1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ VNUA đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng dự án bệnh viện đa khoa thị xã và dự án trung tâm huấn luyện quốc gia về phòng chống khủng bố tại thị xã quảng yên, tỉnh quảng ninh

92 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng dự án bệnh viện đa khoa thị xã và dự án trung tâm huấn luyện quốc gia về phòng chống khủng bố tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
Tác giả Nguyễn Thị Hạnh
Người hướng dẫn PGS. TS. Trần Văn Chính
Trường học Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Quản lý đất đai
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 4,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN 1. MỞ ĐẦU (14)
    • 1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI (14)
    • 1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU (15)
    • 1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU (16)
    • 1.4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU (16)
  • PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (17)
    • 2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG (17)
      • 2.1.1. Khái quát về thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng (17)
      • 2.1.2. Một số yếu tố tác động tới quá trình giải phóng mặt bằng (22)
    • 2.2. CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG Ở MỘT SỐ NƯỚC VÀ TỔ CHỨC TRÊN THẾ GIỚI (26)
      • 2.2.1. Ở Trung Quốc (26)
      • 2.2.2. Ở Thái Lan (27)
      • 2.2.3. Ở Singapore (28)
      • 2.2.4. Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) (28)
      • 2.2.5. Những kinh nghiệm cho Việt Nam (29)
    • 2.3. CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG Ở VIỆT (30)
      • 2.3.1. Trước luật đất đai 1993 (30)
      • 2.3.2. Từ khi có luật đất đai 1993 đến 2003 (31)
      • 2.3.3. Từ khi có luật đất đai 2003 đến năm 2013 (31)
      • 2.3.4. Từ khi có luật đất đai 2013 đến nay (34)
    • 2.4. CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH (36)
  • PHẦN 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (38)
    • 3.1. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU (38)
    • 3.2. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU (38)
    • 3.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU (38)
    • 3.4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU (38)
      • 3.4.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thị xã Quảng Yên (38)
      • 3.4.2. Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng ở (38)
      • 3.4.3. Ý kiến của người dân có đất bị thu hồi về mức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (38)
      • 3.4.4. Ảnh hưởng của chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đến người dân có đất bị thu hồi ở 02 dự án nghiên cứu (38)
      • 3.4.5. Đề xuất một số giải pháp về việc thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất (38)
    • 3.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (38)
      • 3.5.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp (38)
      • 3.5.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp (39)
      • 3.5.3. Phương pháp lựa chọn hộ điều tra (39)
      • 3.5.4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu (40)
  • PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (41)
    • 4.1. KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA THỊ XÃ QUẢNG YÊN (41)
      • 4.1.1. Điều kiện tự nhiên (41)
      • 4.1.2. Các nguồn tài nguyên (46)
      • 4.1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội (52)
      • 4.1.4. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội (56)
    • 4.2. ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG (57)
      • 4.2.2. Khái quát về 2 dự án (60)
      • 4.2.3. Kết quả xác định đối tượng được bồi thường, hỗ trợ (63)
      • 4.2.4. Kết quả thực hiện chính sách bồi thường hỗ trợ ở 02 dự án (64)
      • 4.2.5. Đánh giá việc thực hiện chính sách tái định cư (71)
      • 4.2.6. Ý kiến của người dân có đất bị thu hồi về mức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (72)
    • 4.3. ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG ĐẾN NGƯỜI DÂN CÓ ĐẤT BỊ THU HỒI Ở 02 DỰ ÁN NGHIÊN CỨU (77)
      • 4.3.1. Tình hình sử dụng kinh phí được bồi thường hỗ trợ của người dân có đất bị thu hồi (77)
      • 4.3.2. Ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp (79)
      • 4.3.3. Ảnh hưởng đến lao động và việc làm của người dân có đất bị thu hồi (79)
    • 4.4. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT (81)
      • 4.4.1. Đánh giá chung về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở 2 dự án (81)
      • 4.4.2. Đề xuất giải pháp (84)
  • PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (88)
    • 5.1. KẾT LUẬN (88)
    • 5.2 KIẾN NGHỊ (89)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (91)

Nội dung

- Kết quả nghiên cứu việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng ở 2 dự án nghiên cứu: Dự án Bệnh viện đa khoa thị xã và Dự án trung tâm Huấn luyện quốc gia về phòng chống k

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

- Dự án Bệnh viện đa khoa thị xã nằm trong địa phận xã Tiền An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh

Dự án Trung tâm Huấn luyện quốc gia về phòng chống khủng bố được triển khai trên địa bàn năm xã, phường thuộc thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, gồm Minh Thành, Cộng Hòa, Tân An và Tiền An.

THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

- Thời gian thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng ở hai dự án nghiên cứu từ năm 2012 – 2016.

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Việc thực hiện chính sách giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất của hai dự án:

+ Dự án Bệnh viện đa khoa thị xã Quảng Yên (Gọi tắt là Dự án 1)

+ Dự án Trung tâm Huấn luyện quốc gia về phòng chống khủng bố (Gọi tắt là Dự án 2)

- Những hộ dân chịu ảnh hưởng của hai dự án nghiên cứu.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.4.3 Ý kiến của người dân có đất bị thu hồi về mức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

3.4.4 Ảnh hưởng của chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đến người dân có đất bị thu hồi ở 02 dự án nghiên cứu

3.4.5 Đề xuất một số giải pháp về việc thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp Phương pháp này để tìm hiểu và thu thập, hệ thống hóa và kế thừa các tài liệu đã nghiên cứu hoặc có liên quan đến đề tài, trên cơ sở đó có cái nhìn rõ nét về lĩnh vực nghiên cứu

Thu thập và tổng hợp đầy đủ các văn bản pháp luật liên quan đến chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng, bao gồm thông tư, nghị định và các quy định địa phương, từ các trang mạng của Chính phủ và cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh Việc nắm bắt kịp thời các quy định này giúp tham khảo và áp dụng hiệu quả chính sách, đồng thời tối ưu hóa nội dung cho SEO bằng cách nhấn mạnh các từ khóa chủ chốt như chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng, văn bản pháp luật, thông tư, nghị định, quy định địa phương, Chính phủ và Quảng Ninh.

