(Luận văn thạc sĩ) Biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm môn Công nghệ 6 cho các trường THCS trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre(Luận văn thạc sĩ) Biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm môn Công nghệ 6 cho các trường THCS trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre(Luận văn thạc sĩ) Biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm môn Công nghệ 6 cho các trường THCS trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre(Luận văn thạc sĩ) Biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm môn Công nghệ 6 cho các trường THCS trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre(Luận văn thạc sĩ) Biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm môn Công nghệ 6 cho các trường THCS trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre(Luận văn thạc sĩ) Biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm môn Công nghệ 6 cho các trường THCS trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre(Luận văn thạc sĩ) Biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm môn Công nghệ 6 cho các trường THCS trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre(Luận văn thạc sĩ) Biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm môn Công nghệ 6 cho các trường THCS trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre(Luận văn thạc sĩ) Biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm môn Công nghệ 6 cho các trường THCS trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre(Luận văn thạc sĩ) Biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm môn Công nghệ 6 cho các trường THCS trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre(Luận văn thạc sĩ) Biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm môn Công nghệ 6 cho các trường THCS trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre(Luận văn thạc sĩ) Biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm môn Công nghệ 6 cho các trường THCS trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre(Luận văn thạc sĩ) Biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm môn Công nghệ 6 cho các trường THCS trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre(Luận văn thạc sĩ) Biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm môn Công nghệ 6 cho các trường THCS trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre(Luận văn thạc sĩ) Biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm môn Công nghệ 6 cho các trường THCS trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre(Luận văn thạc sĩ) Biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm môn Công nghệ 6 cho các trường THCS trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre
Đối tƣợng, khách thể nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu
- Bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Công nghệ 6.
Khách thể nghiên cứu
- Mục tiêu, nội dung môn Công nghệ 6 tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre
- Học sinh học môn Công nghệ 6 tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre
- Các giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Công nghệ 6 để góp ý, chỉnh sửa và đánh giá câu trắc nghiệm và phần mềm dùng trong kiểm tra đánh giá
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
- Biên soạnbộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Công nghệ 6 tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan
- Khảo sát thực trạng dạy và kiểm tra đánh giá môn công nghệ 6 tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre
- Biên soạn bộ câu trắc nghiệm môn Công nghệ 6
Giả thuyết nghiên cứu
Sử dụng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Công nghệ 6 do người nghiên cứu xây dựng giúp đảm bảo tính chính xác và khách quan trong việc kiểm tra, đánh giá môn học Phương pháp này giúp tiết kiệm thời gian và thuận tiện trong quá trình thu thập kết quả học sinh Ngoài ra, việc áp dụng câu hỏi trắc nghiệm còn nâng cao chất lượng dạy học, từ đó thúc đẩy hiệu quả học tập của học sinh.
Giới hạn vấn đề nghiên cứu
Bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Công nghệ 6 tập trung biên soạn câu trắc nghiệm: đúng- sai, 4 lựa chọn, ghép hợp, câu điền khuyết
Số câu trắc nghiệm thô là 300 câu, thử nghiệm với số lƣợng khoảng 135 học sinh.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Bạn hãy tham khảo các tài liệu liên quan như sách giáo khoa, sách giáo viên, tài liệu bồi dưỡng, hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Công nghệ THCS để xây dựng giả thuyết khoa học phù hợp Những nguồn này giúp định hướng nội dung luận văn về trắc nghiệm khách quan, đảm bảo tính chính xác và phù hợp với chương trình môn Công nghệ 6 Việc nghiên cứu các tài liệu này là bước quan trọng để soạn thảo luận văn có tính hệ thống, chất lượng cao dựa trên các chuẩn mực chuẩn kiến thức, kỹ năng của ngành giáo dục.
Phương pháp chuyên gia
- Phỏng vấn giáo viên dạy môn Công nghệ 6 để làm rõ thực trạng công tác kiểm tra đánh giá của môn học này
- Lấy ý kiến các chuyên gia về các câu hỏi trắc nghiệm đã đƣợc biên soạn.
Phương pháp thực nghiệm
Các câu hỏi trắc nghiệm khách quan đã được biên soạn dựa trên các bài kiểm tra 15 phút, kiểm tra một tiết và kiểm tra học kỳ Phương pháp thực nghiệm này nhằm đánh giá tính đúng đắn và khả thi của luận văn khi ứng dụng vào quá trình kiểm tra, thi cử cũng như hoạt động dạy học môn Công nghệ 6 Kết quả cho thấy, việc sử dụng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan giúp nâng cao hiệu quả kiểm tra kiến thức của học sinh, đồng thời hỗ trợ giảng viên trong việc xây dựng đề thi chính xác, khách quan.
