Phương pháp nghiên cứu: Nội dung 1: Đánh giá năng suất sinh sản của lợn Hương Đối tượng nghiên cứu: Tổng 30 nái nhân thuần với 150 ổ đẻ từ lứa 1 đến lứa 5 được nuôi tại Xã Bình Yên, H
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Hùng Cường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn
bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Hoàng Thịnh đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,
Bộ môn Di truyền – Giống vật nuôi, Khoa chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND Xã Bình Yên, Huyện Thạch Thất, Thành Phố
Hà Nội đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Hùng Cường
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Danh mục sơ đồ vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
1.4 Những đóng góp mới của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của lợn 3
2.1.1 Tuổi thành thục về tính và các yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính 3
2.1.2 Chu kỳ động dục 7
2.1.3 Quá trình phát triển của lợn ở giai đoạn trong thai và giai đoạn bú sữa 9
2.2 Khả năng sản xuất của lợn nái 11
2.2.1 Các chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái 11
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái 13
2.3 Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng của lợn 17
2.3.1 Khả năng sinh trưởng 17
2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn 18
2.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của lợn 19
2.4 Cơ sở khoa học về khả năng cho thịt và chất lượng thịt lợn 21
2.5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 23
2.5.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 23
2.5.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 24
Trang 6Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 30
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 30
3.2 Nội dung nghiên cứu 30
3.3 Phương pháp nghiên cứu 30
3.3.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm ngoại hình của lợn Hương 30
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn Hương 30
3.3.3 Phương pháp nghiên cứu khả năng sinh trưởng của lợn Hương 33
3.3.4 Phương pháp đánh giá năng suất và chất lượng thịt của lợn Hương 34
3.4 Phương pháp xử lý số liệu 36
Phần 4 Kết quả và thảo luận 37
4.1 Đặc điểm ngoại hình của lợn Hương 37
4.1.1 Nguồn gốc và phân bố 37
4.1.2 Đặc điểm ngoại hình 37
4.2 Khả năng sinh sản của lợn Hương 38
4.2.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn Hương 38
4.2.2 Khả năng sinh sản của lợn Hương qua các lứa đẻ 42
4.2.3 Khả năng sinh sản của lợn Hương qua các lứa đẻ 46
4.3 Sinh trưởng và đánh giá năng suất thịt của lợn Hương 49
4.3.1 Sinh trưởng của lợn Hương 49
4.3.2 Năng suất thịt của lợn Hương 49
4.3.3 Chất lượng thịt của lợn Hương 51
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Kiến nghị 54
Tài liệu tham khảo 55
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
CP Protein thô
ĐD Động dục DFD Thịt sẫm, rắn chắc và khô KCLĐ Khoảng cách lứa đẻ
KL Khối lượng
ME Năng lượng trao đổi
PG Phối giống
pH Độ pH PSE Thịt nhợt nhạt, mềm và rỉ dịch
SS Sơ sinh SSS Sơ sinh sống
TĂ Thức ăn TCVN Tiêu chuẩn việt nam
TL Tỷ lệ TLNS Tỷ lệ nuôi sống TTTA Tiêu tốn thức ăn VCK Vật chất khô
XC Xuất chuồng
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thành phần giá trị dinh dưỡng cho đàn lợn Hương sinh sản 31
Bảng 3.2 Khẩu phần ăn cho đàn lợn Hương sinh sản 31
Bảng 3.3 Thành phần giá trị dinh dưỡng cho đàn lợn Hương thương phẩm 33
Bảng 3.4 Khẩu phần ăn cho đàn lợn Hương thương phẩm 33
Bảng 4.1 Các chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái Hương 39
Bảng 4.2 Năng suất sinh sản của lợn nái Hương 42
Bảng 4.3 Khả năng sinh sản của lợn Hương qua các lứa đẻ 48
Bảng 4.4 Tăng khối lượng lợn Hương nuôi thịt (kg) 49
Bảng 4.5 Năng suất thân thịt của lợn Hương 50
Bảng 4.6 Chất lượng thịt của lợn Hương (n=6) 51
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Lợn Hương 38 Hình 4.2 Lợn nái Hương nuôi con 38 Hình 4.3 Số con sơ sinh/ổ, số con sơ sinh sống/ổ, số con để nuôi/ổ, số con cai
sữa/ổ qua các lứa đẻ 47 Hình 4.4 Khối lượng sơ sinh/ổ, khối lượng sơ sinh/con, khối lượng cai sữa/ổ, khối
lượng cai sữa/con qua các lứa đẻ 47 Hình 4.5 Thân thịt xẻ lợn Hương 49
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Tóm tắt cơ chế điều hoà chu kỳ tính của lợn cái 8
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Hùng Cường Tên Luận văn: Khả năng sản xuất của lợn Hương nuôi tại Xã Bình Yên, Huyện Thạch
Thất, Thành Phố Hà Nội
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông Nghiệp Việt Nam Mục đích nghiên cứu:
- Đánh giá năng suất sinh sản của lợn Hương
- Đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn Hương
- Đánh giá năng suất và chất lượng thịt của lợn Hương
Phương pháp nghiên cứu:
Nội dung 1: Đánh giá năng suất sinh sản của lợn Hương
Đối tượng nghiên cứu: Tổng 30 nái nhân thuần với 150 ổ đẻ từ lứa 1 đến lứa 5
được nuôi tại Xã Bình Yên, Huyện Thạch Thất, Thành Phố Hà Nội
Phương pháp nghiên cứu
- Thu thâ ̣p, kế thừa số liệu các chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái Hương
từ năm 2015 đến tháng 09/2016
- Theo dõi, ghi chép số liệu các chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái Hương từ tháng 09/2016 đến tháng 9/2018
Nội dung 2: Đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn Hương
Đối tượng nghiên cứu: Tổng 60 lợn thịt (30 lợn đực thiến và 30 cái) Phương pháp nghiên cứu :
- Theo dõi ghi chép các số liệu về chỉ tiêu tăng khối lượng của lợn Hương từ lúc cai sữa cho đến khi kết thúc thí nghiệm
Nội dung 3: Đánh giá năng suất và chất lượng thịt của lợn Hương
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu tiến hành giết mổ 6 cá thể bao gồm 3 đực và
3 cái
Phương pháp nghiên cứu :
Tiến hành mổ khảo sát trên 6 con lợn thịt (3 đực thiến và 3 cái) lúc 8,56 tháng tuổi theo quy trình giết mổ gia súc, gia cầm của Nguyễn Hải Quân và Nguyễn Thiện (1997)
Trang 11Kết quả chính và kết luận
* Năng suất sinh sản của lợn nái Hương
- Lợn Hương có tuổi đẻ lứa đầu muộn, 283,3 ngày
- Khoảng cách lứa đẻ là 154 ngày
- Khả năng sinh sản của lợn Hương đạt tương đối cao Số con sơ sinh sống lần lượt tương ứng đạt 8,59 con/ổ; số con cai sữa đạt 7,77 con; khối lượng cai sữa đạt 3,79 kg/con Qua các lứa đẻ, năng suất sinh sản của lợn Hương đạt được ổn định ở các lứa
đẻ
* Khả năng tăng khối lượng của lợn Hương đạt trung bình Lợn Hương có khối lượng giết thịt lúc 8 tháng tuổi đạt 40,3 kg Tăng khối lượng bình quân từ sau cai sữa đến 8 tháng tuổi đạt 167,92 g/ngày
*Năng suất và chất lượng thịt của lợn Hương
- Lợn Hương lúc 8 tháng tuổi có tỷ lệ thịt xẻ là 46,5%
- Chất lượng thịt lợn Hương đạt tiêu chuẩn của thịt lợn bình thường Thịt lợn Hương
có giá trị pH 45 và pH 24 lần lượt là 6,26 và 5,67 Tỷ lệ mất nước bảo quản sau 24h là 2,69%;
các giá trị về màu sắc như L * là 46,18; a * là 13,95 và b* là 6,64
Trang 12THESIS ABSTRACT
Master candidate: Nguyen Hung Cuong Thesis title: Evaluation of the productive performance of Huong pig breeding at Binh Yen
commute Thach That district – Ha noi
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives
- To evaluate the reproductive performance of Huong sows
- To evaluation of the growth capacity of Huong pig