Thu thập đầy đủ tài liệu và số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; thông tin về diện tích đất bị thu hồi, giá thị trường và giá đất bồi thường; đồng thời tổng hợp các bản đồ, sơ đồ liên quan đến hai dự án nghiên cứu từ các cơ quan của thị xã Quảng Yên như Phòng Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Phát triển quỹ đất, Văn phòng Đăng ký QSDĐ thị xã Quảng Yên và Phòng Kinh tế để làm cơ sở nghiên cứu.

- Tham khảo các công trình đã nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của các tác giả tham khảo trên internet và các nguồn khác

3.5.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp Phương pháp này được tiến hành bằng việc tiếp cận các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức có đất bị thu hồi để phỏng vấn, thu thập thông tin về công tác bồi thường giải phóng mặt bằng với số lượng phiếu điều tra 83 phiếu hộ gia đình, cá nhân thuộc các trường hợp bị thu hồi đất để thực hiện hai dự án nghiên cứu (Dự án 1: 45 hộ, dự án 2: 38 hộ) Ở dự án 1, số hộ dân bị thu hồi đất là 45 hộ, tiến hành điều tra cả 45 hộ Ở dự án 2 chọn hộ điều tra theo phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên từ các hộ dân có đất bị thu hồi: 38 hộ chiếm 31,7% tổng số hộ có đất bị thu hồi giai đoạn I

3.5.3 Phương pháp lựa chọn hộ điều tra Ở dự án 1, số hộ được điều tra phỏng vấn là tất cả hộ dân có đất bị thu hồi

Ở dự án này, các hộ dân bị thu hồi chủ yếu là đất ở trong khu dân cư tập trung, thuận lợi cho việc điều tra phỏng vấn, nên chúng tôi thực hiện điều tra trên toàn bộ số hộ dân bị thu hồi Ở dự án 2, số hộ dân bị thu hồi trải rộng trên địa bàn 3 xã/phường với phần diện tích bị thu hồi lớn hơn rất nhiều, chủ yếu là đất nông nghiệp, khó khăn cho công tác điều tra phỏng vấn nên chúng tôi điều tra tổng số 38 hộ tương đương 31,7% hộ dân có đất bị thu hồi ở giai đoạn I của dự án Phương pháp lựa chọn hộ điều tra như sau:

Dự án giai đoạn I thu hồi tổng diện tích 150,8 ha, gồm 5 loại đất chính: đất ở; đất trồng nuôi trồng thủy sản; đất trồng cây hàng năm còn lại; đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất, ngoài ra còn có một phần nhỏ diện tích đất hành lang đường và đất chưa sử dụng Tổng số hộ có đất bị thu hồi là 119 hộ Cách chọn hộ điều tra là căn cứ theo từng loại đất và số hộ có đất bị thu hồi ở mỗi loại đất đó Tỷ lệ hộ được phỏng vấn theo từng loại đất tương ứng với tỷ lệ số hộ có đất bị thu hồi trên tổng số hộ bị thu hồi của từng loại đất.

Đất nuôi trồng thủy sản ghi nhận 41 hộ bị thu hồi đất, chiếm 34,4% tổng số hộ có đất bị thu hồi Trong khuôn khổ điều tra, 13 hộ được chọn để tiến hành khảo sát nhằm làm rõ nguyên nhân và tác động của việc thu hồi đất đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản và các biện pháp xử lý liên quan.

Đất rừng sản xuất ghi nhận có 27 hộ bị thu hồi đất, chiếm 22,4% tổng số hộ có đất bị thu hồi Trong khuôn khổ nghiên cứu, 9 hộ được chọn để tiến hành điều tra.

Đất trồng cây hàng năm còn lại ghi nhận 26 hộ có đất bị thu hồi, chiếm 21,6% tổng số hộ có đất bị thu hồi Trong bước tiếp theo, 8 hộ từ nhóm này sẽ được chọn để tiến hành điều tra chi tiết.

Đất trồng cây lâu năm ghi nhận 24 hộ bị thu hồi đất, chiếm 20,8% tổng số hộ có đất bị thu hồi; từ danh sách này sẽ chọn 7 hộ để tiến hành điều tra.

- Đất ở: Có 1 hộ dân có đất bị thu hồi chọn hộ dân này để tiến hành điều tra

3.5.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu Các số liệu điều tra được tiến hành tổng hợp, phân tích và xử lý bằng phần mềm Excel

Việc đánh giá thực thi chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng được dựa trên ba nội dung chính: tình hình thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; với mỗi tiêu chí được đánh giá bằng cách so sánh thực tế quá trình thực hiện với các quy định pháp lý trên ba khía cạnh: xác định đối tượng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; cách thức tiến hành; kết quả thực hiện Để đánh giá tác động của việc thu hồi đất, nghiên cứu đã tiến hành điều tra ý kiến của người có đất bị thu hồi dựa trên các tiêu chí: việc thực hiện chính sách, mức độ phù hợp của chính sách, mục đích sử dụng tiền bồi thường và tình hình đời sống của người dân sau khi bị thu hồi đất Từ đó rút ra các giải pháp phù hợp với thực tế ở thị xã Quảng Yên.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA THỊ XÃ QUẢNG YÊN

Quảng Yên là một thị xã trung du ven biển nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Quảng Ninh, có tọa độ địa lý từ vĩ độ Bắc 20°45'06” đến 21°02'09” và kinh độ Đông tương ứng.

Phía Bắc giáp huyện Hoành Bồ;

Phía Tây bắc giáp thành phố Uông Bí;

Phía Tây nam giáp huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng;

Phía Đông giáp thành phố Hạ Long;

Phía Nam giáp đảo Cát Bà - thành phố Hải Phòng

Thị xã Quảng Yên có diện tích tự nhiên 337,57 km 2 gồm 19 xã phường (trong đó có 11 xã và 8 phường)

Với vị trí địa lý tối ưu nằm giữa ba thành phố Hải Phòng, Hạ Long và Uông Bí, Quảng Yên có hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy thông suốt, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và mở cửa giao lưu thương mại trong nước cũng như quốc tế qua tuyến đường biển Thị xã còn có tiềm năng lớn để liên kết không gian kinh tế với các thành phố lân cận, hình thành trục kinh tế động lực ven biển Hải Phòng – Quảng Yên – Hạ Long thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.