Phương pháp thống kê toán học
Dùng các phương pháp thống kê toán học để tổng hợp, phân tích câu hỏi trắc nghiệm
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIÊN SOẠN BỘ CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH
Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trắc nghiệm có nguồn gốc từ các nước phương Tây và bắt đầu được nghiên cứu bởi các nhà tâm lý học vào giữa thế kỷ XIX Năm 1879, Wilhelm Wundt thành lập phòng thí nghiệm tâm lý học tại Leipzig, Đức, mở ra kỷ nguyên phát triển của lĩnh vực này.
Việc học và thi đã tồn tại từ hàng nghìn năm trước, nhưng khoa học về đo lường trong giáo dục chỉ bắt đầu phát triển cách đây khoảng một thế kỷ Trong thế kỷ XX, lĩnh vực này phát triển mạnh mẽ từ Châu Âu và được thúc đẩy nhanh chóng khi du nhập vào Hoa Kỳ E Thorndike là người tiên phong trong việc sử dụng trắc nghiệm như một phương pháp khách quan và nhanh chóng để đo trình độ kiến thức của học sinh, ban đầu áp dụng cho môn số học và sau đó mở rộng sang các lĩnh vực kiến thức khác.
Năm 1905, Alfred Binet và Theodore Simon đã xây dựng thành công Trắc nghiệm trí tuệ Simon – Binet và tiếp đến đƣợc cải tiến tại đại học Stanford
The concept of IQ, or Intelligence Quotient, was first introduced by Lewis Terman in 1916 Since its inception, the IQ test has undergone continuous improvements and refinements Today, it is widely used as a standardized measure of human intelligence through modern IQ assessments.
Vào năm 1923 tại Mỹ Bộ trắc nghiệm thành quả học tập tổng hợp đầu tiên Stanford Acheevement Test ra đời
Với việc đƣa vào chấm trắc nghiệm bằng máy IBM năm 1935, việc thành lập Hội quốc gia về Đo lường trong giáo dục (National Council on
Trong thập niên 1950, ngành đo lường trong giáo dục bắt đầu phát triển mạnh mẽ với sự ra đời của hai tổ chức lớn là Education Testing Service (ETS) vào năm 1947 và American College Testing (ACT) vào năm 1959, góp phần hình thành một ngành công nghiệp trắc nghiệm quy mô lớn tại Hoa Kỳ Những thành tựu quan trọng về lý luận trong lĩnh vực đo lường giáo dục đạt được đến thập niên 1970 chính là "lý thuyết trắc nghiệm cổ điển", mở ra những phương pháp đánh giá hiệu quả và chính xác trong giáo dục.
Trong vòng hơn 40 năm gần đây, lĩnh vực phát triển về chất lượng của lý thuyết trắc nghiệm đã tiến bộ đáng kể, đặc biệt là sự hình thành của "lý thuyết trắc nghiệm hiện đại" hoặc "lý thuyết đáp ứng câu hỏi" (Item Response Theory - IRT) Các mô hình này đã tạo ra bước đột phá trong việc phân tích và đánh giá các câu hỏi trắc nghiệm, giúp nâng cao tính chính xác và đáng tin cậy của việc đo lường trong các kỳ thi và nghiên cứu tâm lý học.
Lý thuyết Đáp Ứng (IRT) đã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc nâng cao độ chính xác của các bài kiểm tra Dựa trên nền tảng của lý thuyết này, công nghệ trắc nghiệm thích ứng máy tính (CAT) ra đời, giúp cải thiện hiệu quả đánh giá trong lĩnh vực tâm lý và giáo dục Mặc dù khoa học đo lường trong tâm lý và giáo dục liên tục phát triển và đối mặt với nhiều ý kiến phê bình, những ý kiến này chỉ thúc đẩy quá trình tự điều chỉnh và nâng cao chất lượng của lĩnh vực này, không làm giảm đi giá trị của nó.
Các chuyên gia khẳng định rằng việc xác định chính xác thời điểm bắt đầu áp dụng các trắc nghiệm khách quan về thành quả học tập tại Việt Nam là điều rất khó khăn Điều này cho thấy rằng phương pháp kiểm tra này đã xuất hiện và phát triển trong hệ thống giáo dục từ lâu, song chưa có mốc thời gian cụ thể rõ ràng Trong bối cảnh đó, trắc nghiệm khách quan dần trở thành phần không thể thiếu trong đánh giá năng lực học sinh, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.
Từ đầu thập niên 1950, học sinh Việt Nam đã bắt đầu tiếp xúc với phương pháp trắc nghiệm thông qua các cuộc khảo sát khả năng ngoại ngữ do các tổ chức quốc tế tổ chức, góp phần nâng cao kỹ năng ngôn ngữ và chuẩn hóa chất lượng giáo dục tại Việt Nam.