- Evaluation of yield and quality of pork meat of Huong pig
Materials and Methods Contents 1: Evaluation of the reproductive performance of Huong sows
Research subject: Total of 30 sows with 150 litter from the 1st parities to the 5th parities breeding at Binh Yen commute - Thach That district – Ha noi
Contents 2: To evaluation of the growth capacity of Huong pig
Research subjects: Total of 60 pigs Research Methods
- Track and record data about the weight increase index of the pigs from the weaning until the end of the experiment
Content 3: Evaluation of yield and quality of Huong pork meat
Research subjects: The study was conducted slaughter of 6 pig individuals Research Methods
6 slaughtered pigs were slaughtered at 8.56 months according to Nguyen Hai Quan and Nguyen Thien (1997)
Main findings and conclusions
• The reproductive performance of the Huong sows
Trang 13+ Age of the first farrow of the Huong sows were 283,3 days
+ The distance between the two parities of Huong sows were 154 days
+ The number of piglets neonatal surviving/litter of Huong sows were 8,59 piglets
+ The number of piglets weaned /litter of Huong sows were 97,77 piglets
+ Weight of piglets weaned/litter of Huong sows were 3,79 kg
- The reproductive performance of the Huong sows have indicators about number of piglets/nest including number of piglets neonatal/nest, number of piglets neonatal surviving/nest, number of piglets to feed/nest and number of piglets weaned/litter through parities from the 1st parities to the 6th parities stable from parities
1 to 5
* The weight gain of pigs The weigh gain of Huong pig were reach 40.3 kg at 8 months of age
The average weight daily gain from weaning to 8 months of age was 167.92 g/d
* Meat yield and quality of Huong pigs
- The carcass and lean meat percentage of Huong pig at 8 months of age was 74,75% and 46.54% respectively
- The pH of pork meat are: 6.26 and 5.67 at pH45 and pH24, respectively
- The water loss of preservation after 24 hours is 2.69%;
- The color values of meat: L * is 46.18; a * is 13.95 and b * is 6.64
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chăn nuôi lợn là một tập quán lâu đời của người nông dân Việt Nam và chiếm một vị trí quan trọng trong ngành nông nghiệp Trong những năm gần đây, phong trào nuôi lợn bản địa phát triển mạnh theo hình thức gia trại, trang trại ở nhiều địa phương, đem lại nguồn thu đáng kể cho người dân, góp phần
ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế Việt Nam là đất nước
có đa dạng sinh học cao, trong đó có nguồn gen các giống lợn bản địa rất phong phú và có nhiều giống lợn bản địa như lợn Mường Khương ở Lào Cai, lợn Hung
và Lũng Pù ở Hà Giang, lợn Đen ở vùng Tây Bắc, lợn Hương, Hạ Lang và Táp
Ná ở Cao Bằng, lợn Mẹo ở vùng Tây Nghệ An, lợn Vân Pa ở Quảng Trị, lợn Sóc Tây Nguyên, lợn đen Bình Thuận, lợn Ba Xuyên ở Nam Bộ.v.v Các giống lợn này được bà con các dân tộc miền núi khắp các vùng từ Móng Cái (Quảng Ninh) qua dãy Trường Sơn đến các tỉnh Tây Nguyên lưu giữ và chăn nuôi ở qui mô nhỏ với phương thức thả rông Trong số này thì hầu hết các giống lợn bản địa đều đã được nghiên cứu, đánh giá các chỉ tiêu kỹ thuật, khả năng sản xuất Tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá sâu về khả năng sản xuất của lợn Hương
Lợn Hương là một trong những nguồn gen thuộc danh sách 26 nguồn gen lợn bản địa ở nước ta đã được công bố và là nguồn vật chất di truyền qúy có ở Việt Nam đã được phát hiện và bảo tồn từ năm 2008 thông qua dự án điều tra phát hiện nhanh các nguồn gen vật nuôi còn tiềm ẩn tại Việt Nam Lợn Hương chủ yếu tập trung tại huyện vùng núi Bảo Lạc, Bảo Lâm, Hạ Lang thuộc Tỉnh cao Bằng Việt Nam Lợn Hương có đặc điểm lông, da màu trắng, ở phần đầu và phần mông (gốc lưng đuôi) có màu đen, vị trí tiếp giáp vùng lông trắng và lông đen có một vệt đen mờ (màu da) Lợn có đặc điểm khác hẳn với các giống lợn nội Việt Nam như: đầu to vừa phải, tai nhỏ và dựng, mặt thẳng, mõm dài, có vệt trắng chạy từ giữa trán xuống mõm, bụng thon gọn và không sệ, lưng tương đối thẳng và không võng, có 8 – 12 vú, khả năng sinh sản và nuôi con tốt, mỗi lứa đẻ
có thể đạt 10 con/lứa
Theo người dân địa phương lợn Hương có đặc điểm ngoại hình đặc trưng, tầm vóc không to, khả năng sinh sản tốt, có khả năng nuôi con khéo nên được người chăn nuôi không chỉ trong vùng mà các tỉnh lân cận chọn tạo phối giống
Trang 15với lợn ngoại để tạo ra con lai F1 theo hướng tỷ lệ nạc cao Để nghiên cứu một cách bài bản, chi tiết các chỉ tiêu kỹ thuật của giống lợn này thì chưa có tác giả
nào đi sâu nghiên cứu Do đó, việc tiến hành đề tài “Khả năng sản xuất của lợn Hương nuôi tại Xã Bình Yên, Huyện Thạch Thất, Thành Phố Hà Nội” là thực
sự cần thiết và có giá trị về mặt khoa học, có ý nghĩa thực tiễn phục vụ sản xuất
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá được khả năng sinh sản của lợn Hương;
- Đánh giá được khả năng sinh trưởng của lợn Hương;
- Đánh giá được năng suất và chất lượng thịt của lợn Hương
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
* Ý nghĩa khoa học
Đề tài là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về khả năng sinh sản, sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt của lợn Hương ở Việt Nam
Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy và thực tế sản xuất chăn nuôi
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Đánh giá được chi tiết khả năng sinh sản, sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt của lợn Hương
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN 2.1.1 Tuổi thành thục về tính và các yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục
về tính
- Tuổi thành thục về tính
Tuổi thành thục về tính là thời gian từ khi sơ sinh cho đến khi lợn cái hậu bị
có biểu hiện động dục đầu tiên Tùy theo giống, tuổi động dục lần đầu có khác nhau, lợn cái thường thành thục về tính từ 6 - 8 tháng tuổi Các giống lợn nội ở Việt Nam như lợn Ỉ, Móng Cái, tuổi thành thục về tính sớm hơn từ 120 - 150 ngày tuổi (Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn, 2006): lợn Ỉ 120 - 135 ngày, lợn Móng Cái 130 -
140 ngày Ở lợn nội có tuổi động dục sớm nên cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục rồi mới phối giống (Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ, 1996); (Nguyễn Thiện, 1998)
- Các yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính
+ Các yếu tố về di truyền Giống khác nhau thì sự thành thục về tính dục cũng khác nhau Sự thành thục về tính của gia súc nhỏ sớm hơn gia súc lớn Lơ ̣n thuộc các giống khác nhau thì sự thành thục về tính cũng khác nhau Sự thành thục về tính ở các giống lơ ̣n
có tầm vóc, khối lượng nhỏ thường sớm hơn các giống lơ ̣n có tầm vóc, khối lượng lớn Sự thành thục về tính ở lợn cái được định nghĩa là thời điểm rụng trứng lần đầu tiên và xảy ra lúc 3 - 4 tháng tuổi đối với các giống lợn thành thục sớm (các giống lợn nội và một số giống lợn Trung Quốc) và 6 - 7 tháng tuổi đối với hầu hết các giống lợn phổ biến ở các nước phát triển (Rothschild and Bidanel, 1998) Giống lợn Meishan có tuổi thành thục về tính sớm, năng suất sinh sản cao và chức năng làm mẹ tốt So với giống lợn Large White, lợn Meishan đạt tuổi thành thục về tính sớm hơn khoảng 100 ngày và có số con đẻ ra