4.1.1.2 Địa hình địa mạo Thị xã Quảng Yên nằm trong khu vực giáp ranh giữa vùng núi cánh cung Đông Triều - Móng Cái và vùng đồng bằng ven biển có nhiều sông lạch nên địa hình đa dạng, phức tạp Sông Chanh là một nhánh của sông Bạch Đằng đã chia Thị xã Quảng Yên thành 2 vùng rõ rệt a Vùng Hà Bắc Gồm 7 phường và 4 xã nằm bên tả ngạn sông Chanh Địa hình chủ yếu là đồi núi thấp, ruộng bậc thang, xen kẽ là những khu đất rộc, mang dáng dấp của miền trung du thấp dần về phía ven biển, có một số đồi cao, núi thấp (núi Bàn Cờ

450 m, núi Na 225 m và núi Vũ Tướng 200 m)

Vùng đất mới hình thành từ quá trình khai hoang lấn biển ở các xã Sông Khoai, phường Tân An và phường Hà An khiến địa hình nơi đây bằng phẳng hơn và thuận tiện cho phát triển kinh tế - xã hội Có một xã đảo Hoàng Tân, nay đã được nối liền với các xã khác bằng tuyến đường trục huyện Chợ Rộc - Hoàng Tân, tăng cường kết nối giao thông và thúc đẩy lưu thông hàng hóa, du lịch và dịch vụ trên địa bàn.

Xã Hoàng Tân có địa hình chủ yếu là đồi núi, phần còn lại là đất cát pha ở vùng thấp chịu ảnh hưởng của biển và các cửa sông bao quanh như sông Hốt, sông Bình Hương và sông Bến Giang, thuộc vùng Hà Nam.

Gồm 4 phường và 4 xã nằm ở hữu ngạn sông Chanh được hình thành từ thế kỷ thứ XV là một hòn đảo được bao bọc bởi 34 km đê biển với cao trình 5,5 m Đây là vùng đất tạo nên do quai đê lấn biển, mở rộng các bãi bồi ven sông và bãi sú vẹt ven biển Vùng này bằng phẳng nhưng địa hình thấp so với mặt nước biển, chịu ảnh hưởng trực tiếp của biển nên đất chua mặn là chủ yếu Khu ngoài đê là vùng bãi triều đã và đang được khoanh bao để nuôi trồng thủy hải sản tạo điều kiện phát triển ngành thuỷ sản

Hình 4.2 Sông Chanh, chia thị xã Quảng Yên thành 2 phần là Hà Nam và

Thị xã Quảng Yên nằm ở khu vực trung du ven biển và chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nên có nhiệt độ nóng ẩm và lượng mưa lớn Dữ liệu từ Trạm dự báo khí tượng thủy văn Quảng Ninh cho thấy các đặc trưng khí hậu của Quảng Yên được thể hiện rõ qua bảng 4.1, phản ánh sự phân bố nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa theo mùa.

Lượng mưa trung bình hàng năm tại thị xã Quảng Yên khoảng 1955 mm; năm có lượng mưa lớn nhất là 2636 mm và nhỏ nhất 916 mm Mưa phân bố không đều theo năm và phân hoá theo mùa, hình thành hai mùa trái ngược là mùa mưa nhiều và mùa mưa ít, chi phối mạnh tới nền sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp địa phương.

Mùa mưa kéo dài 6 tháng, từ tháng 5 đến tháng 10, tập trung 88% tổng lượng mưa cả năm Tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 7, đạt 466,6 mm.

Mùa mưa ít: Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa rất nhỏ chỉ chiếm 12% lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa ít nhất là tháng 12 (19 mm)

Bảng 4.1 Một số yếu tố khí hậu của thị xã Quảng Yên giai đoạn 2005 -2015

Yếu tố ĐVT Tháng Tổng

Nhiệt độ trung bình Độ C 15,7 17,7 19,8 23,6 27,3 28,9 28,8 28,2 27,5 25,6 22,3 17,9 Nhiệt độ trung bình năm: 23,6

Số giờ nắng trung bình

Giờ 66,9 43,1 20,9 77,9 155,6 167 165,2 148,7 152,0 152,8 139,6 96,6 1386,3 Độ ẩm không khí

% 78,7 85,4 87,2 85,5 83,1 84,3 84 85,4 82,1 77,8 76,5 75 Độ ẩm trung bình năm: 82,1

Tại trạm quan trắc Bãi Cháy

Nguồn: Niên giám thống kê

Ở vùng thấp dưới 200 m, tổng tích ôn đạt 8.000 °C và nhiệt độ trung bình năm là 23,6 °C Ở vùng cao từ 200 m đến 1.000 m, tổng tích ôn thấp hơn, dưới 7.500 °C, và nhiệt độ trung bình năm khoảng 23–24 °C.

Thị xã Quảng Yên chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc nên mùa đông khá lạnh, nhiệt độ trung bình tháng 1 ở vùng ven biển dao động từ 13 - 14 0 C

Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối vào tháng 12 và tháng 1 ở mức khoảng 3,0°C Mùa hè có nhiệt độ khá cao, với giá trị trung bình tháng 7 ở hầu hết các nơi trong thị xã khoảng 28,8°C Nhiệt độ tối cao tuyệt đối đạt tới 38,9°C.

Ở thị xã Quảng Yên, số giờ nắng trong năm cao hơn so với các huyện khác trong tỉnh, cho thấy tiềm năng lớn về nguồn năng lượng mặt trời Trong giai đoạn 2005–2015, số giờ nắng trung bình đạt khoảng 1386,3 giờ mỗi năm Lượng nắng tập trung nhiều từ tháng 5 đến tháng 12, trong khi tháng có số giờ nắng ít nhất là tháng 2 và tháng 3.

Độ ẩm không khí ở thị xã được xác định là mức độ ẩm tương đối trung bình hàng năm, đạt 82,1%; đỉnh điểm vào tháng 3 lên tới 87,2% và thấp nhất vào tháng 12 là 75% Sự chênh lệch độ ẩm giữa các vùng trong thị xã không lớn, phụ thuộc vào độ cao, địa hình và sự phân hoá theo mùa; mùa mưa có độ ẩm cao hơn mùa khô.

Thị xã Quảng Yên có 2 loại gió thổi theo mùa chính là gió đông bắc và gió đông nam:

Gió đông bắc thịnh hành từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Trong thời kỳ này, gió bắc và gió đông bắc có tốc độ từ 2 đến 4 m/s Gió mùa đông bắc tràn về theo từng đợt, mỗi đợt kéo dài từ 3 đến 5 ngày; trong các đợt gió này, gió đạt tới cấp gió mạnh.