Từ năm 1960, các tập san giáo dục có đề cặp đến trắc nghiệm khách quan, tâm lý- giáo dục một cách sơ lƣợc
Năm 1964, miền Nam thành lập “Trung tâm trắc nghiệm và hướng dẫn”, cơ quan chuyên trách về trắc nghiệm và phổ biến nhiều tài liệu liên quan Đến cuối năm 1969, các môn trắc nghiệm thành quả học tập và thống kê giáo dục vẫn chưa được giảng dạy chính thức, cho đến khi chúng trở thành nội dung giảng dạy chính thức trong các lớp Cao học và Tiến sĩ giáo dục tại đại học Sư phạm Sài Gòn.
Năm 1972, chính quyền Sài Gòn thành lập hội đồng cải tổ thi cử để phân tích những hạn chế của kỳ thi Tú tài theo phương pháp tự luận cũ và quyết định chuyển sang chuẩn hóa kỳ thi bằng hình thức trắc nghiệm khách quan (TNKQ) Đến năm 1974, đây là lần đầu tiên các bài thi trắc nghiệm tiêu chuẩn hóa được áp dụng trong kỳ thi Tú tài tại miền Nam, mở ra bước tiến mới trong hệ thống giáo dục và thi cử của khu vực.
Vào đầu năm 1996, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Trần Hồng Quân quyết định triển khai thí điểm áp dụng phương pháp thi trắc nghiệm khách quan trong kỳ tuyển sinh đại học đầu tiên tại Trường Đại học Đà Lạt Công tác chuẩn bị được huy động lực lượng để đảm bảo hệ thống NHCHTN cho 8 môn thi, nhằm nâng cao tính khách quan và chính xác trong quá trình tuyển sinh Đồng thời, các buổi thi thử nghiệm trắc nghiệm được tổ chức tại Đà Lạt, Nha Trang và TP Hồ Chí Minh nhằm khảo sát và hoàn thiện quy trình, đảm bảo tính khả thi của phương pháp thi trắc nghiệm khách quan trong tuyển sinh đại học.
Theo thứ trưởng bộ GD& ĐT Bành Tiến Long” Đến năm 2008 tất cả các môn thi tốt nghiệp đều kiểm tra trắc nghiệm trừ môn Văn…”
Kiểm tra đánh giá và trắc nghiệm
1.2.1 Khái niệm kiểm tra và đánh giá
Việc kiểm tra và đánh giá là một hoạt động cốt lõi trong quá trình giáo dục, đóng vai trò thúc đẩy sự rèn luyện và học tập của học sinh Đây là nhiệm vụ thường xuyên của nhà trường nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và kết quả học tập của học sinh Thực hiện kiểm tra, đánh giá đúng cách giúp phát hiện các điểm mạnh, điểm yếu của học sinh, từ đó hỗ trợ quá trình nâng cao trình độ học vấn và phát triển toàn diện.
* Khái niệm kiểm tra (Testing)
Kiểm tra là thuật ngữ dùng để đo lường và thu thập thông tin nhằm đánh giá mức độ tiếp thu của học sinh sau quá trình học tập Qua kiểm tra, giáo viên có thể xác định học sinh đã nắm vững kiến thức, phát triển kỹ năng thực hành, cũng như thể hiện thái độ phù hợp trong quá trình học tập Đồng thời, kết quả kiểm tra cung cấp phản hồi cần thiết để cải thiện quá trình dạy và học, giúp học sinh hoàn thiện bản thân hơn.
- Theo Nguyễn Văn Tuấn: Kiểm tra là công cụ để đo lường trình độ kiến thức, kỹ năng, kĩ xảo của học sinh.[19; Tr.91]
Kiểm tra trong giáo dục là một phần quan trọng của quá trình giảng dạy nhằm thu thập thông tin về trạng thái và kết quả học tập của học sinh Theo từ điển Giáo dục học, kiểm tra giúp giáo viên đánh giá chính xác năng lực của học sinh, từ đó điều chỉnh phương pháp dạy phù hợp Việc kiểm tra định kỳ không chỉ phản ánh khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh mà còn thúc đẩy sự phát triển toàn diện trong quá trình học tập.
* Khái niệm đánh giá ( Evaluation )
Theo Dương Thiệu Tống, đánh giá là quá trình thu thập, phân tích và giải thích thông tin một cách có hệ thống nhằm xác định mức độ đạt tới các mục tiêu giảng huấn của học sinh Quá trình đánh giá có thể được thực hiện bằng các phương pháp định lượng, như đo lường, hoặc phương pháp định tính, như quan sát, giúp giáo viên và nhà trường đánh giá chính xác kết quả học tập của học sinh.
