1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ VNUA đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011 2015) trong phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại huyện đông anh, thành phố hà nội

148 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011-2015) trong phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
Tác giả Nguyễn Xuân Hải
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Khắc Thời
Trường học Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Quản lý đất đai
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Nguyễn Xuân Hải Tên luận văn: “Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu 2011-2015 trong phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại h

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN XUÂN HẢI

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT KỲ ĐẦU (2011-2015) TRONG PHƯƠNG

ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Quản lý đất đai

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Khắc Thời

Trang 2

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./

Hà Nội, ngày 7 tháng 9 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Xuân Hải

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, những ý kiến đóng góp, chỉ bảo quý báu của các thầy cô giáo bộ môn Quy hoạch đất đai, Khoa Quản lý đất đai, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của PGS.TS Nguyễn Khắc Thời, là người hướng dẫn trực tiếp tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và viết luận văn

Với tấm lòng chân thành, tôi xin cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!

Hà Nội, ngày 7 tháng 9 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Xuân Hải

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng vi

Trích yếu luận văn vii

Thesis abstract ix

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

1.4.1 Những đóng góp mới của đề tài 3

1.4.2 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3

1.4.3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

Phần 2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

2.1 Cơ sở lý luận - khoa học của quy hoạch sử dụng đất 4

2.1.1 Khái niệm, thuật ngữ về quy hoạch sử dụng đất 4

2.1.2 Cơ sơ lý luận- khoa học quy hoạch sử dụng đất 6

2.2 Tình hình quy hoạch sử dụng đất trên thế giới và ở một số nước trong khu vực 9

2.3 Tình hình quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam 11

2.3.1 Quy hoạch sử dụng đất trước năm 1987 11

2.3.2 Quy hoạch sử dụng đất, giai đoạn 1987-1993 12

2.3.3 Quy hoạch sử dụng đất, giai đoạn 1993-2003 13

2.3.4 Quy hoạch sử dụng đất, giai đoạn 2003 đến nay 14

2.3.5 Tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất trên cả nước 15

2.3.6 Đánh giá chung về tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 18

2.3.7 Giải pháp tăng cường quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 22

2.4 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất TP Hà Nội kỳ đầu 2011-2015 23

2.4.1 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch kỳ đầu 2011-2015 24

Trang 6

2.4.2 Kết quả thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất 31

2.4.3 Kết quả đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng 32

2.4.4 Đánh giá những mặt được, những tồn tại và nguyên nhân của tồn tại trong thực hiện quy hoạch sử dụng đất 2011-2015 32

2.5 Những nghiên cứu đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất 35

Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 38

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 38

3.2 Địa điểm nghiên cứu: 38

3.3 Nội dung nghiên cứu 38

3.3.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và cảnh quan môi trường 38

3.3.2 Đánh giá tình hình quản lý đất đai và hiện trạng sử dụng đất 38

3.3.3 Phương án quy hoạch sử dụng đất huyện Đông Anh giai đoạn 2011 – 2020 và kế hoạch sử dụng đất của huyện Đông Anh giai đoạn 2011 – 2015 38

3.3.4 Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất năm 2011 – 2015 huyện Đông Anh, Hà Nội 39

3.3.5 Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất 2016, 2017 huyện Đông Anh 39

3.3.5 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất kỳ cuối 2016-2020 huyện Đông Anh 39

3.4 Phương pháp nghiên cứu 39

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: 39

3.4.2 Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp 39

3.4.3 Phương pháp thông kê và xử lý số liệu thống kê 40

3.4.4 Phương pháp phân tích, so sánh 40

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 41

4.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Đông Anh 41

4.1.1 Đặc điểm tự nhiên 41

4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 43

4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 49

4.2 Tình hình quản lý đất đai và hiện trạng sử dụng đất huyện Đông Anh 51

4.2.1 Tình hình quản lý đất đai 51

4.2.2 Hiện trạng sử dụng đất huyện Đông Anh năm 2017 54

Trang 7

4.2.3 Biến động sử dụng đất giai đoạn 2011 – 2015 huyện Đông Anh 58

4.3 Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ đầu 2011 – 2015 huyện Đông Anh 62

4.3.1 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu đất đai so với phương án quy hoạch phê duyệt 62

4.3.2 Đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch đất nông nghiệp 63

4.3.3 Đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch đất phi nông nghiệp 65

4.3.4 Đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch đất chưa sử dụng 70

4.3.5 Kết quả thực hiện các công trình, dự án trong kỳ quy hoạch 2011-2015 70

4.3.6 Đánh giá chung về những thành tựu và tồn tại trong quá trình thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 – 2015 huyện Đông Anh 72

4.4 Đánh giá việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2016, 2017 huyện Đông Anh 76

4.4.1 Kế hoạch sử dụng đất năm 2016 huyện Đông Anh 76

4.4.2 Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2017 huyện Đông Anh 82

4.5 Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của phương án QHSDĐ và kế hoạch SDĐ kì cuối 89

4.5.1 Giải pháp kỹ thuật 89

4.5.2 Giải pháp quản lý hành chính 90

4.5.3 Giải pháp cơ chế chính sách 90

4.5.4 Giải pháp kinh tế 91

4.5.6 Giải pháp tổ chức thực hiện 92

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 94

5.1 Kết luận 94

5.2 Kiến nghị 95

Tài liệu tham khảo 96

Phụ lục 98

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất 2011-2015 TP

Hà Nội 25

Bảng 4.1 Cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện Đông Anh năm 2016 – 2017 44

Bảng 4.2 Thống kê dân số tại huyện Đông Anh từ năm 2012 -2017 46

Bảng 4.3 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Đông Anh năm 2017 55

Bảng 4.4 Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp của huyện Đông Anh năm 2017 56

Bảng 4.5 Biến động diện tích các loại đất chính giai đoạn 2011-2015 58

Bảng 4.6 Biến động diện tích các loại đất nông nghiệp giai đoạn 2011-2015 59

Bảng 4.7 Biến động diện tích các loại đất phi nông nghiệp 61

Bảng 4.8 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu sử dụng nhóm đất chính 63

Bảng 4.9 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu sử dụng đất nông nghiệp 64

Bảng 4.10 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu sử dụng đất phi nông nghiệp 66

Bảng 4.11 Tổng hợp danh mục công trình thực hiện giai đoạn 2011 - 2015 71

Bảng 4.12 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu sử dụng đất NN năm 2016 76

Bảng 4.13 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu sử dụng đất phi NN năm 2016 78

Bảng 4.14 Kết quả thực hiện chỉ tiêu sử dụng đất NN năm 2017 83

Bảng 4.15 Kết quả thực hiện chỉ tiêu sử dụng đất NN năm 2017 84

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Xuân Hải

Tên luận văn: “Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011-2015)

trong phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại huyện Đông Anh, thành phố

Hà Nội”

Ngành: Quản lý đất đai Mã số: 8850103 Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Đánh giá việc thực hiện phương án quy hoạch và việc tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất, giai đoạn 2011 – 2015 Huyện Đông Anh Thành phố Hà Nội (tìm ra được yếu tố hạn chế, những yếu kém tổ chức thực hiện phương án quy hoạch);

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của quy hoạch sử dụng đất, đảm bảo hài hoà giữa các mục đích ngắn hạn và dài hạn, đáp ứng chiến lược phát triển kinh

tế xã hội của Huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội trong tương lai

Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Luận văn đã sử dụng các phương pháp: Phương pháp điều tra, khảo sát; Phương pháp thống kê, so sánh; Phương pháp xử lý số liệu

Kết quả chính và kết luận

1 Huyện Đông Anh là huyện ngoại thành TP Hà Nội có lợi thế về vị trí địa lý,

có quốc lộ 3 chạy dọc huyện và tuyến đường sắt Hà Nội –Lào cai rất thuận tiện cho việc giao lưu với các tỉnh phía bắc Toàn huyện có 18.213,90 ha Tính đến 31 tháng 12 năm 2017 dân số huyện Đông Anh là 350.541 người

2 Công tác lập và thực hiện quy hoạch sử dụng đất của huyện Đông Anh đã dần

đi vào nề nếp, cơ cấu sử dụng đất được chuyển đổi phù hợp với quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế của địa phương; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã trở thành cơ sở pháp

lý cho việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn huyện

3 Kết quả thực hiện quy hoạch trong vòng 5 năm giai đoạn 2011-2015 huyện Đông Anh cho thấy:

+ Có 5 chỉ tiêu sử dụng đất nông nghiệp đạt từ 16,67 % đến 98,0 1% so với phương án được duyệt

+ Có 0 chỉ tiêu sử dụng đất nông nghiệp đạt trên 100 % so với phương án được duyệt

Trang 10

+ Có 13 chỉ tiêu sử dụng đất phi nông nghiêp đạt từ 66.64 % đến 100% so với phương án được duyệt

+ Có 7 chỉ tiêu sử dụng đất phi nông nghiệp đạt từ 100% đến 1102.01 % so với

phương án được duyệt

4 Trên cơ sở nghiên cứu việc thực hiện QHSDĐ huyện Đông Anh, để thực việc thực hiện các chỉ tiêu sử dụng đất kỳ cuối 2016-2020 cần thực hiện đồng bộ 6 nhóm giải pháp đó là: Giải pháp kỹ thuật; Giải pháp về quản lý hành chính; Giải pháp về cơ chế chính sách; Giải pháp kinh tế; Giải pháp về khoa học công nghệ và Giải pháp về tổ chức thực hiện