5 - 6, ngoài khơi cấp 7 - 8 Đặc biệt gió mùa đông bắc tràn về thường lạnh, giá rét ảnh hưởng đến mùa màng, gia súc và sức khoẻ con người

Gió đông nam là hiện tượng thời tiết thịnh hành từ tháng 5 đến tháng 9, khi gió nam và gió đông nam thổi từ vịnh vào đất liền, mang theo nhiều hơi nước và làm tăng độ ẩm cho khu vực ven biển Tốc độ gió trung bình dao động từ 2 đến 4 m/s, ở cấp 2–3 và đôi khi lên tới cấp 5–6.

ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG

4.2.1 Tình hình thu hồi đất để thực hiện các dự án trên địa bàn thị xã Quảng Yên

Thị xã Quảng Yên, trước đây là một huyện thuần nông, được tái lập thành thị xã từ năm 2012 và có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế gắn với quá trình hiện đại hóa và đô thị hóa của cả nước Trong những năm gần đây, địa phương này đã thu hút vốn đầu tư và chứng kiến nhiều dự án lớn được triển khai trên địa bàn Trong giai đoạn 2012 – 2016, tình hình thu hồi đất để thực hiện các dự án tại Quảng Yên được thể hiện rõ ở bảng 4.4.

Bảng 4.4 Tình hình thu hồi đất để thực hiện các dự án trên địa bàn thị xã

Loại dự án Số lượng

Dự án chưa thực hiện xong

Dự án phát triển kinh tế 10 Trên 95% 1

Người dân không nhận tiền bồi thường do giá bồi thường về đất thấp

Dự án phát triển văn hóa xã hội 12 Trên 97% 1

Người dân không đồng ý nhận đất tái định cư, cũng không đồng ý tìm nơi ở mới Yêu cầu được TDC ô đất khác

Dự án quốc phòng an ninh 5 Trên 98% 1 Mới thực hiện xong giai đoạn 1

Nguồn: Ban quản lý dự án TX Quảng Yên Nhận xét:

Trong giai đoạn 2012–2016, trên địa bàn thị xã Quảng Yên đã thực hiện tổng cộng 27 dự án ở quy mô vừa và lớn, trong đó có 10 dự án phục vụ phát triển kinh tế, 12 dự án phục vụ phát triển xã hội và 5 dự án phục vụ mục đích an ninh quốc phòng.

- Hầu hết các dự án có tỷ lệ thu hồi đất cao, gần như bàn giao được đất sạch cho chủ đầu tư Tỷ lệ thu hồi đất đạt 95% - 98%

Đến thời điểm hiện tại, còn 3 dự án chưa hoàn tất, nguyên nhân chủ yếu là đơn giá bồi thường đất đai và chính sách tái định cư còn chưa được giải quyết thỏa đáng Đánh giá chung cho thấy hai yếu tố này đang ảnh hưởng tới tiến độ dự án và cần các biện pháp điều chỉnh phù hợp để đẩy nhanh tiến độ thi công.

Giải phóng mặt bằng là một nhiệm vụ trọng tâm và dài hạn, đóng vai trò then chốt trong phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng - an ninh của địa phương Tuy vậy, công tác này còn nhiều khó khăn, phức tạp vì ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sản xuất của người dân có đất bị thu hồi Hiện nay, các vụ khiếu kiện liên quan đến thu hồi đất và bồi thường GPMB trở thành vấn đề nhức nhối và nghiêm trọng, tác động không chỉ đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mà còn liên quan đến tình hình chính trị và định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước.

Trên cơ sở các quy định chung của cả nước và của tỉnh, thị xã Quảng Yên đã áp dụng và vận dụng linh hoạt các chính sách bồi thường và hỗ trợ để tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người dân Nhờ sự điều chỉnh linh hoạt này, hầu hết các dự án đều nhận được sự đồng thuận và hưởng ứng của người dân, đồng thời giảm thiểu đáng kể khiếu kiện tại địa phương.

Cùng với những thành công đã đạt được thì quá trình xây dựng phương án, tính toán giá trị bồi thường các dự án trên địa bàn thị xã đã bộc lộ những hạn chế, như:

+ Đơn giá đất chưa sát với giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường Vì thế không đáp ứng được cùng lúc bảy mục đích mà quy định đã đề ra, đặc biệt là vướng mắc trong việc tính toán bồi thường về đất

+ Việc xây dựng đơn giá đất thông qua lấy ý kiến từ phường, xã là những cơ quan thiếu chuyên môn là một điều không phù hơp, không thiết thực

Việc thu thập thông tin về giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất của cơ quan chuyên môn còn hạn chế, chủ yếu dựa trên hồ sơ chuyển nhượng nộp tại cơ quan Thuế và Tài nguyên và Môi trường nên chưa phản ánh đúng thực tế giao dịch Các hồ sơ này thường không cho thấy giá thực tế và chưa có các cuộc điều tra theo hướng thực tế để đối chiếu, dẫn đến thiếu sót trong thông tin Việc thu thập dữ liệu một chiều và thiếu sự đối chiếu khiến cơ sở dữ liệu về giá chuyển nhượng còn chưa đủ cơ sở để phân tích và đưa ra nhận định đáng tin cậy.

Để thu hút đầu tư, đơn giá đất thường được xác định ở mức thấp hơn giá thị trường, dẫn đến thất thoát ngân sách Nhà nước khi tính phí sử dụng đất, giao đất không thông qua đấu giá và cho thuê đất Đồng thời, đơn giá bồi thường đất ở mức thấp là thách thức lớn nhất đối với công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người bị thu hồi đất và hiệu quả thực hiện dự án.

Vấn đề vướng mắc lớn nhất sau khi ban hành đơn giá bồi thường đất là công tác bố trí tái định cư Đối với người bị thu hồi đất, việc bố trí tái định cư được xem như cơ hội để Nhà nước bù đắp sự chênh lệch giữa đơn giá bồi thường và giá trị thực tế, đồng thời là động lực để họ bàn giao mặt bằng và chuyển đến nơi ở mới Tuy nhiên, ở một số dự án, đặc biệt là ở khu vực trung tâm đô thị, người bị thu hồi đất ở vị trí kinh doanh thuận lợi lại không được bố trí quỹ đất tái định cư đáp ứng nguyện vọng của họ, và quỹ đất này chưa đáp ứng đúng yêu cầu về bồi thường, giải phóng mặt bằng theo quy định.

Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ngày càng được Nhà nước quan tâm giải quyết thỏa đáng, tuy nhiên việc thay đổi chính sách và thiếu sự vận dụng cụ thể, linh hoạt đã dẫn tới sự khác biệt về mức bồi thường, hỗ trợ giữa các dự án và gây tranh chấp, khiếu kiện kéo dài của người bị thu hồi đất; việc giải phóng mặt bằng để thực hiện một số dự án không bảo đảm tiến độ do thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, ngành, đồng thời công tác tuyên truyền, vận động và giải thích cho nhân dân chưa được làm tốt hoặc né tránh, thiếu quyết đoán, khiến quá trình giải phóng mặt bằng kéo dài nhiều năm; đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng được tập huấn từ nhiều ngành khác nhau nhưng thiếu kinh nghiệm, chưa am hiểu sâu pháp luật đất đai, lúng túng trong việc giải thích chính sách cho nhân dân và thậm chí vi phạm quy định, dẫn tới khiếu nại và phải tạm dừng việc giải phóng mặt bằng.

Việc nhiều nhà đầu tư không có đủ khả năng tài chính để bồi thường và hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi khiến dự án gặp rủi ro; đồng thời, ngân hàng rút cam kết và không cho vay vốn khi thị trường bất động sản chững lại đã làm giảm đáng kể nguồn vốn huy động, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ triển khai các dự án.

Trong nhiều trường hợp, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã được thực thi đúng pháp luật và đáp ứng nhu cầu của người dân, nhưng một bộ phận người sử dụng đất do thiếu hiểu biết pháp luật hoặc cố ý trì hoãn để được nhận thêm bồi thường nên không chấp hành quyết định thu hồi đất, thậm chí liên kết khiếu nại quy mô lớn để gây áp lực lên cơ quan Nhà nước Trong khi đó, cơ chế giải quyết đơn thư khiếu nại còn tồn tại nhiều bất cập, khiến quá trình giải quyết kéo dài và dẫn đến ách tắc trong công tác giải phóng mặt bằng.

Việc thực hiện nghiên cứu đề tài này mong muốn đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng trên địa bàn thị xã Quảng Yên Các giải pháp này nhắm tăng cường sự công khai, minh bạch và tính phù hợp của quá trình bồi thường với thực tế địa phương, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng và bảo đảm quyền lợi cho người bị thu hồi đất Bên cạnh đó, nghiên cứu sẽ đề xuất các cơ chế triển khai và giám sát để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, đồng thời tăng cường sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan.

4.2.2 Khái quát về 2 dự án 4.2.2.1 Dự án Bệnh viện đa khoa thị xã

Được thành lập từ việc sát nhập Trung tâm Y tế thị xã Quảng Yên và Bệnh viện Đa khoa thị xã Quảng Yên theo Quyết định số 1328/QĐ-UBND ngày 29/4/2016 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh, cơ sở y tế này nhằm tăng quy mô và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người dân địa phương.

Hình 4.4 Trung tâm y tế thị xã Quảng Yên trực thuộc Sở y tế tỉnh Quảng Ninh

ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG ĐẾN NGƯỜI DÂN CÓ ĐẤT BỊ THU HỒI Ở 02 DỰ ÁN NGHIÊN CỨU

4.3.1 Tình hình sử dụng kinh phí được bồi thường hỗ trợ của người dân có đất bị thu hồi

Qua điều tra cho thấy, sau khi nhận tiền bồi thường và hỗ trợ từ hai dự án nghiên cứu, các hộ dân có đất bị thu hồi đã sử dụng số tiền này cho các mục đích chính như đầu tư vào sản xuất, kinh doanh và dịch vụ; xây dựng, sửa chữa nhà ở; mua sắm; tiết kiệm; đầu tư cho học hành và các mục đích khác, được tổng hợp từ phiếu điều tra và thể hiện trong bảng 4.14.

Từ bảng 4.14 ta thấy người dân có đất bị thu hồi:

+ Dùng tiền đầu tư vào sản xuất kinh doanh dịch vụ: Ở dự án 1 có 5 hộ (11,1%), ở dự án 2 có 9 hộ (23,7%)

+ Dùng tiền để xây dựng, sửa chữa nhà: Ở dự án 1 có 12 hộ (26,7%), ở dự án 2 có 15 hộ (39,5%)

+ Dùng tiền mua sắm: Ở dự án 1 có 5 hộ (11,1 %), ở dự án 2 có 7 hộ (18,4 %)

Bảng 4.14 Phương thức sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của người dân có đất bị thu hồi ở 02 dự án nghiên cứu

Nội dung Dự án 1 Dự án 2

1.Đầu tư sản xuất kinh doanh, dịch vụ 5 11,1 9 23,7

2.Xây dựng, sửa chữa nhà cửa 12 26,7 15 39,5

+ Dùng tiền để tiết kiệm: Ở dự án 1 có 22 hộ (48,9%), ở dự án 2 có 32 hộ (84,2%)

+ Dùng tiền đầu tư học hành: Ở dự án 1 có 5 hộ (11,1%), ở dự án 2 có 5 hộ (13,16%)

+ Dùng tiền vào mục đích khác: ở dự án 1 có 33 hộ (73,3%), ở dự án 2 có

15 hộ (39,5%) như trả nợ, chia cho con cái, đóng góp

Khi đất của hộ dân bị thu hồi, tiền bồi thường và hỗ trợ không được dùng cho một mục đích duy nhất Thay vào đó, họ chia nhỏ số tiền nhận được thành nhiều khoản và phân bổ cho các mục đích khác nhau như chi phí sinh hoạt, sửa chữa nhà ở, chi phí học tập cho con cái hoặc đầu tư sinh kế nhằm đảm bảo ổn định kinh tế gia đình.

Ở dự án 1, tỷ lệ hộ dân dùng tiền đền bù để đầu tư vào sản xuất, kinh doanh dịch vụ thấp hơn ở dự án 2, bởi việc thu hồi đất ở dự án 1 ảnh hưởng tới việc làm của người dân nhẹ hơn dự án 2 Ở dự án 2, số hộ dùng tiền đền bù để đầu tư vào sản xuất kinh doanh chủ yếu là những người dưới 35 tuổi, là hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất nuôi trồng thủy sản hoặc đất rừng sản xuất; họ dùng tiền bồi thường và hỗ trợ để chuyển sang một công việc mới.