nhiều hơn từ 2,4 - 5,2 con trên ổ (DesprésP et al., 1992)
Đánh giá ảnh hưởng của lai giống đối với năng suất sinh sản, nhiều tác giả cho biết nhờ có ưu thế lai cao mà lai giống có thể cải thiện năng suất sinh sản của lợn Các lợn nái lai có tuổi thành thục về tính sớm hơn (11,3 ngày), tỉ lệ thụ thai cao hơn (2 - 4%), số trứng rụng nhiều hơn (0,5 trứng), số con sơ sinh/ổ cao hơn (0,6 - 0,7 con) và số con cai sữa/ổ (0,8 con) nhiều hơn so với lơ ̣n nái thuần
Trang 17chủng Tỉ lệ nuôi sống lợn con ở các lơ ̣n nái lai cao hơn (5%), khối lượng sơ sinh/ổ (1kg), khối lượng 21 ngày/ổ (4,2 kg) cao hơn so với lơ ̣n nái giống thuần (Gunsett and Robison, 1990) Ngoài ra, năng suất sinh sản của lợn nái cũng chịu ảnh hưởng của cận huyết Theo Johnson (1990), hệ số cận huyết ở lợn nái tăng thêm 10% thì số con đẻ ra sẽ giảm khoảng 0,29 con/ổ
Theo Phạm Hữu Doanh và cs (1995) thì tuổi thành thục sinh dục ở lợn lai muộn hơn lợn cái nội thuần chủng (Ỉ, Móng Cái, Rừng ) thường ở tháng thứ 4, thứ 5 (120 - 150 ngày tuổi) Lợn F1 thường động dục lần đầu ở 6 tháng tuổi và lợn ngoại 6 - 8 tháng tuổi
+ Các yếu tố ngoại cảnh Ngoài yếu tố di truyền, các yếu tố ngoại cảnh cũng ảnh hưởng rất rõ ràng
và có ý nghĩa đến năng suất sinh sản của lợn nái Chế độ nuôi dưỡng, bệnh tật, phương thức phối, lứa đẻ, mùa vụ, nhiệt độ, thời gian chiếu sáng đều có ảnh hưởng tới các chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái
+ Chế độ nuôi dưỡng Chế độ nuôi dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính dục
Những lợn được chăm sóc nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính dục sớm hơn những lợn được nuôi dưỡng trong điều kiện kém Nguyễn Tấn Anh (1998) cho biết, để duy trì năng suất sinh sản cao thì nhu cầu dinh dưỡng đối với lợn cái hậu bị cần lưu ý đến cách thức nuôi dưỡng Cho ăn tự do đến khi đạt khối lượng
80 - 90 kg, sau đó cho ăn hạn chế đến lúc phối giống (chu kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3) là 2 kg/ngày (khẩu phần 14% protein thô) Điều chỉnh mức ăn để khối lượng đạt 120 - 140 kg ở chu kỳ động dục thứ 3 và được phối giống Trước khi phối giống 14 ngày cho ăn chế độ kích dục, tăng lượng thức ăn từ 1,0 - 2,5
kg, có bổ sung khoáng và sinh tố thì sẽ giúp cho lợn nái ăn được nhiều hơn và tăng số trứng rụng từ 2,0 - 2,1 trứng/lợn nái
Lợn cái hậu bị phát triển từ 40 - 80 kg ở độ tuổi từ 4 - 6 tháng với khẩu phần thích hợp sẽ bộc lộ đến mức tối đa tiềm năng di truyền về tốc độ sinh trưởng
và tích lũy mỡ Sau khi đạt khối lượng 80 kg mà sự thành thục về tính dục không
bị chậm trễ, có thể khống chế mức tăng khối lượng bằng cách mỗi ngày cho lợn nái hậu bị ăn 2 kg/con/ngày với loại thức ăn hỗn hợp có giá trị 2900 Kcal ME/kg thức ăn và 14% protein thô Việc khống chế năng lựơng và protein chẳng những tiết kiệm chi phí thức ăn mà còn tránh được tăng khối lượng không cần thiết
Trang 18Sau khi phối giống cần chuyển chế độ ăn hạn chế và thay bằng mức năng lượng trung bình Còn nếu tiếp tục cho ăn ở mức năng lượng cao ở giai đoạn chửa đầu sẽ làm cho tỷ lệ phôi chết cao và làm giảm số lợn con sinh ra trong một ổ
+ Ảnh hưởng của mùa vụ và thời gian chiếu sáng tới tuổi động dục
Koketsu et al (1997) khi phân tích các nhân tố ảnh hưởng bằng chương
trình General Linear Model của SAS cho thấy nái đẻ vào mùa hè và mùa xuân có thời gian từ cai sữa đến phối có chửa lứa tiếp theo là dài nhất, trong đó nái đẻ vào
mùa hè có khối lượng cai sữa/lứa thấp hơn nái đẻ vào mùa xuân Lorvelec et al
(1998) nghiên cứu về ảnh hưởng của mùa vụ đến khả năng sinh sản của lợn nái Large White đã đưa ra kết luận số con sơ sinh/lứa của lợn nái đẻ ra trong mùa
khô, mát cao hơn 25% so với mùa lạnh, ẩm ướt Vázquez et al (1998) nghiên
cứu trên 524 lứa đẻ từ năm 1987 - 1989 của 171 lợn nái đã nhận thấy yếu tố mùa
vụ ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến 4 tính trạng: số con sơ sinh/lứa, số con sơ sinh sống/lứa, khối lượng toàn ổ ở các thời điểm 21 và 56 ngày tuổi Đặng Vũ Bình (1999) phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến các tính trạng năng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại đã kết luận yếu tố mùa vụ ảnh hưởng đến hầu hết các tính trạng (trừ tính trạng số con 35 ngày tuổi, khối lượng toàn ổ giai đoạn sơ sinh và 21 ngày tuổi) Khối lượng toàn ổ sơ sinh ở mùa đông cao hơn mùa thu (P < 0,01) Trần Thị Minh Hoàng và cs (2008); Phạm Thị Kim Dung và Trần Thị Minh Hoàng (2009), cũng cho biết yếu tố mùa vụ ảnh hưởng đến tất cả các tính trạng sinh sản mà các tác giả đã nghiên cứu
Ngoài ra sự thành thục về tính dục bị chậm là do nhiệt độ Nếu nhiệt độ quá thấp cũng sẽ ảnh hưởng tới phát dục Vì vậy cần có những biện pháp chống nóng, chống lạnh cho lợn Còn đối với thời gian chiếu sáng nó được xem như là một phần của ảnh hưởng mùa vụ Mùa đông thì thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm Thời gian chiếu sáng trong ngày là 12 giờ bằng ánh sáng tự nhiên hay nhân tạo sẽ làm cho lợn cái hậu bị động dục sớm hơn so với những lợn có thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn
+ Ảnh hưởng của việc nuôi nhốt đến tính phát dục Mật độ nuôi nhốt ảnh hưởng đến sự thành thục về tính dục Những lợn cái hậu bị nuôi nhốt đông trên một đơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục Tuy nhiên, việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển cũng làm chậm sự thành thục về tính Như vậy, đối với
Trang 19lợn cái hậu bị nếu được nuôi theo nhóm ở mật độ thích hợp sẽ không ảnh hưởng đến sự phát triển tính dục
Mặt khác, điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi ảnh hưởng rất lớn đến năng suất của lợn và tuổi động dục lần đầu Tiểu khí hậu chuồng nuôi được hình thành
do nhiều tác nhân: khí hậu vùng, kiểu chuồng, hướng chuồng, độ thông thoáng, khả năng thoát nước, hàm lượng khí NH3, CO2, H2S Sự trao đổi khí và lượng phân trong chuồng quyết định đến tiểu khí hậu chuồng nuôi
Thí nghiệm được tiến hành ở Úc cho thấy hàm lượng amoniac (NH3) cao sẽ làm chậm thời gian động dục lần đầu là 25 - 30 ngày (Hughes and Tilton, 1996)
+ Ảnh hưởng của con đực
Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính dục của lợn cái hậu bị Người ta làm thí nghiệm thấy rằng nếu cách ly lợn cái hậu bị (ngoài 5 tháng tuổi) khỏi lợn đực sẽ dẫn đến làm chậm sự thành thục về tính dục
so với những cái hậu bị cùng lứa tuổi được tiếp xúc với lợn đực Tuy nhiên, việc định thời gian tiếp xúc với lợn đực tuổi lợn cái hậu bị lúc bắt đầu cho tiếp xúc hoặc tuổi đực giống cho tiếp xúc với lợn cái có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Vấn
đề này cũng có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng trong một nhóm nhỏ của đàn nái hậu bị chỉ cần cho lợn đực tiếp xúc 10 - 15 phút/ngày, ý kiến khác lại cho rằng nếu cho tiếp xúc hạn chế với lợn đực thì động dục lần đầu chậm hơn so với lợn nái được tiếp xúc hàng ngày
Theo Hughes and Tilton (1996) nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với lợn đực
2 lần/ngày với thời gian 15 - 20 phút/lần thì kết quả 83% lợn nái (ngoài 90kg thể trọng) động dục lúc 165 ngày tuổi