Trang 11

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Nguyen Xuan Hai

Thesis title: “Evaluate the implementation of land use planning for the first period

(2011-2015) in the land use planning in Dong Anh district up to 2020”

Major: Land Management Code: 8850103 Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives

- To evaluate the implementation of the planning and the organigation of implementation of land use planning period, 2011 – 2015 in Dong Anh District, Hanoi (find out the limitation factors, implementation weaknesses planning scheme);

- To propose solutions to improve the effectiveness of land use planning, ensuring harmony between short-term and long-term objectives, meeting the socio- economic development strategy of Dong Anh District, Hanoi in future

Materials and Methods

The thesis uses the following methods: Survey method; Statistical methods, comparison; Data processing methods

Main findings and conclusions

1 Dong Anh district is a suburban district of Hanoi with geographic advantages location, national highway 3 running along the district and Hanoi - Lao Cai railway It is very convenient for exchanges with the Northern provinces The whole district has 18,213.90 ha As of 31 December 2017, the population of Dong Anh district is 350,541 people

2 The planning and implementation of land use planning in Dong Anh district has gradually been implemented, the structure of land use has been changed fit with the process

of economic restructuring of the locality Land use planning has become the legal basis for land acquisition, land allocation, land lease and land use change in the district

3 The results of planning implementation for 5 years period 2011-2015 in Dong Anh district showed that:

+ There are five targets of agricultural land use from 16.67 % to 98.01 % compared with the approved plan

+ Zero agricultural land use targets are from 100% compared with the approved plan

Trang 12

+ There are 13 non-agricultural land use targets from 66.64 % to 100% compared with the approved plan

+ There are 7 of non-agricultural land use targets which are from 100% to 1102.01

% compared with the approved plan

4 Based on the research on the implementation of land use planning in Dong Anh district, in order to implement the land use norms of the period of 2016-2020, 6 groups of solutions should be perform synchronously: Solutions on technical; Solutions on administrative management; Solutions on policy mechanisms; Solutions on economic ; Solutions on science and technology and solutions on organization

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là giá đỡ cho mọi sự sống,

là tư liệu sản xuất đặc biệt, là địa bàn phân bố khu dân cư và các hoạt động kinh

tế, xã hội, an ninh quốc phòng

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sự chuyển dịch kinh tế từ nông nghiệp- công nghiệp – dịch vụ sang công nghiệp –dịch vụ- nông nghiệp đã và đang gây áp lực lớn đối với đất đai Kinh nghiệm thực tiễn,cùng với đổi mới tư duy và nhận thức đã trả lại cho đất đai giá trị đích thực vốn có của nó

là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là bộ phận hợp thành của môi trường sống, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế, là địa bàn phân bố khu dân

cư và tổ chức cá hoạt động kinh tế - xã hội an ninh quốc phòng

Để quản lý khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, công tác quy hoạch kế hoạch sử dụng đất là một trong những nội dung hết sức quan trọng

Điều 18 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: “ Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo việc sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả”

Luật Đất đai năm 2013 tại chương II, điều 22 quy định: Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong 15 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai Điều 36, chương 4 đã quy định nguyên tắc, căn cứ nội dung lập quy hoạch,

kế hoạch sử dụng đất được thực hiện ở 3 cấp: Cả nước, tỉnh - thành phố, huyện

Điều 37 cũng quy định kỳ quy hoạch là 10 năm, trong đó kế hoạch sử dụng đất được lập hàng năm đối với cấp huyện Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm định hướng cho các cấp, các ngành lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết; là cơ sở pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai, làm căn cứ cho việc giao đất, cho thuê đất và đáp ứng các nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Đồng thời việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

là một biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm hạn chế việc sử dụng đất chồng chéo, lãng phí, bất hợp lý, kém hiệu quả, ngăn chặn các hiện tượng tranh chấp, lấn chiếm, huỷ hoại đất, phá vỡ cân bằng môi trường sinh thái, kìm hãm phát triển sản xuất cũng như phát triển kinh tế - xã hội

Trang 14

Nghiên cứu tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất đai, xem xét các dự

án quy hoạch sử dụng đất đai khi đưa vào thực hiện đạt được mục đích đề ra, đem lại hiệu quả và đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn

Huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội là huyện rất thuận lợi so với các huyện khác trong Thành phố Hà Nội, có mạng lưới giao thông hoàn chỉnh tạo cho huyện có nhiều lợi thế để giao lưu hàng hóa, kinh tế văn hóa, xã hội với các tỉnh ở đồng bằng Bắc bộ, đặc biệt với Thủ đô Hà Nội và các tỉnh, thành phố lân cận như Bắc Ninh, Thái Nguyên…, tiếp cận với tiến bộ khoa học kỹ thuật

Huyện Đông Anh đã lập quy hoạch sử dụng đất đai giai đoan 2011-2020 được UBND Thành phố Hà Nội phê duyệt tại Quyết định số 152/ QĐ-UBND ngày 04/5/2013 và đưa vào thực hiện từ năm 2011, nhằm đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của huyện đến năm 2020 Tuy nhiên, quá trình triển khai và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vẫn bộc lộ một số tồn tại Đặc biệt sau khi quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt và đưa vào thực hiện, tình hình theo dõi, giám sát việc thực hiện quy hoạch còn bất cập trong quản lý và sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất phải thường xuyên điều chỉnh, thay đổi để kịp với tình hình sử dụng đất và nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Song vẫn còn tình trạng “quy hoạch treo” hoặc điều chỉnh chưa kịp những biến động trong quá trình thực thi quy hoạch

Sau khi được xét duyệt việc tổ chức triển khai thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất đó ra sao, kết quả như thế nào, còn những tồn tại gì, nguyên nhân do đâu, cần có giải pháp gì khắc phục, v.v.v cho đến nay vẫn cần phải có những nghiên cứu, đánh giá, bàn luận để rút kinh nghiệm một cách đầy đủ và toàn diện

Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011-2015) trong phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội"

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Đánh giá việc thực hiện phương án quy hoạch và việc tổ chức thực hiện các chỉ tiêu sử dụng đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng kỳ đầu 2011-2015 trong phương án quy hoạch sử dụng đất, giai đoạn 2011 – 2020 của Huyện Đông Anh Thành phố Hà Nội

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của quy hoạch sử dụng đất,

Trang 15

đảm bảo hài hoà giữa các mục đích ngắn hạn và dài hạn, đáp ứng chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội trong tương lai

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đề tài nghiên cứu, đánh giá việc thực hiện quy hoạch và việc tổ chức thực hiện các chỉ tiêu sử dụng đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng kỳ đầu 2011-2015 trong phương án quy hoạch sử dụng đất, giai đoạn 2011 – 2020 của Huyện Đông Anh Thành phố Hà Nội

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 1.4.1 Những đóng góp mới của đề tài

Đề tài đã xác định được những vấn đề tồn tại, vướng mắc trong công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2015 Từ đó đề xuất được những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện công tác này trong giai đoạn 2016-2020

1.4.2 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Kết quả nghiên cứu góp phần bổ xung cơ sở lý luận và cơ sở khoa học trong đánh giá phương án quy hoạch sử dụng đất cấp huyện

1.4.3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Kết quả nghiên cứu còn là cơ sở thực tiễn để các nhà chính sách xây

dựng các chính sách hợp lý để quản lý quy hoạch sử dụng đất, đồng thời là tài liệu tham khảo cho học viên cao học, sinh viên chuyên nghành quản lý đất đai tại các trường cao đẳng và đại học có đào tạo chuyên ngành Quản lý đất đai

Trang 16

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN-KHOA HỌC CỦA QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 2.1.1 Khái niệm, thuật ngữ về quy hoạch sử dụng đất

Về mặt thuật ngữ khoa học, “Quy hoạch” là việc xác định một trật tự nhất định bằng những hoạt động như: phân bố, bố trí, sắp xếp, tổ chức đất đai là một thành phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất, mảnh đất, miếng đất ) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính thổ nhưỡng, địa hình, địa chất, thủy văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hóa tính ) tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau Vì vậy, để sử dụng đất cần phải làm quy hoạch, đây là quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo nhằm xác định ý nghĩa mục đích của từng thành phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử

dụng đất nhất định (Đoàn Công Quỳ - 2006)

Quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình đánh giá tiềm năng đất và nước một cách có hệ thống phục vụ việc sử dụng đất và kinh tế - xã hội, nhằm lựa chọn ra phương án sử dụng đất tốt nhất Mục tiêu của quy hoạch sử dụng đất là lựa chọn và đưa phương án đã lựa chọn vào thực tiễn để đáp ứng nhu cầu của con người một cách tốt nhất nhưng vẫn bảo vệ được nguồn tài nguyên cho tương lai

Yêu cầu cấp thiết phải làm quy hoạch là do nhu cầu của con người và điều kiện thực tế sử dụng đất thay đổi nên phải nâng cao kỹ năng quản lý sử dụng đất

(Đoàn Công Quỳ - 2006)

Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp quản lý, kĩ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả cao thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất cả nước, tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm

nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường (Đoàn Công Quỳ - 2006)

Bản chất của quy hoạch sử dụng đất là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời 3 tính chất: kinh tế, kĩ thuật, pháp chế Trong đó cần hiểu:

- Kinh tế: thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất đai

- Kĩ thuật: gồm điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý dữ liệu, bố trí sử dụng đất

Trang 17

- Pháp chế: là việc xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng quản lý đất đúng pháp luật

Công tác quy hoạch sử dụng đất đai cần phải nắm vững hệ thống các biện pháp kinh tế, kĩ thuật, pháp chế của Nhà nước và tổ chức quản lý sử dụng đất đai một cách đầy đủ, hợp lý, khoa học, có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất Quy hoạch sử dụng đất đảm bảo các mục tiêu sau:

Tính đầy đủ: mọi loại đất đều được đưa vào sử dụng theo các mục đích

nhất định

Tính hợp lý: đặc điểm tính chất tự nhiên, vị trí, diện tích phù hợp với yêu

cầu và mục đích sử dụng

Tính khoa học: áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến

Tính hiệu quả: đáp ứng đồng bộ cả 3 lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường

Như vậy, về thực chất “Quy hoạch sử dụng đất đai” là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời 2 chức năng: điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường (Lê Cảnh Định - 2006)

Quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất theo đúng mục đích, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng sử dụng tùy tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông, lâm nghiệp; ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, lấn chiếm, hủy hoại đất, phá vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường, dẫn đến những tổn thất về kinh tế, bất ổn về chính trị, quốc phòng an ninh ở từng địa phương (Phạm Đình

Vân và Nguyễn Thị Minh Hiền – 2004)

Quy hoạch sử dụng đất đai theo hướng bền vững là một hệ thống các công nghệ, chính sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh tế, xã hội với sự quan tâm về môi trường để đồng thời duy trì nâng cao sức sản xuất của đất, giảm rủi ro trong sản xuất, bảo vệ tiềm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn ngừa quá trình thoái hóa môi trường đất, có hiệu quả lâu dài và được xã hội chấp nhận (Vũ Thị

Bình - 2006)

Trang 18

2.1.2 Cơ sơ lý luận- khoa học quy hoạch sử dụng đất

a Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất

* Tính lịch sử - xã hội: Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát

triển của quy hoạch sử dụng đất Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một

phương thức sản xuất của xã hội thể hiện theo hai mặt: Lực lượng sản xuất (mối quan hệ giữa người với sức hoặc vật tự nhiên trong quá trình sản xuất) và Quan

hệ sản xuất (quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất) Trong quy

hoạch sử dụng đất luôn nẩy sinh quan hệ giữa người với đất đai - là sức tự nhiên

(như điều tra, đo đạc, khoanh định, thiết kế ), cũng như quan hệ giữa người với người (xác nhận bằng văn bản về sở hữu và quyền sử dụng đất giữa những người chủ đất - GCNQSDĐ) Quy hoạch sử dụng đất thể hiện đồng thời là yếu tố thúc

đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất của xã hội

Tuy nhiên, trong xã hội có phân chia giai cấp, quy hoạch sử dụng đất mang tính tự phát, hướng tới mục tiêu vì lợi nhuận tối đa và nặng về mặt pháp lý

(là phương tiện mở rộng, củng cố, bảo vệ quyền tư hữu đất đai: phân chia, tập trung đất đai để mua, bán, phát canh thu tô ) Ở nước ta, quy hoạch sử dụng đất

phục vụ nhu cầu của người sử dụng đất và quyền lợi của toàn xã hội; Góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn; Nhằm sử dụng, bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường, quy hoạch sử dụng đất góp phần giải quyết các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường nẩy sinh trong quá trình sử dụng đất, cũng như mâu thuẫn giữa các lợi ích trên với nhau

* Tính tổng hợp: Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất biểu hiện chủ

yếu ở hai mặt: Đối tượng của quy hoạch là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ

toàn bộ tài nguyên đất đai cho nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân; Quy hoạch sử dụng đất đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và xã hội như:

khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông, công nghiệp, môi trường sinh thái

Với đặc điểm này, quy hoạch lãnh trách nhiệm tổng hợp toàn bộ nhu cầu

sử dụng đất; Điều hoà các mâu thuẫn về đất đai của các ngành, lĩnh vực; Xác định và điều phối phương hướng, phương thức phân bố sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế - xã hội, bảo đảm cho nền kinh tế quốc dân luôn phát triển bền

Trang 19

vững, đạt tốc độ cao và ổn định

* Tính dài hạn: Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của

những yếu tố kinh tế xã hội quan trọng (sự thay đổi về nhân khẩu, tiến bộ kỹ thuật, đô thị hoá công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp ), từ đó xác định

quy hoạch trung và dài hạn về sử dụng đất đai, đề ra các phương hướng, chính sách và biện pháp có tính chiến lược, tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất 5 năm

Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đất để phát triển lâu dài kinh tế

- xã hội Cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong

thời gian dài (cùng với quá trình phát triển dài hạn kinh tế - xã hội) cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến Thời hạn (xác định phương hướng, chính sách và biện pháp sử dụng đất để phát triển kinh tế và hoạt động xã hội) của quy hoạch

sử dụng đất thường từ trên 10 năm đến 20 năm hoặc lâu hơn

* Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô: Với đặc tính trung và dài hạn, quy

hoạch sử dụng đất đai chỉ dự kiến trước được các xu thế thay đổi phương hướng,

mục tiêu, cơ cấu và phân bố sử dụng đất (mang tính đại thể, không dự kiến được các hình thức và nội dung cụ thể, chi tiết của sự thay đổi) Vì vậy, quy hoạch sử

dụng đất là quy hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương hướng và khái lược về sử dụng đất của các ngành như:

- Phương hướng, mục tiêu và trọng điểm chiến lược của việc sử dụng đất trong vùng;

- Cân đối tổng quát nhu cầu sử dụng đất của các ngành;

- Điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và phân bố đất đai trong vùng;

- Phân định ranh giới và các hình thức quản lý việc sử dụng đất đai trong vùng;

- Đề xuất các biện pháp, các chính sách lớn để đạt được mục tiêu của phương hướng sử dụng đất;

Do khoảng thời gian dự báo tương đối dài, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân

tố kinh tế - xã hội khó xác định, nên chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hoá, quy hoạch sẽ càng ổn định

* Tính chính sách: Quy hoạch sử dụng đất thể hiện rất mạnh đặc tính

chính trị và chính sách xã hội Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính

Trang 20

sách và quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thể hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội; Tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và môi trường sinh thái

* Tính khả biến: Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước,

theo nhiều phương diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất chỉ là một trong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế trong một thời kỳ nhất định Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các

dự kiến của quy hoạch sử dụng đất không còn phù hợp Việc chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch Quy hoạch sử dụng đất luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc “quy hoạch - thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện ” với chất lượng, mức độ hoàn thiện

và tính phù hợp ngày càng cao

b Các loại hình quy hoạch sử dụng đất

Có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại quy hoạch sử dụng đất

Tuy nhiên, mọi quan điểm đều dựa trên những căn cứ hoặc cơ sở chung như sau:

Nhiệm vụ đặt ra đối với quy hoạch; số lượng và thành phần đối tượng nằm trong

quy hoạch; Phạm vi lãnh thổ quy hoạch (cấp vị lãnh thổ hành chính) cũng như

nội dung và phương pháp quy hoạch Thông thường hệ thống quy hoạch sử dụng

đất được phân loại theo nhiều cấp vị khác nhau (như loại hình, dạng, hình thức quy hoạch ) nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể về sử dụng đất đai (như điều chỉnh quan hệ đất đai hay tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất) từ tổng thể

đến thiết kế chi tiết

Đối với Việt Nam, Luật Đất đai năm 2013 quy định:

Điều 36: Hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

1 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia

2 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh

3 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện

4 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng

5 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất an ninh

Trang 21

Điều37 Kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

1 Kỳ quy hoạch sử dụng đất là 10 năm

2 Kỳ kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh và kỳ kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, đất an ninh là 05 năm Kế hoạch sử dụng đất cấp huyện được lập hàng năm

2.2 TÌNH HÌNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC

Quy hoạch sử dụng đất luôn có vị trí quan trọng trong thực hiện công tác quản lý đất đai của mỗi quốc gia và được tiến hành từ nhiều năm trước đây Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào điều kiện của mỗi nước mà phương pháp và quan điểm quy hoạch sử dụng đất có đặc thù khác nhau và quá trình thực hiện cũng vậy

Ở các quốc gia phát triển như Đức, Mỹ quy hoạch sử dụng đất luôn gắn liền với việc giải quyết các yêu cầu về môi trường, đảm bảo sử dụng đất hiệu quả bền vững Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất tại các nước này có tính khả thi cao Những nguyên tắc về sử dụng đất được thông qua ở thành phố NewYork từ năm 1916 đến những năm 30 và hầu hết các Bang của nước Mỹ tuân thủ theo nguyên tắc này

Đến những năm 70, các Bang này gặp phải một số vấn đề về môi trường và sự bảo tồn các di tích lịch sử nên đòi hỏi phải có những nguyên tắc và tầm nhìn xa hơn

Từ đòi hỏi trên, Luật đất đai mới của Mỹ đã hình thành hệ thống quy hoạch sử

dụng đất mới (Nguyễn Quang Học và Quyền Thị Lan Phương (2006)

Ở Đức, điển hình là thành phố Berlin (Nguyễn Quang Học và Quyền Thị

Lan Phương (2006), hệ thống quy hoạch sử dụng đất đã được xây dựng từ rất

sớm Chỉ vài năm sau khi có sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ đất nước, năm

1994, hệ thống quy hoạch sử dụng đất được xây dựng với bản đồ tỉ lệ 1:50.000 Sau đó, việc điều chỉnh và cập nhật những biến động đất đai cho phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế, xã hội và mục tiêu của Chính phủ được tiến hành thường xuyên Do đó, hệ thống quy hoạch sử dụng đất ở thành phố Berlin nói riêng, của Đức nói chung có hiệu quả cao, đảm bảo sử dụng đất hiệu quả, tiết kiệm và bền vững, tạo đà cho sự phát triển nền kinh tế.”;

Ở Pháp, quy hoạch sử dụng đất được xây dựng theo hình thức mô hình hoá nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao trong việc sử dụng tài nguyên, môi trường

và lao động, áp dụng bài toán quy hoạch tuyến tính có cấu trúc sản xuất hợp

lý, thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Trang 22

Tại Thụy Điển và các nước Đông Âu khác phân vùng sử dụng đất được lồng ghép ngay trong khi tiến hành quy hoạch tổng thể không gian Việc quan tâm chủ yếu tập trung vào quy hoạch chi tiết phát triển đô thị và vấn đề bảo vệ môi trường sống luôn được đặt lên hàng đầu

Các nước thuộc Liên Xô (cũ) có bước đi tương tự nhau; trước hết là lập sơ

đồ tổng thể phát triển lực lượng sản xuất sau đó tiến hành quy hoạch chi tiết các ngành, trên cơ sở nhu cầu sử dụng đất của các ngành để tiến hành quy hoạch sử dụng đất đai Tuy nhiên, việc phân bổ các khu chức năng để bảo đảm phát triển bền vững và bảo vệ môi trường luôn luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu

Một nguyên tắc cơ bản của các nước này là bảo vệ nghiêm ngặt đất sản xuất, đặc biệt là đất canh tác Tại các nước này quy hoạch tổng thể phát triển lực lượng sản xuất do Ủy Ban kế hoạch Nhà nước (tương đương Bộ Kế hoạch và Đầu tư của Việt Nam) đảm trách; quy hoạch đô thị do ngành xây dựng, quy hoạch sử dụng đất đai do cơ quan quản lý đất đai thực thi

Ở Campuchia, do nền kinh tế kém phát triển, có xuất phát điểm thấp, tình hình chính trị rối loạn, nhiều nhà khoa học đã bị giết, nên trước những năm 2000, công tác quản lý đất đai chưa được quan tâm, chưa hình thành được hệ thống Luật đất đai và quy hoạch sử dụng đất Đến năm 2000, Bộ quy hoạch đất đai và xây dựng đã hoàn thiện Luật đất đai, nhưng công tác quy hoạch sử dụng đất còn gặp niều khó khăn, kế hoạch sử dụng đất ở từng địa phương không rõ ràng nên

sử dụng đất kém hiệu quả và làm suy thoái đất Mặc dù vậy, nhờ có sự cố gắng tìm hiểu, học hỏi, nghiên cứu công tác quản lý, sử dụng đất đai của các nhà khoa học nên Campuchia đã xây dựng được hệ thống Luật đất đai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đồng bộ

Tại Thái Lan, quy hoạch đất đai được được phân bố theo 3 cấp: Quốc gia, vùng và địa phương Quy hoạch nhằm thể hiện cụ thể các chương trình kinh tế xã hội của Hoàng gia Thái Lan gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý nhà nước phối hợp với chính phủ và chính quyền địa phương Dự án phát triển Hoàng gia

đã xác định vùng nông nghiệp chiếm vị trí quan trọng về kinh tế - xã hội - chính trị của Thái Lan Các dự án đều tập trung vào vấn đề quan trọng là nguồn nước, đất đai nông nghiệp, thị trường lao động

Nhìn chung, hệ thống pháp luật đất đai ở các nước phát triển tương đối hoàn thiện nên công tác xây dựng và thực hiện quy hoạch sử dụng đất được triển khai tốt, sử dụng đảm bảo hiệu quả 3 mặt: kinh tế, xã hội và môi trường Ở các

Trang 23

nước kém phát triển, do thiếu kinh phí, thiếu cán bộ có trình độ chuyên môn, nên

hệ thống Luật đất đai không đồng bộ, hệ thống quy hoạch sử dụng đất có hiệu quả không cao, ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế

2.3 TÌNH HÌNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM 2.3.1 Quy hoạch sử dụng đất trước năm 1987

Năm 1960 khi chuẩn bị xây dựng và công bố kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) cả nước đang bước vào thời kỳ hừng hực khí thế xây dựng đất nước mà trước hết là phải đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, sử dụng tốt quỹ đất đai Chính vì vậy mà công tác phân vùng quy hoạch nông nghiệp, lâm nghiệp, đã được đặt ra ngay từ những năm 1960 này Do đó có thể nói “quy hoạch sử dụng đất đai cũng đồng thời được đặt ra (chính xác là năm 1962), các bộ ngành chủ quản, các tỉnh, huyện đã có những điều chỉnh về sử dụng đất cho các mục đích giao thông, thuỷ lợi, xây dựng kho tàng, trại chăn nuôi, bến bãi, nhà xưởng…

mang tính chất bố trí sắp xếp lại việc sử dụng đất cũng chỉ mới được đề cập như một phần nội dung lồng ghép vào các phương án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, các phương án sản xuất hay công trình xây dựng cụ thể nào đó cho những mục đích đơn lẻ” (FAO - 1992)

Trong bối cảnh cả nước có chiến tranh cho tới khi giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước năm 1975, quy hoạch sử dụng đất đai chưa có điều kiện tiến hành theo một nội dung, phương pháp, trình tự thống nhất trong phạm vi một cấp

vị lãnh thổ nào đó Mặc dù vậy với tư cách là một phần nội dung của các phương

án phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng đất đai đã tạo ra những

cơ sở có tính khoa học cho việc tính toán các phương án sản xuất có lợi nhất “Nó

là một yêu cầu không thể thiếu được đối với các nhà quản lý sản xuất nông nghiệp ngay cả ở cấp vị một Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp trong thời kỳ này”

Từ năm 1975 - 1981 là thời kỳ triển khai hàng loạt các nhiệm vụ điều tra

cơ bản trên phạm vi cả nước “Vào cuối năm 1978 lần đầu tiên đã xây dựng được các phương án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến nông lâm sản của cả nước, của 7 vùng kinh tế và của tất cả 44 tỉnh, thành phố thuộc Trung ương trình Chính phủ xem xét phê duyệt” Trong các tài liệu này đều đã

đề cập đến quy hoạch sử dụng đất đai, coi đó như những căn cứ khoa học quan trọng để luận chứng các phương án phát triển ngành Cùng với lĩnh vực nông nghiệp, các khu cụm công nghiệp, các khu đô thị, các khu đầu mối giao thông…

Trang 24

cũng được nghiên cứu xem xét để cải tạo và xây mới Thực tế lúc bấy giờ cho thấy các thông tin, số liệu, tư liệu đo đạc bản đồ phục vụ cho quản lý đất đai nói chung và cho quy hoạch sử dụng đất đai nói riêng là vừa thiếu, vừa tản mạn lại vừa khập khiễng, làm cho độ tin cậy về quy mô diện tích, vị trí cũng như tính chất đất đai tính toán trong các phương án này không được bảo đảm Rất nhiều phương án tính toán diện tích cây trồng chủ lực như cao su, cà phê, chè, dứa, lạc, đay, đậu đỗ… trong cùng một địa bàn cụ thể có sự chồng chéo, thiếu tính khả thi

Đây cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy việc Chính phủ quyết định thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất (Nghị quyết số 548/NQ/QH ngày 24/5/1979 của

Uỷ Ban thường vụ Quốc hội về thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất; Nghị định

số 404/CP ngày 09/11/1979 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Quản lý ruộng đất)

Trước áp lực về lương thực và hàng tiêu dùng, trong giai đoạn này Trung ương Đảng và Chính phủ đã có những Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định quan trọng nhằm “làm cho sản xuất bung ra” ví dụ như Quyết định tận dụng đất nông nghiệp (9/1979); xoá bỏ tình trạng ngăn sông cấm chợ (10/1979); thông báo về

“khoán” sản xuất nông nghiệp sau Hội nghị nông nghiệp ở Đồ Sơn - Hải Phòng (1980) Đặc biệt phải kể đến Chỉ thị số 100/TW ngày 13/01/1981 về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp Thời kỳ này xuất hiện cụm từ “Quy hoạch Hợp tác xã”

mà thực chất công tác này tập trung vào quy hoạch đồng ruộng với nội dung chủ yếu của nó là quy hoạch sử dụng đất đai

Bước vào thời kỳ 1981 - 1986, Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ V (1982)

đã quyết định: “Xúc tiến công tác điều tra cơ bản, dự báo, lập Tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất, nghiên cứu chiến lược kinh tế xã hội, dự thảo

kế hoạch triển vọng để chuẩn bị tích cực cho kế hoạch 5 năm sau (1986 - 1990)”

2.3.2 Quy hoạch sử dụng đất, giai đoạn 1987-1993

Từ năm 1987 luật đất đai năm 1993, Luật Đất đai 1987 ra đời, đánh dấu một bước mới nữa về quy hoạch sử dụng đất đai vì nó được quy định rõ ở Điều 9

và Điều 11 tức là quy hoạch sử dụng đất đai có tính pháp lý Tuy nhiên, đây lại là thời kỳ bắt đầu công cuộc đổi mới, cả nước vừa trải qua một thời kỳ triển khai rầm rộ công tác quy hoạch nói chung và quy hoạch sử dụng đất đai nói riêng nhưng thực tế nền kinh tế đất nước ta đang đứng trước những khó khăn lớn

Những thay đổi lớn ở Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu cùng với nhiều vấn đề

Trang 25

trước mắt thường nhật phải giải quyết làm cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai lại rơi vào trầm lắng

Thực tế đòi hỏi phải đổi mới nội dung, phương pháp cho phù hợp với yêu cầu của quá trình chuyển dần sang nền kinh tế cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tổng cục Quản lý Ruộng đất lần đầu tiên ra Thông tư số 106/QHKH/RĐ ngày 15/4/1991 hướng dẫn về quy hoạch phân bổ đất đai chủ yếu đối với cấp xã với những nội dung như sau: Xác định ranh giới về quản lý, sử dụng đất; Điều chỉnh một số trường hợp về quản lý

và sử dụng đất; Phân định và xác định ranh giới những khu vực đặc biệt; Một số nội dung khác về chu chuyển 5 loại đất, mở rộng diện tích đất sản xuất, chuẩn bị cho việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng các văn bản chính sách đất đai, kế hoạch sử dụng đất đai (Phạm Vân Đình và Nguyễn Thị Minh Hiền (2004)

Với những thay đổi lớn về vai trò của Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, việc quản lý sử dụng đất ở khu vực nông thôn nổi lên hết sức quan trọng Căn cứ theo Thông tư hướng dẫn có những tỉnh ở đồng bằng đã tiến hành lập quy hoạch

sử dụng đất đai cho hàng trăm xã (tới một nửa số xã trong toàn tỉnh) Tuy nhiên,

do chưa có quy hoạch từ trên xuống cũng như các tài liệu hướng dẫn về quy trình, định mức, phương pháp, nội dung thống nhất nên các quy hoạch này bộc lộ nhiều hạn chế “Đại đa số đều chỉ mới chú trọng tới việc giãn dân là chủ yếu

Vấn đề này có mặt được nhưng có nhiều mặt không được vì phải cấp đất làm nhà

ở với số lượng lớn mà chủ yếu lấn vào đất ruộng, với những định mức sử dụng đất rất khác nhau, tạo nên nhiều bất cập phải tiếp tục giải quyết sau này nhất là ở các khu vực ven đô thị” (Đoàn Công Quỳ - 2006)

2.3.3 Quy hoạch sử dụng đất, giai đoạn 1993-2003

Sau Đại hội Đảng lần thứ VII năm 1992, Nhà nước ta triển khai công tác nghiên cứu chiến lược phát triển, quy hoạch tổng thể kinh tế, xã hội ở hầu hết 53 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương, các vùng kinh tế Đây là mốc bắt đầu của thời kỳ công tác quản lý đất đai vào nề nếp

Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đó giúp phần đảm bảo tính thống nhất trong công tác quản lý nhà nước về đất đai Thông qua quy hoạch sử dụng đất, Nhà nước thực hiện quyền định đoạt về đất đai, nắm được quỹ đất đai đến từng loại, bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc giao đất, thu đất, chuyển mục đích

Trang 26

sử dụng đất, gắn chuyển mục đích sử dụng đất với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, các cơ sở để điều chỉnh chính sách đất đai tại mỗi địa phơng, chủ động giành quỹ đất hợp lý cho phát triển các ngành, các lĩnh vực, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vừa đảm bảo ổn định các mục tiêu xã hội vừa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Từng bước chủ động dành quỹ đất hợp lý cho xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội, phát triển kết cấu hạ tầng cho công nghiệp, dịch vụ, đô thị Qua công tác quy hoạch sử dụng đất đai, UBND các cấp nắm chắc được quỹ đất đai của địa phương mình, có dự tính được nguồn thu từ đất cho ngân sách nhà nước

2.3.4 Quy hoạch sử dụng đất, giai đoạn 2003 đến nay

Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đó được quy định trong Luật Đất đai 1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 68/NĐ-CP ngày 01/10/2001 quy định nội dung cụ thể về lập và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các cấp địa phơng Từ năm 1994, Chính phủ đã chỉ đạo triển khai xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010 Chính phủ

đã chỉ đạo rà soát quy hoạch sử dụng đất đối với tất cả các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, đến nay đã hoàn thành trên phạm vi cả nước Năm

2006, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 57/2006/QH11 về kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006 - 2010) cả nước

Nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới của xã hội nói chung và đòi hỏi về công tác quản lý đất đai nói riêng Luật Đất đai năm 2003 đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 Luật này có hiệu lực từ ngày 01 thỏng 7 năm 2004 Khung pháp lý đối với công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định rõ, giành cả mục 2 với 10 điều, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP với 29 điều

Luật Đất đai năm 2003 quy định rõ nội dung việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp Đối với kỳ quy hoạch sử dụng đất là 10 năm và kỳ kế hoạch là 5 năm Việc lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất là 5 năm một lần gắn với việc kiểm kê đất đai để phục vụ cho công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được tốt hơn Bản đồ quy hoạch sử dụng đất được lập 10 năm một lần gắn với kỳ quy hoạch sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất cấp xã phải đ-ược lập trên nền bản đồ địa chính Ngoài ra, để cho việc quản lý đất đai được thuận lợi hơn, đất đai được chia thành 3 nhóm đất chính: nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng Bộ Tài nguyên

Trang 27

và Môi trường đã ban hành Thông tư hướng dẫn số 30/2004/TT-BTNMT và quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất và quy trình lập điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất các cấp

Cùng với quy hoạch sử dụng đất đai cả nước, đến nay cơ bản các tỉnh thành phố trực thuộc Trung Ương hoàn thành việc lập quy hoạch sử dụng đất đai đến năm 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Đối với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện được triển khai theo hướng dẫn của Tổng cục địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) Đến năm 2007 có

369 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Uơng hoàn thành quy hoạch sử dụng đất (chiếm 59,1% số đơn vị cấp huyện), quy hoạch sử dụng đất đô thị của hầu hết các tỉnh, thành phố chưa được lập

Với quy hoạch sử dụng đất cấp xã, năm 2007 cả nước có 3.597 xã, phường, thị trấn của 36 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương hoàn thành quy hoạch sử dụng đất (chiếm 34,2% tổng số đơn vị cấp xã); 903 xã, phường, thị trấn khác của 25 tỉnh, thành phố đang triển khai (chiếm 8,6% tổng số đơn

vị cấp xã)

2.3.5 Tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất trên cả nước

Cũng theo báo cáo số 238/BC-BTNMT, kết quả kiểm tra, đối chiếu các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giữa cấp xã với cấp tỉnh và giữa cấp tỉnh với cấp huyện trong giai đoạn 5 năm (2011-2015) ở các địa phương cho thấy phần lớn các địa phương đã lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đều có

sự không thống nhất về các chỉ tiêu sử dụng đất, chỉ tiêu chuyển mục đích và chỉ tiêu thu hồi đất Điều này phản ánh chất lượng của các phương án QHSDĐ được lập chưa cao (Chính phủ 2006)

- Về chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2015:

Trong tổng số 557 huyện đã được kiểm tra đối chiếu giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp tỉnh đã được Chính phủ duyệt với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp huyện đã được xét duyệt:

+ Có 482 huyện có chênh lệch chỉ tiêu quy hoạch đất sản xuất nông nghiệp (chiếm 86,5%) và chỉ có 75 huyện thống nhất số liệu; tổng diện tích trong quy hoạch của cấp huyện chênh lệch giảm so cấp tỉnh 191.042 ha (giảm 2,32%) Đặc biệt, 449 huyện có chênh lệch chỉ tiêu quy hoạch đất chuyên trồng lúa nước (chiếm 80,6%) và chỉ có 108 huyện thống nhất số liệu; tổng

Trang 28

diện tích chênh lệch giảm trong quy hoạch cấp huyện so với cấp tỉnh 8.315 ha (giảm 0,3%); một số tỉnh giảm mạnh, như: Kiên Giang giảm tới 23.709 ha, Long An giảm 4.854 ha, Tiền Giang giảm 4.280 ha, Trà Vinh giảm 3.317 ha, Bình Phước giảm 3.554 ha, Quảng Ngãi giảm 3.309 ha

+ Có 462 huyện có chênh lệch chỉ tiêu quy hoạch đất ở (chiếm 82,9%)

và chỉ có 95 huyện thống nhất số liệu; tổng diện tích chênh lệch giảm trong quy hoạch cấp huyện so với cấp tỉnh 65.340 ha (giảm 11,7%)

+ Có 463 huyện có chênh lệch chỉ tiêu quy hoạch đất sản xuất kinh doanh (chiếm 82,9%) và chỉ có 94 huyện thống nhất số liệu; tổng diện tích chênh lệch giảm trong quy hoạch cấp huyện so với cấp tỉnh 2.382 ha (giảm

+ Có 505 huyện chênh lệch chỉ tiêu chuyển mục đích từ đất sản xuất nông nghiệp sang phi nông nghiệp (chiếm 90,6%) và chỉ có 52 huyện thống nhất số liệu; tổng diện tích chênh lệch trong quy hoạch cấp huyện thấp hơn chỉ tiêu trong quy hoạch của cấp tỉnh đã được Chính phủ xét duyệt là 696 ha Các tỉnh có chênh lệch tăng vượt chỉ tiêu cho phép của Chính phủ điển hình là:

Bình Phước 8.530 ha, Hưng Yên 4.705 ha, Cà Mau 3.402 ha, Long An 2.785

ha, Tây Ninh vượt 2.044 ha, Lâm Đồng 3.233 ha, Nghệ An vượt 2.836 ha, Sơn

La vượt 2.119 ha Trong đó có 392 huyện chênh lệch chỉ tiêu chuyển mục đích

từ đất trồng lúa sang phi nông nghiệp (chiếm 70,4%) và chỉ có 165 huyện thống nhất số liệu

Đặc biệt có 439 huyện có chênh lệch chỉ tiêu chuyển mục đích từ đất chuyên trồng lúa nước sang phi nông nghiệp (chiếm 78,8%) và chỉ có 118 huyện thống nhất số liệu; tổng diện tích chênh lệch chung trong quy hoạch cấp huyện tăng vượt chỉ tiêu trong quy hoạch cấp tỉnh đã được Chính phủ xét duyệt là 20.225 ha

+ Có 380 huyện chênh lệch chỉ tiêu chuyển mục đích từ đất lâm nghiệp sang phi nông nghiệp (chiếm 68,6%); tổng diện tích chênh lệch chung trong

Trang 29

quy hoạch cấp huyện thấp hơn chỉ tiêu trong quy hoạch của cấp tỉnh đã được Chính phủ xét duyệt là 15.742 ha

+ Có 336 huyện chênh lệch chỉ tiêu chuyển mục đích từ đất nuôi trồng thuỷ sản sang phi nông nghiệp (chiếm 60,3%); tổng diện tích chênh lệch chung trong quy hoạch cấp huyện tăng vượt chỉ tiêu trong quy hoạch của cấp tỉnh đã được Chính phủ xét duyệt là 1.626 ha;

+ Có 312 huyện chênh lệch chỉ tiêu chuyển mục đích từ đất chuyên trồng lúa nước sang nuôi trồng thuỷ sản (chiếm 56,0%); tổng diện tích chênh lệch chung trong quy hoạch cấp huyện tăng vượt chỉ tiêu trong quy hoạch của cấp tỉnh đã được Chính phủ xét duyệt là 13.445 ha; các tỉnh tăng mạnh điển hình là Trà Vinh 4.177 ha, Bến Tre 3.107 ha, Nam Định 3.024 ha, Bắc Giang 2.564 ha

+ Có 163 huyện chênh lệch chỉ tiêu chuyển mục đích từ đất chuyên trồng lúa nước sang trồng cây lâu năm (chiếm 29,3%); tổng diện tích chênh lệch chung trong quy hoạch cấp huyện tăng vượt chỉ tiêu trong quy hoạch của cấp tỉnh đã được Chính phủ xét duyệt là 7.773 ha, tập trung chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long, điển hình là các tỉnh Vĩnh Long 3.249 ha, Hậu Giang 2.724 ha, Bến Tre 2.672 ha, Trà Vinh 2.461 ha, Bắc Giang 2.564 ha

Như vậy, các huyện đã lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có chênh lệch chỉ tiêu diện tích chuyển mục đích sử dụng đất trong quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất 5 năm (2006-2010) của cấp huyện so với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp tỉnh đã được Chính phủ phê duyệt chiếm tỷ lệ cao (chủ yếu

từ 56% đến 90% số huyện) Trong đó, chỉ tiêu chuyển mục đích sử dụng từ các loại đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp trong quy hoạch, kế hoạch của cấp huyện đa số là tăng vượt so với chỉ tiêu trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp tỉnh đã được Chính phủ xét duyệt

- Về chỉ tiêu thu hồi đất trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2015 của các địa phương

Trong tổng số 569 huyện đã được kiểm tra đối chiếu giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp tỉnh đã được Chính phủ duyệt với quy hoạch, kế hoạch của cấp huyện:

+ Có 502 huyện không thống nhất chỉ tiêu thu hồi đất sản xuất nông nghiệp với tổng diện tích thu hồi trong quy hoạch, kế hoạch của cấp huyện đã

Trang 30

được duyệt tăng vượt so với quy hoạch, kế hoạch của cấp tỉnh đã được Chính phủ xét duyệt là 13.445 ha

Trong đó có 427 huyện không thống nhất chỉ tiêu thu hồi đất chuyên trồng lúa với tổng diện tích thu hồi trong quy hoạch, kế hoạch của cấp huyện

đã được duyệt tăng vượt so với quy hoạch, kế hoạch của cấp tỉnh đã được Chính phủ xét duyệt là 37.684 ha; điển hình là các tỉnh Hà Tây vượt 20.986

ha, Long An vượt 6.155 ha, Hậu Giang 2.435 ha, Cà Mau 2.486 ha, Hải Dương 3.687 ha, Hưng Yên 3.615 ha

+ Có 372 huyện không thống nhất chỉ tiêu thu hồi đất lâm nghiệp với tổng diện tích thu hồi trong quy hoạch, kế hoạch của cấp huyện đã được duyệt giảm so với quy hoạch, kế hoạch của cấp tỉnh đã được Chính phủ xét duyệt là

21.325 ha

+ Có 319 huyện không thống nhất chỉ tiêu thu hồi đất lâm nghiệp với tổng diện tích thu hồi trong quy hoạch, kế hoạch của cấp huyện đã được duyệt tăng vượt so với quy hoạch, kế hoạch của cấp tỉnh đã được Chính phủ xét

Việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã cơ cấu lại góp phần

sử dụng đất phù hợp với quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong nông nghiệp, nông thôn phù hợp với nền kinh tế hàng hóa; hạn chế có hiệu quả việc chuyển đất lúa nước, đất lâm nghiệp có rừng sang mục đích khác

Diện tích đất có rừng che phủ từ chỗ bị suy giảm mạnh, gần đây đã được khôi phục và tăng nhanh Nhiều vùng tập trung chuyên canh trong nông nghiệp được hình thành và phát triển Kinh tế nông thôn đã thoát khỏi tình

Trang 31

trạng tự cung, tự cấp và chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa Bộ mặt kinh tế

- xã hội nông thôn được cải thiện

Đất dành cho phát triển công nghiệp, dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển đô thị được mở rộng, cơ bản đáp ứng nhu cầu của giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và nhu cầu đô thị hoá

Nhiều địa phương đã triển khai việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết đến từng thửa đất, đánh dấu một bước tiến mới trong quá trình hoàn thiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

về sắp xếp các loại đất theo mục tiêu quản lý hành chính, chưa tính toán đầy

đủ về hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường nhằm bảo đảm phát triển bền vững trong sử dụng đất, chưa phát huy cao nhất tiềm năng đất đai Nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp xã chưa gắn được với bản đồ địa chính Nội dung quy hoạch nặng về phân bổ các chỉ tiêu sử dụng đất của cấp dưới bị áp đặt từ cấp trên Quan niệm này không còn phù hợp đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, gây hạn chế sự chủ động của các địa phương trong việc xác định cơ cấu sử dụng đất của địa phương mình, hạn chế tính phù hợp và tính khả thi của các phương án quy hoạch tại các địa phương, làm cho quy trình lập quy hoạch cồng kềnh, tốn kém, chậm trễ Căn cứ lập quy hoạch

sử dụng đất theo quy định hiện hành được quy định chung cho tất cả các cấp lập quy hoạch sử dụng đất, điều này là chưa phù hợp

Kỳ QHSDĐ theo quy định hiện nay chưa hợp lý (quy định chung cho tất cả các cấp là 10 năm) Nguyên tắc quy hoạch cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch của cấp trên mà việc lập quy hoạch của cấp dưới luôn có độ trễ thời gian nhất định so với việc lập quy hoạch của cấp trên, xảy ra tình trạng khi xây dựng QHSDĐ cấp xã thì thời gian còn lại của kỳ quy hoạch rất ngắn, còn trong khoảng thời gian đầu kỳ quy hoạch chung chưa có phương án QHSDĐ mới của cấp dưới đặc biệt là cấp xã

Trang 32

Việc bảo vệ nghiêm ngặt đất chuyên lúa nước, đất có rừng tự nhiên và dành quỹ đất cho xã hội hoá các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục - thể thao chưa được đề cập đúng mức trong các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Việc rà soát và quy hoạch lại đối với đất nông trường, lâm trường, đất sản xuất kinh doanh, đất làm nhà ở của các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang triển khai còn chậm

Sự phối hợp giữa các Bộ, ngành và địa phương trong công tác lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhìn chung chưa tốt, nhất là giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng, giữa quy hoạch sử dụng đất cho sản xuất nông nghiệp và quy hoạch sử dụng đất cho nuôi trồng thuỷ sản

Phần lớn các địa phương, nhất là các thành phố, lúng túng trong việc gắn kết giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch điểm dân cư nông thôn

Việc chấp hành quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong nhiều trường hợp chưa nghiêm; còn có tình trạng giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất trái quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, mặc

dù gần đây đã được chấn chỉnh Có sự tuỳ tiện, không tuân thủ các tiêu chí trong điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại một số địa phương Việc công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn mang tính hình thức

Tình trạng quy hoạch “treo” vẫn khá phổ biến Nhân dân tại nhiều khu vực quy hoạch rất bức xúc về tình trạng đã quy hoạch nhưng trong thời gian dài (thậm chí có nơi hàng chục năm), vẫn không triển khai thực hiện, trong khi người

sử dụng đất thuộc khu quy hoạch không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không được xây dựng, cải tạo nhà ở, công trình, thậm chí còn bị chính quyền ở một số nơi không cho chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Mặc dù đã tập trung thực hiện dồn điền đổi thửa thành công ở nhiều nơi nhưng nhìn chung thửa đất nông nghiệp vẫn còn manh mún, cả nước có tới 70 triệu thửa đất Chưa có đầu tư để sử dụng đạt hiệu quả cao đối với 1.168.529

ha đất nương rẫy Việc sử dụng đất chưa trở thành động lực để xoá đói, giảm nghèo ở miền núi, vùng sâu, vùng xa

Theo quy định hiện nay, thẩm quyền xét duyệt quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh (thuộc thẩm quyền của Chính phủ) là chưa hợp lý Các bộ, cơ quan ngang bộ phải xem xét thẩm định hai lần, một lần với tư cách cơ quan chuyên

Trang 33

ngành, một lần với tư cách thành viên Chính phủ Cách thức thẩm định như vậy mang tính hình thức, đồng thời kéo dài thời gian thẩm định không cần thiết Mặt khác, theo các nhà nghiên cứu của Viện nghiên cứu Quản lý đất đai:

“Quy định về lập kế hoạch sử dụng đất cả nước là không cần thiết, vì kế hoạch

sử dụng đất do các địa phương tổ chức thực hiện, việc lập kế hoạch sử dụng đất cả nước chỉ mang tính hình thức, gây tốn kém Việc Chính phủ xét duyệt

kế hoạch sử dụng đất của địa phương là không phù hợp Vì Chính phủ đã giám sát việc quản lý và sử dụng đất của từng địa phương qua việc xét duyệt quy hoạch sử dụng đất mà kế hoạch sử dụng đất thực chất là phân kỳ việc thực hiện quy hoạch tùy thuộc vào địa phương; việc Chính phủ xét duyệt”

2.3.6.3 Nguyên nhân của những yếu kém, hạn chế

+ Chưa quán triệt đầy đủ vai trò của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đất đai, dẫn tới chưa có sự chỉ đạo đúng mức việc lập, phê duyệt

và triển khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

+ Trình độ, năng lực lập và quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có nhiều hạn chế Chưa xây dựng chuẩn quy hoạch thật sự khoa học và chưa có định mức sử dụng đất đối với một số chỉ tiêu đất chính để làm căn cứ xây dựng quy hoạch Đội ngũ cán bộ chuyên môn làm công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở các cấp còn thiếu và hạn chế về năng lực

+ Công tác chỉ đạo lập quy hoạch của Chính phủ thiếu sự kết nối chặt chẽ giữa các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch xây dựng Cơ chế phối hợp của các cơ quan, bộ, ngành trong xây dựng QHSDĐ chưa được quy định cụ thể làm giảm tính đồng bộ, tính nhất quán của các loại quy hoạch trên cùng một địa bàn (Đoàn Công Quý – 2006)

+ Các điều kiện về vật chất cho công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa bảo đảm, hầu hết các địa phương chưa bố trí thỏa đáng kinh phí để hoàn thành việc đo đạc lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính tạo điều kiện triển khai nhanh và có chất lượng công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

+ Công tác kiểm tra, thanh tra của Chính phủ, của Ủy ban nhân dân và giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp đối với việc lập và triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa được coi trọng và chưa thực hiện thường xuyên

Trang 34

+ Các nhà quản lý thiếu các giải pháp có tính khả thi để thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trong đó hạn chế lớn nhất là không cân đối đủ nguồn vốn cho xây dựng hạ tầng và sự bất cập trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

2.3.7 Giải pháp tăng cường quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Để khắc phục những yếu kém, hạn chế nêu trên và tạo ra những chuyển biến rõ rệt trong công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Chính phủ đã chỉ

ra 12 giải pháp cần triển khai thực hiện (Luật đất đai năm 2003), bao gồm:

1 Rà soát, hoàn chỉnh hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch ngành, quy hoạch xây dựng để làm rõ nội dung, cụ thể hoá trình tự thực hiện, tránh chồng chéo hoặc bỏ sót trong quản lý

2 Trên cơ sở những dự báo phát triển kinh tế - xã hội cho vài thập kỷ tới, cần xây dựng chỉ tiêu sử dụng đất cụ thể cho từng ngành, từng địa phương phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và cơ cấu dân cư

3 Đầu tư nghiên cứu khoa học, tăng cường đào tạo nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng và quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; có cơ chế huy động các cơ quan nghiên cứu khoa học, các cơ sở đào tạo tham gia lập và tư vấn phản biện về các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

4 Đầu tư đủ kinh phí để hoàn thành trước ngày 30 tháng 6 năm 2007 hệ thống quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất giai đoạn

2006 - 2010 các cấp, hoàn thành cơ bản việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; tập trung đầu tư để hoàn thành hiện đại hoá hệ thống hồ sơ địa chính trên phạm vi cả nước trước năm 2010

5 Tăng cường kiểm tra, thanh tra việc lập, thẩm định, xét duyệt, công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các cấp; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai nói chung và hành vi vi phạm quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất trong giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất nói riêng

6 Rà soát hiện trạng sử dụng đất của các địa phương, đơn vị, tổ chức, nhất là đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, đất do các nông trường, lâm trường, doanh nghiệp nhà nước quản lý để có sự điều chỉnh phù

Trang 35

hợp; đối với đất đã giao hoặc cho thuê mà không sử dụng, sử dụng không có hiệu quả, sử dụng quá mức cần thiết hoặc sử dụng sai mục đích đều phải kiên quyết thu hồi

7 Rà soát và đôn đốc việc sử dụng đất để thực hiện các dự án xây dựng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu đô thị mới, các dự án về khu dân cư

và nhà ở; đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng để phát huy hiệu quả sử dụng đất đã thu hồi, giảm hẳn tình trạng thu hồi đất mà không sử dụng; xử lý dứt điểm quy hoạch “treo" và dự án “treo”

8 Giám sát chặt chẽ việc lấy đất chuyên lúa, đất có khả năng nông nghiệp cao, đất có rừng, đất có mặt nước sang làm mặt bằng đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; cần có chính sách cụ thể để phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp ở những diện tích đất ít khả năng nông nghiệp nhưng hạ tầng thấp kém

9 Đẩy mạnh cải cách hành chính trong quản lý đất đai; kiện toàn bộ máy hành chính và tổ chức dịch vụ công trong quản lý đất đai, nhất là hệ thống Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và Tổ chức phát triển quỹ đất

10 Đổi mới chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư, bảo đảm quyền lợi chính đáng của người có đất bị thu hồi, khắc phục có hiệu quả tình trạng ách tắc, không bảo đảm tiến độ dự án do sự chậm trễ trong bồi thường, giải phóng mặt bằng

11 Tiếp tục khuyến khích khai hoang, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, nuôi trồng thuỷ sản trên đất mặt nước hoang hoá nhằm đẩy nhanh tiến độ đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng; tăng suất đầu tư cho chương trình trồng, khoanh nuôi tái sinh và tăng mức khoán chi bảo vệ rừng

12 Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và của nhân dân trong việc tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch

Trang 36

được phê duyệt, Ủy ban nhân dân Thành phố đã phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất đến các đơn vị hành chính cấp huyện thuộc thành phố (Quyết định số 695/QĐ-UBND ngày 01/2/2013 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về việc phân

bổ chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của Thành phố được phê duyệt là cơ sở pháp lý để thực hiện quản lý, khai thác sử dụng đất đai và đẩy mạnh công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn Thành phố

Trên cơ sở đó, các quận, huyện, thị xã đã khẩn trương hoàn thành quy hoạch sử dụng đất của địa phương mình và trình Ủy ban nhân dân Thành phố phê duyệt Toàn bộ 30 quận, huyện, thị xã đã có quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) được phê duyệt

Thực hiện theo quy định của luật Đất đai năm 2013, UBND thành phố đã chỉ đạo các địa phương lập Kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện Kế hoạch

sử dụng đất năm 2015 của các quận, huyện, thị xã đã được xây dựng đảm bảo chất lượng và đã được Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt

2.4.1 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch kỳ đầu 2011-2015

Căn cứ Nghị quyết số 06/NQ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ về việc xét duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch

sử dụng đất 05 năm kỳ đầu (2011-2015) thành phố Hà Nội, Ủy ban nhân dân Thành phố đã triển khai việc thu hồi đất, giao đất và chuyển mục đích sử dụng đất theo quy hoạch sử dụng đất đã được duyệt (Báo cáo điều chỉnh QHSD đất

TP Hà Nội 2016-2020) Theo đó, kết quả thực hiện Kế hoạch sử dụng đất các năm từ 2011-2014

là 2.380 công trình, dự án, với diện tích 7.640 ha, đạt 38% kế hoạch; Kế hoạch

sử dụng đất năm 2015 thực hiện 897 dự án, với diện tích 2.028 ha, đạt 52% kế hoạch Tổng hợp chung kết quả thực hiện thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất giai đoạn từ 2011-2015 trên địa bàn Thành phố đạt là 9.668 ha, đạt 40% kế hoạch

Kết quả thực hiện các chỉ tiêu sử dụng đất kỳ đầu 2011-2015 của TP Hà Nội được tổng hợp tại bảng 2.1

Trang 37

Bảng 2.1: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch sử

dụng đất 2011-2015 TP Hà Nội

TT Chỉ tiêu sử dụng đất Mã

Quy hoạch SDĐ được duyệt (ha)

Kết quả thực hiện

Diện tích (ha)

So sánh

Tăng (+), giảm (-) (ha)

Tỷ lệ (%)

2.8 Đất có di tích, danh thắng DDT 1 614,99 468,03 -1 146,96 28,98 2.10 Đất bãi thải, xử lý chất thải DRA 2 431,16 488,29 -1 942,87 20,08 2.11 Đất ở tại nông thôn ONT 31 741,52 29 219,24 -2 522,27 92,05

2.13 Đất xây dựng trụ sở cơ quan, CT sự nghiệp TSC 2 113,06 1 006,62 -1 106,44 47,64

2.14 Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng NTD 3 611,98 3 061,14 -550,84 84,75

3 ĐẤT CHƯA SỬ DỤNG CSD 4 678,62 6 264,88 1 586,26 133,90

Trang 38

Từ bảng 2.1 cho thấy:

a Đất nông nghiệp

Theo chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất đã được Chính phủ phê duyệt, đến năm

2015 trên địa bàn Thành phố có 168.791,09 ha đất nông nghiệp, kết quả thực hiện đến hết năm 2015 là 197.795,43 ha đạt 117,18% so với chỉ tiêu kế hoạch được duyệt (cao hơn 29.004,33 ha so với kế hoạch được duyệt) Trong đó:

- Đất trồng lúa: theo chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất đã được Chính phủ phê duyệt, đến năm 2015 Thành phố có 99.955,53 ha đất trồng lúa, kết quả thực hiện đến hết năm 2015 còn 111.267,50 ha đạt 111,32% so với chỉ tiêu kế hoạch đã được phê duyệt, cao hơn 11.311,96 ha so với kế hoạch được duyệt do chưa thực hiện được các công trình, dự án trên địa bàn các huyện, quận và thị xã Trong đó:

- Đất chuyên trồng lúa: theo chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất đã được Chính phủ phê duyệt, đến năm 2015 toàn Thành phố có 97.197,04ha, kết quả thực hiện đến hết năm 2015 còn 102.245,65 ha đạt 105,19% so với chỉ tiêu kế hoạch đã được phê duyệt, cao hơn 5.048,61 ha so với kế hoạch được duyệt do chưa thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện các công trình, dự án trên địa bàn Thành phố

- Đất trồng cây lâu năm: theo chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất đã được Chính phủ phê duyệt, đến năm 2015 toàn Thành phố có 13.592,69 ha, kết quả thực hiện đến hết năm 2015 có 20.197,14 ha đạt 148,59% so với chỉ tiêu kế hoạch đã được phê duyệt, cao hơn 6.604,45 ha so với kế hoạch được duyệt

- Đất rừng phòng hộ: theo chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất đã được Chính phủ phê duyệt, đến năm 2015 Thành phố có 7.782,37ha, kết quả thực hiện đến hết năm 2015 có 4.706,56 ha đạt 60,48% so với chỉ tiêu kế hoạch đã được phê duyệt, thấp hơn 3.075,81 ha so với kế hoạch được duyệt do việc rà soát lại quy hoạch 3 loại rừng trên địa bàn Thành phố

- Đất rừng đặc dụng: theo chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất đã được Chính phủ phê duyệt, đến năm 2015 toàn Thành phố có 12.085,13 ha, kết quả thực hiện đến hết năm 2015 có 10.289,16 ha đạt 85,14% so với chỉ tiêu kế hoạch đã được phê duyệt, thấp hơn 1.795,97 ha so với kế hoạch được duyệt do việc rà soát lại quy hoạch 3 loại rừng trên địa bàn Thành phố

- Đất rừng sản xuất: theo chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất đã được Chính phủ phê duyệt, đến năm 2015 toàn Thành phố có 6.493,34 ha, kết quả thực hiện đến

Trang 39

hết năm 2015 có 7.284,46 ha đạt 112,18% so với chỉ tiêu kế hoạch đã được phê duyệt, cao hơn 791,12 ha do việc rà soát lại quy hoạch 3 loại rừng trên địa bàn Thành phố

- Đất nuôi trồng thuỷ sản: theo chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất đã được Chính phủ phê duyệt, đến năm 2015 toàn Thành phố có 10.585,89 ha, kết quả thực hiện đến hết năm 2015 có 13.614,25 ha đạt 128,61% so với chỉ tiêu kế hoạch đã được phê duyệt, cao hơn 3.028,36 ha so với kế hoạch được duyệt do chưa thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện các công trình, dự án trên địa bàn Thành phố và do chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trong nội bộ đất nông nghiệp, một

số diện tích đất sử dụng kém hiệu quả tại các huyện vùng thấp như Thường Tín,

Mỹ Đức, Phú Xuyên được chuyển thành mô hình cá - vịt, lúa - cá

b Đất phi nông nghiệp

Theo chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất đã được Chính phủ phê duyệt, đến năm 2015 trên địa bàn Thành phố có 159.419,31 ha đất phi nông nghiệp, kết quả thực hiện đến hết năm 2015 có 131.831,69 ha đạt 82,69% so với chỉ tiêu kế hoạch đã được phê duyệt, thấp hơn 27.587,62 ha so với kế hoạch được duyệt

Trong đó:

- Đất quốc phòng: theo chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất đã được Chính phủ phê duyệt, đến năm 2015 toàn Thành phố có 10.608,14 ha, kết quả thực hiện đến hết năm 2015 có 7.061,72ha đạt 66,57% so với chỉ tiêu kế hoạch đã được phê duyệt, giảm -3.546,42 ha so với kế hoạch được duyệt do chưa thực hiện được một số công trình, dự án lớn tại các huyện, thị như quân chủng, phòng không, không quân tại Ba Vì, khu vực phòng thủ tại Mỹ Đức, Sơn Tây,

- Đất an ninh: theo chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất đã được Chính phủ phê duyệt, đến năm 2015 toàn Thành phố có 729,37ha, kết quả thực hiện đến hết năm 2015 có 390,97 ha đạt 53,6% so với chỉ tiêu kế hoạch đã được phê duyệt, hấp hơn 338,4 a so với kế hoạch được duyệt do chưa thực hiện được một số công trình, dự án lớn tại các huyện như trường trung cấp cảnh sát tại Thạch Thất, trường đại học An Ninh tại Sóc Sơn, trung tâm huấn luyện công an Thành phố tại Thanh Trì,…

- Đất khu công nghiệp: theo chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất đã được Chính phủ phê duyệt, đến năm 2015 toàn Thành phố có 3.081,00ha, kết quả thực hiện đến hết năm 2015 có 2.750,99 ha đạt 89,29% so với chỉ tiêu kế hoạch đã được

Trang 40

phê duyệt, hấp hơn 330,01 ha so với kế hoạch được duyệt do chưa thực hiện được dự án khu công nghiệp tại Sóc Sơn, Gia Lâm

- Đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản: theo chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất đã được Chính phủ phê duyệt, đến năm 2015 toàn Thành phố có 488,61 ha, kết quả thực hiện đến hết năm 2015 có 184,45 ha đạt 37,75% so với chỉ tiêu kế hoạch đã được phê duyệt, thấp hơn 304,16ha so với kế hoạch được duyệt do chức thực hiện được một số dự án tại các huyện như Ba Vì, Hoài Đức, Đan Phượng…

- Đất phát triển hạ tầng cấp cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã: theo chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất đã được Chính phủ phê duyệt, đến năm 2015 toàn Thành phố

có 57.278,16 ha, kết quả thực hiện đến hết năm 2015 có 42.439,44 ha đạt 74,09% so với chỉ tiêu kế hoạch đã được phê duyệt, thấp hơn 14.838,72ha so với

kế hoạch được duyệt do chức thực hiện được một số công trình, dự án để xây dựng cơ sở hạ tầng như giao thông, thủy lợi, văn hóa, y tế, giáo dục đào tạo, thể dục thể thao,… tại các huyện, quận và thị xã của Thành phố Trong đó:

+ Đất cơ sở văn hóa: theo chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất đã được Chính phủ phê duyệt, đến năm 2015 toàn Thành phố có 1.864,08 ha, kết quả thực hiện đến hết năm 2015 có 1.101,76 ha đạt 59,1% so với chỉ tiêu kế hoạch đã được phê duyệt, thấp hơn 762,32 ha so với kế hoạch được duyệt do chức thực hiện được một số công trình, dự án tại các huyện, thị như dự án Công viên cây xanh trong

dự án xây dựng hai bên dường cao tốc tại Đông Anh, Khu công viên cây xanh trong dự án xây dựng 2 bên đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng tại Gia Lâm, công viên Tả Thanh Oai tại Thanh Trì, Khu công viên và hồ điều hòa ở Cầu Giấy, Nam Từ Liêm, các nhà văn hóa thôn, xã tại các huyện, quận, thị xã và một số chỉ tiêu sử dụng đất từ đất cơ sở văn hóa được thống kê vào vào đất sinh hoạt cộng đồng và khu vui chơi, giải trí theo tiêu chí kiểm kê đất đai mới

+ Đất cơ sở y tế: theo chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất đã được Chính phủ phê duyệt, đến năm 2015 toàn Thành phố có 671,8 ha, kết quả thực hiện đến hết năm 2015 có 393,32ha đạt 58,55% so với chỉ tiêu kế hoạch đã được phê duyệt, thấp hơn -278,48ha so với kế hoạch được duyệt do chức thực hiện được một số công trình, dự án lớn như cụm bệnh viện ở Sóc Sơn, Gia Lâm, Đông Anh và xây dựng các trung tâm y tế, cơ sở khám chữa, bệnh và các trạm y tế tại các huyện, thị như Ứng Hòa, Mỹ Đức, Thường Tín,

+ Đất cơ sở giáo dục đào tào: theo chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất đã được

Ngày đăng: 16/12/2022, 08:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w