Đa phần các hộ dân dùng tiền bồi thường, hỗ trợ để gửi tiết kiệm Những hộ này chủ yếu là người đã quá già hoặc sắp qua ngưỡng nghỉ hưu, con cái đã thành gia lập thất, có một khoản tiền lớn chưa biết sử dụng vào mục đích gì nên chọn gửi tiết kiệm Việc gửi tiết kiệm được xem như cách tích lũy an toàn, giúp ổn định tài chính cho tương lai và đảm bảo an sinh khi về già.

Rất ít hộ dân bỏ tiền đầu tư cho việc học hành của con cái, cho thấy trình độ dân trí còn thấp và sự quan tâm đến giáo dục chưa đủ cao Họ dường như không chú trọng tới việc cho con em mình có một môi trường học tập tốt nhất.

4.3.2 Ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp

Sự ảnh hưởng này chủ yếu là ở dự án 2, vì ở dự án này diện tích đất thu hồi chính là đất nông nghiệp

Đất đai vừa là công cụ sản xuất, vừa là tư liệu sản xuất của con người, đặc biệt không thể thay thế trong ngành nông nghiệp Việc thu hồi đất đã làm giảm diện tích đất nông nghiệp, trong đó giai đoạn 1 của dự án đã làm giảm 150,8 ha đất nông nghiệp, bao gồm đất nuôi trồng thủy sản, đất rừng sản xuất, đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm.

Quỹ đất nông nghiệp không thể mở rộng trong khi dân số ngày càng tăng; diện tích đất bị thu hẹp dẫn đến việc không còn đất để sản xuất nông nghiệp, khiến người dân phải chuyển sang ngành nghề khác để lao động và làm mờ dần kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là nuôi trồng thủy sản và trồng rừng Đối với những hộ bị thu hồi một phần đất nông nghiệp, sự giảm diện tích buộc họ phải điều chỉnh mô hình sản xuất để phù hợp với đất còn lại.

4.3.3 Ảnh hưởng đến lao động và việc làm của người dân có đất bị thu hồi Lao động và việc làm là hai yếu tố quyết định tới thu nhập và là nguyên nhân của sự phân hóa giàu nghèo Do không còn quỹ đất canh tác dự trữ để bồi thường, nên khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để thực hiện các dự án, cũng như các địa phương khác, thị xã Quảng Yên thực hiện bồi thường, hỗ trợ bằng tiền Cùng với quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang mục đích công nghiệp, đô thị, việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi bị thu hồi đã có những tác động rõ rệt đến vấn đề lao động, việc làm của người dân Ta có bảng 4.15

Bảng 4.15 Cơ cấu việc làm theo lĩnh vực trước và sau khi thu hồi đất

Công việc Dự án 1 Dự án 2

Nguồn: Tổng hợp phiếu điều tra Ở dự án 1, diện tích thu hồi đất chủ yếu là đất ở và đất vườn trong cùng một thửa đất có nhà ở; có hai hộ dân bị thu hồi đất rừng sản xuất, tuy nhiên hai hộ này không bị thu hồi hết diện tích, phần diện tích đất rừng sản xuất còn lại vẫn đủ để họ tiếp tục sản xuất Do vậy, việc thu hồi đất ở dự án 1 không tác động đến cơ cấu lao động theo lĩnh vực Ở dự án 2, diện tích thu hồi đất chủ yếu là đất nông nghiệp, với diện tích lớn, nên việc thu hồi đất chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và lao động nông nghiệp.

Lao động trong lĩnh vực nông nghiệp đã giảm từ 56 người xuống còn 34 người Nguyên nhân là việc thu hồi đất nông nghiệp khiến nhiều lao động mất việc và rơi vào thất nghiệp, trong khi một bộ phận khác đã chuyển sang làm việc ở các ngành công nghiệp, dịch vụ và các lĩnh vực khác.

Việc giảm lao động trong nông nghiệp đi đôi với sự gia tăng lao động ở hai lĩnh vực khác là công nghiệp và dịch vụ Cụ thể, lao động trong công nghiệp tăng từ 57 lên 61 người, còn lao động trong dịch vụ tăng từ 8 lên 15 người, cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ.

Những lao động chuyển sang ngành công nghiệp và dịch vụ thường là những người trẻ dưới 35 tuổi, có khả năng học hỏi và mang theo các ý tưởng kinh doanh Họ có thể nhanh chóng thích nghi với môi trường làm việc mới và biến những ý tưởng đó thành các sáng kiến thực tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp và dịch vụ.

Ở dự án này, lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp sau khi thu hồi đất giảm 22 người, trong khi lao động ở các lĩnh vực khác tăng thêm chỉ 11 người Như vậy có 11 người trong các hộ được phỏng vấn trước khi thu hồi đất làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp; sau thu hồi họ trở nên thất nghiệp, và đều là những người trên 35 tuổi Họ ngại tiếp thu cái mới, lâu ngày không tiếp xúc với học hành, nên khả năng cao không thể thích nghi với môi trường lao động mới, vì vậy họ không dễ dàng tìm được việc làm ngay sau khi bị thu hồi đất.

Những người trên 35 tuổi là nhóm lao động dễ bị tổn thương sau khi đất sản xuất được thu hồi, vì ở độ tuổi này họ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm ổn định tại các doanh nghiệp Đây là đối tượng cần được Nhà nước quan tâm và có nhiều chính sách hỗ trợ nhằm giúp họ tiếp cận công việc, tăng thu nhập và giảm thiểu gánh nặng cho gia đình.

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

HỖ TRỢ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT 4.4.1 Đánh giá chung về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở 2 dự án 4.4.1.1 Những mặt đã đạt được

Trong thời gian qua, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đã có nhiều sự điều chỉnh nhằm mang lại lợi ích cho người bị thu hồi đất Từ Nghị định 197/2004/NĐ-CP đến Nghị định 84/2007/NĐ-CP, Nghị định 69/2009/NĐ-CP và hiện nay là các nghị định 43, 44, 45, 46, 47 năm 2014 của Chính phủ, các quy định ngày càng có lợi cho người dân và thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước tới người dân bị thu hồi đất Lợi ích giữa các bên liên quan gồm Nhà nước, người dân và nhà đầu tư đã được cân bằng và hài hòa hơn; ngoài việc bồi thường, các chính sách hỗ trợ nhằm ổn định cuộc sống của người dân ngày càng được chú trọng hơn, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tái định cư và sinh kế sau thu hồi đất.

- Việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đã theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo tính công bằng, dân chủ, công khai

Trong tiến trình triển khai, Dự án 1 đã hoàn thành bồi thường và giải phóng mặt bằng đúng tiến độ, góp phần đẩy nhanh tiến độ và thời gian hoàn thành dự án, với diện tích thu hồi chủ yếu là đất ở; Dự án 2 đã hoàn tất giai đoạn 1, với diện tích thu hồi là đất nông nghiệp nên công tác bồi thường, hỗ trợ cho người dân gặp không nhiều khó khăn.

Hội đồng GPMB, Trung tâm Phát triển quỹ đất và các cơ quan chức năng liên quan đã áp dụng rất tốt Luật Đất đai, các nghị định hướng dẫn thi hành, các thông tư và quyết định của UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện vào thực tế công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng.

Công tác tuyên truyền và vận động người dân cần được thực hiện đồng bộ nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng và sự cần thiết của hai dự án, đồng thời thúc đẩy việc tuân thủ pháp luật một cách chặt chẽ Nội dung truyền thông được diễn đạt rõ ràng, nhất quán và dễ tiếp cận qua nhiều kênh, giúp người dân hiểu lợi ích trực tiếp của dự án và tham gia tích cực vào quá trình thực hiện Việc kết hợp giữa tuyên truyền và minh bạch thông tin không chỉ tăng hiệu quả triển khai mà còn tăng cường sự đồng thuận và tin tưởng của cộng đồng với các dự án.

Việc thu hồi đất ở Quảng Yên đã nâng cao đời sống người dân rõ rệt, mở ra nhiều cơ hội việc làm với thu nhập cao và giúp cuộc sống gia đình ổn định, dễ chịu hơn, đồng thời khuyến khích họ đầu tư cho con cái học hành, tích lũy tài sản và nâng cấp các tiện nghi sinh hoạt Kinh tế hộ gia đình được phục hồi và tăng trưởng; nông dân thường có đất đai rộng, có sân, có vườn, ao để trồng trọt và chăn nuôi, thể hiện qua mức sống được cải thiện Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của thị xã, thị trường bất động sản ngày càng phát triển; nguồn vốn đầu tư vào bất động sản ở Quảng Yên không chỉ đến từ Quảng Ninh mà còn từ nhiều tỉnh, thành khác trong nước Giá đất tăng khiến nhiều nông dân trở nên giàu có.

4.4.1.2 Những hạn chế và nguyên nhân a Hạn chế Ở dự án 1 kết quả giải phóng mặt bằng đạt hơn 99% và ở dự án 2 đã hoàn thành giai đoạn I của việc thu hồi đất, tuy nhiên 2 dự án này là một trong những dự án đầu tiên mà việc giải phóng mặt bằng được thực hiện theo luật đất đai

2013, nên trong quá trình thực hiện còn nhiều hạn chế như:

Người dân chưa được tiếp cận một cách chi tiết với các chính sách bồi thường, hỗ trợ khi bị thu hồi đất; các chính sách này còn khó hiểu và được tham chiếu qua rất nhiều văn bản, gây khó khăn cho cả cơ quan thực hiện bồi thường lẫn người dân Do không nắm rõ thông tin nên khi bị thu hồi đất đột ngột, người dân mất nơi ở và nơi lao động, ảnh hưởng tới đời sống và dễ bị kích động, từ đó phát sinh khiếu kiện và không chấp hành các quyết định thu hồi đất Khi xảy ra khiếu nại, thời gian giải quyết thường kéo dài, phức tạp và rườm rà, ảnh hưởng đến tiến độ giải phóng mặt bằng.

- Giá đất bồi thường thấp

Trong dự án 1, giá bồi thường đất vườn trong cùng thửa đất có nhà ở có thể bị điều chỉnh, như một trường hợp thực tế sau đây: hai hộ liền kề có diện tích đất vườn ở cùng thửa đất có nhà ở được bồi thường, nhưng một hộ chuyển mục đích sử dụng từ đất vườn sang đất ở Theo Nghị định 45/QĐ-UBND ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất, hộ dân này phải nộp 50% phần chênh lệch giữa giá đất ở và đất trồng cây lâu năm Khi được bồi thường, hộ này sẽ nhận được 100% giá bồi thường đất ở (cao hơn giá nhà nước) Các hộ lân cận có thể so sánh và dẫn tới khiếu kiện, khiếu nại.

Trong dự án 2, giá bồi thường đất nông nghiệp được thể hiện rõ và cho thấy có sự chênh lệch so với giá thị trường, tuy mức chênh lệch không lớn nhưng vẫn ảnh hưởng đến các hộ dân có đất bị thu hồi Sự khác biệt này có thể tác động đến thu nhập và sinh kế của họ khi đất nông nghiệp bị thu hồi để phục vụ dự án, vì vậy cần cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo quyền lợi người dân và mức đền bù phù hợp với tình hình thị trường.

Trình độ của người nông dân còn rất hạn chế, đa số chưa được đào tạo bài bản Khi thu hồi đất khiến công việc đang làm không thể tiếp tục, họ buộc phải tìm những công việc phù hợp với khả năng, chủ yếu là lao động thủ công và làm công ăn lương Tuy nhiên, những công việc này thường không ổn định và bấp bênh, phụ thuộc nhiều vào sức khỏe và điều kiện sống Đối với chính quyền và nhà đầu tư, việc hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp chủ yếu bằng tiền, nhằm giải phóng mặt bằng nhưng ít quan tâm tới cuộc sống sau thu hồi của người dân Việc đào tạo để chuyển đổi nghề nghiệp cho người dân chưa được quan tâm đầy đủ, khiến nhiều hộ gặp khó khăn trong cuộc sống hậu thu hồi đất sản xuất.

Chính sách tái định cư hiện chưa hợp lý do quỹ đất địa phương hạn chế và quy hoạch khu tái định cư chưa mang tính chủ động, khiến các khu đất tái định cư thường không nằm ở vị trí thuận lợi cho đời sống sản xuất và sinh hoạt; vì vậy nhiều hộ dân chọn nhận tiền đền bù và tự tìm nơi ở tái định cư mới Nguyên nhân của tình trạng này xuất phát từ sự thiếu đồng bộ giữa phân bổ đất ở, quy hoạch đất đai và nguồn lực tại địa phương, dẫn tới thiếu khu đất ở phù hợp và hạn chế các lựa chọn cho người dân.