Theo Hughes (1982) những lợn đực dưới 10 tháng tuổi không có tác dụng trong việc kích thích phát dục, bởi vì những lợn đực còn non này chưa tiết ra lượng feramon đó là thành phần cần thiết của "hiệu ứng đực giống"
Tác dụng "hiệu ứng đực giống" khi tiếp xúc với con cái hậu bị thì kích thích con đực có thể tách ra thành các kích thích thành phần để tạo ra tín hiệu nào đó là tín hiệu đặc biệt mà nó đưa ra để kích thích sự thành thục của con cái
"Hiệu ứng đực giống" được thực hiện thông qua feromon trong nước bọt của con đực (3∝ andiosterol) được truyền trực tiếp cho con cái qua đường miệng
Tuy nhiên những nghiên cứu sau đã cho thấy nếu chỉ có feromon mà không có
Trang 20mặt của lợn đực thì tác dụng kích thích cũng tương đối thấp "Hiệu ứng đực giống" tốt nhất khi lợn cái hậu bị khoảng 160 ngày tuổi và lợn đực ít nhất là 10 tháng tuổi, việc nhốt lợn cái hậu bị cạnh chuồng đực giống và cho chúng tiếp xúc trực tiếp trong 1 khoảng thời gian ngắn mỗi ngày sẽ tạo ra đáp ứng tốt nhất ở lợn cái hậu bị Thêm vào đó, đực giống cần cho phối giống đều đặn vì điều đó sẽ làm cho cả lượng feromon và tính hăng tăng lên
Như vậy, việc sử dụng đực giống cho tiếp xúc trực tiếp với cái hậu bị là cách tốt nhất cho việc thành thục tính dục ở lợn cái hậu bị nhưng cũng cần chú ý đến yếu tố ngoại cảnh làm giảm tác dụng của việc tiếp xúc giữa đực giống và con cái hậu bị
2.1.2 Chu kỳ động dục
Cơ chế động dục: Khi lợn nái hậu bị bắt đầu thành thục về tính cơ thể con cái đặc biệt là cơ quan sinh dục có sự biến đổi kèm theo sự rụng trứng Cứ sau một thời gian nhất định cơ thể có sự thay đổi nhất là cơ quan sinh dục như âm hộ,
âm đạo, tử cung xung huyết, các tuyến sinh dục tăng cường hoạt động, trứng thành thục, chín và rụng Niêm dịch trong đường sinh dục phân tiết, con cái có phản xạ tính dục Sự thay đổi này có tính chất chu kỳ gọi là chu kỳ động dục hay chu kỳ tính Nói cách khác chu kỳ động dục là sự lặp lại của các lần động dục có tính chu kỳ Thời gian một chu kỳ tính là từ lần rụng trứng trước đến lần rụng trứng sau Chu kỳ tính của lợn trung bình là 21 ngày (dao động từ 17 - 28 ngày)
Trong quá trình động dục các nhân tố ngoại cảnh như ánh sáng, nhiệt độ, thức ăn, mùi con đực, tác động vào vùng dưới đồi (hypothalamus) giải phóng
ra các yếu tố tác động lên thùy trước tuyến yên, làm tuyến này tổng hợp và tiết ra FSH (Folliculo Stimulin Hormone), LH (Lutein Stimulin Hormone) tác động lên tuyến sinh dục
FSH (Folliculine Stimuline Hormone) kích thích sự phát triển của trứng
Trang 21vàng và thể vàng tiết ra progesteron giúp cho quá trình chuẩn bị tiếp nhận hợp tử
ở sừng tử cung, ức chế sự sinh ra FSH, LH của tuyến yên do đó ức chế quá trình phát triển bao noãn, từ đó con cái không động dục, hormone này được coi như hormone bảo vệ sự mang thai Khi trứng rụng không được thụ tinh thì thể vàng ở ngày thứ 15 đến 17 sẽ bị tiêu biến, quá trình này là do hoạt động của prolactin sừng tử cung và tiếp tục một chu kỳ mới
FSH: Folliculine Stimuline Hormone
- Các giai đoạn của chu kỳ động dục (được chia làm 4 giai đoạn)
Giai đoạn trước động dục (Pooestrus)
Là thời kỳ đầu của chu kỳ sinh dục, buồng trứng phát triển to hơn bình thường, hệ thống sinh dục xung huyết, niêm dịch cổ tử cung tiết ra, kích thích cổ
Trang 22tử cung hé mở, các tuyến sinh dục tăng cường hoạt động Giai đoạn này con vật chưa có tính hưng phấn cao, bao noãn phát triển và chín, trứng được tách ra, sừng
tử cung sung huyết rõ, niêm dịch đường sinh dục chảy ra nhiều con vật bắt đầu xuất hiện tính dục Thời kỳ này kéo dài 1 – 2 ngày
Giai đoạn động dục (Oestrus) Gồm 3 thời kỳ kế tiếp nhau: Hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực Giai đoạn này thường kéo dài 2 - 3 ngày Tính hưng phấn sinh dục thể hiện mạnh mẽ, nhất là hàm lượng oestrogen tiết ra cao nhất Biểu hiện bên ngoài của giai đoạn này là âm hộ sưng to, niêm mạc xung huyết, niêm dịch trong suốt từ âm đạo chảy
ra nhiều, con vật phá chuồng, đứng ngẩn ngơ, nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy lên, xuất hiện tư thế chờ phối Sau khi trứng rụng được thụ tinh lợn cái chuyển sang thời kỳ mang thai, nếu không được thụ tinh thì chuyển sang giai đoạn sau động dục
Giai đoạn sau động dục (Postoestrus) Sau khi kết thúc động dục, các hormone FSH, LH trở lại trạng thái bình thường, oestrogen trong máu không tăng, buồng trứng xuất hiện thể vàng, thể vàng tiết ra progesteron ức chế động dục, con vật dần dần trở lại ổn định Giai đoạn này thường kéo dài 2 - 3 ngày
Giai đoạn yên tĩnh (Dioestrus)
Là giai đoạn dài nhất thường bắt đầu từ ngày thứ 4 khi trứng rụng Giai đoạn này con vật thích yên tĩnh để khôi phục lại trạng thái sinh lý chuẩn bị cho chu kỳ động dục tiếp theo
2.1.3 Quá trình phát triển của lợn ở giai đoạn trong thai và giai đoạn bú sữa
- Quá trình phát triển của lợn ở trong thai
Quá trình phát triển của lợn ở giai đoạn trong thai được tính từ khi trứng được thụ tinh cho đến khi lợn con được sinh ra Giai đoạn trong thai thường kéo dài trung bình 114 ngày Giai đoạn này được chia làm ba thời kì: thời kì phôi thai, thời kì tiền thai và thời kì bào thai
+ Thời kì phôi thai: được tính từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 22 của quá trình mang thai Sau khi trứng và tinh trùng gặp nhau ở 1/3 phía trên ống dẫn trứng, tại đây diễn ra sự thụ tinh Trứng được thụ tinh hình thành hợp tử, 1 đến 3 ngày sau khi thụ tinh hợp tử di chuyển về hai bên sừng tử cung và làm tổ tại đó
Trang 23Đây là thời kì phôi phát dục mạnh nhất và chất dinh dưỡng được cung cấp từ noãn hoàng, đó chính là hình thức tự dưỡng
Sau 5 - 6 ngày mầm thai và túi phôi được hình thành, ngày thứ 7 - 8 màng
ối hình thành có tác dụng bảo vệ và cung cấp chất dinh dưỡng cho thai Sau 10 ngày hình thành màng đệm, màng này có nhiều lông nhung, có tác dụng chuyển chất dinh dưỡng cho thai Sau 12 ngày màng niệu được hình thành, thai lấy chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ bằng cách thẩm thấu Cuối thời kì này các khí quan đầu tiên được hình thành, nhau thai chưa phát triển, phôi bám vào thành tử cung chưa chắc chắn và chỉ nặng 1-2 gam
+ Thời kì tiền thai: thời kì này kéo dài từ ngày thứ 23 đến ngày thứ 39 Đặc điểm của thời kì này là phôi thai phát triển mạnh dần, bắt đầu hình thành nhau thai, mối liên hệ giữa phôi thai và tử cung chắc chắn hơn, ít xảy ra hiện tượng xảy thai Các khí quan hình thành rõ rệt Cuối thời kì này khối lượng thai đạt 6 - 7g
+ Thời kì bào thai: thời kì này kéo dài từ ngày thứ 39 đến khi đẻ Ở thời kì này, thai phát triển mạnh nhất là 30 ngày trước khi đẻ Khối lượng bào thai tăng lên ở tháng cuối cùng trước khi đẻ có thể chiếm 2/3 hoặc 3/4 so với toàn bộ khối lượng bào thai
Trong thực tế để thuận tiện cho áp dụng kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc, người ta chia giai đoạn chửa của lợn nái thành hai thời kỳ, chửa kỳ I: từ ngày
có chửa thứ 1 đến ngày thứ 84; chửa kỳ II: từ ngày chửa thứ 85 trở đi
Cần chú ý việc nuôi dưỡng chăm sóc lợn nái chửa kỳ II, cần cung cấp thức
ăn có chất lượng tốt, khẩu phần cần được chia nhỏ để tránh sự chèn ép, gây ảnh hưởng bất lợi cho thai
-Quá trình phát triển của lợn ở giai đoạn bú sữa
Giai đoạn này nguồn dinh dưỡng được cung cấp từ sữa mẹ, quá trình trao đổi chất diễn ra mạnh và khối lượng cơ thể tăng nhanh
Theo Trương Lăng (1993) khối lượng cơ thể lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần lúc sơ sinh Các cơ quan tiêu hoá phát triển, tăng về kích thước và hoàn thiện dần
về chức năng Dung tích dạ dày sau 10 ngày tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh; sau 20 ngày tăng lên 8 lần và khi trưởng thành đạt 3,5 - 4 lít Chiều dài ruột non sau 20 ngày tăng 3 lần, ruột già tăng 1,5 lần so với lúc sơ sinh
Trang 24Chức năng của bộ máy tiêu hoá chưa được hoàn chỉnh nhất là ở 3 - 4 tuần đầu Nguyên nhân do thiếu HCl, nên men pepsinogen không được hoạt hoá thành pepsin, nên ở giai đoạn này lợn con tiêu hoá rất kém, đặc biệt là các thức ăn ngoài sữa, lợn con chỉ tiêu hoá tốt được sữa nhờ men capepxin và tripxin hỗ trợ
HCl trong dạ dày có chức năng diệt khuẩn, do trong dạ dày bị thiếu, nên giai đoạn này lợn con dễ mắc bệnh ỉa chảy và ỉa phân trắng
Chỉ sau 4 tuần men pepsin mới có hoạt tính mạnh, còn các men amilase, maltase trong 2 - 4 tuần hoạt tính yếu, nên lợn con tiêu hoá tinh bột rất kém đặc biệt là tinh bột sống Chính vì vậy trong công nghệ sản xuất thức ăn cho lợn hiện nay, thành phần tinh bột cần được làm chín bằng phương pháp ép đùn
Trong giai đoạn này phản xạ thần kinh và thể dịch của lợn con còn yếu, khả năng phân tiết dịch vị chậm, hoạt tính của dịch vị và khả năng kháng khuẩn còn kém nên cần phải chú ý tới vệ sinh thức ăn, nước uống, chuồng trại Lợn con khi sinh ra thường bị thiếu sắt do sữa me bị thiếu, vì thế cần phải bổ sung bằng cách tiêm sắt dưới dạng Dextran Fe ở ngày tuổi thứ 3 và ngày tuổi thứ 10
2.2 KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA LỢN NÁI 2.2.1 Các chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái
Hiện nay người ta thường dùng nhóm chỉ tiêu về sinh lý sinh dục của lợn nái:
+ Tuổi động dục lần đầu: là thời gian tính từ khi sinh cho đến khi lợn cái hậu bị động dục lần đầu Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng: tuổi động dục lần đầu của lợn Landrace là 208 - 209 ngày, của Yorkshire là 203 - 208 ngày
+ Tuổi phối giống lần đầu: thông thường ở lần động dục đầu tiên người ta
bỏ qua không phối vì thời điểm này tuy lợn đã thành thục về tính nhưng chưa thành thục về thể vóc và số trứng rụng lần đầu thường ít, nên thường cho phối vào lần thứ 2 - 3 Tuổi phối giống lần đầu thích hợp: với lợn nội 6,5 - 8 tháng tuổi, lợn ngoại là 8 - 8,5 tháng tuổi
+ Tuổi đẻ lứa đầu: Tuổi đẻ lứa đầu là tuổi mà lợn cái hậu bị đẻ lứa thứ nhất, chính là tuổi phối giống có kết quả cộng với thời gian mang thai Tuổi đẻ lứa đầu của gia súc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi phối giống lần đầu, kết quả phối giống, thời gian mang thai và từng giống lợn khác nhau Đối với lợn nái nội tuổi đẻ lứa đầu thường sớm hơn so với lợn ngoại do tuổi thành thục về tính dục ngắn hơn
Trang 25+ Thời gian chờ phối: là thời gian động dục trở lại sau cai sữa và phối giống có kết quả, thời gian chờ phối phụ thuộc vào giống lợn, thể trạng, điều kiện dinh dưỡng và thời gian cai sữa lợn con
+ Khoảng cách lứa đẻ: Là thời gian hình thành một chu kỳ sinh sản bao gồm: Thời gian chửa + thời gian nuôi con + thời gian chờ phối Chỉ tiêu này thể hiện hiệu suất sinh sản ở lợn Khoảng cách lứa đẻ càng ngắn sẽ làm tăng số lứa đẻ/nái/năm Vì vậy trong chăn nuôi người ta luôn tìm mọi phương pháp để rút ngắn khoảng cách giữa các lứa đẻ bằng cách: rút ngắn thời gian cai sữa, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý để lợn nái sau khi cai sữa lợn con nhanh động dục trở lại
Số lứa đẻ/nái/năm =
Khoảng cách lứa đẻ + Tỷ lệ thụ thai: tỷ lệ thụ thai phụ thuộc chủ yếu vào thời điểm phối giống
Trong điều kiện bình thường tỷ lệ thụ thai đạt 90 – 100% nếu số trứng rụng ở mức
bình thường (Heideler et al., 1981) Thụ tinh nhân tạo sẽ làm giảm tỷ lệ thụ thai
khoảng 10% so với phối giống trực tiếp Chế độ dinh dưỡng tốt, hợp lý trong giai đoạn cai sữa tới phối giống sẽ nâng cao tỷ lệ thụ thai
- Nhóm chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái + Số con sơ sinh/ổ: là tổng số con đẻ ra trên một lứa gồm cả số con sống
và số con chết Chỉ tiêu này đánh giá khả năng mang thai, mức độ sai con của giống
+ Số con sơ sinh sống/ổ: là số con sơ sinh sống đến 24 giờ kể từ khi lợn
mẹ đẻ xong con cuối cùng, chỉ tiêu này đánh giá khả năng nuôi thai của lợn mẹ
và sức sống của bào thai
+ Tỷ lệ sơ sinh sống: tỷ lệ sơ sinh sống được tính như sau:
Số con sơ sinh sống đến 24 giờ
Tỷ lệ sơ sinh sống (%) = x 100
Số con đẻ ra + Số con để nuôi/ổ:
Số con để nuôi/ổ = số con sống đến 24h – (số con loại thải ± số con nuôi ghép) Chỉ tiêu này phụ thuộc vào số lượng núm vú của lợn mẹ, tình trạng sức khoẻ và yêu cầu của thực tế Người ta thường để lại nuôi 10 – 12 con
Trang 26+ Khối lượng sơ sinh/con và khối lượng sơ sinh /ổ: Đây là hai chỉ tiêu quan trọng nhằm phản ánh trình độ, kỹ thuật chăn nuôi, nó cho chúng ta biết được đặc điểm về giống và khả năng nuôi thai của lợn mẹ
+ Số con và khối lượng lợn lúc 21 ngày tuổi
Hai chỉ tiêu này rất quan trọng, nó phản ánh khả năng nuôi con và khả năng tiết sữa của lợn mẹ bởi vì lợn mẹ tiết sữa tăng dần từ ngày thứ nhất đến ngày thứ
15 sau đẻ, giữ ổn định đến ngày thứ 21, sau đó giảm dần Căn cứ vào đặc điểm này người chăn nuôi thường cai sữa sớm cho lợn con vào lúc 21 ngày tuổi
+ Số con cai sữa/ổ: là số con được nuôi sống cho đến khi cai sữa mẹ Thời gian cai sữa dài hay ngắn tuỳ thuộc vào điều kiện của từng cơ sở và thể trạng lợn
mẹ Trong thực tế người ta thường cai sữa khi lợn con được 21 ngày, hoặc 28 ngày tuổi
+ Khối lượng cai sữa/ổ: đây là chỉ tiêu quan trọng nhất đánh giá kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ, khả năng nuôi con của lợn mẹ Khối lượng lợn con lúc cai sữa ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ phát triển của lợn lúc xuất chuồng
Muốn cải tiến được chỉ tiêu này, người ta phải tiến hành tập ăn cho lợn con
từ rất sớm (5 - 7 ngày sau khi sinh), loại cám có hàm lượng dinh dưỡng cao, cân đối và phù hợp với đặc điểm tiêu hóa ruột non Đặc biệt là ở giai đoạn cuối, nhu cầu sữa của lợn con cao, lợn mẹ khó đáp ứng đủ thì lượng thức ăn này sẽ góp phần
bù đắp
+ Thời gian cai sữa: Thời gian cai sữa dài hay ngắn thể hiện trình độ, kỹ thuật chăn nuôi Cai sữa sớm cho lợn con sẽ giúp rút ngắn khoảng cách lứa đẻ, giảm sự hao hụt ở lợn mẹ, tăng số lứa đẻ/nái/năm
+ Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa: được tính bằng công thức sau:
Số con sống đến cai sữa
Tỷ lệ nuôi sống (%) = x 100
Số con để lại nuôi
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái
- Yếu tố di truyền
Giống là tiền đề và là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái (Đặng Vũ Bình, 1999) Chọn lọc là phương pháp đơn giản và được sử dụng sớm nhất để nâng cao chất lượng đàn giống vật nuôi Chọn lọc cũng là động lực đầu tiên để đạt tới sự tiến bộ di truyền, chọn lọc có thể tăng số
Trang 27lượng gen tốt và giảm số lượng gen xấu thông qua quan sát kiểu hình
Trong chọn lọc cần chọn đàn giống có tỷ lệ kiểu gen trội đối với chỉ tiêu mong muốn cao nhất và hạn chế đến mức tối thiểu sự thể hiện gen lặn của tính trạng không mong muốn
Theo Rothschild et al (1998), thì căn cứ vào khả năng sinh sản và sức sản
xuất thịt, các giống lợn được chia làm bốn nhóm chính:
+ Giống địa phương có đặc tính chung là khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt kém nhưng có khả năng thích nghi tốt với môi trường;
+ Các giống đa dụng như Yorkshire, Landrace có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá;
+ Các giống chuyên dụng dòng bố như Pidu, Duroc có khả năng sinh sản trung bình và khả năng sản xuất thịt cao;
+ Các giống chuyên dụng dòng mẹ như Taihu của Trung Quốc, có khả năng sinh sản cao nhưng khả năng cho thịt kém
Các giống khác nhau biểu hiện thành tích sinh sản khác nhau vì kiểu gen của chúng khác nhau, mỗi giống gia súc đều có cả gen trội và gen lặn đối với chỉ tiêu mong muốn và không mong muốn, gen là nguyên nhân làm biến đổi khối lượng buồng trứng, số nang trứng chưa thành thục, số lượng nang trứng chín, tỷ
lệ trứng rụng và số phôi thai Ở gia súc thuộc các giống khác nhau thì có sự thành thục về tính cũng khác nhau, gia súc có tầm vóc nhỏ như các giống lợn nội (Móng Cái, Ỉ ) thường thành thục sớm hơn so với các giống lợn ngoại có tầm vóc lớn (Landrace, Yorkshire ) Theo Nguyễn Ngọc Phục (2003), thì lợn cái Meishan có tuổi thành thục sớm hơn so với lợn Landrace, Yorkshire khi nuôi trong cùng điều kiện
- Thức ăn và dinh dưỡng
Thức ăn và dinh dưỡng là yếu tố quan trọng để đảm bảo khả năng sinh sản của lợn nái, cần phải cung cấp đầy đủ về số lượng và chất lượng các chất dinh dưỡng cho lợn nái hậu bị, lợn nái có chửa và lợn nái nuôi con
Nuôi dưỡng tốt lợn nái trước khi động dục có thể làm tăng số lượng trứng rụng, tăng số phôi sống (Gordon, 1997)
Do đó áp dụng chế độ dinh dưỡng "Flushing" trong pha sinh trưởng của buồng trứng của lợn nái nên đã làm tăng số lượng trứng rụng (85% so với 64%)
Trang 28và tăng lượng progesteron trong máu (10,5 ng so với 4,5 ng/ml) (Gordon, 1997)
Nuôi dưỡng lợn nái với mức năng lượng cao ở thời kỳ chửa đầu có thể làm tăng tỷ lệ chết phôi ở lợn nái mới đẻ (Gordon, 1997)
Gordon (1997) cho biết nuôi dưỡng lợn nái với mức năng lượng cao trong thời kỳ có chửa sẽ làm giảm mức thu nhận thức ăn trong thời kỳ tiết sữa nuôi con
và ngăn cản sự phát triển của tuyến vú
Lợn nái nuôi con nên cho ăn tự do để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng Giảm lượng thức ăn thu nhận khi nuôi con sẽ làm giảm khối lượng cơ thể, hậu quả là thời gian động dục trở lại dài, giảm tỷ lệ thụ tinh và giảm số phôi sống (Gordon, 1997)
Theo Chung và Nam (1998) tăng lượng thức ăn thu nhận ở lợn nái tiết sữa sẽ làm tăng sản lượng sữa và tăng khả năng tăng khối lượng của lợn con Gordon (2004) cho biết tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn đầu và giữa chu
kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng giảm thời gian động dục trở lại hơn là tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn cuối, tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn giữa và cuối chu kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng tăng khối lượng cai sữa hơn là tăng ở giai đoạn đầu
Mục tiêu của nuôi dưỡng lợn nái là làm sao cho số ngày không sản xuất ít nhất, khối lượng cơ thể tăng phù hợp trong thời kỳ có chửa và có được khối lượng cơ thể thích hợp trong thời kỳ nuôi con
Nuôi dưỡng lợn nái trong thời kỳ tiết sữa nuôi con với mức protein thấp trong khẩu phần sẽ làm tăng thời gian động dục trở lại (Gordon, 1997) Mức dinh dưỡng protein thấp trong thời kỳ chửa cuối sẽ làm cho lợn nái phải huy động dinh dưỡng của cơ thể để nuôi thai, do đó làm giảm khả năng sống của thai và lợn con khi đẻ cũng như sau khi đẻ, làm giảm khả năng tiết sữa của lợn mẹ dẫn đến lợn nái sinh sản kém Nuôi dưỡng lợn nái trong thời kỳ tiết sữa nuôi con với mức lyzin thấp và protein thấp sẽ làm suy yếu sự phát triển của bao noãn, giảm khả năng thành thục của tế bào trứng, giảm số con đẻ ra và số con còn sống trên
ổ, tăng tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ và giảm tốc độ sinh trưởng của lợn con (Yang et al., 2000) Podtereba (1997) xác nhận có 9 axit amin cần thiết đóng vai trò quan
trọng trong quá trình sinh sản và trong quá trình phát triển của phôi Song mức protein quá cao trong khẩu phần sẽ không tốt cho lợn nái
- Mùa vụ
Khả năng sinh sản của lợn nái cũng bị ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố mùa
Trang 29vụ hay cụ thể hơn là nhiệt độ và độ ẩm của môi trường Gaustad - Aas et al
(2004), cho biết mùa vụ có ảnh hưởng đến số con sơ sinh/ổ Mùa có nhiệt độ cao
là nguyên nhân làm năng suất sinh sản ở lợn nái nuôi chăn thả thấp: tỷ lệ chết ở lợn con cao, thu nhận thức ăn thấp, tỷ lệ hao hụt lợn nái tăng, tỷ lệ động dục trở lại sau cai sữa giảm và tỷ lệ thụ thai giảm Lợn nái phối giống vào các tháng nóng có tỷ lệ thụ thai thấp, làm tăng số lần phối giống, giảm khả năng sinh sản từ 5-20%
Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ ảnh hưởng của stress nhiệt đến khả năng sinh sản của lợn nái Nhiệt độ cao làm cho tỷ lệ loại thải nái cao (30-50%) và làm thiệt hại về kinh tế trong chăn nuôi nái sinh sản (Gordon, 1997) số con sơ sinh/ổ khi phối giống vào mùa hè có thể ít hơn một con so với khi phối giống vào mùa
thu, mùa đông (Peltoniemi et al., 2000) Các tác giả nhận thấy về mùa hè, nhiệt
độ cao làm giảm tính nhạy cảm bình thường của chu kỳ động dục Gordon (1997), cho biết từ tháng thứ 5 đến tháng thứ 8 khoảng cách từ khi cai sữa đến động dục trở lại ở lợn nái tăng so với các tháng khác
- Tuổi và lứa đẻ
Tuổi và lứa đẻ đều là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến số con sơ sinh/ổ
Lợn nái kiểm định có tỷ lệ đẻ thấp hơn so với lợn nái sinh sản Số lượng trứng rụng thấp nhất ở chu kỳ động dục thứ nhất, tăng đến 3 tế bào trứng ở chu kỳ động
dục thứ hai và đạt tương đối cao ở chu kỳ động dục thứ ba (Deckert et al., 1998)
Số con đẻ ra tương quan thuận với số lượng trứng rụng (Gordon, 1997)
Lứa đẻ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
vì có sự khác nhau về chức năng theo tuổi của lợn nái Khả năng sinh sản của lợn nái thường thấp nhất ở lứa đẻ thứ nhất, đạt cao nhất ở lứa đẻ thứ 3, 4, 5 và sau đó gần như là ổn định hoặc hơi giảm khi lứa đẻ tăng lên Theo Gordon (1997), thì số con sơ sinh/ổ tăng từ lứa đẻ một đến lứa đẻ thứ tư, ở lứa đẻ thứ tám trở đi, số lợn con mới đẻ bị chết tăng lên Số con sơ sinh/ổ có quan hệ chặt chẽ đến tuổi của lợn nái và giảm nhanh sau 4, 5 tuổi Lợn đẻ lứa đầu tiên thường có số con sơ sinh/ổ, khối lượng sơ sinh nhỏ hơn so với những lứa đẻ sau (Colin, 1998)
- Số lần phối và phương thức phối giống
Gordon (1997), cho biết số lần phối giống trong một lần động dục ở lợn nái ảnh hưởng tới số con sơ sinh/ổ, phối đơn trong một chu kỳ động dục ở lúc động dục cao nhất có thể đạt được số con sơ sinh/ổ cao, nhưng phối hai lần trong
Trang 30một chu kỳ động dục làm tăng số con sơ sinh/ổ Tác gải này cũng cho rằng khi phối giống cho lợn nái trực tiếp ba lần, mỗi lần cách nhau 24 giờ tăng hơn 1,3 con/ổ so với phối hai lần
Theo Gordon (1997), thì phối giống kết hợp giữa thụ tinh nhân tạo và nhảy trực tiếp có thể làm tăng 0,5 lợn con so với phối riêng rẽ Phối giống bằng thụ tinh nhân tạo, tỷ lệ thụ thai và số con sơ sinh/ổ đều thấp hơn (0-10%) so với phối giống trực tiếp (Colin, 1998)
- Thời gian cai sữa Phân tích 14,925 lứa đẻ của 39 đàn lợn nái ở Mỹ (Xue et al., 1993) tı́nh
theo Gordon, 1997) nhận thấy thời gian bú sữa của lợn con dài, lợn nái có số sơ sinh/ổ, số con đẻ ra còn sống/ổ cao, thời gian động dục trở lại ngắn, khoảng cách
từ khi đẻ đến phối giống trở lại dài, khoảng cách lứa đẻ dài
Lợn nái cai sữa ở 28-35 ngày, thời gian động dục trở lại 4-5 ngày có thể phối giống và có thành tích sinh sản tốt (Colin, 1998)
Lợn nái phối giống sau khi cai sữa sớm có số lượng trứng rụng thấp (15,9 so với 24,6) và số phôi ở ngày chửa thứ 11 ít Lợn nái cai sữa sớm có tỷ lệ thụ thai
thấp, số phôi sống ít và thời gian động dục trở lại dài (Deckert et al., 1998)
Việc xác định và cải thiện các nhân tố ảnh hưởng đến thành tích sinh sản góp phần phát huy tiềm năng vốn có của mỗi giống gia súc, nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi Trong quá trình nghiên cứu các nhà khoa học đã nhận thấy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp tới thành tích sinh sản của lợn nái nhưng được chia làm 2 loại chính là yếu tố di truyền và yếu tố ngoại cảnh
2.3 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA LỢN 2.3.1 Khả năng sinh trưởng
Chamber (1990) đã định nghĩa: “Sinh trưởng là tổng sự sinh trưởng của các bộ phận như nạc, mỡ, xương, da, những bộ phận này không những khác nhau
về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng” Cùng với quá trình sinh trưởng, các tổ chức và cơ quan của cơ thể luôn luôn phát triển hoàn thiện chức năng sinh lý của mình dẫn đến sự phát dục
Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng Tuy nhiên có khi tăng khối lượng mà không phải tăng trưởng (chẳng hạn
Trang 31béo mỡ, chủ yếu là tích nước, không có sự phát triển của mô cơ) Vì vậy sự tăng trưởng từ khi trứng rụng được thụ tinh cho đến lúc cơ thể trưởng thành được chia
ra thành 2 giai đoạn chính: giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai
Do vậy sinh trưởng sẽ thông qua 3 quá trình phân chia tế bào để tăng số lượng, tăng thể tích của tế bào và tăng thể tích giữa các tế bào Tất cả các đặc tính của vật nuôi như ngoại hình, thể chất, sức sản xuất đều không phải có sẵn trong tế bào mà hoàn chỉnh trong suốt quá trình sinh trưởng của con vật
2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn
- Khối lượng cơ thể Khối lượng cơ thể ở một thời điểm nào đó là một chỉ số được sử dụng quen thuộc nhất về sinh trưởng (tính theo tuổi) song chỉ tiêu này không nói lên được mức độ khác nhau về tốc độ sinh trưởng trong một thời gian Khối lượng cơ thể là chỉ tiêu đánh giá khả năng tích lũy của cơ thể được xác định bằng cân trực tiếp, đơn vị tính là g/con hoặc kg/con Dựa vào các số liệu thu được người ta lập
đồ thị khối lượng cơ thể còn gọi là đồ thị sinh trưởng tích lũy Sinh trưởng tích lũy là sự tăng khối lượng ở một giai đoạn tuổi nhất định nào đó
Khối lượng cơ thể là một tính trạng số lượng và được quy định qua các yếu tố di truyền, sự tăng khối lượng cơ thể là kết quả của sự sinh trưởng và phát dục Đây là 2 yếu tố của một quá trình thống nhất không tách rời nhau, chúng ảnh hưởng hỗ trợ nhau cùng phát triển (Champer, 1990)
Khối lượng cơ thể không những chứng minh cho hiệu quả sử dụng thức ăn
mà còn cần thiết để quyết định thời gian nuôi dưỡng tương ứng với khối lượng xuất chuồng để giết mổ Mặt khác để đánh giá khả năng sinh trưởng người ta còn
sử dụng chỉ tiêu tốc độ sinh trưởng
- Tốc độ sinh trưởng
Là cường độ tăng khối lượng cơ thể trong một khoảng thời gian nhất định, trong chăn nuôi người ta thường sử dụng 2 chỉ tiêu để biểu thị tốc độ sinh trưởng của vật nuôi đó là tốc độ sinh trưởng tuyệt đối và tốc độ sinh trưởng tương đối
Tốc độ sinh trưởng của vật nuôi phụ thuộc vào loài, giống, giới tính, đặc điểm ngoại hình và điều kiện ngoại cảnh
+ Sinh trưởng tuyệt đối (A): là sự tăng lên về khối lượng, kích thước, thể tích cơ thể trong khoảng thời gian giữa 2 lần khảo sát Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabol, sinh trưởng tuyệt đối thường được tính bằng g/ngày
Trang 32+ Sinh trưởng tương đối (R): là tỷ lệ % tăng lên của khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể của lần khảo sát sau so với lần khảo sát trước Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng hypebol
2.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của lợn
Tăng khối lượng và tiêu tốn thức ăn có mối tương quan di truyền nghịch
và khá chặt chẽ đã được nhiều tác giả nghiên cứu kết luận, đó là: - 0,51 đến -0,56 (Nguyễn Văn Đức, 2001); -0,715 (Nguyễn Quế Côi và cs., 1996)
Về phương diện sinh trưởng và cho thịt ở lợn, mối quan tâm chủ yếu tới nhân tố di truyền chính là việc tạo ra ưu thế lai Chính vì vậy mà hầu hết đàn lợn thương phẩm ở các nước là lợn lai Con lai có ưu thế lai cao hơn bố mẹ về tăng khối lượng 10% (Sellier, 1998)
- Các yếu tố ngoại cảnh
• Ảnh hưởng của dinh dưỡng
Dinh dưỡng là một trong những nhân tố quan trọng nhất trong các nhân tố ngoại cảnh, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh trưởng và cho thịt ở lợn
Trong chăn nuôi chi phí cho thức ăn chiếm 70-80% giá thành sản phẩm, do đó chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng càng thấp thì hiệu quả kinh tế sẽ cao và ngược lại, qua nghiên cứu và thực tế cho thấy vật nuôi có khả năng sinh trưởng tốt do khả năng đồng hóa cao, hiệu quả sử dụng thức ăn cao thì tiêu tốn thức ăn thấp, do đó thời gian nuôi sẽ được rút ngắn tăng số lứa đẻ/nái/năm Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng chính là tỷ lệ chuyển hóa thức ăn của cơ thể Chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn và tăng khối lượng có mối tương quan nghịch do đó khi nâng cao khả năng tăng khối lượng có thể sẽ giảm chi phí thức ăn
Mối quan hệ giữa năng lượng và protein trong khẩu phần là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng khối lượng Đảm bảo cân đối dinh dưỡng thì con vật mới phát huy được tiềm năng di truyền của nó Thức ăn và giá trị dinh dưỡng
Trang 33là các nhân tố ảnh hưởng lớn đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt của con vật
Ngoài ra, phương thức nuôi dưỡng cũng có ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của con vật Khi cho lợn ăn khẩu phần ăn tự do, khả năng tăng khối lượng nhanh hơn, tiêu tốn thức ăn thấp hơn nhưng dày mỡ lưng lại cao hơn (Nguyễn Nghi và Bùi Thi ̣ Gợi, 1995) Khi lợn được ăn khẩu phần ăn hạn chế Lợn cho ăn khẩu phần thức
ăn hạn chế có tỷ lệ nạc cao hơn lợn cho ăn khẩu phần thức ăn tự do
• Ảnh hưởng của tính biệt
Lợn đực có tốc độ phát triển nhanh hơn lợn cái và lợn đực có khối lượng nạc cao hơn lợn cái và đực thiến Tuy nhiên, nhu cầu về năng lượng cho duy trì của lợn đực cũng cao hơn lợn cái và lợn đực thiến Một số công trình nghiên cứu khác lại cho rằng lợn đực thiến có mức độ tăng khối lượng cao hơn, tiêu tốn thức
ăn thấp hơn (Campell et al., 1985)
Lợn đực thiến có mức tăng khối lượng cao hơn lợn cái và tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cũng cao hơn Cụ thể các chỉ tiêu vỗ béo và giết thịt Landrace đạt được như sau: đối với lợn cái tăng khối lượng đạt 868 g/ngày Tiêu tốn thức ăn/ kg tăng khối lượng là 2,60 kg/kg Các chỉ tiêu tương ứng ở lợn đực thiến là 936,00 g/ngày và 2,70 kg/kg
• Ảnh hưởng của cơ sở chăn nuôi và chuồng trại
