CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1.1 Khái quát về tín dụng ngân hàng 1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụ
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta, kinh tế nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng, giữ vị trí đầu tàu, chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Các DNNN ngày càng có những đóng góp lớn vào GDP cũng như ngân sách nhà nước, thể hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, đồng thời góp phần thực hiện các mục tiêu kinh
tế vĩ mô mà nhà nước đề ra Tuy nhiên trước xu thế cạnh tranh ngày càng ác liệt, các DNNN muốn đứng vững phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh Muốn thực hiện điều đó, một yếu tố quan trọng hàng đầu
là vốn Ngoài nguồn hỗ trợ từ nhà nước hay nguồn vốn tự có của doanh nghiệp thì nguồn vốn vay từ ngân hàng là một nguồn vốn hỗ trợ đắc lực cho các DNNN
Là một chi nhánh cấp một của NHNo& PTNTVN, Chi Nhánh Bắc Hà Nội đã thực hiện theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về việc hỗ trợ các DNNN vay vốn Với uy tín cao và mạng lưới chi nhánh rộng khắp trên địa bàn Hà Nội, Chi nhánh Bắc Hà Nội thu hút một lượng lớn khách hàng DNNN Trong quá trình thực tập tại NHNo&PTNTVN Chi nhánh Bắc Hà Nội, em nhận thấy ngân hàng đáp ứng một cách đầy đủ và nhanh chóng nhu cầu đối với nhiều DNNN có đủ tiêu chuẩn vay vốn Tuy nhiên, vấn đề về chất lượng tín dụng vẫn còn một số vướng mắc Do vậy, em đã
chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNNN tại NHNo&PTNTVN Chi
Nhánh Bắc Hà Nội” cho chuyên đề thực tập của mình và đưa ra một số giải pháp góp
phần nhỏ bé nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNNN tại Chi nhánh
Trang 3Chuyên đề của em gồm 3 phần chính như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhà nước
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DNNN tại NHNo&PTNTVN Chi Nhánh Bắc Hà Nội
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNNN tại NHNo&PTNTVN Chi Nhánh Bắc Hà Nội
Trang 4CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1 Khái quát về tín dụng ngân hàng
1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng là một phạm trù của nền kinh tế hàng hóa, nó tồn tại và phát triển song song với nền sản xuất hàng hóa, là động lực cho nền sản xuất hàng hóa phát triển Tín dụng phản ánh mối quan hệ kinh tế, trong đó mỗi cá nhân hay tổ chức chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một khối lượng giá trị hay hiện vật cho một
cá nhân hoặc tổ chức khác kèm theo một số ràng buộc và thỏa thuận nhất định như cách thức vay và trả nợ, lãi suất, thời gian hoàn trả…
Bản chất của tín dụng là quan hệ vay mượn hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ bình đẳng hai bên cùng có lợi, trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau giữa một bên có một khối lượng tài sản đang tạm thời nhàn rỗi, và một bên đang có nhu cầu về một khối lượng tài sản để thực hiện những mục đích nhất định
Tín dụng ngân hàng mang bản chất của tín dụng nói chung, nhưng ở đây là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng và các tổ chức tín dụng, còn một bên là các tổ chức, cá nhân trong xã hội
Ngân hàng với vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay sẽ huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, các tổ chức kinh tế trong toàn xã hội và sau đó sẽ đáp ứng nhu cầu về vốn cho các tổ chức, cá nhân đang thực sự cần vốn đồng thời đáp ứng được những yêu cầu mà ngân hàng đặt ra Như vậy, tín dụng ngân hàng đã thể hiện chức năng phân phối lại vốn tiền tệ, đáp ứng nhu cầu tái sản xuất xã hội Chức năng này được hình thành dựa trên đặc điểm tuần hoàn vốn trong quá trình tái sản xuất
xã hội, dẫn đến hiện tượng cùng lúc tạm thời thừa vốn ở một số cá nhân tổ chức, và thiếu vốn ở một số cá nhân tổ chức khác Do những nét đặc trưng riêng như vậy, tín dụng ngân hàng ngày càng trở nên quan trọng hơn so với các hình thức tín dụng khác
Trong tín dụng ngân hàng, có ba mối quan hệ chủ yếu: quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và cá nhân, quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các tổ chức, quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các ngân hàng trong và ngoài nước
Trang 51.1.2 Phân loại tín dụng ngân hàng
Căn cứ vào yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lý mà ngân hàng đưa ra nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại tín dụng thành nhiều hình thức khác nhau Sau đây là một số cách chia phổ biến:
1.1.2.1 Căn cứ vào tiêu thức thời hạn tín dụng
Tiêu thức này có ý nghĩa lớn đối với ngân hàng, bởi thời hạn tín dụng liên quan đến mức độ an toàn và lợi nhuận của ngân hàng Với tiêu thức này, tín dụng được phân thành 3 loại:
- Tín dụng ngắn hạn: Là khoản tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng và thường được dùng tài trợ cho vốn lưu động của các doanh nghiệp, và có thể đáp ứng cho nhu cầu sinh hoạt cho cá nhân
- Tín dụng trung hạn: Khoản tín dụng được cấp có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm Tín dụng trung hạn được dùng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư vào những
dự án nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh…Tuy nhiên, một phần tín dụng trung hạn được dùng để tài trợ thường xuyên cho nguồn vốn lưu động của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp mới thành lập
- Tín dụng dài hạn: Là khoản tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được dùng để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, cải tiến và mở rộng sản xuất với quy
mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới
Tín dụng trung và dài hạn tài trợ cho tài sản cố định và một phần tài sản lưu động của các doanh nghiệp Do khối lượng vốn lớn, thời gian đầu tư dài, thời gian thu hồi vốn chậm nên tín dụng trung và dài hạn có độ rủi ro cao
1.1.2.2 Căn cứ vào tài sản đảm bảo
Tín dụng được chia thành hai loại
-Tín dụng có đảm bảo: là các khoản tín dụng có kèm theo sự đảm bảo từ phía khách hàng Với những khách hàng vay lần đầu hoặc khách hàng chưa thực sự có uy tín, hoặc với những món vay lớn và dài hạn thì cần có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có
sự đảm bảo của bên thứ ba Khoản vay có bảo đảm tạo ra sự an toàn cho ngân hàng, họ
có quyền bán tài sản bảo đảm để tạo ra nguồn thu nhập bù đắp vào khoản cho vay
Trang 6không thu hồi được hay không đủ, nếu tín dụng đảm bảo bằng uy tín của bên thứ ba thì ngân hàng có quyền yêu cầu bên thứ ba phải trả nợ nếu khách hàng không trả được
- Tín dụng không có bảo đảm: là các khoản tín dụng được cấp cho khách hàng không cần kèm sự đảm bảo, cầm cố thế chấp hay sự đảm bảo của bên thứ ba, mà dựa trên uy tín của khách hàng Khoản vay này được cấp cho những khách hàng có tình hình tài chính vững mạnh, luôn trả nợ đúng hạn, hoặc những món vay nhỏ so với vốn của khách hàng hoặc có thể là những món vay ngắn hạn mà ngân hàng có thể kiểm soát được việc thu hồi nợ
1.1.2.3 Căn cứ vào hình thức tài trợ tín dụng
- Cho vay là hình thức tín dụng mà ngân hàng cấp tiền cho khách hàng thông qua những cam kết, thỏa thuận giữa hai bên về lãi suất tín dụng, cách thức và thời hạn trả cả gốc và lãi của khoản vay…Cho vay là hình thức tín dụng phổ biến nhất và mang lại lợi nhuận lớn nhất hầu hết ở các ngân hàng thương mại
- Bảo lãnh là hình thức tín dụng trong đó ngân hàng không cấp tiền cho khách hàng mà cho phép khách hàng sử dụng uy tín của mình để thực hiện một số giao dịch thương mại Như vậy, trong hình thức này, ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính cho khách hàng
- Cho thuê là hình thức tín dụng mà ngân hàng mua các tài sản, sau đó cho khách hàng thuê với những thỏa thuận nhất định Sau một thời gian, khách hàng phải trả cả gốc và lãi cho ngân hàng theo đúng thỏa thuận
- Chiết khấu là việc ngân hàng mua lại các thương phiếu hay một giấy nợ chưa đến hạn, hay chính là ngân hàng ứng trước cho khách hàng một lượng tiền Phần thu nhập mà ngân hàng được hưởng bằng chênh lệch giữa giá trị của giấy nợ và phần tiền ứng cho khách hàng Thu nhập này được xem là phần lãi mà ngân hàng thu được từ việc bỏ ra một lượng tiền ít hơn trong hiện tại để thu về một khoản lớn hơn trong tương lai
1.1.2.4 Căn cứ vào thành phần kinh tế
- Cho vay doanh nghiệp nhà nước: đối tượng cho vay là các doanh nghiệp nhà nước Thông thường đây là đối tượng khách hàng dành được nhiều ưu đãi khi sử dụng các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng
Trang 7- Cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh: Doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm một tỷ trọng lớn và có nhu cầu vay vốn lớn tại các ngân hàng
- Cho vay hộ sản xuất kinh doanh, cá nhân và cho vay khác: Hộ sản xuất chiếm
tỷ trọng nhỏ và chủ yếu ở nông thôn Khách hàng cá nhân là đối tượng khách hàng quan trọng đặc biệt là những khu vực thành thị
1.1.2.5 Phân loại theo nhiều tiêu thức khác
- Phân loại theo đối tượng tín dụng: tín dụng lưu động, tín dụng vốn cố định
- Phân loại theo mục đích của tín dụng: sản xuất kinh doanh, tiêu dùng , đầu tư bất động sản…
- Phân theo ngành kinh tế: tín dụng cung cấp cho các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ
- Phân loại theo mức độ rủi ro của tín dụng: tín dụng lành mạnh, tín dụng có vấn đề, nợ quá hạn có khả năng thu hồi, nợ quá hạn khó đòi
…
Các ngân hàng ngày càng đẩy mạnh việc đa dạng hóa và chuyên môn hóa trong cấp tín dụng Tuy nhiên, bên cạnh việc mỏ rộng phạm vi tài trợ, mỗi ngân hàng vẫn duy trì và phát huy lợi thế của mình
1.2 Những vấn đề chung về DNNN
1.2.1 Khái niệm
Doanh nghiệp nói chung là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm tiến hành những hoạt động kinh doanh thuộc nhiều lĩnh vực và ngành nghề như sản xuất, chế biến, chế tạo sản phẩm…đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của toàn xã hội
DNNN là một bộ phận của doanh nghiệp nói chung, tồn tại và phát triển trong nền kinh tế của các quốc gia Tuy nhiên, tùy vào tiêu thức phân loại và cách nhận biết khác nhau mà khái niệm về DNNN ở mỗi quốc gia khác nhau
Ở Việt Nam trong những năm đổi mới kinh tế vừa qua, quan niệm về DNNN cũng được đổi mới và dần hoàn thiện DNNN là một thực thể kinh tế thuộc sở hữu của nhà nước, hoạt động kinh doanh độc lập dưới sự quản lý của nhà nước DNNN phải có trách nhiệm quản lý, bảo toàn và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực mà nhà nước giao
cho Theo điều 1, luật DNNN được sửa đổi, bổ sung 20/1/2003: “Doanh nghiệp nhà
Trang 8nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”
1.2.2 Vai trò của DNNN xét trong tổng thể quốc gia
Là một thực thể kinh tế, nhưng DNNN không chỉ tác động đến lĩnh vực kinh tế của một quốc gia mà còn tác động sâu sắc đến vấn đề chính trị và xã hội của một quốc gia Sự tác động này được thể hiện thông qua vai trò của DNNN đối với từng lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội ở Việt Nam như sau
* Vai trò kinh tế:
Ngay từ những ngày đầu chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự điều tiết của nhà nước hay chính là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần thì kinh tế nhà nước vẫn luôn giữ vai trò chủ đạo, định hướng cho các thành phần kinh tế khác phát triển Là một bộ phận của kinh