Công tác tuyên truyền cho người dân về các chính sách bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất đang chưa được thực hiện hiệu quả, khiến người dân thiếu hiểu biết và chỉ tập trung vào lợi ích cá nhân: được hay không được và mức bồi thường cao hay thấp Tình trạng này dễ dẫn đến kích động và làm tăng nguy cơ không tuân thủ quyết định thu hồi đất Để cải thiện, cần tăng cường tuyên truyền minh bạch trên nhiều kênh, làm rõ quyền lợi và nghĩa vụ, giải thích quy trình bồi thường và mức hỗ trợ, đồng thời đảm bảo sự tham gia của người dân để tăng sự đồng thuận và tuân thủ quyết định thu hồi đất.

Phổ biến, giới thiệu và học tập các văn bản luật mới cho cán bộ công chức, viên chức làm việc tại các đơn vị liên quan đến bồi thường giải phóng mặt bằng chưa được thực hiện đồng bộ, dẫn đến sự lúng túng khi tiếp cận và áp dụng các quy định mới vào thực tế Tình trạng này gây giảm hiệu quả công tác bồi thường, làm mất tính thống nhất và minh bạch trong quá trình giải phóng mặt bằng Cần tăng cường công tác phổ biến pháp luật, tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu, cập nhật kịp thời các văn bản sửa đổi, bổ sung; nâng cao năng lực phân tích, khả năng áp dụng quy định vào từng trường hợp cụ thể; đồng thời tăng cường phối hợp giữa các cơ quan liên quan để đảm bảo quyền lợi người dân, công khai quy trình và thực thi đúng các quy định về bồi thường và giải phóng mặt bằng.

Ở nhiều địa phương, việc lập hồ sơ địa chính và chỉnh lý biến động đất đai vẫn chưa được triển khai đầy đủ, khiến cho công tác quản lý đất đai lỏng lẻo và sự đồng bộ của pháp luật đất đai trước đây gặp khó khăn Thiếu căn cứ xác thực về tính hợp lệ, hợp pháp và nguồn gốc quyền sử dụng đất làm mất căn cứ giải quyết vướng mắc, khiếu nại và đơn thư của người dân, gây chậm trễ và ảnh hưởng tới tiến độ thu hồi đất.

Việc nghiên cứu và xây dựng giá bồi thường chưa sát với thực tế thị trường và đặc thù của từng loại đất, dẫn tới nhiều bất cập trong quá trình định giá Quá trình xác định giá đất còn hời hợt và thiếu kinh nghiệm, khiến phương pháp áp dụng cho phần diện tích đất vườn nằm trong thửa đất có nhà ở bị sai lệch Kết quả là giá bồi thường thấp hơn thực tế, gây bức xúc cho người dân có đất bị thu hồi.

Ngày đăng: 16/12/2022, 09:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2014). Thông tư 74/2014/BTNMT ngày 15/05/2015 hướng dẫn việc lập dự toán, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 74/2014/BTNMT ngày 15/05/2015 hướng dẫn việc lập dự toán, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Bộ Tài chính
Năm: 2014
2. Bộ Tài chính (2014). Thông tư 76/2014/BTNMT ngày 15/05/2015 Hướng dẫn một số điều của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 76/2014/BTNMT ngày 15/05/2015 Hướng dẫn một số điều của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2014
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2005). Báo cáo đề tài “Nghiên cứu những vấn đề kinh tế đất trong thị trường bất động sản’’ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đề tài “Nghiên cứu những vấn đề kinh tế đất trong thị trường bất động sản”
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhà XB: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2005
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2005). Đề án tìm hiểu thực trạng đời sống và việc làm của người dân khi nhà nước thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án tìm hiểu thực trạng đời sống và việc làm của người dân khi nhà nước thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp mới
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhà XB: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2005
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014). Thông tư 37/2014/BTNMT ngày 30/06/2014 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 37/2014/BTNMT ngày 30/06/2014 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhà XB: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2014
6. Chính phủ (2014). Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
7. Chính phủ (2014). Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về giá đất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về giá đất
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Chính phủ
Năm: 2014
10. Đặng Tiến Sĩ, Phạm Thị Tuyền, Đặng Hùng Võ, Đỗ Thị Tám (2015). Đánh giá việc thực hiện bồ thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất để triển khai một số dự án tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh Tạp chí Khoa học và Phát triển 2015, tập 13, số 1: 82-89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá việc thực hiện bồ thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất để triển khai một số dự án tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Đặng Tiến Sĩ, Phạm Thị Tuyền, Đặng Hùng Võ, Đỗ Thị Tám
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và Phát triển
Năm: 2015
11. Mai Mộng Hùng (2003). Tìm hiểu pháp luật đất đai của một số nước trên thế giới. Tạp chí địa chính số 1, tháng 1/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu pháp luật đất đai của một số nước trên thế giới
Tác giả: Mai Mộng Hùng
Nhà XB: Tạp chí địa chính
Năm: 2003
12. Ngân hàng phát triển Châu Á (2005). Cẩm nang về Tái định cư (Hướng dẫn thực hành) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang về Tái định cư (Hướng dẫn thực hành)
Tác giả: Ngân hàng phát triển Châu Á
Nhà XB: Ngân hàng phát triển Châu Á
Năm: 2005
13. Nguyễn Đức Minh (2001). Quy hoạch đất đai và thị trường bất động sản, hội thảo một số vấn đề hình thành và phát triển thị trường bất động sản Việt Nam, ngày 15- 16 tháng 11 năm 2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch đất đai và thị trường bất động sản
Tác giả: Nguyễn Đức Minh
Năm: 2001
16. Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Hiến pháp năm 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp năm 1980
Tác giả: Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Năm: 1980
17. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp năm 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp năm 1992
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 1992
18. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp năm 2013
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2013
19. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật Đất đai năm (1987) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai năm (1987)
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 1987
20. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật Đất đai năm (1993) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai năm (1993)
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 1993
21. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật Sửa đổi bổ sung một số điều Luật đất đai (1998) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Sửa đổi bổ sung một số điều Luật đất đai (1998)
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 1998
22. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật Sửa đổi bổ sung một số điều Luật đất đai (2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Sửa đổi bổ sung một số điều Luật đất đai (2001)
Tác giả: Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2001
23. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật Đất đai 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai 2003
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2003
24. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật Đất đai 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai 2013
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2013

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm