1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN, TRÌNH bày và ĐÁNH GIÁ về tổ CHỨC bộ máy NHÀ nước đại NAM dưới THỜI NGUYỄN SAU cải CÁCH của MINH MẠNG

16 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Nguyên Nhân, Trình Bày Và Đánh Giá Về Tổ Chức Bộ Máy Nhà Nước Đại Nam Dưới Thời Nguyễn Sau Cải Cách Của Minh Mạng
Tác giả Đinh Kiều Huyền
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Lịch Sử
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 761,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa chủ đề - Ý nghĩa khoa học: nghiên cứu chủ đề “Phân tích nguyên nhân, trình bày và đánh giá về tổ chức bộ máy nhà nước Đại Nam dưới thời Nguyễn sau cải cách của Minh Mạng ” góp

Trang 1

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội

Khoa Lịch Sử

BÀI TIỂU LUẬN MÔN: LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

CHỦ ĐỀ: PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN, TRÌNH BÀY VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC ĐẠI NAM DƯỚI THỜI NGUYỄN SAU CẢI CÁCH

CỦA MINH MẠNG

Sinh viên thực hiện: Đinh Kiều Huyền

Msv: 695602063 Lớp/khóa:A/69

Hà Nội, ngày 1 tháng 8 năm 2022

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN VỀ BÀI LÀM CỦA MÌNH

Tôi xin cam đoan bài sản phẩm tiểu luận này là nghiên cứu của cá nhân tôi Tôi cam đoan

các nguồn tài liệu tham khảo sử dụng trong tiểu luận có chú thích, nguồn gốc rõ ràng,

không sao chép nguyên văn hoặc đạo văn từ người khác

Ngày 1 tháng 8 năm 2022 Huyền

Đinh Kiều Huyền

Trang 3

Mục Lục

Trình Bày 1

A Mở Đầu 1

1 Ý nghĩa chủ đề 1

2 Mục tiêu của chủ đề 1

3 Nhiệm vụ của chủ đề 1

B Giải Quyết Vấn Đề 2

1 Một số khái niệm 2

2 Phân tích nguyên nhân 2

2.1 Nguyên nhân chủ quan 2

2.2 Nguyên nhân khách quan 4

3 Nội Dung Tổ Chức Bộ Máy Nhà Nước 4

3.1 Tổ chức bộ máy trung ương 5

3.2 Tổ chức bộ máy địa phương 7

3.3 Đặc điểm, tính chất 8

3.4 So sánh với thời vua Gia Long 9

4 Đánh giá 10

5 Bài học kinh nghiệm 11

C Kết luận 11

D Tài liệu tham khảo 12

Trang 4

1

Trình Bày

A Mở Đầu

1 Ý nghĩa chủ đề

- Ý nghĩa khoa học: nghiên cứu chủ đề “Phân tích nguyên nhân, trình bày và đánh giá về tổ chức bộ

máy nhà nước Đại Nam dưới thời Nguyễn sau cải cách của Minh Mạng ” góp phần làm sáng tỏ hơn trong nghiên cứu học thuật về tổ chức bộ máy nhà Nguyễn sau cải cách của Minh Mạng Đồng thời hiểu rõ sự tác động của những nguyên nhân chủ quan và khách quan chi phối tới sự ra đời và kết cấu của tổ chứuc

bộ máy nhà nước Trên cơ sở đó có cái nhìn khách quan, khoa học về những giá trị và đóng góp của tổ chức bộ máy cho sự phát triển của Đại Nam sau cải cách của Minh Mạng

- Ý nghĩa thực tiễn: thông qua tìm hiểu chủ đề giúp sinh viên khoa Lịch sử nói chung và đặc biệt sinh

viên trong ngành sư phạm Lịch sử nói riêng sẽ tích lũy lượng thông tin, kiến thức phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy về sau

2 Mục tiêu của chủ đề

- Tìm hiểu về “Phân tích nguyên nhân, trình bày và đánh giá về tổ chức bộ máy nhà nước Đại Nam dưới thời Nguyễn sau cải cách của Minh Mạng” nhằm hướng tới đạt được mục tiêu: giúp sinh viên nắm và phân tích được những tác động của những nguyên nhân chủ quan và khách quan và khách quan tới việc hình thành tổ chức bộ máy nhà nước sau cải cách của Minh Mạng Trình bày được các nội dung cốt yếu của tổ chức bộ máy và đưa ra đánh giá khách quan dựa trên bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho tổ chức và xây dựng bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay

3 Nhiệm vụ của chủ đề

Cần đi vào giải quyết những nhiệm vụ sau

- Phân tích và làm rõ được nguyên nhân dẫn tới xây dựng và tổ chức bộ máy nhà nước Đại Nam của Minh Mạng

- Trình bày được nội dung về tổ chức bộ máy nhà nước Đại Nam dưới thời Nguyễn sau cải cách của Minh Mạng

- Đánh giá một cách khách quan về tổ chức bộ máy nhà nước Đại Nam dưới thời Nguyễn sau cải cách của Minh Mạng

- Đưa ra được một số bài học kinh nghiệm cho việc tổ chức bộ máy nhà nước hiện nay của Việt Nam

- Kết luận xúc tích về vấn đề “Phân tích nguyên nhân, trình bày và đánh giá về tổ chức bộ máy nhà nước

Đại Nam dưới thời Nguyễn sau cải cách của Minh Mạng”

Trang 5

2

B Giải Quyết Vấn Đề

1 Một số khái niệm

- Bộ máy nhà nước: là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương được tổ chức và

hoạt động theo các nguyên tắc chung, thống nhất nhằm thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của nhà nước

Mỗi kiểu nhà nước có cách tổ chức bộ máy nhà nước riêng, tùy thuộc vào bản chất của giai cấp và nhiệm

vụ chức năng và mục tiêu hoạt động của nhà nước, cũng như các điều kiện hoàn cảnh khác nhau về lịch

sử, văn hóa, truyền thống dân tộc, mức độ đấu tranh giai cấp, tương quan các lực lượng chính trị

- Tổ chức bộ máy nhà nước: là hoạt động thiết lập các cơ quan theo một trình tự nhất định, quy định

cách thực hiện thành lập, xác định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể đối với mỗi cơ quan nhà nước Bộ máy nhà nước là tổ chức cấu trúc trực tiếp giữ và thực thi các quyền của nhà nước

2 Phân tích nguyên nhân

2.1 Nguyên nhân chủ quan

* Chính trị: Đại Việt (trước khi đổi tên thành Đại Nam năm 1838) nước loạn

- Các cuộc khởi nghĩa nổ ra ở cả ba kì, đặc biệt ở Bắc Hà, kéo dài từ đầu nhà Nguyễn tới thời Minh Mạng chưa dứt

+ Các nhà sử học tính rằng số lượng các cuộc nổi dậy nửa đầu thế kỷ XIX nhiều hơn thế kỷ XVIII Từ năm 1802 - năm 1862, tại Bắc Hà có từ 350 cho tới 400 cuộc nổi dậy của nông dân nổ ra Trong số đó

có 254 cuộc dưới thời Minh Mạng (1820-1840) Tiêu biểu là các cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành ở Nam Định, Lê Duy Lương ở Ninh Bình và Nông Văn Vân ở Tuyên Quang Cuộc khởi nghĩa của Vũ Đình Lục và Đặng Trần Siêu ở Sơn Nam (Thượng du Thanh Hóa), liên tục hoạt động cho đến năm 1824 Tiếp theo là phong trào nông dân ở miền xuôi, vùng đồng bằng Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ: Nguyễn Đức Khoa,

Tú Bích ở Kinh Bắc, Đỗ Hoàng Thân ở Sơn Tây, Ninh Đãng Tạo, Phan Bô ở Nghệ An

+ Sau khi tiến hành khởi nghĩa lật đổ chính quyền ở địa phương, các thủ lĩnh đã lập nên chính quyền mới

và lãnh đạo quần chúng Chính quyền của triều đình ở địa phương không còn Điều này làm mất đi niềm tin và quyền lực lãnh đạo của triều đình với dân chúng Đặt ra vấn đề ở đây là cần phải tổ chức bộ máy nhà nước đến từng địa phương

Nguyên nhân của các cuộc nổi dậy do:

+ Các chính sách cũ của Gia Long: Bọn quan lại hay nhũng nhiễu dân chúng, thu thuế dân cao, đặc biệt

các vùng núi xa xôi, trình độ nhận thức người dân thấp, quan lại càng dễ dàng hạch sách Nhiều người trung lương đâm ra chán nản, trái lại phe gian nịnh thần mỗi ngày một nhiều Đặc biệt vấn đề xây dựng thành lũy gây hao tiền, dân chết hàng loạt

Một người Pháp - Borel (năm 1818) mô tả việc xây thành Phú Xuân (Huế): “Nhà vua sử dụng tất cả

nhân lực vào việc xây tòa thành và các công trình công cộng khác, có đến 8 vạn người được điều động từ các nơi trong cả nước đang khẩn trương xây dựng một tòa thành rộng lớn bằng gạch Riêng việc xây bờ thành đã tốn kém những khoản tiền khổng lồ và làm thiệt hàng ngàn nhân mạng vì phải khổ dịch liên

Trang 6

3

tục Nhà vua [Gia Long] đã vung ra những món tiền lớn và hy sinh tính mạng của hàng ngàn dân chúng vì họ phải làm việc không nghỉ tay trên các tường lũy của kinh thành Mười vạn người được thường xuyên huy động” 1 nguồn gốc sâu sa làm dân chúng nổi dậy  tổ chức bộ máy, sức mạnh cai trị của triều đình tới quần chúng không còn

- Từ thời vua Gia Long tơi thời Minh Mạng, diện tích lãnh thổ liên Đại Việt liên tục được mở rộng, dân

cư đông đúc Việc phân chia lại và thâu tóm quyền lực quản lí của nhà nước tới từng địa phương là việc hết sức cấp bách

* Kinh tế: chính trị không được yên ổn, vua Gia Long đổ tiền xây dinh thự, thành lũy, khởi nghĩa thường

xuyên nổ ra, thêm nữa Gia Long thu thuế cao, quan lại hạch sách nhũng nhiễu  kinh tế Đại Việt suy yếu, nhân dân mất mùa, đói kém

* Xã hội

- Dịch bệnh, mất mùa, đói kém  dân chúng khổ  mâu thuẫn xã hội giữa dân chúng và triều đình Nguyễn

Năm 1820“bệnh dịch bùng phát từ mùa thu sang mùa đông, bắt đầu từ Hà Tiên, sau rốt đến Bắc

Thành, tổng cộng số người chết là 206.835 người (trong đó Bắc Thành 114.282 người)” 2

- Sự ảnh hưởng của vương triều Tây Sơn trong dân chúng còn quá lớn, đặc biệt vấn đề lên ngôi bằng con đường chiến tranh của nhà Nguyễn đem (quân Xiêm) ngoại bang đánh Vương triều Tây Sơn (vương triều được lòng dân vì đánh bại 29 vạn quân Thanh, bảo vệ được nền độc lập dân tộc) Hành động cầu viện Xiêm của Nguyễn Ánh được đánh giá “cõng rắn cắn gà nhà” vì quân Xiêm đi đến đâu là cướp bóc đấy, giết hại dân Đại Việt đến đó, dân chúng oán ghét nhiều Điều này dẫn tới việc làm mất lòng dân Tuy kết thúc đã lâu xong ảnh hưởng rất lớn tới niềm tin của dân chúng với triều Nguyễn, đặc biệt nhân dân Bắc Hà

- Giới sĩ phu Bắc Hà từ lâu vẫn nuôi trong mình tư tưởng khôi phục nhà Lê: “Bắc Hà là nước cũ của nhà Lê” nên khó chấp nhận triều Nguyễn Điều đó đặt ra cho nhà Nguyền bài toán phức tạp về tồ chức hệ thổng cai trị ở hai miền Đại Việt

* Hạn chế của bộ máy thời Gia Long cần được khắc phục

- Bộ máy thời vua Gia Long xây dựng trước đó bị khâu trung gian quan đại thần thâu tóm, cát cứ quyền lực, đặc biệt các chức Tổng trấn, quan lại những nơi biên giới xa xôi Tính tập trung quyền lực vào tay vua chưa cao

 Vua Minh Mệnh hiểu rằng để tổ chức một triều đình mạnh có đủ khả năng chỉ đạo mọi hoạt động chính quyền trên toàn quốc thì không thể duy trì bộ máy nhà nước Do vậy, phải tiến hành công cuộc cải cách