- Theo Nguyễn Văn Tuấn: Đánh giá là xác định mức độ của trình độ kiến thức kỹ năng, kỹ xảo của học sinh.[19; Tr.91]
- Theo Trần Thị Tuyết Oanh: Đánh giá là bộ phận hợp thành rất quan trọng, một khâu không thể tách rời của quá trình GD& ĐT.[11; Tr.7]
Trắc nghiệm: Trắc nghiệm hay Test theo tiếng Anh Theo nghĩa chữ Hán
“ trắc” có nghĩa là “đo lường”, nghiệm là “ suy xét, chứng thực” [18; tr.13]
Trắc nghiệm được hiểu là một công cụ hoặc quy trình có hệ thống nhằm đo lường mức độ đạt được của một cá nhân trong một lĩnh vực cụ thể, theo định nghĩa của Gronlund được Trần Thị Tuyết Oanh trích dẫn trong giáo trình “Đánh giá và đo lường kết quả học tập”.
Theo GS.TS Dương Thiệu Tống, trắc nghiệm là một dụng cụ hoặc phương thức hệ thống nhằm đo lường các hoạt động (hành vi) của cá nhân để đánh giá thành tích cá nhân, so sánh với người khác hoặc so sánh với các nhiệm vụ học tập đã đề ra Trắc nghiệm giúp xác định năng lực của từng cá nhân một cách chính xác và khách quan, hỗ trợ trong việc đánh giá và phát triển năng lực học tập Đây là công cụ quan trọng trong quá trình đo lường thành tích học tập và đánh giá năng lực của học sinh, sinh viên.
Trắc nghiệm chuẩn mực là công cụ được thiết kế để đo lường thành tích của cá nhân dựa trên vị thế tương đối so với một nhóm người đã được xác định Các trắc nghiệm này giúp đánh giá khả năng và trình độ của mỗi cá nhân một cách khách quan và có thể dễ dàng giải thích dựa trên kết quả so sánh với nhóm chuẩn Việc sử dụng trắc nghiệm chuẩn mực đảm bảo tính chính xác và minh bẫn trong việc đánh giá năng lực, phù hợp với các mục tiêu giáo dục và nghiên cứu tâm lý học.
Trắc nghiệm tiêu chí là loại trắc nghiệm được thiết kế nhằm đo lường mức độ thành thạo của người học trong một lĩnh vực cụ thể Các câu hỏi trong trắc nghiệm này giúp xác định khả năng thực hiện các nhiệm vụ học tập đã được xác định rõ ràng và giới hạn rõ ràng Đây là công cụ quan trọng để đánh giá năng lực và trình độ của người học dựa trên các tiêu chuẩn đã đề ra.
Trắc nghiệm dùng ở lớp học là loại bài kiểm tra do giáo viên tự chế tác để phục vụ quá trình giảng dạy, thường được sử dụng trong các kỳ kiểm tra nhỏ, không cần qua quá trình thử nghiệm hoặc chỉnh sửa kỹ lưỡng Loại trắc nghiệm này thường dành cho số lượng nhỏ học sinh và không mang tính chất quan trọng, giúp giáo viên đánh giá nhanh khả năng tiếp thu của học sinh trong quá trình học tập.
Trắc nghiệm trong giảng dạy là phương pháp kiểm tra đánh giá khách quan trình độ và năng lực của học sinh Phương pháp này giúp đánh giá kết quả học tập của học sinh trước, trong quá trình học và sau khi hoàn thành một giai đoạn học tập Trắc nghiệm là công cụ quan trọng để nhà giáo có thể xác định chính xác khả năng học sinh, từ đó điều chỉnh phương pháp giảng dạy phù hợp.
Các đề thi trắc nghiệm thường bao gồm nhiều dạng như đo lường thành quả học tập của người học, đánh giá năng lực hoặc khả năng để dự báo tương lai, và kiểm tra theo tốc độ hoặc không theo tốc độ Phương pháp trắc nghiệm có thể khách quan hoặc chủ quan, giúp đánh giá toàn diện vốn kiến thức và năng lực của người học một cách hiệu quả.
Trong đề tài này, thuật ngữ “trắc nghiệm” đề cập đến loại trắc nghiệm khách quan sử dụng trong giảng dạy và kiểm tra học sinh Trắc nghiệm khách quan bao gồm các bài tập nhỏ hoặc câu hỏi kèm theo đáp án sẵn, yêu cầu học sinh lựa chọn bằng cách sử dụng ký hiệu đơn giản sau khi suy nghĩ Trắc nghiệm nâng cao giúp tăng tính khách quan cho quá trình đánh giá, mang lại kết quả chính xác, công bằng và giảm thiểu các tiêu cực trong tổ chức thi cử Chính vì những lợi ích này, trắc nghiệm khách quan được nhiều người quan tâm và ủng hộ trong lĩnh vực giáo dục.
Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn học là tập hợp các câu hỏi trắc nghiệm khách quan và đáp án có quy mô lớn, giúp đa dạng hóa nội dung kiểm tra Mỗi câu hỏi trong ngân hàng đã được định cỡ, đồng nghĩa với việc gắn các thành phần nội dung và tham số xác định như độ khó và độ phân biệt theo lý thuyết trắc nghiệm Việc xây dựng ngân hàng câu hỏi này hỗ trợ nâng cao độ chính xác và hiệu quả của quá trình đánh giá học sinh, sinh viên.