Cơ sở chăn nuôi và chuồng trại cũng ảnh hưởng đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt Cơ sở chăn nuôi biểu thị tổng hợp chế độ quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn Thông thường, lợn bị nuôi chật hẹp thì khả năng tăng khối lượng thấp hơn lợn được nuôi trong điều kiện chuồng trại rộng rãi
Tại thí nghiệm của Brumm and Miller (1996) cho thấy diện tích chuồng nuôi 0,56 m2/con thì lợn ăn ít hơn và tăng khối lượng cũng chậm hơn so với lợn được nuôi với diện tích 0,78 m2/con, năng suất của lợn đực thiến đạt tối đa khi nuôi ở diện tích 0,84 - 1,00 m2 Nghiên cứu của Nielsen et al (1995) cho thấy
lợn nuôi đàn thì ăn nhanh hơn, lượng thức ăn trong một bữa được nhiều hơn nhưng số bữa ăn trong ngày lại giảm và lượng thức ăn thu nhận hàng ngày lại ít hơn so với lợn nuôi nhốt riêng từng ô chuồng
Các tác nhân stress có ảnh hưởng xấu đến quá trình trao đổi chất và sức sản xuất của lợn, đó là: điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi, khẩu phần ăn không đảm bảo, chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc kém, vận chuyển, phân đàn, tiêm chủng, điều trị, thay đổi khẩu phần (Wood, 1986)
Trang 34• Ảnh hưởng của năm và mùa vụ
Có nhiều tác giả nghiên cứu về năm và mùa vụ trong chăn nuôi cho biết
chúng gây ảnh hưởng đến khả năng tăng khối lượng của lợn Pathiraja et al
(1990) cho biết sự khác nhau giữa năm và mùa ảnh hưởng đến tăng khối lượng
• Ảnh hưởng của tuổi và khối lượng giết mổ
Khả năng sản xuất và chất lượng thịt cũng phụ thuộc vào tuổi và khối lượng lúc giết thịt Giết thịt ở độ tuổi lớn hơn thì chất lượng thịt sẽ tốt hơn do sự tăng lên của các mô ở giai đoạn cuối của thời kỳ trưởng thành Song không nên giết thịt ở tuổi quá cao vì lợn sau 6 tháng tuổi khả năng tích lũy mỡ lớn dẫn đến
tỷ lệ nạc sẽ thấp và hiệu quả kinh tế kém
Chất lượng thịt lợn cũng thay đổi theo tuổi giết thịt là do thành phần cơ thể phát triển khác nhau ở từng giai đoạn Mô cơ phát triển rất mạnh ngay từ khi còn nhỏ nhưng tốc độ giảm dần, còn mô mỡ tốc độ tích lũy ngày càng tăng Tính
từ khi sinh ra đến 7 tháng tuổi khối lượng lợn tăng khoảng 100 lần, trong đó mô xương chỉ tăng khoảng 30 lần, mô cơ tăng 81 lần còn mô mỡ tăng tới 675 lần (Perez and Desmoulin, 1975)
2.4 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ KHẢ NĂNG CHO THỊT VÀ CHẤT LƯỢNG THỊT LỢN
* Các chỉ tiêu đánh giá năng suất cho thịt
Năng suất thân thịt đóng vai trò quan trọng quyết định đến hiệu quả kinh
tế trong chăn nuôi Năng suất thân thịt của lợn được đánh giá qua các chỉ tiêu: độ dày mỡ lưng (mm), độ dày cơ thăn (mm), tỷ lệ nạc (%), khối lượng móc hàm (kg), tỷ lệ móc hàm (%), khối lượng thịt xẻ (kg), tỷ lệ thịt xẻ (%), dài thân thịt (cm), diện tích cơ thăn (cm2) Khối lượng móc hàm được cân sau khi cạo lông,
bỏ tiết và nội tạng Tỷ lệ móc hàm được tính dựa trên khối lượng trước khi giết thịt và khối lượng móc hàm Khối lượng thịt xẻ được cân sau khi đã bỏ đầu và 4
Trang 35chân Tỷ lệ thịt xẻ được tính dựa trên khối lượng thịt xẻ và khối lượng trước giết thịt Dài thân thịt được xác định bằng thước dây đo từ đốt sống cổ số một (đốt
Atlas) đến xương Pubis Diện tích cơ thăn (cm2) được xác định bằng cách dùng giấy bóng kính in mặt cắt cơ thăn tại vị trí xương sườn 13 - 14, sau đó chuyển hình mặt cắt cơ thăn sang giấy kẻ ô vuông Cân khối lượng 100 cm2 giấy ô vuông (a gram) và hình mặt cắt cơ thăn trên giấy kẻ ô vuông (b gram) Diện tích cơ thăn được tính theo công thức: b (gram) x100 cm2/a (gram) Độ dày mỡ lưng và độ dày cơ thăn được đo bằng máy đo siêu âm Agroscan AL với đầu dò ALAL 350 (ECM, France) ở vị trí xương sườn 3 - 4 cuối, cách đường sống lưng 6 cm trên từng cá thể sống cùng với thời điểm cân khối lượng giai đoạn kết thúc (90 -
100kg) theo phương pháp đo của Youssao et al (2002)
Theo cách phân loại của cộng đồng chung châu Âu, thân thịt được phân loại dựa trên tỷ lệ nạc (Warriss, 2008) như sau:
* Các chỉ tiêu và phương pháp đánh giá chất lượng thịt lợn
Trong những tính trạng cảm quan, màu sắc thịt là chỉ tiêu quan trọng nhất bởi vì nó được người tiêu dùng chú ý trước tiên và màu sắc thịt cũng được sử dụng để chỉ mức độ tươi của thịt Màu sắc thịt phụ thuộc vào loài, tuổi, loại cơ và
sự khác biệt về màu sắc còn phụ thuộc vào lượng myoglobin (Mb) trong cơ Hàm lượng myoglobin trong cơ cao phụ thuộc vào lượng oxy dự trữ và chuyển hoá trong cơ Hàm lượng myoglobin trong cơ bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như sự vận động, khẩu phần ăn của lợn cũng như ảnh hưởng bởi yếu tố di truyền và môi trường Màu sắc thịt được xác định bằng máy Minolta CR-410 (Nhật Bản) với các chỉ số L* (lightness), a* (redness) và b* (yellowness) tại thời điểm 24 và 48 giờ sau giết thịt Giá trị pH của thịt là giá trị thể hiện quá trình a xít hoá của cơ sau giết thịt Tốc độ, phạm vi biến động của quá trình này có ảnh hưởng đặc biệt đến màu sắc và khả năng giữ nước của thịt Giá trị pH tại thời điểm 45 phút, 24h
Trang 36sau giết thịt (được xác định bằng máy Testo 230, Đức) làm cơ sở để xác định hiện tượng thịt DFD và PSE
Thịt DFD (Dark, Firm, Dry) có mầu sẫm, rắn chắc và khô là biểu hiện làm suy giảm chất lượng thịt lợn Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng DFD của thịt lợn
do lúc giết mổ hàm lượng glycogen trong cơ thấp và ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị pH của thịt làm cho giá trị pH cuối của thịt ở mức cao (pH > 6,0), dẫn đến mầu sắc thịt sẫm hơn, giảm thời gian sử dụng, mùi vị nhạt và làm thay đổi độ dai của thịt Thịt lợn có chất lượng tốt có giá trị pH tại thời điểm 45 phút sau giết thịt đạt 6,4, giá trị pH cuối thông thường trong khoảng từ 5,4 đến 6,0 và hàm lượng glycogen trong cơ dao động từ 1 - 5% Khi hàm lượng glycogen giảm xuống dưới 0,6% làm cho giá trị pH cuối của thịt tăng lên trên 5,7 Hàm lượng glycogen trong cơ trước khi giết mổ thấp do hai nguyên nhân:
+ Stress khi nhốt và quá trình giết mổ đã làm tăng tiết adrenalin, dẫn đến giảm sút lượng glycogen tích luỹ trong cơ;
+ Dinh dưỡng có thể làm tăng hoặc giảm lượng glycogen tích luỹ trong
cơ
Thịt PSE (Pale, Soft, Exudative) có mầu nhợt nhạt, mềm và rỉ dịch là hiện tượng thường thấy ở thịt lợn Nguyên nhân của hiện tượng này do giá trị pH giảm nhanh sau giết mổ trong khi nhiệt độ vẫn cao và do sự biến tính của các sợi
myofibrine protein (Warner et al., 1997) Hiện tượng thịt PSE do lợn bị stress
đau đớn quá mức trước và trong quá trình giết mổ Thịt PSE có giá trị pH tại thời điểm 45 phút sau giết thịt thấp hơn 6,0 và giá trị pH cuối đạt 5,3
Theo cách phân loại chất lượng thịt của Warner et al (1997); Joo et al (1999)
thịt chất lượng tốt có tỷ lệ mất nước bảo quản trong khoảng từ 2 - 5%, màu sắc thịt (L*) từ 40 - 50, giá trị pH 45 phút đạt trên 5,8 và giá trị pH 24h sau giết thịt đạt trong khoảng từ trên 5,4 đến dưới 6,1
2.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 2.5.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Hiện nay trên thế giới, đặc biệt là các nước trong khu vực như: Thái lan, Malaysia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản đã và đang nghiên cứu phát triển chăn nuôi các giống lợn bản địa theo hướng sinh thái hữu cơ, an toàn sinh học và
vệ sinh thực phẩm nhằm thúc đẩy kinh tế cho các vùng đồng bào dân tộc, tạo ra nguồn thực phẩm chất lượng cao có sức cạnh tranh để phục vụ tiêu dùng trong