* Tư tưởng trị nước, con người Minh Mạng

- Vua Minh Mạng, tên khai sinh Nguyễn Phúc Đảm (25/5/1791 – 20/1/1841), là vị vua thứ hai dưới triều nhà Nguyễn Ông trị vì từ năm 1820 đến năm 1841

1

Đại Cương Lịch Sử Việt Nam, Trương Hữu Quýnh (2005), tr 456 – 457

2 Trong Châu bản triều Nguyễn có ghi thống kê của bộ Hộ

Trang 7

4

- Là người tài năng, có ý chí và thông minh, ngay từ khi lên ngôi hoài bão của Minh Mệnh là muốn làm

"một Lê Thánh Tông của Vương triều Nguyễn” Có nghĩa, Minh Mệnh muốn trở thành một ông vua lập

ra pháp trị, tiễn chương cho các triều vua sau Hình ảnh Lê Thánh Tông như một mẫu hình, một tấm gương về một ông vua "hùng tài, đại lược”, dường như lúc nào cũng trở đi, trở lại trong ý nghĩ của Minh

Mệnh “Nước Việt ta mở nước bằng văn hiến, các bậc vua hiến đời trước đều cá, duy Lê Thánh Tông thì

không phải là đời nào cũng có Những phép hay chính tốt chép cả ở trong sử sách, lại còn khi ránh việc thi lấy văn nghệ làm vui, trước tác rất nhiều, tiếng hay phong nhã vẫn còn văng vắng bên tai mọi người Trẫm nhớ đến cổ nhân rất lấy làm kính mến Để làm được một "Lê Thánh Tông ở đầu triều Nguyễn" 3 ,

Minh Mệnh nhận thức sâu sắc rằng phải xây dựng quốc gia Đại Nam hùng cường và giàu mạnh

- Muốn làm được như vậy, việc đầu tiên không có gì khác hơn là củng cố chính quyền quân chủ trung ương tập quyền cao độ Muốn củng cố được sức mạnh của chính quyền quân chủ trung ương việc đầu tiên Minh Mạng hướng tới là xây dựng và cải tổ bộ máy nhà nước

2.2 Nguyên nhân khách quan

Bối cảnh thế giới và khu vực

- Thế lực bên ngoài dòm ngó, quy luật mạnh yếu, đặc biệt các thế lực phương Bắc luôn âm mưu đánh

chiếm Đại Việt, những lúc Đai Việt suy yếu thì càng tạo điều kiện thận lợi

- Sự ảnh hưởng của Phương Tây (thiên chúa giáo) đã phần nào khiến cho Minh Mạng tỉnh giấc khỏi cơ mộng Nho giáo truyền thống  cần xây dựng hoàn thiện sức mạnh nội tại của quốc gia – tổ chức lại bộ máy nhà nước quyền lực, tập trung cao độ trong tay vua và mang tính pháp trị trước sự ảnh hưởng và chi phối của phương Tây đang diễn ra mạnh mẽ

 Xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan và khách quan, cùng với tầm nhìn, hiểu biết của Minh Mạng đã thôi thúc cuộc cải cách hành chính diễn ra vào những năm 1831 - 1832, trong đó trọng tâm là tổ chức và xây dựng lại bộ máy nhà nước

3 Nội Dung Tổ Chức Bộ Máy Nhà Nước

- Thời gian đầu mới lên ngôi, Minh Mạng giữ nguyên tổ chức bộ máy nhà nước thời Gia Long, sau đó cùng với việc sắp xếp, tồ chức lại các đơn vị hành chính địa phương, Minh Mạng thực hiện những cải cách trong việc tổ chức và hoàn thiện bộ máy quàn lý nhà nước từ trung ương đến địa phương nhằm tập trung mọi quyền lực tối cao vào nhà nước trung ương, đứng đầu là vua

- Thời gian diễn ra cuộc cải cách hành chính, trong đó có cải cách bộ máy nhà nước: diễn ra xuyên suốt thời gian Minh Mạng trị vì

- Trong tổ chức bộ máy nhà nước thời Nguyễn sau cải cách của Minh Mạng, nhà vua là người đứng đầu

cả nước, tâp trung trong tay toàn bộ quyền lực Thực hiện tư tưởng tôn quân đại thống nhất, triều Nguyễn đặt ra lệ “Tứ bất: bất lập Tể tướng, bất lập Hoàng hậu, bất phong vương, bất lập Trạng nguyên”, đồng thời hạn chế phong các tước công, hầu nhằm tập trung cao độ quyền lực nhà nước cho nhà vua

3 Sách Đại Nam thực lục chính biên cho biết Minh Mệnh thưởng du Nội các

Trang 8

5

3.1 Tổ chức bộ máy trung ương

Ở đơn vị trung ương, các cơ quan trực thuộc Hoàng đế gồm: Tam Nội viện (sau đổi thành Văn thư phòng

và Nội các) đảm nhiệm chức năng văn phòng; Viện cơ mật dự bàn những việc cơ mưu trọng yếu cùng nhà vua; Lục Bộ (Binh, Hình, Lễ, Lại, Công, Hộ) được nhà vua giao quản lý các lĩnh vực quan trọng nhất của nhà nước về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội Bên cạnh đó còn có các cơ quan chuyên môn (tự, giám, quán, phủ, tào…); các cơ quan tư pháp và giám sát (Đại lý tự, Đô sát viện…)

Trong đó, cơ cấu bộ máy ở cấp trung ương được tổ chức như sau:

* Cơ quan lập pháp - Viện cơ mật: thành lập năm Minh Mạng 15 (1834), là cơ quan chuyên tư vấn cho

nhà vua các vấn đề về chính trị, ngoại giao và những vấn đề mang tính cơ mật quốc gia

- Là cơ quan cố vấn không đứng trên Lục Bộ, quan viên đứng đầu lấy hàm từ Tam phẩm trở lên, giúp việc trực tiếp cho nhà vua có “Tứ trụ đại thần” gồm 4 vị: Đông Các điện Đại học sĩ, Cần Chánh điện Đại học sĩ, Văn Minh điện Đại học sĩ, Võ Hiển điện Đại học sĩ

- Lời dụ về việc thành lập Cơ mật viện của Minh Mạng: Nhà nước chia ra các chức đặt ra quan, then

chốt đã đầy đủ bộ, viện, nội các đều đã rõ ràng chức sự, rành mạch Lại nghĩ điều then chốt của việc nước rất là quan trọng, tất phải theo như Khu mật nhà Tống, Xứ quân cơ nhà Thanh tùy nghi châm chước, để cho riêng ra một sở, việc có chuyên trách, thì giường mối chi tiết càng thêm chu đáo Nay cho đặt làm Viện Cơ mật phụng mệnh xem xét thi hành, để tỏ rõ sự thận trọng 4

 Như vậy, Viện Cơ Mật là hội đồng tư vấn tối cao cho vua, có nhiệm vụ hoạch định chiến lược quân

cơ, nội an, bang giao và cả phát triển kinh tế, văn hóa, dân sinh ; đồng thời cũng là cơ quan giám sát mọi công việc triều chính, bảo quản các tài liệu tối mật, quốc bảo, quân cấp

Năm 1836, Viện Cơ Mật được chia làm 2 ban: Nam ty phụ trách những việc quan hệ từ Quảng Bình trờ vào đến Nam Kỳ, Bắc ty phụ trách việc từ Hà Tĩnh trờ về Bắc Kỳ

* Cơ quan văn phòng - Nội các: tiền thân dưới thời vua Gia Long là Thị thư viện, Thị hàn viện, Nội

hàn viện và Thượng bảo ty Năm Minh Mệnh 1 (1820) nhà vua gộp thành Văn thư phòng, năm Minh

Mệnh 10 (1829) bỏ Văn thư phòng thành lập Nội các

- Lời dụ về việc thành lập Nội các của Minh Mạng: "Nhà nước ta sau khi đại định, đức Hoàng khảo Thể

tổ Cao Hoàng đe ta đặt ra Thị thư viện Khi trẫm mới thân chính đổi là Văn thư phòng, danh sắc dẫu khác, cũng đều là để giữ sổ sách và theo hầu hai bên Nay nghĩ Văn thư phòng tên gọi chưa thỏa nên đổi làm Nội các"'.5

- Nội các do 4 viên đại thần quản lĩnh, bao gồm 2 viên chánh Tam phẩm; 2 viên chánh Tứ phẩm Các nhân viên trong Nội các đều lấy biên chế các Bộ, Viện vào làm việc

- Đây là cơ quan mang tính chất phục vụ việc văn phòng giúp việc cho nhà vua, chuyên trách giải quyết các công việc về văn thư, giấy tờ như xét duyệt các văn bản trước khi trình lên nhà vua, làm phiếu nghĩ, thư bài, soạn các bản phúc đáp, kính sao bản vua phê, phụng sao lời chỉ dụ, quản lý ấn tín, long bài,…

4

Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục chính biên, tập 3, bản dịch, NXB Giáo dục, Hà Nội.