1.2 3.Mục đích sử dụng bộ câu hỏi trắc nghiệm
Khi nói đến trắc nghiệm, mọi người thường nghĩ đến việc sử dụng câu hỏi trắc nghiệm để kiểm tra trình độ của học sinh, nhưng ít ai biết rằng trắc nghiệm còn có các mục đích khác Theo tác giả Lê Đức Ngọc, câu hỏi trắc nghiệm được sử dụng với ba mục đích chính là để giảng dạy, để học tập và để kiểm tra đánh giá, góp phần nâng cao hiệu quả quá trình đào tạo và phát triển năng lực của học sinh.
Ba mục đích trên có thể đƣợc hiểu cụ thể nhƣ sau:
- Sử dụng để giảng dạy: Trong việc giảng dạy thì ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm có thể đƣợc dùng để:
Đổi mới phương pháp giảng dạy bằng cách sử dụng câu hỏi cho học sinh, sinh viên chuẩn bị ở nhà để thúc đẩy sự tham gia tích cực Thảo luận và tranh luận trên lớp giúp tăng khả năng phản biện và hiểu bài sâu hơn, trong khi phụ đạo và hướng dẫn cách học cá nhân hóa quá trình học tập Những phương pháp này làm tăng hứng thú học tập của người học vì họ được đối thoại trực tiếp, tránh tình trạng độc thoại nhàm chán, từ đó nâng cao hiệu quả giảng dạy và sự tự tin của sinh viên.
Thực trạng công tác dạy và học và nhu cầu phát triển bộ môn công nghệ 6 ở trường THCS thuộc địa bàn huyện Giồng Trôm
2.1.1.Vị trí địa lý và bố trí trường lớp của huyện
Giồng Trôm là một huyện thuần nông tiếp giáp với TP Bến Tre.Huyện có
Huyện có 21 xã và 1 thị trấn nằm ở trung tâm, với đường tỉnh 885 chạy qua địa bàn Dân cư chủ yếu làm nghề nông, chiếm đa số, trong khi nghề tiểu thủ công nghiệp là ngành nghề chủ yếu thứ hai Một số hộ kinh doanh tập trung tại trung tâm huyện, các xã và dọc theo trục lộ chính, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
Huyện có 20 trường THCS, trong đó 6 trường đảm bảo tiêu chuẩn của Bộ GD&ĐT về cơ sở vật chất, gồm phòng thực hành và phòng bộ môn Các trường còn lại chủ yếu tổ chức hoạt động thực hành cho học sinh ngay trong phòng học thông thường, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.
- Hiện tại khối lớp 6 ở các trường trong huyện gồm 73 lớp với 2479 học sinh, trường nhiều nhất có 8 lớp 6 với 248 học sinh, trường ít nhất có 1 lớp 6 với
2.1.2.Thực trạng dạy và học môn công nghệ lớp 6 ở các trường THCS trong huyện
2.1.2.1.Quá trình triển khai dạy và học bộ môn cùng các điều kiện giáo dục:
Trong thập niên 80 của thế kỷ trước, môn công nghệ đã được triển khai tại các trường PTCS huyện với tên gọi là môn kỹ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu giáo dục toàn diện theo mô hình 5 mặt: đức, trí, thể chất, mỹ thuật và lao động.
Hiện tại, một số trường học trong huyện gặp khó khăn trong việc triển khai giảng dạy bộ môn do thiếu giáo viên được đào tạo chuyên môn phù hợp Cơ sở vật chất còn thiếu thốn, gây ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy và các hoạt động chuyên môn như hội giảng, chuyên đề còn chưa đạt hiệu quả cao Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng học tập và phát triển kỹ năng của học sinh trong lĩnh vực môn học này.
Trong những năm 1990, sau khi chỉnh lý sách giáo khoa và điều chỉnh khung chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, môn Công nghệ đã được triển khai rộng rãi tại các trường trung học cơ sở, chính thức trở thành môn học bắt buộc ở lớp 6.
Giáo viên chuyên môn được đào tạo bài bản từ các trường sư phạm trong tỉnh và khu vực, giúp nâng cao chất lượng giảng dạy Điều này tạo sự nhất quán trong quá trình triển khai thực hiện, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học và nâng dần chất lượng bộ môn một cách bền vững.
Việc triển khai dạy và học bộ môn Công nghệ 6 tại các trường trung học cơ sở trong huyện đã đi vào ổn định Nhờ sự hỗ trợ của các điều kiện giáo dục, như tài liệu giảng dạy, trang thiết bị hiện đại trong nhà trường, phòng chức năng và phòng thực hành, chương trình đã được thực hiện hiệu quả Đội ngũ giáo viên được đào tạo chính quy đúng chuyên môn, góp phần giáo dục học sinh một cách toàn diện và hiệu quả.
Bộ môn đã đi vào hoạt động với chủ đề và chủ điểm rõ ràng, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện chủ trương tổ chức các hoạt động dự giờ, thao giảng và báo cáo chuyên đề để nâng cao năng lực giảng viên Đồng thời, việc đưa giáo viên đi tập huấn do cấp trên tổ chức đã giúp cải thiện phương pháp giảng dạy và hiệu quả học tập của học sinh Nhờ những hoạt động này, chất lượng dạy và học môn Công nghệ 6 đã được nâng cao rõ rệt, thúc đẩy hiệu quả hoạt động của bộ môn.
2.1.2.2 Chất lƣợng giáo dục bộ môn thông qua thực hiện nội dung chương trình
Trong 3 năm liền kề, tình hình giáo dục bộ môn công nghệ lớp 6 trong huyện nhƣ sau:
Hoạt động của giáo viên
Năm 2009-2010: tổ chức 2 chuyên đề hội giảng 02 tiết, hội thi giáo viên giỏi công nhận: 02 giáo viên giỏi huyện
Trong giai đoạn 2010-2011, nhà trường đã tổ chức các chuyên đề báo cáo tại cấp huyện, gồm hai chuyên đề ở cấp huyện và một sáng kiến kinh nghiệm cấp trường Đồng thời, tổ chức hội giảng toàn huyện với hai tiết học, tạo điều kiện để giáo viên thể hiện kỹ năng giảng dạy Nhờ các hoạt động này, nhà trường đã có hai giáo viên đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp huyện và một giáo viên đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp tỉnh, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và phong trào thi đua của trường.
Trong giai đoạn 2011-2012, sở giáo dục tổ chức các hoạt động chuyên đề cấp huyện gồm báo cáo 3 chuyên đề, trong đó có 1 chuyên đề tại cấp huyện và một sáng kiến kinh nghiệm Ngoài ra, tổ chức hội giảng cấp huyện với 2 tiết dạy, nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và chia sẻ kinh nghiệm Đồng thời, địa phương tiếp tục công nhận 2 giáo viên giỏi cấp huyện và 1 giáo viên giỏi cấp tỉnh, góp phần thúc đẩy phong trào thi đua dạy tốt trong ngành giáo dục.
Hoạt động của học sinh
Bảng 2.1 Bảng xếp loại học tập môn công nghệ 6
Xếp loại học tập bộ môn cuối năm
Giỏi Khá TB Yếu Kém
SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL
2.1.3 Đánh giá thực trạng và nhu cầu cấp thiết để thông qua bộ môn công nghệ lớp 6 giáo dục học sinh toàn diện một cách có hiệu quả
Tình cảm, thái độ của học sinh qua học tập bộ môn
Trong huyện Giồng Trôm, phần lớn cư dân làm nghề nông, trong khi một số ít tham gia vào các ngành nghề như may mặc, tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh, giúp học sinh dễ dàng tiếp cận với kiến thức công nghệ trong đời sống gia đình một cách tự nhiên Các em thường tự làm đồ chơi cho trẻ em, giúp mẹ nhặt rau, nấu ăn hoặc dọn dẹp, trang trí nhà cửa, cắm hoa, và mua sắm theo yêu cầu của cha mẹ Nhờ đó, học sinh ở nông thôn rất tích cực trong việc tiếp nhận nội dung chương trình bộ môn công nghệ, dù hoạt động còn hạn chế về chất lượng do một số yếu tố khách quan và chủ quan.
Việc giáo dục tình cảm, thái độ học tập đối với các em là điều không quá khó, đồng thời góp phần hình thành nhân cách cho học sinh về sau.
Đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy
Tại Giồng Trôm, số lượng giáo viên được đào tạo đúng chuyên môn về công nghệ còn hạn chế, hiện chỉ có từ 1 đến 2 giáo viên được bố trí từng trường Công tác giáo dục trong môn công nghệ 8 và 9 đang chiếm ưu thế, khiến việc giảng dạy môn công nghệ lớp 6 gặp khó khăn do thiếu giáo viên phù hợp với yêu cầu chuyên môn Đa số các trường hiện nay đều giao nhiệm vụ giảng dạy môn công nghệ 6 cho các giáo viên có kinh nghiệm sống, chủ yếu là nữ giáo viên, thực hiện hình thức dạy chéo môn Mặc dù các giáo viên cố gắng nỗ lực, nhưng vẫn gặp phải những khó khăn khách quan trong quá trình giảng dạy môn công nghệ lớp 6.
Các trường chưa đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn về cơ sở vật chất của Bộ Giáo dục và Đào tạo gặp nhiều khó khăn trong việc đào tạo thực hành Phòng thực hành còn hạn chế hoặc thiếu hụt, buộc thầy và trò phải tận dụng phòng học thông thường, điều này làm giảm hiệu quả trong quá trình thao tác và hoạt động giáo dục Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo và đảm bảo môi trường học tập phù hợp.
