.3 Xác định hiệu lực một số thuốc trừ loài rệp xơ trắng (C lanigera) hại mía

Theo sách hướng dẫn sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn và hiệu quả

(2006) Thì thuốc chế biến từ cây xoan đâu (tên khoa học là Melia azedorach L.)

bằng cách lấy lá xoan khô ngâm một ngày trong nước với tỷ lệ 1kg lá khô/20 lít nước Sau khi ngâm đủ thời gian thì vò nát rồi lọc lấy dung dịch Khi sử dụng thì thêm 0,1% xà phòng rồi mới đem phun Liều dùng cho 1 ha là 28 kg bột lá xoan pha trong 560 lít nước cộng với 2800g xà phòng Phun thuốc nên phun vào lúc trời mát mới đem lại hiệu quả cao Thuốc có tác dụng diệt trừ sâu, rệp Nó ít độc với động vật và côn trùng có ích

Thuốc trừ sâu chế biến từ hạt cây củ đậu (Pachyrhizus erossusurb) cách

Ngày đăng: 16/12/2022, 09:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w