5

Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục chính biên, tập 3, bản dịch, NXB Giáo dục, Hà Nội.

Trang 9

6

 Minh Mệnh đặt ra Nội các với mong muốn xây dựng một chính quyền nhà nước trung ương tập quyền chuyên chế vững mạnh Tuy chi là cơ quan văn phòng của triều đình, nhưng Nội các có chức nhiệm giám sát và khống chế quyền lực của 6 bộ và các cơ quan ngang bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà vua quản

lý đất nước; một cách sâu sát hơn

* Cơ quan hành pháp - Lục Bộ: Binh, Công, Hình, Hộ, Lại, Lễ

- Bộ Binh: phụ trách việc binh lính, khí giới, đảm bảo an ninh, quân sự quốc gia, chăm lo việc bổ nhiệm, tuyển dụng võ quan, vũ khí, quân lương

- Bộ Công: phụ trách việc xây dựng, tu sửa cung điện, lăng tẩm, thành hào, đồn luỹ, đê điều, đường sá, lo việc thợ thuyền, sản xuất vật dụng trong hoàng cung và quản lý việc sản xuất hàng hoá ngoài xã hội

- Bộ Hình: phụ trách về luật lệnh, xét xử, hình phạt, án tù, ngục tụng, chế định, hình luật

- Bộ Hộ: phụ trách vấn đề ruộng đất, nhân khẩu, thuế khoá, định giá lương thực trong nước, bình chuẩn việc phát ra thu vào để điều hoà nguồn của cải nhà nước

- Bộ Lại: phụ trách về quan tước, thăng giáng, thuyên chuyển, xét bổ công trạng cho quan văn trong kinh, ngoài trấn, chỉnh đốn phép làm quan để giúp việc chính sự trong nước

- Bộ Lễ: phụ trách lễ nghi, tế tự, khánh tiết, yến tiệc, học hành, thi cử, ấn tín, phù hiệu, triều cống, thuốc thang, nhã nhạc

- Lục Bộ có từ thời Lê Thánh Tông, đến triều Minh Mệnh các chức danh phẩm trật mới được kiện toàn

ổn định Mỗi bộ đặt 1 Thượng thư đứng đầu hàm Chánh nhị phẩm, 2 viên Tham tri hàm Tòng Nhị phẩm văn giai, 2 viên Thị lang hàm Chánh Tam phẩm văn giai

- Lục bộ hoạt động theo nguyên tắc Lục bộ tương thông Trên danh nghĩa là nắm mọi quyền về hành pháp, nhung thực chất bị giới hạn về quyền lực, là cơ quan chấp hành, kiến nghị, tư vấn cho nhà vua

* Lục Tự gồm: Đại lý tự, Thái thường tự, Quang lộc tự, Thái bộc tự, Hồng lô tự, Thượng bảo tự Phụ

trách các việc văn hoá, giáo dục, thi cử, luật pháp, tế tự

- Dưới thời Gia Long, mới chỉ có hai tự là Thái thường tự và Thái bộc tự, đến thời Minh Mệnh đặt thêm

4 tự nữa là Đại lý tự, Quang lộc tự, Thượng bảo tự và Hồng lô tự

* Các cơ quan giám sát và tư pháp:

- Đô sát viện - được Minh Mạng thành lập năm 1832, đây là cơ quan giám sát tối cao của triều đình

- Đại lý tự: được thành lập năm 1831 Trong lời dụ bộ Lại, Minh Mệnh nói: "Đại lý tự xét lại những án

nặng để giúp việc hình của nước, chức vụ không phải là không quan trọng Từ trước đến nay đật chức

Tự khanh, chi lấy bán hàm mà suy làm công việc Hình bộ mà thôi Nay nên đặt riêng một nha để cho rõ chức vụ"6

 Đô sát viện cùng với Đại lý tự, cơ quan xét xử tối cao và Bộ Hình nằm trong Tam pháp ty tức hệ thống tư pháp của triều đình nhà Nguyễn

6

Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục chính biên, tập 3, bản dịch, NXB Giáo dục, Hà Nội.

Trang 10

7

- Đối với các cơ quan giám sát, Minh Mệnh đã thực hiện chế độ giám sát, tư pháp và thanh tra chéo trong các ngành, tạo nên sự trong sạch, lành mạnh trong bộ máy quan chức

* Các cơ quan chuyên môn khác

Cơ quan phụ trách văn hóa giáo dục

- Hàn lâm viện: năm Minh Mệnh 11 (1830) được thành lập Là cơ quan chuyên trách các việc chế cáo,

lo chương sớ, dựng bia, soạn kinh điển, thư từ bang giao, biên tập sách vở

- Nội vụ phủ: năm Minh Mệnh thứ nhất (1820) đổi tên Nội đồ gia dưới thời Gia Long thành Nội vụ phủ

Đây là cơ quan chuyên trách việc coi giữ kho tàng, của công và vàng ngọc châu báu, tơ lụa trong cung

- Khâm thiên giám: chuyên lo việc khí hậu, mặt trời, mặt trăng, lịch pháp, thời tiết

- Quốc tử giám phụ trách việc dạy học, giáo dưỡng các hoàng tử, con cháu trong hoàng tộc, quan lại

trong triều đình, đào tạo nhân tài cao cấp của nhà nước

- Quốc sử quán Quốc sử quán thành lập năm 1820 Là cơ quan chuyên trách việc nghiên cứu, lưu trữ sử

liệu, biên soạn các bộ sử chính thống của triều đình Vua dụ bầy tôi rằng: “Nhà nước ta từ khi mở mang

đến nay, các thánh nối nhau hàng 200 năm Kịp đến Thế tổ Cao hoàng đế ta trung hưng thống nhất đất nước, trong khoảng ấy sự tích công nghiệp nếu không có sử sách thì lấy gì để dạy bảo lâu dài về sau Trẫm muốn lập Sử quán, sai các nho thần biên soạn quốc sử thực lục để nêu công đức về kiến, đốc, cơ, cần làm phép cho đời sau, cũng chẳng là phải sao” 7

- Tập hiền viện là học viện cao cấp chuyên nghiên cứu, giảng dạy kinh điển, triết học cho nhà vua, các

Hoàng tử, Hoàng thân và quan lại cấp cao trong triều đình

Các nha

Tôn nhân phủ: thành lập năm Minh Mệnh 17 (1836), là cơ quan chuyên chăm lo các vấn đề về hoàng

tộc như: sổ sách của hoàng tộc, biên soạn ngọc phả, tông phả, phái phả, đặt tên, lo giá thú cho người trong hoàng tộc, tế lễ tang ma, phong cấp tập tước, định mũ áo,…

Thái y viện chuyên trách chăm sóc sức khoẻ cho vua và người trong hoàng tộc

3.2 Bộ máy nhà nước ở địa phương

Cùng với cải cách bộ máy nhà nước ở trung ương, Minh Mạng đồng thời tiến hành cải cách bộ máy nhà nước ở địa phương

Cuộc cải tổ bộ máy nhà nước ở địa phương chia làm 2 giai đoạn, kéo dài từ 1831 – 1832:

Giai đoạn 1: Năm 1831, xóa bỏ Tổng trấn Bắc thành và trấn, chia toàn bộ lãnh thổ từ Quảng Trị trở ra

Bắc thành 18 tỉnh Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam (tới bấy giờ), đơn vị hành chính tỉnh xuất hiện

Giai đoạn 2: Năm 1832, xóa bỏ Tổng trấn Gia Định thành, chia toàn bộ lãnh thổ từ Quảng Nam vào Hà

Tiên thành 12 tỉnh

Dưới đơn vị tỉnh lần lượt là: Phủ, Châu – Huyện, Tổng, Xã

7 Mộc Bản Triều Nguyễn, Vua Minh Mạng chỉ dụ về sự ra đời của Quốc sử quán

Ngày đăng: 16/12/2022, 01:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w