Thiếu thiết bị và dụng cụ chuyên dụng trong quá trình thực hành hạn chế khả năng của học sinh, dẫn đến giảm chất lượng sản phẩm và ảnh hưởng đến mức độ phát triển của bộ môn Việc trang bị không đầy đủ khiến học sinh gặp khó khăn trong việc thực hành hiệu quả, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến chiều sâu và chất lượng của hoạt động giảng dạy Để nâng cao chất lượng môn học, cần tăng cường đầu tư trang thiết bị phù hợp và đầy đủ hơn.
Sự chỉ đạo sâu sát của cấp lãnh đạo, sự hưởng ứng tích cực từ phía phụ huynh học sinh
Thực trạng về kiểm tra đánh giá môn Công nghệ 6
Hiện nay, phần lớn các trường trung học cơ sở tại huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, đều sử dụng hình thức kiểm tra tự luận hoặc trắc nghiệm do giáo viên tự biên soạn Tuy nhiên, phương pháp đánh giá này có thể dẫn đến việc chấm điểm chưa chính xác, thiếu công bằng và khách quan đối với học sinh.
Việc giáo viên tự phát biên soạn câu hỏi trắc nghiệm mà chưa qua kiểm định chặt chẽ có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến độ chính xác trong đánh giá năng lực của học sinh Các câu hỏi thiếu sự chuẩn bị kỹ lưỡng sẽ làm giảm tính khách quan và độ tin cậy của kết quả kiểm tra Để đảm bảo đánh giá đúng năng lực học sinh, cần áp dụng quy trình kiểm định nghiêm ngặt trong quá trình xây dựng đề thi trắc nghiệm Điều này giúp nâng cao tính công bằng và phản ánh chính xác năng lực học sinh, từ đó hỗ trợ việc hướng dẫn học tập hiệu quả hơn.
Phân phối chương trình môn Công nghệ 6 (Áp dụng từ năm học 2011 -2012)
Tuần Tiết Nội dung Phụ chú
Chương I: MAY MẶC TRONG GIA ĐÌNH
1 2 Các loại vải thường dùng trong may mặc Không dạy:
I.1.a) Nguồn gốc: quy trình sản xuất vải sợi thiên nhiên
I.2.a) Nguồn gốc: quy trình sản xuất vải sợi hóa học
2 3 Các loại vải thường dùng trong may mặc(tt)
3 5 Lựa chọn trang phục(tt)
6 Lựa chọn trang phục(tt)
4 7 Thực hành: Lựa chọn trang phục
8 Sử dụng và bào quản trang phục Giới thiệu:
5 9 Sử dụng và bào quản trang phục (tt)
10 Thực hành: Ôn một số mũi khâu cơ bản
11 Thực hành: Cắt, khâu vỏ gối hình chữ nhật
12 Thực hành: Cắt, khâu vỏ gối hình chữ nhật (tt)
7 13 Thực hành: Cắt, khâu vỏ gối hình chữ nhật (tt)
14 Thực hành: Cắt, khâu tự do Giáo viên tự lựa chọn sản phẩm cắt khâu
8 15 Thực hành: Cắt, khâu tự do (tt)
16 Thực hành: Cắt, khâu tự do (tt) khác cho học sinh luyện tập thực hành
18 Kiểm tra thực hành 1 tiết
Chương II: TRANG TRÍ NHÀ Ở
19 Sắp xếp đồ đạc hợp lý trong gia đình II.3.Chọn nội dung dạy phù hợp địa phương
20 Sắp xếp đồ đạc hợp lý trong gia đình (tt)
21 Thực hành: Sắp xếp đồ đạc hợp lý trong gia đình Có thể thay bằng nội dung thực hành phù hợp với địa phương
22 Thực hành: Sắp xếp đồ đạc hợp lý trong gia đình
12 23 Giữ gìn nhà ở sạch sẽ, ngăn nắp
24 Giữ gìn nhà ở sạch sẽ, ngăn nắp (tt)
13 25 Trang trí nhà ở bằng một số đồ vật
26 Trang trí nhà ở bằng một số đồ vật (tt)
14 27 Trang trí nhà ở bằng hoa và cây cảnh
28 Trang trí nhà ở bằng hoa và cây cảnh (tt)
30 Cắm hoa trang trí (tt)
31 Kiểm tra viết 1 tiết Chương II
Chọn 1 trong 3 dạng cắm hoa để dạy Các dạng còn lại không dạy, giáo viên có thể thay thế bằng các tiết luyện tập, củng cố, hướng dẫn thực hành
17 33 Thực hành: Cắm hoa (tt)
34 Thực hành: Cắm hoa (tt)
HỌC KỲ II (2 tiết/ tuần)
Tuần Tiết Nội dung Phụ chú
Chương III: NẤU ĂN TRONG GIA ĐÌNH
39 Cơ sở của ăn uống hợp lý
40 Cơ sở của ăn uống hợp lý (tt)
41 Cơ sở của ăn uống hợp lý (tt)
42 Vệ sinh an toàn thực phẩm
43 Vệ sinh an toàn thực phẩm (tt)
44 Bảo quản chất dinh dƣỡng trong chế biến món ăn
45 Bảo quản chất dinh dƣỡng trong chế biến món ăn (tt)
46 Các phương pháp chế biến thực phẩm