tế nhà nước, DNNN cùng với kinh tế nhà nước vẫn luôn đóng vai trò then chốt thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN
Việc phát triển các DNNN mang tính quyết định đối với phát triển nền kinh tế của quốc gia Với vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, DNNN có nhiều ưu thế nổi trội hơn hẳn so với thành phần kinh tế khác, đó là khả năng huy động vốn nhanh, có đội ngũ cán bộ công nhân viên giàu kinh nghiệm, trình độ quản lý tốt… gặp ít khó khăn hơn khi gia nhập môi trường cạnh tranh thương mại quốc tế Có nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh mà thành phần kinh tế khác không thể đảm đương nổi và tất nhiên DNNN sẽ đứng ra để đảm bảo cung cấp sản phẩm dịch vụ cho toàn xã hội
Ở nhiều nước đang phát triển, DNNN là một trong những công cụ hữu hiệu để nhà nước điều tiết nền kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác quá trình cổ phần hóa DNNN đang diễn ra khá mạnh mẽ, giảm dần tỷ trọng nắm giữ cổ phần của nhà nước trong mỗi doanh nghiệp Điều đó là tất yếu hiển nhiên
để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường theo xu hướng hội nhập, trong khi DNNN bộc lộ nhiều nhược điểm mà rất khó khăn mới có thể khắc phục được, như ít năng động trong sản xuất kinh doanh, quản lý trong doanh nghiệp nhà nước mang tính chất hành chính nặng nề…
Trang 9* Vai trò chính trị
Các DNNN luôn có ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng đối với một quốc gia Thực vậy, DNNN không chỉ đóng vai trò then chốt, định hướng cho nền kinh tế phát triển mà còn mà còn là một công cụ hữu hiệu thực hiện các chính sách nhà nước Chính các DNNN tạo cho nhà nước một cơ sở kinh tế vững chắc để chi phối đến mọi thành phần kinh tế, từ đó chi phối toàn bộ nền kinh tế trong một quốc gia Thông qua các DNNN thể hiện quyền lực và vị thế quan trọng của nhà nước thông qua việc quản
lý DNNN và cung cấp nguồn lực cho các doanh nghiệp này Ngược lại, DNNN đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu của xã hội, thực hiện theo đúng định hướng và mục tiêu kinh
tế xã hội mà nhà nước đề ra
* Vai trò xã hội
Các DNNN góp một phần lớn giải quyết các vấn đề của xã hội đó là nạn thất nghiệp hay sự phân hóa giàu nghèo… DNNN cung cấp một lượng lớn công ăn việc làm cho người lao động, tạo cho họ thu nhập, giảm được áp lực về sự bất bình đẳng xã hội Đồng thời người lao động được đảm bảo các quyền lợi và làm việc trong một điều kiện tốt, DNNN thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm đầy đủ cho người lao động DNNN không chỉ tập trung ở thành thị mà còn được đầu tư xây dựng ở khắp nơi kể cả vùng sâu vùng xa của một quốc gia, tạo ra nguồn cung cấp sản phẩm dịch vụ đảm bảo cho sống của người dân
1.3 Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhà nước
1.3.1 Khái niệm chất lượng tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường đang trên đà hội nhập kinh tế quốc tế, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng mạnh mẽ Các yếu tố cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bao gồm chất lượng, số lượng và giá cả của sản phẩm Trong đó chất lượng là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự thành bại và khẳng định vị thế của mỗi doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh Chất lượng của sản phẩm nói chung được hiều là mức độ thỏa mãn của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng và lợi ích về mặt tài chính của nhà cung cấp Đặc biệt, đối với ngân hàng, là doanh nghiệp kinh doanh về
Trang 10lĩnh vực tiền tệ, lĩnh vực chi phối đến mọi cá nhân, tổ chức… thì chất lượng là một yếu
tố cực kì quan trọng, mang tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng
Chúng ta có thể hiểu: chất lượng tín dụng ngân hàng là sự đáp ứng một cách
tốt nhất nhu cầu của khách hàng trong quan hệ tín dụng(đối với cả người gửi tiền và người vay tiền), đảm bảo an toàn về vốn, tăng lợi nhuận cho ngân hàng, phù hợp và phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội
Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng đối tượng nhìn nhận về các khoản tín dụng thì chất lượng tín dụng được hiểu theo những nội dung khác nhau
Xét trên khía cạnh ngân hàng, chất lượng tín dụng là sự đảm bảo về tính an toàn
và sinh lời của của các khoản tín dụng Có nghĩa là các khoản tín dụng mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng phải đảm bảo sử dụng đúng mục đích như đã thỏa thuận, hoàn trả cả gốc và lãi theo đúng thời hạn, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng…
Xét trên khía cạnh khách hàng, chất lượng tín dụng được xem là lợi ích mà khoản tín dụng mang lại cho khách hàng, như thủ tục vay đơn giản nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc của ngân hàng, phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng với mức lãi suất và kỳ hạn hợp lý
Xét trên khía cạnh nền kinh tế, chất lượng tín dụng là những tác động tích cực của các khoản tín dụng đến nền kinh tế, đó là hỗ trợ và thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết công ăn việc làm, đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn…
Chất lượng tín dụng đối với DNNN không nằm ngoài khái niệm chất lượng tín dụng nói chung, mà ở đây đối tượng khách hàng được cấp các khoản tín dụng đã xác định, chính là các DNNN
1.3.2 Những chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của NHTM đối với DNNN
1.3.2.1 Các chỉ tiêu định tính
- Chất lượng tín dụng được thể hiện qua khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng, tạo điều kiện hểt sức cho khách hàng, giúp cho doanh nghiệp đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh lớn nhất, và ngân hàng đạt được lợi nhuận cao nhất Đồng thời, thủ tục vay vốn ngắn gọn và thuận tiện, cung cấp vốn nhanh chóng cho DNNN cũng như khách hàng nói chung để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh Kỳ hạn và
Trang 11phương thức thanh toán đảm bảo phù hợp với ngành nghề và chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp
- Chất lượng tín dụng thể hiện qua số lượng khách hàng của ngân hàng Ngân hàng có tình hình hoạt động kinh doanh tốt, uy tín cao, sản phẩm dịch vụ đa dạng thích hợp với nhu cầu của DN mới thu hút và tạo lập được mối quan hệ lâu dài với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn
- Chất lượng tín dụng thể hiện ở trình độ của cán bộ tín dụng và quy trình xem xét, thẩm định, kiểm tra, thanh tra các khoản tín dụng
Chỉ tiêu dư nợ = Dư nợ đối với DNNN/ Tổng dư nợ tín dụng
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng của dư nợ tín dụng đối với DNNN trong tổng dư
nợ tín dụng của ngân hàng trong một thời kỳ nhất định, thường là trong một năm
Nếu tổng dư nợ của ngân hàng cao cho thấy ngân hàng cho vay được nhiều, thu hút được nhiều khách hàng, uy tín cao Ngược lại, nếu tổng dư nợ thấp chứng tỏ ngân hàng hoạt động kém, khả năng cho vay thấp, không đáp ứng nhu cầu của khách hàng Trong đó, nếu tỷ trọng cho vay đối với DNNN cao thể hiện cho thấy ngân hàng thu hút được nhiều khách hàng DNNN, tạo được lòng tin và mối quan hệ tốt với họ
- Chỉ tiêu nợ quá hạn
Chỉ tiêu nợ quá hạn = Nợ quá hạn DNNN/ Dư nợ tín dụng DNNN
Trang 12Chỉ tiêu nợ quá hạn khó đòi = Nợ quá hạn khó đòi DNNN/ Dư nợ tín dụng DNNN
Đây là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng Nếu các tỷ lệ trên thấp thể hiện khả năng thu hồi nợ của ngân hàng tốt, khách hàng trả cả gốc và lãi đúng kì hạn, đảm bảo khả năng thanh toán và lợi nhuận cho ngân hàng Ngược lại, nếu các tỷ lệ trên cao thì các khoản tín dụng không được hoàn trả đúng hạn, không trả đủ hoặc khách hàng không có khả năng hoàn trả chiếm tỷ lệ cao, ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của ngân hàng Thông thường tỷ lệ nợ quá hạn của ngân hàng phải đạt dưới 5% là tốt nhất
- Chỉ tiêu về lợi nhuận
Chỉ tiêu này được xác định thông qua 2 tỷ lệ sau
Lợi nhuận tín dụng DNNN/ Dư nợ tín dụng DNNN
Lợi nhuận tín dụng DNNN/ Tổng lợi nhuận
Mục tiêu cuối cùng của ngân hàng là lợi nhuận, do vậy các khoản vay có chất lượng tốt khi mang lại lợi nhuận thực tế cho ngân hàng Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của các khoản vay DNNN, nó cho biết một đồng dư nợ tín dụng mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận cho ngân hàng Chỉ tiêu thứ hai cho biết tỷ trọng lợi nhuận của tín dụng DNNN trong tổng lợi nhuận của ngân hàng, từ đó cho biết tầm quan trọng của tín dụng DNNN trong hoạt động của ngân hàng
1.3.3 Nguyên tắc tín dụng
Khoản tín dụng được cấp cho DNNN khi đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc hoàn trả: khoản vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định Đây là nguyên tắc quan trọng phán ánh bản chất quan hệ tín dụng Nguyên tắc này đảm bảo thu nhập và sự tồn tại của ngân hàng
- Vốn vay phải được đảm bảo bằng tài sản có giá trị tương đương
Giá trị đảm bảo là cơ sở để xét duyệt khoản vay, là cơ sở đảm bảo khả năng trả
nợ của doanh nghiệp, do đó hạn chế rủi ro cho ngân hàng Giá trị đảm bảo có thể là tài sản cố định của doanh nghiệp, vật tư hàng hóa trong kho, số dư tiền gửi… hay là cam kết bảo lãnh của một tổ chức khác
- Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích như đã thỏa thuận
Trang 13Khi quyết định cho vay, ngân hàng phải thẩm định kỹ càng, đặc biệt là mục đích sử dụng khoản vay Do vậy, DN vay vốn phải thực hiện đúng thỏa thuận, vừa là
cơ sở để doanh nghiệp tính toán các yếu tố hiệu quả của hoạt động kinh doanh vừa là
cơ sở để thu hồi nợ của ngân hàng
Trần lãi suất huy động< Lãi suất huy động<Lãi suất cho vay<Trần lãi suất cho vay<Tỷ suất lợi nhuận bình quân
Đối với khách hàng doanh nghiệp, thường vay những món lớn, lãi suất cho vay thấp hơn so với khách hàng cá nhân Đặc biết đối với DNNN được ngân hàng dành nhiều ưu đãi với mức lãi suất thấp hơn so với DNNQD Trong chiến lược kinh doanh của hầu hết các ngân hàng, đối với những khách hàng lớn, hay khách hàng truyền thống cũng sẽ được hưởng mức lãi suất ưu đãi
1.3.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhà nước
Chất lượng tín dụng chịu tác động của nhiều nhân tố, từ khi khoản tín dụng được xét duyệt, được cấp cho doanh nghiệp cho đến khi thu hồi cả gốc và lãi Trong
đó có nhiều nhân tố tác động tiêu cực, làm mức độ rủi ro của các khoản tín dụng mà có thể dẫn đến việc ngân hàng không thu hồi được các khoản nợ Do vậy, để quản lý tốt chất lượng tín dụng cần phải hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến nó để tăng ảnh hưởng tích cực và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực
1.3.5.1 Các nhân tố xuất phát từ phía ngân hàng
- Chính sách tín dụng của ngân hàng:
Chính sách tín dụng mang ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của một ngân hàng, bao gồm các chủ trương, đường lối và định hướng cho hoạt động tín dụng của ngân hàng Để có chất lượng tín dụng cao, các ngân hàng cần phải đề ra chính sách tín
Trang 14dụng phù hợp với điều kiện của ngân hàng, phù hợp đường lối phát triển chung của nền kinh tế Đồng thời, để đảm bảo chất lượng tín dụng, thu hút được nhiều khách hàng thì chính sách tín dụng phải đảm bảo hài hòa giữa lợi ích giữa người gửi tiền, ngân hàng và doanh nghiệp vay vốn
- Chất lượng cán bộ, nhân viên ngân hàng:
Con người là yếu tố hàng đầu, quyết định chất lượng tín dụng cũng như sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Với đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ chuyên môn cao, đạo đức tốt thì mọi lĩnh vực, bộ phận của ngân hàng sẽ được thực hiện một cách khoa học, chặt chẽ… mang lại hiệu quả trong mọi hoạt động và giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng Trong đó, chất lượng của cán bộ tín dụng là rất quan trọng, do đó cán bộ tín dụng cần được tuyển chọn kỹ càng, có trình độ chuyên môn cao, nắm bắt nhanh nhạy với những thay đổi của thị trường Đồng thời họ phải là những người trung thực, đạo đức tốt đảm bảo ngân hàng không bị tổn thất do sự cố tình vi phạm của cán bộ tín dụng nhằm mưu lợi cho riêng mình
- Quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng là tập hợp các công việc, thủ thục được thực hiện theo một trình tự nhất định được bắt đầu từ khi khách hàng nộp đơn xin vay vốn cho đến khi ngân hàng thu hồi nợ Chất lượng tín dụng phụ thuộc vào việc ngân hàng lập ra một quy trình tín dụng hợp lý, có tính khoa học nhưng không phức tạp và gây khó khăn cho cả ngân hàng và khách hàng, đảm bảo lợi ích cho cả hai bên Không chỉ lập ra quy trình tín dụng mà ngân hàng cần đảm bảo thực hiện đầy đủ các bước theo trình
tự để ra trên cơ sở sự phối hợp chặt chẽ giữa ngân hàng và doanh nghiệp vay vốn đảm bảo chất lượng khoản vay
- Thông tin tín dụng
Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, thông tin là một trong những yếu tố sống còn của doanh nghiệp, đặc biệt là đối với ngân hàng Thông tin tín dụng là yếu tố quan trọng, là cơ sở để quyết định cấp khoản vay cho khách hàng, đồng thời để theo dõi, quản lý đảm bảo tính an toàn và hiệu quả cho các khoản vay Thông tin càng kịp thời và chính xác thì khả năng giảm thiểu, ngăn ngừa rủi ro càng lớn và chất lượng
Trang 15tín dụng càng cao Do vậy, ngân hàng cần phải xây dựng một hệ thống thông tin đầy
đủ, linh hoạt và hữu hiệu
- Kiểm soát nội bộ
Đây là hoạt động hết sức cẩn thiết và mang tính thường xuyên đối với ngân hàng Công tác kiểm soát nội bộ thực hiện nghiêm túc và chặt chẽ giúp cho ban lãnh đạo ngân hàng nắm bắt, kiểm soát và duy trì hoạt động tín dụng theo đúng hướng, đồng thời phát hiện và xử lý kịp thời những sai sót trong quy trình nghiệp vụ tín dụng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng
1.3.5.2 Các nhân tố xuất phát từ phía doanh nghiệp
- Trình độ và năng lực của doanh nghiệp
Doanh nghiệp là người vay vốn, có quyền sử dụng vốn theo đúng mục đích như
đã thỏa thuận và có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi đúng kì hạn Tuy nhiên không phải bất kì doanh nghiệp nào được vay vốn đều thành công trong kinh doanh và trả nợ đúng hạn Điều này phụ thuộc chủ yếu vào bản thân doanh nghiệp, vào trình độ và năng lực của doanh nghiệp, bao gồm tình hình tài chính vững mạnh, trình độ quản lý tốt, đội ngũ cán bộ có năng lực, có trình độ chuyên môn cao, trang thiết bị hiện đại… Tất cả những yếu tố này tác động đến cả quá trình hoạt động của doanh nghiệp Nếu những yếu tố này không được đảm bảo thì khả năng thành công của doanh nghiệp thấp, hiệu quả không cao, ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
- Đạo đức của doanh nghiệp vay vốn
Tư cách và đạo đức của người vay vốn ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng Ngay từ khi khoản vay chưa được cấp cho doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp làm
ăn phi pháp, hay có ý định lừa đảo ngân hàng họ có thể gian lận dùng giấy tờ giả mạo, hay dùng các kĩ xảo để qua mắt các nhà ngân hàng trong quy trình thẩm định Tư cách đạo đức của khách hàng phải được xem xét trong một quá trình lâu dài, cả trong quá khứ, hiện tại và kéo dài đến tuơng lai Có thể sau khi được cấp tín dụng, khách hàng sử dụng khoản vay không đúng mục đích hoặc cố tình chây ì, không trả nợ cho ngân hàng Tất cả những khả năng này đều tạo ra rủi ro cho ngân hàng
1.3.5.3 Các nhân tố khác
- Môi trường kinh tế:
Trang 16Ngân hàng cũng như các DNNN đều là các thành phần cấu tạo nên nền kinh tế, được xem là những tế bào của nền kinh tế nên luôn chịu những tác động từ môi trường này Khi nền kinh tế ổn định và phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, do vậy các DNNN sẽ vay vốn từ ngân hàng nhiều hơn Đồng thời các khoản vay sẽ được sử dụng đúng mục đích, mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp, từ đó ngân hàng có thể thu hồi cả gốc và lãi vay theo đúng
kì hạn Ngược lại khi nền kinh tế không ổn định, gặp nhiều khó khăn gây ra những tác động xấu đến các doanh nghiệp, do đó, nhu cầu vay vốn giảm một cách đáng kể, đồng thời những khoản vay đã được cấp thì khó hoàn trả cho ngân hàng đầy đủ cả gốc và lãi theo đúng kì hạn khi mà doanh nghiệp làm ăn thua lỗ
- Môi trường chính trị
Trong một quốc gia, tình hình chính trị ổn định sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cũng như ngân hàng hoạt động kinh doanh tốt, có hiệu quả Chỉ cần có những biến động nhỏ về chính trị cũng có thể gây ra những tác động lớn đối với tình hình hoạt động của các doanh nghiệp Nếu chiến tranh hay cuộc bạo động, biểu tình… xảy
ra có thể gây ra sự xáo trộn trong một bộ phận dân cư cũng có thể là toàn bộ nền kinh
tế, rõ ràng là sẽ tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, do vậy ảnh hưởng đến khả năng trả nợ đối với ngân hàng
-Môi trường pháp lý
Ngân hàng cũng như DNNN luôn chịu sự giám sát chặt chẽ và sự chi phối của
cơ quan chức năng và hệ thống pháp luật Việc tạo ra một môi trường pháp lý hoàn thiện và chặt chẽ góp phần lớn vào việc nâng cao chất lượng tín dụng Thật vậy, với một môi trường pháp lý đầy đủ, chặt chẽ tạo điều kiện cho DNNN và ngân hàng hoạt động tốt, tránh được nhiều rủi ro thông qua việc thực hiện đúng những quy định của pháp luật Đó cũng chính là cơ sở pháp lý để giải quyết những tranh chấp xảy ra giữa ngân hàng và DNNN một cách hữu hiệu nhất
- Chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước
Tùy thuộc vào tình hình kinh tế trong một thời kì nhất định mà nhà nước đưa ra những chính sách vĩ mô nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế đề ra Những chính sách này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại đối với
Trang 17doanh nghiệp nhà nước Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ chính sách tác động đến toàn bộ nền kinh tế trong đó có các doanh nghiệp Có thể công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô sẽ tác động tích cực nhằm khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn, mở rộng sản xuất kinh doanh, điều này sẽ góp phẩn nâng cao chất lượng tín dụng của doanh nghiệp Ngược lại có thể chính sách kinh tế vĩ mô sẽ tác động tiêu cực đến DNNN, hạn chế việc doanh nghiệp vay vốn, thu hẹp sản xuất kinh doanh, trong trường hợp nhà nước theo đuổi mục tiêu kiềm chế lạm phát Điều này sẽ làm giảm chất lượng tín dụng của ngân hàng
Trang 18CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNNN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM
CHI NHÁNH BẮC HÀ NỘI
2.1 Tổng quan về ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Chi Nhánh Bắc Hà Nội
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam được thành lập năm
1988 lấy tên là Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam, theo Nghị định số 53/HĐBT, ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
Sau khi được thành lập, ngân hàng ngày càng được hoàn thiện, phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Qua nhiều thay đổi, đến năm 1996, ngân hàng đã đổi tên như hiện nay Hiện nay NHNo&PTNTVN có mạng lưới chi nhánh rộng khắp và nhiều nhất
ở nước ta
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt nam Chi nhánh Bắc Hà Nội là một Chi nhánh cấp 1 trong mạng lưới Chi nhánh của NHNo&PTNTVN Chi nhánh Bắc Hà Nội được thành lập theo quyết định số 342/QĐ/HĐQT-TTCB của Chủ tịch Hội đồng quản trị NHNo&PTNTVN ngày 05/ 9/2001 Ngân hàng có trụ sở đăt tại
số 217 Phố Đội Cấn Quận Ba đình Hà Nội, hiện nay là 266 Phố Đội Cấn Quận Ba Đình Hà Nội Sau 8 năm hình thành và phát triển đến nay Chi nhánh Bắc Hà Nội đã ngày càng hoàn thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động của các phòng ban cũng như của các chi nhánh trực thuộc
Phòng ban:
- Phòng Kế toán - Ngân quỹ
- Phòng tín dụng
- Phòng Nguồn vốn và Kế hoạch tổng hợp
- Phòng Thanh toán quốc tế
- Phòng Kiểm tra Kiểm toán
- Phòng Hành chính Nhân sự
Trang 19- Phòng thẻ và phát triển sản phẩm dịch vụ
Các Chi nhánh trực thuộc: địa chỉ và Quyết định thành lập:
- Chi nhánh Hoàng Quốc Việt: địa chỉ tại 95 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Quận Cầu Giấy, Hà Nội, được thành Lập theo quyết định số 69/QĐ/HĐQT-TCCC ngày 8 / 4/ 2003 của Chủ tịch HĐQT NHNo&PTNTVN ( tiền thân là phòng giao dịch số 1- NHNo&PTNT Bắc Hà Nội)
- Chi nhánh Kim mã: địa chỉ 129 đường Kim Mã, phường Kim Mã quận Ba Đình Hà Nội, được thành lập theo quyết định số 280/QĐ/HĐQT-TCCC ngày 15/ 9/2005 của Chủ tịch HĐQT NHNo&PTNTVN
- Chi nhánh Nguyễn Văn Huyên: địa chỉ Lô B1-DN17, khu đất2, đường Nguyễn văn Huyên, phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, Hà Nội,được thành lập theo quyết định số 127/QĐ/HĐQT-TCCB ngày 17/5/2005 của Chủ tịch HĐQT NHNo&PTNTVN
Các Phòng giao dịch trực thuộc:
- Phòng giao dịch số 2: địa chỉ số nhà 59-61 phố Hàng Giấy, phường Đồng xuân, quận Hoàn Kiếm Hà Nội, được thành lập theo quyết định số 283/QĐ-HCNS ngày 17/5/2002 của Giám đốc chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội
- Phòng giao dịch số 4: địa chỉ lô 6 dãy E khu D74Công Binh, phường Ngọc
Hà, Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội, được thành lập theo quyết định số 547QĐ/HCNS ngày 07/10/2003 của Giám đốc chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội
- Phòng giao dịch số 5: địa chỉ số 65A Cửa Bắc, phường Trúc Bạch, quận Ba đình, Hà Nội, được thành lập theo quyết định số 276QĐ/HCNS ngày 20/5/2004 của Giám đốc chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội
- Phòng giao dịch số 1: trực thuộc chi nhánh Hoàng quốc Việt,địa chỉ số 97, đường Hoàng Quốc Việt, quận Cầu Giấy, Hà Nội Thành lập theo quyết định số 18/HCNS ngày 05/1/2006 của Giám đốc chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội
Sơ đồ cơ cấu tổ chức
Tại trụ sở chính 266 Đội Cấn:
Ban Giám đốc gồm:
Tổng Giám đốc:
Trang 20PHÒNG KIỂM TRA KIỂM TOÁN NỘI BỘ
PHÒNG HÀNH CHÍNH NHÂN
SỰ
PHÒNG NGUỒN VỐN &
KẾ HOẠCH TỔNG HỢP
PHÒNG THANH TOÁN QUỐC
TẾ
PHÒNG THẺ & PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM
Trang 21Sơ đồ 2.2 Mạng lưới chi nhánh
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNTVN Chi Nhánh Bắc Hà Nội
2.1.2.1 Nguồn vốn và huy động vốn
Trong những năm gần đây, cùng với guồng quay của nền kinh tế, đặc biệt là sự phát triển rực rỡ của ngành tài chính ngân hàng, NHNo&PTNT Bắc Hà Nội cũng không ngừng tăng trưởng và lớn mạnh
Tổng nguồn vốn huy động đáp ứng nhu cầu vốn hoạt động kinh doanh của NH không ngừng tăng lên Nguồn vốn huy động liên tục tăng với tốc độ khoảng 15%-20% mỗi năm trong những năm gần đây Tốc độ này khá cao so với các NHTMCP, thể hiện
vị thế và uy tín của khối NHTMNN nói chung và NHNo&PTNTVN Chi nhánh Bắc
CHI NHÁNH NGUYỄN VĂN HUYÊN
PHÒNG GIAO DỊCH
SỐ 2
PHÒNG GIAO DỊCH
SỐ 4
PHÒNG GIAO DỊCH
SỐ 5
CHI NHÁNH BẮC HÀ NỘI ( CHI NHÁNH CẤP 1)
PHÒNG GIAO DỊCH
SỐ 1
Trang 22Hà Nội nói riêng Tuy tốc độ tăng tổng nguồn của NH trong năm 2008 so với 2007 không cao, nhưng trước cuộc khủng hoảng nền kinh tế bắt nguồn từ Mỹ lan rộng ra toàn cầu tác động đến hệ thống ngân hàng trên toàn thế giới cùng những khó khăn đối với riêng nền kinh tế trong nước, thì những gì mà Chi Nhánh Bắc Hà Nội đạt được đã
là một thành tựu lớn
Bảng 2.1 Tổng nguồn vốn và cơ cấu tổng nguồn vốn theo thành phần kinh tế giai
đoạn 2006-2008
Đơn vị: Tỷ VNĐ
Số tiền % TN Số tiền % TN Số tiền %TN
3.Nguồn tiền gửi, vay
của TCTD 731.00 16.04 185.00 3.42 531.00 9.41
Ngoại tệ quy đổi 218.00 4.78 85.00 1.57 341.00 6.05
(Nguồn: Phòng nguồn vốn và kế hoạch tổng hợp, NHNo&PTNT Bắc HN)
Từ bảng số liệu, nguồn từ các TCKT luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất Tuy tổng nguồn vốn tăng đều đặn, nhưng các khoản mục trong nguồn vốn lại có khoản giảm, khoản tăng, tốc độ tăng giảm không đều đặn làm nguồn vốn dần được cơ cấu lại Nguồn vốn huy động từ dân cư giảm qua các năm: từ 16.13%(2006) giảm xuống 13.96%(2007) và tiếp tục giảm xuống 10.44%(2008) Tỷ trọng nguồn vốn từ các TCKT tăng khá mạnh
từ 67.86% lên 82.64% sau đó lại giảm xuống 80.15% Nguyên nhân của sự giảm nguồn này của năm 2008 so với 2007 cũng là sự tác động của cuộc khủng hoảng kinh
Trang 23tế và cơn sốt lạm phát đầu năm 2008 đã ảnh hưởng xấu đến hoạt động của các TCKT Riêng nguồn tiền gửi và vay từ các tổ chức tín dụng giảm mạnh từ 16.04%(2006) xuống 3.42%(2007) sau đó lại tăng khá mạnh, lên 9.41% Sự giảm xuống của nguồn này là do sự tăng lên của nguồn TCKT, do vào thời điểm 2007 nền kinh tế trên đà phát triển cao và sự phát triển rầm rộ của các doanh nghiệp Đồng thời các ngân hàng ngày càng cạnh tranh mạnh mẽ, đưa ra các sản phẩm dịch vụ thu hút các khách hàng lớn
Trong tổng nguồn, nguồn ngoại tệ quy đổi chiếm tỷ trọng không nhỏ, chiếm 10.11%(2006), 7.49%(2007) và 19.48%(2008) Năm 2008, nguồn ngoại tệ quy đổi tăng một cách đột biến, chiếm gần 1/5 tổng nguồn huy động, do nguồn ngoại tệ quy đổi từ các tổ chức tín dụng tăng cao, từ 130 tỷ lên 618 tỷ đồng Bên cạnh đó, nguồn ngoại tệ quy đổi từ dân cư ngày càng giảm, còn từ các tổ chức chủ yếu tăng Đó là nhờ việc ngân hàng có thế mạnh về công nghệ và trình độ nhân viên trong lĩnh vực nghiệp
vụ ngân hàng quốc tế nên đã thu hút được nhiều nguồn bằng ngoại tệ từ khách hàng lớn Đồng thời các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xuất nhập khầu ngày càng phát triển với quy mô ngày càng lớn và nhiều lĩnh vực, ngành nghề
Xét cơ cấu tổng nguồn theo kì hạn, gồm các nguồn không kì hạn, có kì hạn dưới 12 tháng và có kì hạn trên 12 tháng, trong đó các nguồn này không tăng một cách đều đặn như tổng nguồn
Đơn vị: Tỷ VND
Trang 24(Nguồn: Phòng nguồn vốn và kế hoạch tổng hợp,NHNo&PTNT Bắc HN)
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu nguồn vốn theo kỳ hạn giai đoạn 2006-2008
Từ biểu đồ trên, ta thấy nguồn có KH>= 12 tháng luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất và tăng khá đều đặn hàng năm Điều này thể hiện uy tín của ngân hàng ngày càng được củng cố trong lòng khách hàng Nguồn có KH<12 tháng chiếm tỷ trọng nhỏ nhất và tăng giảm thất thường, từ 2006 đến năm 2007 giảm gần một nửa Do Chi nhánh thường xuyên triển khai thêm các loại sản phẩm huy động có hàm lượng công nghệ cao và mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng như: sản phẩm tiết kiệm tích lũy, tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm dự thưởng…đã thu hút được khá nhiều khách hàng mới và một lượng khách hàng không nhỏ lúc đầu chỉ gửi không kỳ hạn hoặc gửi trong vòng một năm
2.1.2.2 Sử dụng vốn
a) Doanh số cho vay và thu nợ
Hoạt động tín dụng là một trong những thế mạnh của NHNo&PTNT Bắc Hà Nội Mỗi cán bộ tín dụng ở Chi Nhánh đều nhận thức sâu sắc tầm quan trọng về chất
Trang 25lượng tín dụng, coi chất lượng tín dụng là yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của chi nhánh
Biểu đồ 2.2 Doanh số cho vay và thu nợ trong 3 năm 2006-2008 Trong
những năm gần đây, doanh số cho vay tăng hàng năm, đặc biệt là năm 2007, tăng hơn hai lần so với năm 2006, cho thấy một bước nhảy vọt đáng kể Riêng năm 2008, doanh
số cho vay lại giảm gần một nửa so với năm trước, do sự tác động từ khủng hoảng kinh tế cùng với lạm phát và áp lực từ chính sách thắt chặt tiền tệ của NHNN Cũng như các NH khác, công tác tín dụng của chi nhánh được kiểm soát chặt chẽ hơn, nhiều doanh nghiệp không đủ tiêu chuẩn vay vốn, đồng thời hạn chế các khoản vay dành cho
cá nhân như cho vay tiêu dùng…Điều này ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng Tuy nhiên, việc hạn chế khoản vay cũng đảm bảo an toàn cho Chi nhánh hơn, tránh được những thiệt hại khó lường trước Nhưng dù doanh số cho vay cao hay thấp thì công tác thu hồi nợ vẫn luôn được thực hiện tốt Đó là nhờ việc kiểm tra, giám
Trang 26sát chặt chẽ chất lượng các khoản vay trước, trong và sau khi cho vay
b) Dư nợ tín dụng
Công tác kiểm tra kiểm soát hoạt động tín dụng thường xuyên được chi nhánh
thực hiện tốt nên dư nợ tín dụng không ngừng được nâng cao cả về chất lượng và số
lượng
Bảng 2.2 Cơ cấu tổng dư nợ phân theo kỳ hạn từ năm 2006-2008
Đơn vị: Tỷ VNĐ
Dư nợ %TDN Dư nợ %TDN Dư nợ %TDN
Ngoại tệ quy đổi 190.00 12.74 199.00 9.70 378.00 17.94
(Nguồn: Phòng tín dụng, NHNo&PTNTVN Chi nhánh Bắc Hà Nội)
Từ bảng số liệu trên, tổng dư nợ tăng qua mỗi năm, quy mô tín dụng không
ngừng được mở rộng Đồng thời cơ cấu tín dụng đang dần thay đổi Xét về kỳ hạn, tuy
dư nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn nhưng tỷ trọng dư nợ ngắn hạn giảm xuống
khoảng 5% mỗi năm trong 3 năm gần đây, do vậy tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn cũng
tăng lên hàng năm với mức đó Tuy nhiên, hiện nay NH có xu hướng giảm cho vay
trung và dài hạn nhằm đảm bảo an toàn và đảm bảo tỷ trọng cho vay trên tổng dư nợ
theo kế hoạch được giao
Trang 272.1.2.3 Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế
Các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế được thực hiện bởi phòng thanh toán quốc tế Trong những năm gần đây, dịch vụ thanh toán quốc tế đã thực sự phát triển mạnh mẽ
và được duy trì cho tới tận thời điểm hiện nay với kết quả tăng trưởng cao, an toàn, nhanh chóng với uy tín cao với khách hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài Chi nhánh thường xuyên đa dạng hoá các dịch vụ thanh toán quốc tế như: Thông báo L/C xuất khẩu, đòi tiền bộ chứng từ theo LC xuất khẩu, chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu theo L/C và không theo L/C, phát hành L/C nhập khẩu, nhờ thu
Theo đà tăng trưởng kinh tế, các hoạt động thương mại quốc tế gia tăng, doanh
số các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của chi nhánh trong năm 2007 tăng so với năm
2006 một cách rõ rệt, như mua bán ngoại tệ tăng gần gấp đôi Năm 2008, với nhiều khó khăn đối với chi nhánh cũng như đối với hoạt động thanh toán quốc tế, doanh số của các nghiệp vụ thanh toán quốc tế thấp hơn so với năm 2007 Tuy vậy, những kết quả đạt được đã thể hiện sự nỗ lực của chi nhánh trong điều kiện khó khăn như hiện nay
Hoạt động thanh toán quốc tế là một nghiệp vụ gắn liền với nghiệp vụ tín dụng Đối với chi nhánh, hoạt động tín dụng đã phát huy được vai trò kích thích XNK, cụ thể trên 50% L/c mở tại chi nhánh sử dụng nguồn vốn tín dụng Sự tăng trưởng và phát triển của tín dụng là động lực và nguyên nhân dẫn đến sự tăng trưởng trong hoạt động thanh toán quốc tế
Bảng 2.3 Kết quả hoạt động thanh toán quốc tế trong giai đoạn
món Số tiền($) Mua NT($)
Bán NG T($)
Năm 2006 1,168 74,387,355 4,854,403 48 2,747,704 38,313,462 38,407,984 Năm 2007 1,306 182,470,319 9,166,631 57 2,395,425 67,809,423 67,608,026
Trang 28Năm 2008 1,130 45,470,000 3,650,000 40 1,336,000 66,056,000 65,840,000
(Nguồn: Phòng thanh toán quốc tế, NHNo&PTNTVN Chi nhánh Bắc Hà Nội)
Năm 2008, chủ trương thắt chặt tiền tệ của nhà nước đã tác động đến hoạt động tín dụng, do vậy đã gây khó khăn cho hoạt động thanh toán quốc tế bởi phần lớn khách hang thanh toán quốc tế sử dụng nguồn vốn vay để thực hiện xuất nhập khẩu
2.1.2.4 Đối với công tác thẻ và sản phẩm dịch vụ
Mặc dù phòng thẻ và phát triển dịch vụ được thành lập sau các phòng ban khác, nhưng đã thể hiện vai trò và sự đóng góp lớn đối với Chi nhánh Các sản phẩm thường xuyên được đổi mới và nâng cao chất lượng để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng
Năm 2008, NH triển khai đầy đủ và thành công các sản phẩm mới như phát hành thẻ quốc tế Visa, gói dịch vụ MobileBanking gồm SMS Banking, dịch vụ chuyển khoản siêu nhanh qua tin nhắn,VnMart- ví điện tử dịch vụ chấp nhận thanh toán qua Internet cho thẻ quốc tế, dịch vụ bảo hiểm tai nạn cho chủ thẻ quốc tế Visa…Tính đến thời điểm 31/12/2008, tổng số máy ATM do Chi nhánh quản lý là 10 máy, mua mới và lắp đặt 10 thiết bị EDC để phát triển thêm kênh thanh toán thẻ và giảm tải cho các máy ATM, tổng số lượng thẻ đã phát hành của toàn Chi nhánh đạt 15,000 thẻ, tổng số dư tiền gửi không kỳ hạn đối với các tài khoản thẻ đạt gần 22 tỷ đồng, bình quân đạt 1.4 triệu đồng/thẻ Trong đó, số đơn vị hành chính sự nghiệp hưởng lương ngân sách NN thanh toán qua tài khoản ATM tại chi nhánh là 30 đơn vị, tổng số thẻ là 2200 thẻ; thực hiện trả lương qua tài khoản cho 13 đơn vị, tổng số thẻ đạt 1000 thẻ Ngoài ra, Chi nhánh còn ký hợp đồng với Bảo hiểm xã hội quận Ba Đình làm thẻ trả lương cho các đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội cho trên 3000 đối tượng
2.1.2.5 Kết quả tài chính
Trong những năm gần đây, lợi nhuận của Chi nhánh đảm bảo tiêu chí năm sau cao
hơn năm trước và vượt mức kế hoạch của Chi nhánh đề ra hằng năm
Đơn vị: Tỷ VND
Trang 29(Nguồn: Phòng kế toán ngân quỹ, NHNo&PTNTVN Chi Nhánh Bắc Hà Nội)
Biểu đồ 2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh trong giai đoạn 2006-2008
Năm 2007, tổng thu là 486,849 triệu đồng, đạt 148.6% so với kế hoạch và tăng 24.4% so với năm 2006 Nếu năm 2007 là một năm phát triển rực rỡ của hệ thống ngân hàng thì năm 2008 lại là một năm khó khăn đối với ngân hàng, trong đó có NHNo&PTNN Chi nhánh Bắc Hà Nội
Mặc dù vậy, chênh lệch thu chi qua các năm khá cao, kể cả năm 2008 là 79.719
tỷ Trong tình hình khó khăn, số lượng và quy mô trong các hoạt động có thể giảm nhưng chất lượng các hoạt động vẫn đảm bảo phục vụ khách hàng và mang lại lợi nhuận cho Chi nhánh
Trong tổng thu, thu từ hoạt động tín dụng luôn chiếm một tỷ trọng lớn Năm
2007, thu từ hoạt động tín dụng chiếm 94.6%, thu dịch vụ chiếm 5.4% tổng thu Năm
2008, tỷ trọng thu từ hoạt động tín dụng tăng lên, chiếm 97.66 tổng thu
2.2 Thực trạng về các DNNN
Trong những năm gần đây, số lượng DNNN ngày càng giảm với định hướng cổ phần hóa DNNN của chính phủ đề ra Tuy nhiên, Đảng và nhà nước vẫn luôn xác định các DNNN vẫn đang giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lực lượng nòng cốt để kinh tế nhà nước