Dạy mục II.1 và II.2, không dạy II.3
47 Các phương pháp chế biến thực phẩm (tt)
48 Các phương pháp chế biến thực phẩm (tt)
25 49 Thực hành: Tỉa hoa trang trí món ăn từ một số loại rau, củ, quả
Chọn nội dung dạy phù hợp
50 Thực hành: Tỉa hoa trang trí món ăn từ một số loại rau, củ, quả (tt) nguyên liệu từng địa phương
51 Thực hành: Tỉa hoa trang trí món ăn từ một số loại rau, củ, quả (tt)
52 Thực hành: Chế biến món ăn – Trộn dầu giấm rau xà lách – Trộn hỗn hợp rau muống
Giáo viên chọn 1 trong 2 nội dung hoặc chọn món ăn tương tự phù hợp với từng vùng miền
Thực hành: Chế biến món ăn – Trộn dầu giấm rau xà lách – Trộn hỗn hợp rau muống
Thực hành: Chế biến món ăn – Trộn dầu giấm rau xà lách – Trộn hỗn hợp rau muống
55 Kiểm tra 1 tiết thực hành
56 Tổ chức bữa ăn hợp lý trong gia đình
57 Tổ chức bữa ăn hợp lý trong gia đình (tt)
58 Quy trình tổ chức bữa ăn
59 Quy trình tổ chức bữa ăn (tt)
60 Quy trình tổ chức bữa ăn (tt)
61 Thực hành: Xây dựng thực đơn
62 Thực hành: Xây dựng thực đơn (tt)
Chương IV: THU CHI TRONG GIA ĐÌNH
32 64 Thu nhập của gia đình
65 Thu nhập của gia đình (tt)
66 Chi tiêu trong gia đình Thay đổi số liệu phù hợp thực tế
67 Chi tiêu trong gia đình (tt)
68 Thực hành: Bài tập tình huống về thu chi trong gia đình
69 Thực hành: Bài tập tình huống về thu chi trong gia đình (tt)
72 Kiểm tra cuối năm học
M 15 1 tiết Thi học kỳ Tổng cộng
* Giáo viên bộ môn cần tham khảo hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học của
Bộ giáo dục đào tạo và kết hợp phân phối chương trình
Chương 2 phân tích thực trạng tổ chức kiểm tra, đánh giá môn Công nghệ 6 tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, cho thấy vẫn còn nhiều tồn tại cần khắc phục Công tác kiểm tra, đánh giá chưa được thực hiện đầy đủ và hiệu quả, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục môn học này Nhiều trường chưa áp dụng đúng quy trình và tiêu chí đánh giá, dẫn đến sự thiếu công bằng và khách quan trong đánh giá học sinh Việc tổ chức kiểm tra còn thiếu linh hoạt phù hợp với năng lực và đặc điểm của học sinh, gây ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả học tập Do đó, cần có những giải pháp cải tiến quy trình tổ chức kiểm tra, đánh giá môn Công nghệ 6 nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Chương trình học áp dụng chung cho tất cả các trình độ nhưng mỗi học sinh tiếp thu khác nhau, đòi hỏi giáo viên linh hoạt trong phương pháp dạy học và kiểm tra để phù hợp với từng cá nhân, đảm bảo hiệu quả học tập tối ưu.
Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn kiểm tra quá trình học tập của học sinh thông qua các loại hình như trắc nghiệm khách quan, tự luận kết hợp trắc nghiệm khác quan Giáo viên cần nhận biết ưu khuyết điểm của từng hình thức kiểm tra để đảm bảo kết quả đánh giá của học sinh chính xác và khách quan, phản ánh đúng năng lực thực tế của các em.
Hầu hết giáo viên chủ yếu sử dụng hình thức kiểm tra tự luận, trong khi cũng có thể kết hợp với phương pháp trắc nghiệm để đánh giá học sinh Tuy nhiên, hình thức kiểm tra này thường chỉ phù hợp để kiểm tra một số chủ đề của chương trình, khiến khó đánh giá toàn diện kiến thức của học sinh Bên cạnh đó, việc kiểm tra bằng tự luận dễ dẫn đến tình trạng học tủ, học lệch, và điểm số không phản ánh chính xác năng lực thực sự của học sinh do khả năng chủ quan trong quá trình chấm thi.
Trong chương 3 của luận văn, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu việc áp dụng cơ sở lý luận và thực tiễn vào xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm môn Công nghệ lớp 6, nhằm nâng cao hiệu quả và phù hợp với chương trình giáo dục hiện hành.