Từ đó đưa ra một số đóng góp về mặt lý thuyết và thực tiễn giúp cho các bạn sinh viên nhận thức rõ hơn về trí tuệ cảm xúc và vận dụng vào trong quá trình học tập để có thể đạt được kết q
Trang 1B Ộ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
KHOA MARKETING
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG
“TÀI NĂNG KINH TẾ TRẺ” – LẦN 9, 2020
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHỈ SỐ EQ ĐẾN KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI TP.HCM
Lĩnh vực nghiên cứu: Xã hội
Thành Phố Hồ Chí Minh – 2020
Trang 2B Ộ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
KHOA MARKETING
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
THAM GIA XÉT GIẢI THƯỞNG
“TÀI NĂNG KINH TẾ TRẺ” – LẦN 9, 2020
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHỈ SỐ EQ ĐẾN KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI TP.HCM
Giảng Viên Hướng Dẫn: ThS Dư Thị Chung
Nhóm thực hiện
Lê Thị Quỳnh Hương Nguyễn Thị Hà Nguyễn Ngọc Khánh Linh
Võ Uyên Phương Nguyễn Huỳnh Thông
Thành Phố Hồ Chí Minh – 2020
Trang 3Mặc dù chúng tôi đã luôn cố gắng trong suốt quá trình thực hiện đề tài, trao đổi học hỏi kiến thức từ quý thầy cô và các bạn bè sinh viên cùng trang lứa, cũng như tham khảo nhiều tài liệu nghiên cứu, tuy nhiên vẫn không tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được nhiều ý kiến, thông tin đóng góp từ quý thầy cô và tất cả mọi người
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn “Nghiên cứu ảnh hưởng của chỉ số EQ đến kết quả học tập của sinh viên các trường Đại học tại TP.HCM” này là bài nghiên cứu hoàn toàn do nhóm chúng tôi thực hiện
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, chúng tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác Không có sản phẩm hoặc nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của nhóm chúng tôi Luận văn này chưa bao giờ được nộp
để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
Trang 5M ỤC LỤC
TÓM TẮT ĐỀ TÀI 1
CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 3
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5 Đóng góp của đề tài nghiên cứu 5
CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6
2.1 TRÍ TUỆ 6
2.1.1 Khái niệm trí tuệ 6
2.1.2 Nghiên cứu về khung phát triển trí tuệ 8
2.2 CẢM XÚC 14
2.2.1 Khái niệm cảm xúc 14
2.2.2 Cấu trúc xúc cảm 18
2.2.3 Các loại cảm xúc cơ bản và ảnh hưởng của nó đến sinh viên 20
2.2.3.1 V ề các loại cảm xúc cơ bản: 20
2.2.3.2 Về ảnh hưởng của cảm xúc đến sinh viên: 22
2.3 TRÍ TUỆ CẢM XÚC (EQ) 25
2.3.1 Nguồn gốc: 25
2.3.2 Định nghĩa: 26
2.3.3 Kiểm soát cảm xúc 29
2.4 NHỮNG NGHIÊN CỨU VÀ LUẬN ĐIỂM VỀ HỌC THUYẾT EQ 32
2.4.1 Những nghiên cứu về cảm xúc 33
2.4.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 33
2.4.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước 38
2.4.2 Những nghiên cứu về kiểm soát cảm xúc 41
2.4.2.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 41
2.4.2.2 Những nghiên cứu ở trong nước 44
2.5 ĐO LƯỜNG, ĐÁNH GIÁ TRÍ TUỆ CẢM XÚC 48
2.6 ỨNG DỤNG CỦA TRÍ TUỆ CẢM XÚC 50
2.6.1 Ứng dụng vào học tập 50
2.6.2 Ứng dụng vào trong công việc 51
2.7 NHỮNG MÔ HÌNH MẪU ĐÃ NGHIÊN CỨU 52
2.7.1 Lý thuyết mô hình 52
Trang 62.7.2.1 Mô hình EI97 54
2.7.2.2 Mô hình trí tuệ cảm xúc thuần năng lực EI 97 của J Mayer và P Salovey 56 2.7.2.3 Mô hình 5 thành phần thông minh cảm xúc của Daniel Goleman 63
2.8 BIỂU HIỆN EQ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ HỌC TẬP 65
2.9 MÔ HÌNH ĐỀ XUẤT CỦA ĐỀ TÀI 69
2.9.1 Tự nhận thức (Self-Awareness) – Tự tin 69
2.9.2 Hy vọng 70
2.9.3 Lạc quan 71
2.9.4 Thích nghi 72
2.9.5 Hài lòng trong học tập 72
CHƯƠNG 3 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 73
3.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 73
3.1.1 Quy trình nghiên cứu 73
3.1.2 Nghiên cứu sơ bộ 74
3.1.3 Nghiên cứu chính thức 75
3.2 XÂY DỰNG THANG ĐO 75
3.2.1 Thang đo “Tự tin” 76
3.2.2 Thang đo “Hy Vọng” 76
3.2.3 Thang đo “Lạc quan” 77
3.2.4 Thang đo “Thích Nghi” 77
3.2.5 Thang đo “Hài Lòng” 78
3.2.6 Thang đo “Hiệu quả học tập” 78
3.3 NGHIÊN CỨU SƠ BỘ 79
3.4 PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU VÀ THU THẬP DỮ LIỆU 80
3.4.1 Tổng thể nghiên cứu 81
3.4.2 Kích thước mẫu 81
3.4.3 Cách lấy Mẫu 82
3.5 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 82
3.5.1 Đánh giá độ tin cậy thang đo 83
3.5.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 83
3.5.3 Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và kiểm định thang đo 84
3.5.4 Đánh giá độ tin cậy của thang đ o 84
3.5.5 Tính đơn hướng (Unidimensionality) 85
3.5.6 Giá trị hội tụ (Convergent validity) 85
3.5.7 Giá trị phân biệt (Discriminant validity) 85
Trang 73.5.9 Kiểm định mô hình bằng phân tích cấu trúc tuyến tính (SEM) 86
3.5.10 Phân tích cấu trúc đa nhóm 86
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 88
4.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỐNG KÊ MÔ TẢ: 88
4.1.1 Kết quả khảo sát về năm học của sinh viên ở thành phố HCM 88
4.1.2 Kết quả khảo sát về giới tính 89
4.1.3 Kết quả khảo sát về ngành học của sinh viên 89
4.1.4 Kết quả khảo sát về học lực 91
4.1.5 Kết quả khảo sát về tham gia hoạt động 91
4.1.6 Kết quả khảo sát về tham gia cuộc thi 92
4.1.7 Kết quả kiểm định phân phối chuẩn của các thang đo 93
4.2 ĐÁNH GIÁ ĐỘ TIN CẬY CỦA THANG ĐO: 95
4.3 PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHẲNG ĐỊNH CFA 97
4.4 PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN VÀ HỒI QUY TUYẾN TÍNH 102
4.4.1 Phân tích tương quan 102
4.4.2 Hồi qui tuyến tính 103
4.5 KIỂM ĐỊNH ĐỘ THÍCH HỢP CỦA MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC GIẢ THUYẾT (SEM) 105
4.6 KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH BOOTSTRAP VÀ ĐA CỘNG TUYẾN 109
4.7 PHÂN TÍCH ĐA NHÓM 109
4.7.1 Kiểm định sự khác biệt theo giới tính 109
4.7.2 Kiểm định sự khác biệt theo tham gia các hoạt động 113
4.7.3 Kiểm định sự khác biệt theo tham gia các cuộc thi 121
CHƯƠNG 5 – KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 132
5.1 Tóm tắt nghiên cứu 132
5.2 Đề xuất và giải pháp 133
5.2.1 Tự tin 133
5.2.2 Hy vọng 134
5.2.3 Lạc quan 135
5.2.4 Thích nghi 136
5.2.5 Hài lòng 136
5.3 Hạn chế của đề tài 137
5.4 Kết luận 138
5.5 Tài liệu tham khảo 138
BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT 140
Trang 8DANH SÁCH BẢNG BIỂU
Bảng 3 1- Tiến trình thực hiện các nghiên cứu 73
Bảng 3 2- Quy trình nghiên cứu 74
Bảng 3 3- Bảng thang đo Tự tin 76
Bảng 3 4- Bảng thang đo Hy vọng 76
Bảng 3 5- Bảng thang đo “Lạc quan” 77
Bảng 3 6- Bảng thang đo “Thích Nghi” 77
Bảng 3 7- Bảng thang đo “Hài Lòng” 78
Bảng 3 8- Bảng thang đo “Hiệu quả học tập” 78
Bảng 3 9- Bảng kết quả nghiên cứu sơ bộ 79
Bảng 3 10- Số lượng biến quan sát 81
Bảng 4 1-Thể hiện năm học của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh 88
Bảng 4 2- Thể hiện tỷ lệ giới tính 89
Bảng 4 3- Bảng thể hiện ngành học của các sinh viên tham gia khảo sát 90
Bảng 4 4- Bảng thể hiện học lực của những sinh viên tham gia khảo sát 91
Bảng 4 5- Bảng thể hiện tần suất tham gia hoạt động của các bạn sinh viên 92
Bảng 4 6- Bảng thể hiện tần suất các bạn sinh viên tham gia cuộc thi 92
Bảng 4 7- Kết quả kiểm định phân phối chuẩn của thang đo "Tự tin" 93
Bảng 4 8- Kết quả kiểm định phân phối chuẩn của thang đo "Hy vọng" 93
Bảng 4 9- Kết quả kiểm định phân phối chuẩn của thang đo "Lạc quan" 94
Bảng 4 10- Kết quả kiểm định phân phối chuẩn của thang đo "Thích nghi" 94
Bảng 4 11- Kết quả kiểm định phân phối chuẩn của thang đo "Hài lòng" 94
Bảng 4 12- Kết quả kiểm định phân phối chuẩn của thang đo "Hiệu quả học tập" 94
Bảng 4 13- Đánh giá độ tin cậy bằng công cụ Cronbach’s Alpha 95
Bảng 4 14- Các nhóm nhân tố sau khi phân tích EFA 97
Bảng 4 15- Mức độ tương quan 101
Bảng 4 16- Mức độ tin cậy 101
Bảng 4 17- Phương sai trích 102
Bảng 4 18- Tương quan Pearson 102
Bảng 4 19- Kết quả phân tích hồi qui 103
Bảng 4 20- Bảng tóm tắt kết quả 105
Trang 9Bảng 4 21- Trọng số hồi quy chưa chuẩn hóa 106
Bảng 4 22- Trọng số hồi quy chưa chuẩn hóa 107
Bảng 4 23- Trọng số hồi quy đã chuẩn hóa 108
Bảng 4 24- Hệ số tương quan 108
Bảng 4 25- Kết quả kiểm định các giả thuyết 108
Bảng 4 26- Các yếu tố tác động đến kết quả học tập của sinh viên 109
Bảng 4 27- Kết quả kiểm định Bootstrap 109
Bảng 4 28- Sự khác biệt các chỉ tiêu tương thích của giới tính 110
Bảng 4 29- Mối quan hệ giữa các khái niệm 112
Bảng 4 30- Sự khác biệt các chỉ tiêu tương thích của nhóm tham gia hoạt động 113
Bảng 4 31- Mối quan hệ giữa các khái niệm của mô hình khả biến 120
Bảng 4 32- Mối quan hệ giữa các khái niệm của mô hình bất biến 121
Bảng 4 33- Sự khác biệt các chỉ tiêu tương thích của nhóm tham gia cuộc thi 122
Bảng 4 34- Mối quan hệ giữa các khái niệm của mô hình khả biến 129
Bảng 4 35- Mối quan hệ giữa các khái niệm của mô hình bất biến 130
DANH SÁCH HÌNH ẢNH Hình 2 1-Sơ đồ khái quát hoá các lý thuyết và mô hình về trí tuệ 9
Hình 2 2-Mô hình thứ bậc của Vernon về năng lực trí tụê (theo Vernon, 1969) 10
Hình 2 3-Ba tầng trí tuệ theo Eysenck, 1988 13
Hình 2 4-Circumplex model of Emotion – Russell and Feldman Barrett (1998) 20
Hình 2 5-Mô hình điều chỉnh cảm xúc của Gross (2001) 30
Hình 2 6-Mô hình trí tuệ cảm xúc EI97 54
Hình 2 7-Mô hình EI 90 của P.Salovey và J.Mayer 57
Hình 2 8-Mô hình phát triển EI của Mayer-Salovey-Caruso 60
Hình 2 9- Mô hình đề xuất ảnh hưởng EQ đến kết quả học tập của sinh viên 69
Biểu đồ 4 1- Biểu đồ thể hiện năm học của sinh viên tham gia khảo sát ở TP HCM 88
Biểu đồ 4 2- Biểu đồ thể hiện giới tính của sinh viên tham gia khảo sát 89
Biểu đồ 4 3- Biểu đổ thể hiện ngành học của các sinh viên tham gia khảo sát 90
Trang 10Biểu đồ 4 6- Biểu đồ thể hiện tần suất các bạn sinh viên tham gia cuộc thi 93
Biểu đồ 4 7- Kết quả phân tích CFA 99
Biểu đồ 4 8- Kết quả phân tích CFA sau khi điều chỉnh MI 100
Biểu đồ 4 9- Kết quả phân tích mô hình SEM 106
Biểu đồ 4 10- Kết quả mô hình SEM sau khi điều chỉnh 107
Biểu đồ 4 11- Mô hình khả biến của nhóm giới tính nam 110
Biểu đồ 4 12- Mô hình khả biến của nhóm giới tính nữ 111
Biểu đồ 4 13- Mô hình bất biến của nhóm giới tính nam 111
Biểu đồ 4 14- Mô hình bất biến của nhóm giới tính nữ 112
Biểu đồ 4 15- Mô hình khả biến của nhóm tham gia hoạt động 1 114
Biểu đồ 4 16- Mô hình khả biến của nhóm tham gia hoạt động 2 115
Biểu đồ 4 17- Mô hình khả biến của nhóm tham gia hoạt động 3 115
Biểu đồ 4 18- Mô hình khả biến của nhóm tham gia hoạt động 4 116
Biểu đồ 4 19- Mô hình khả biến của nhóm tham gia hoạt động 5 117
Biểu đồ 4 20- Mô hình bất biến của nhóm tham gia hoạt động 1 117
Biểu đồ 4 21- Mô hình bất biến của nhóm tham gia hoạt động 2 118
Biểu đồ 4 22- Mô hình bất biến của nhóm tham gia hoạt động 3 119
Biểu đồ 4 23- Mô hình bất biến của nhóm tham gia hoạt động 4 119
Biểu đồ 4 24- Mô hình bất biến của nhóm tham gia hoạt động 5 120
Biểu đồ 4 25- Mô hình khả biến của nhóm tham gia cuộc thi 1 122
Biểu đồ 4 26- Mô hình khả biến của nhóm tham gia cuộc thi 2 123
Biểu đồ 4 27- Mô hình khả biến của nhóm tham gia cuộc thi 3 124
Biểu đồ 4 28- Mô hình khả biến của nhóm tham gia cuộc thi 4 125
Biểu đồ 4 29- Mô hình khả biến của nhóm tham gia cuộc thi 5 125
Biểu đồ 4 30- Mô hình bất biến của nhóm tham gia cuộc thi 1 126
Biểu đồ 4 31- Mô hình bất biến của nhóm tham gia cuộc thi 2 126
Biểu đồ 4 32- Mô hình bất biến của nhóm tham gia cuộc thi 3 127
Biểu đồ 4 33- Mô hình bất biến của nhóm tham gia cuộc thi 4 128
Biểu đồ 4 34- Mô hình bất biến của nhóm tham gia cuộc thi 5 128
Trang 11SSRI Schutte Self - Report Inventory
ECI Emotional Competency Inventory
LEAS Level of Emotional Awareness
MEIS Multifactor Emotional Intelligence Scale
MSCEIT Mayer - Salovey - Caruso Emotional Intelligence Test
HIF How I Feel
ERICA Emotional Regulation Index for Children and Adolescents SEL Social Emotional Learning
EFA Exploratory Factor Analysis
CFA Confirmatory Factor Analysis
SEM Structural Equation Modeling
KMO Kaiser-Meyer-Olkin
CFI Comparative Fit Index
TLI Tucker & Lewis Index
RMSEA Root Mean Square Error Approximation
GFI goodness of fix index
C.R Critical Ratios
CR Composite Reliability
AVE Average Variance Extracted
MI Modification Indices
Trang 12TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của chỉ số thông minh cảm xúc đến kết quả học tập của sinh viên các trường Đại Học tại Thành Phố Hồ Chí Minh” được thực hiện bởi tác giả là sinh viên trường Đại học Tài chính – Marketing Mục đích của đề tài là để tìm ra
sự ảnh hưởng của các nhóm nhân tố lên chỉ số thông minh cảm xúc của sinh viên, từ đó nghiên cứu xem chỉ số thông minh cảm xúc có ảnh hưởng đến kết qủa học tập hay không Năm nhóm nhân tố được tác giả chọn ra để nghiên cứu đó là: Tự tin, Hy vọng, Lạc quan, Thích nghi, Hài lòng Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả thu thập dữ liệu bằng cách lập bảng hỏi sau đó đưa cho các bạn sinh viên thực hiện khảo sát Bảng hỏi thu thập được dữ liệu của 500 đáp viên là sinh viên các chuyên ngành khác nhau trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Những dữ liệu thu thập được đem ra phân tích bởi phần mềm
BM SPSS Statistics và phần mềm Amos Hai phần mềm này được sử dụng nhằm mục đích tìm kiếm sự liên quan giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc trong đề tài đưa ra
Kết quả phân tích cho thấy rằng không có sự khác biệt về tác động giữa các nhân tố Tự Tin, Thích Nghi, Lạc quan, Hy Vọng, Hài Lòng đến kết quả học tập của các nhóm sinh viên có giới tính khác nhau, tham gia các hoạt động khác nhau và tham gia các cuộc thi khác nhau Tuy nhiên có sự tác động rõ ràng giữa các chỉ số thông minh cảm xúc đến kết quả học tập của sinh viên và đo lường được mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động Từ đó đưa ra một số đóng góp về mặt lý thuyết và thực tiễn giúp cho các bạn sinh viên nhận thức rõ hơn về trí tuệ cảm xúc và vận dụng vào trong quá trình học tập để có thể đạt được kết qủa tốt hơn trong tương lai
I23 Higher Education Research Institutions Giáo dục Đại học Tổ chức nghiên cứu
I25 Education and Economic Development Giáo dục và Phát triển kinh tế
Trang 13TOPIC SUMMARY
The project "Studying the effect of emotional intelligence index on academic performance" of university students in Ho Chi Minh City, conducted by students of University of Finance and Marketing The purpose of the topic is to understand the influence of factor groups on students' emotional intelligence Study whether emotional intelligence affects learning outcomes The five-factor groups chosen by the author are Confidence, Hope, Optimism, Adaptation and Satisfaction In this study, the authors collected data by making a questionnaire and then giving it to students to conduct the survey Data of 500 respondents were students of different disciplines in Ho Chi Minh City The collected data was analyzed using BM SPSS Statistics and Amos software These two software are used for the purpose of finding the relationship between independent and dependent variables in a given topic The analysis results show that there is no difference in the impact of factors of Self-Confidence, Adaptation, Optimism, Hope, Satisfaction with the learning results of heterosexual groups of students, participating in activities Act differently and participate in various competitions However, there is a clear impact on emotional intelligence indicators on student learning outcomes and measuring the impact of impact factors From there, make some theoretical and practical contributions to help students become more aware of emotional intelligence and apply it in the learning process to be able to achieve better results in the future
Y91 Pictures and Maps
I23 Higher Education Research Institutions
I25 Education and Economic Development
Trang 14C HƯƠNG 1 – TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ trước đến nay, trình độ học vấn được xem như một yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công trong công việc và đời sống cá nhân của mỗi người Các nền giáo dục trên thế giới cũng được thiết kế với mục đích cốt lõi là cung cấp những kiến thức khoa học,
tư duy sáng tạo, tư duy phân tích và suy luận cho người học Và hiểu nhiên những mô hình này đã mang lại kết quả là đào tạo nên những cá nhân có chỉ số thông tin cao Tuy nhiên, theo các nhà khoa học giáo dục và tâm lý, đây không phải là một kết quả hoàn hảo và đáng mong đợi Khải niệm trí tuệ cảm xúc hay còn được gọi là chỉ số cảm xúc
đã làm thay đổi quan điểm và niềm tin tác động của chỉ số thông minh trong việc dự đoán thành công của con người Đã có rất nhiều nghiên cứu được thực hiện và đã chứng minh rằng chỉ số thông minh cảm xúc mới thực sự thể hiện năng lực trong công việc
và cuộc sống của mỗi cá nhân Một nghiên cứu thần kinh học đã đưa ra dẫn chứng rằng cảm xúc là một chất xúc tác quan trọng cho khả năng lập luận và tư duy của não bộ Quan điểm tại một số nước phương Tây cho rằng giáo dục kiến thức và nghiệp vụ gắn liền với việc nâng cao chỉ số cảm xúc Những bài kiểm tra được đưa vào phỏng vấn tuyển dụng nhằm kiểm tra khả năng tư duy cảm xúc chứ không chỉ xem trọng kiến thức nghiệp vụ như trước đến nay
Theo quan điểm này này, đã có nhiều nghiên cứu về những biểu hiện trí tuệ cảm xúc được thực hiện ở nước ta, đặc biệt là biểu hiện về thông minh cảm xúc của sinh viên Một số công trình nghiên cứu đã cho thấy kết quả rằng mức độ biểu hiện trí tuệ cảm xúc của sinh viên phần lớn chỉ đạt trung bình hoặc dưới trung bình, một số ít đạt ở mức cao hoặc rất cao Một trong những nguyên nhân của vấn đề này do sinh viên chưa cập nhật những hiểu biết về trí tuệ cảm xúc Mặt khác việc nâng cao chỉ số cảm xúc trong quá trình học tập tại trường học của sinh viên chưa thực sự nhận được sự quan tâm trong hệ thống giáo dục hiện nay
Cũng vì thế, việc nghiên cứu mức độ nhận thức về thông minh xúc cảm của sinh viên vừa có mục đích đánh giá hiệu quả đào tạo, vừa giúp sinh viên hiểu rõ thực trạng
về thông minh xúc cảm của chính bản thân Từ đây sinh viên có thể lên kế hoạch học tập, rèn luyện và phát triển khả năng tư duy cảm xúc và vận dụng vào cuộc sống, quá
Trang 15trình học tập và chuẩn bị hành trang nghề nghiệp trong tương lai
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của chỉ số trí tuệ
c ảm xúc (EQ) đến kết quả học tập của sinh viên các trường Đại Học tại Thành Phố Hồ Chí Minh"
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu những yếu tố về trí tuệ cảm xúc (EQ) có thể tác động và ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên tại các trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu thực hiện các mục tiêu cụ thể như sau:
(1) Khảo sát thực trạng mức độ nhận thức của sinh viên các trường Đại Học tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với một số vấn đề về trí tuệ cảm xúc (EQ)
(2) Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới nhận thức về trí tuệ cảm xúc của sinh viên và tác động trực tiếp tới kết quả học tập của sinh viên
(3) Đo lường và điều chỉnh thang đo của các đề tài có liên quan trước đó, phát triển thang đo phù hợp với đối tượng đề tài
(4) Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp giúp sinh viên thay đổi nhận thức
về trí tuệ cảm xúc, lên kế hoạch học tập, rèn luyện và phát triển khả năng tư duy cảm xúc và vận dụng vào cuộc sống, quá trình học tập và chuẩn bị hành trang nghề nghiệp trong tương lai
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: thực trạng mức độ nhận thức một số vấn đề về trí tuệ cảm xúc ở các sinh viên theo chương trình đào tạo Đại Học tại Thành Phố Hồ Chí Minh
- Khách thể nghiên cứu: Sinh viên năm 1,2,3 và 4 ở các trường Đại Học tại
Thành Phố Hồ Chí Minh
- Địa bàn nghiên cứu: các trường Đại Học trong địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Vận dụng quan điểm về sự thống nhất giữa lý luận nhận thức
và thực tiễn để xây dựng hệ thống cơ sở lý luận về nhận thức và đánh giá nhận thức của sinh viên về trí tuệ cảm xúc
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp tài liệu, so sánh, khái quát
Trang 16để tổng quan các vấn đề lý luận về trí tuệ cảm xúc
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp trắc nghiệm, phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp thực nghiệm, nhằm khảo sát thực trạng và thử nghiệm một số biện pháp tác động nhằm nâng cao trí tuệ xúc cảm của sinh viên Đại học Tài chính - Marketing
- Phương pháp thống kê toán học: Dùng các công thức thống kê để xử lý và phân tích các kết quả nghiên cứu và phần mềm SPSS
1.5 Đóng góp của đề tài nghiên cứu
Các xúc cảm nếu không được giáo dục sớm thì ngày càng khó hình thành
Có thể rèn luyện EQ cho học sinh bằng nhiều cách từ khi còn nhỏ tuổi
Trang 17CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 TRÍ TUỆ
2.1.1 Khái niệm trí tuệ
Trí tuệ được các nhà khoa học tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau nên cũng có nhiều định nghĩa khác nhau
Trong từ điển Anh - Việt: Trí tuệ - Intellect là khả năng lập luận của trí óc để có được
kiến thức, khả năng hiểu biết sâu rộng và khả năng lập luận tốt (Đối lập với cảm xúc và bản năng)
Trong từ điển Tiếng Việt: Trí tuệ là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình độ
nhất định
Theo từ điển Tâm lý học: Trí tuệ là khả năng hành động thích nghi với biến đổi của
hoàn cảnh, thiên về tư duy trừu tượng (Nguyễn Khắc Viện)
Trong tâm lý học, trí tuệ được hiểu theo 3 hướng sau: Trí tuệ là năng lực học tập,
năng lực nhận thức của con người (Levitov, Bogoslovski)
Trí tuệ là năng lực tư duy trừu tượng, có thể hiểu rằng: một người thông minh tương
ứng với khả năng tư duy trừu tượng R Sternberg cho rằng: định tính cơ bản hàng đầu của trí tuệ là năng lực tâm thần ở mức độ cao, chăng hạn suy luận trừu tượng Rubinstein
xem hạt nhân cơ bản của trí tuệ là các thao tác tư duy
Trí tuệ là năng lực thích ứng của cá nhân Đây là định nghĩa phổ biến nhất được nhiều nhà tâm lý học tán thành, chẳng hạn: W⁄ Sfern cho rằng trí tuệ là năng lực chung của một cá nhân biết đặt tư duy của mình một cách có ý thức vào những yêu cầu mới Đây là năng lực thích ứng tinh thần chung đối với nhiệm vụ và điều kiện mới của đời sống: Garner xem trí thông minh như là một năng lực được dùng để giải quyết vấn đề
tạo ra các sản phẩm có giá trị cho ngữ cảnh văn hóa cụ thể (Howard Gardner, 1999)
D Wechsler (1958) định nghĩa: trí thông minh như là năng lực tổng thể hoặc năng lực chung của cá nhân để hành động có mục đích, để suy nghĩ hợp lý và để ứng phó có
Trang 18hiệu quả với môi trường của mình Piaget đã khẳng định: bất cứ một quá trình nào cũng
là sự thích nghi Bản chất của trí tuệ bộc lộ trong việc cấu tạo những mối quan hệ giữa
cá thể với xã hội
L.M.Blaykhe và L.Ph.Burơlachuc (1978) đã định nghĩa trí tuệ là một cấu trúc động,
tương đối độc lập của các thuộc tính nhận thức của nhân cách được hình thành và biểu hiện trong các hoạt động, chịu sự chế ước của các điều kiện văn hóa - lịch sử và có chức năng chủ yếu là đảm bảo cho sự tác động qua lại phù hợp với hiện thực xung quanh, cho
sự cải tạo nó có mục đích hiện thực ấy
R Sternberg (1948) đã định nghĩa: trí tuệ là sự thích ứng có mục đích với môi trường,
có nghĩa quan niệm trí tuệ là kết quả tương tác của con người với môi trường sống đồng thời là tiền đề cho sự tương tác ấy Ông quan niệm trí tuệ là kết quả tương tác của con người với môi trường sống đồng thời là tiền đề cho sự tương tác ấy Theo thời gian, khái niệm về trí tuệ được mở rộng nên các thuật ngữ về trí tuệ cũng được cải tiến và cập nhật Thời nay, trí tuệ đã được định nghĩa rộng hơn trí thông minh, trí tuệ giờ đây không chỉ bao gồm trí thông minh theo định nghĩa truyền thống, mà còn chứa cả trí sáng tạo (creativity) và trí tuệ xã hội (social intelligence)
Năm 1989, Eysenck đã tổng hợp các quan niệm và kết quả nghiên cứu trước đó để
đẻ xuất mô hình trí tuệ ba tầng bậc, gồm:
- Trí tuệ sinh học (Biological Intelligence): là mặt sinh học của các năng lực trí tuệ,
là nguồn gốc chính của những khác biệt về trí tuệ cá nhân
- Trí tuệ tâm trắc (Psychometric Intelligence): là mặt trí tuệ đo được bằng các bài
trắc nghiệm tính IQ (Intelligence quotient), CQ (Creative quotient) truyền thống, được xây dựng trong tình huống giả định, có tính hàn lâm
- Trí tuệ xã hội (Social Intelligence): là mặt trí tuệ tâm trắc thể hiện tư duy trong việc
giải quyết nhiệm vụ cuộc sống của cá thể với nhận thức rõ ràng về bản thân, cộng đồng
và mối quan hệ giữa cá thể đó với xã hội Kết luận được rút ra từ các quan điểm khác nhau của các nhà tâm lý học về trí tuệ như sau:
Trang 19Trí tuệ là một thuộc tính nhận thức tương đối độc lập của nhân cách với cốt lõi là khả năng tư duy trừu tượng Trí tuệ chịu sự ảnh hưởng của các điều kiện văn hóa - lịch
sử Trí tuệ có nhiệm vụ đảm bảo sự tác động qua lại phù hợp với cộng đồng và môi trường tương tác xã hội xung quanh
2.1.2 Nghiên cứu về khung phát triển trí tuệ
Về thuật ngữ:
Từ giữa thế kỷ 20 trở về trước, thuật ngữ "Intelligence" được dùng để chỉ về trí tuệ (hay trí thông minh) của con người, coi đó là năng lực khám phá sự giống và khác nhau giữa các sự vật Theo Alfred Binet, trí tuệ là một năng lực chung khi con người suy luận
và giải quyết vấn đề trong các tình huống khác nhau Từ nửa sau thế kỷ 20, "Intelligence" không còn được hiểu theo nghĩa “trí thông minh” nữa, mà trí tuệ là năng lực học tập, trí tuệ là năng lực tư duy trừu tượng, hoặc trí tuệ là năng lực thích ứng Trong đó, hiểu theo nghĩa thứ ba là phổ biến
(theo Freeman, 1963; Aiken, 1987)
Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá là nguyên nhân quan trọng làm thay đổi quan niệm trí tuệ của các nhà tâm lý học thế giới Các nhà khoa học cũng phát hiện ra rằng, tâm lý con người mang bản chất xã hội cao và đây không
phải là một cơ cấu khép kín, tự thân hay có thể bẩm sinh di truyền được Thông qua
việc nghiên cứu sinh viên trường Đại học tổng hợp Kiev, Blaykhe V.M và Burolachuc L.F cho rằng: Trí tuệ có cấu trúc động, tương đối độc lập, của các thuộc tính nhận
thức của nhân cách, được hình thành và thể hiện trong hoạt động, do những điều kiện văn hoá - lịch sử quy định và bảo đảm cho sự tác động qua lại phù hợp với hiện thực, cho sự cải tạo có mục đích hiện thực ấy Nói cách khác, trí tuệ là kết quả tương tác của con người với môi trường sống, đồng thời là tiền đề cho sự tương tác ấy
(trích theo Nguyễn Công Khanh, 2010)
V ề khung phát triển trí tuệ:
Tổng quan lịch sử nghiên cứu thế giới cho thấy, có hai nhóm lý thuyết về phát triển trí tuệ của con người, đó là Đơn trí tuệ (Single intelligence) và Đa trí tuệ (Multiple intelligence), với các lý thuyết của các đại diện như:
Trang 20Hình 2 1- Sơ đồ khái quát hoá các lý thuyết và mô hình về trí tuệ
- Trường phái Đơn trí tuệ quan niệm rằng trí tuệ (trí thông minh) là một năng
lực chung, với một số đại diện chủ yếu sau:
+ Thuyết hai nhân tố trí tuệ của Charles Spearman được đề xuất vào năm 1904:
Trí thông minh chung ”g” (general) được coi là một năng lực tâm thần ảnh hưởng đến mức độ nhận thức của con người, sau đó được phân thành các nhân tố riêng ”s” (special), trong đó nhân tố chung quan trọng hơn
(trích Spearman, 2005).
+ Theo Thurstone chỉ ra, nhân tố chung ‘g’ ảnh hưởng đến 7 nhân tố riêng biệt
là suy luận (R- reasoning), lưu loát về ngôn từ (W- Word fluency), tốc độ tri giác (P Perceptual Speed), thông hiểu ngôn ngữ (V- Verbal comprehension), tưởng tượng không gian (S-Spatial Visualization), tính toán bằng con số (N- Numerical Calculation) và trí nhớ liên tưởng (M- Associative Memory)
(trích theo Myers, 2009)
+ Mô hình thứ bậc năng lực trí tuệ của Vernon đã kết hợp nhân tố trí tuệ chung của Spearman và các năng lực trí tuệ nguyên thuỷ của Thurstone (Philip E Vernon 1969): nhân tố trí tuệ chung (g) nằm ở tầng cao nhất, cùng với 2 nhóm nhân tố chính yếu là ngôn ngữ - giáo dục (V: Ed) và thực tế - cơ giới - không gian (K: M) nằm ở tầng kế tiếp (chính yếu) Mỗi nhân tố V: Ed và K: M được tiếp tục phân tách thành một số nhân tố tầng thứ yếu
Trang 21Hình 2 2-Mô hình th ứ bậc của Vernon về năng lực trí tụê (theo Vernon, 1969)
- Trường phái Đa trí tuệ phản đối ‘nhân tố trí tuệ chung’, họ cho rằng có nhiều
nhân tố trí tuệ Một số đại diện cho trường phái học thuyết này như sau:
+ Bằng các phân tích đa nhân tố, Guilford đã xác định được 120 nhân tố của trí tuệ (xem hình 3) Mỗi một nhân tố đại diện cho sự tác động qua lại giữa các chiều (dimensions): các quá trình tư duy (nhận thức, trí nhớ, tư duy phân kỳ, tư duy hội
tụ, đánh giá), các nội dung (thông tin mà con người đang suy nghĩ về chúng: hình ảnh, ký hiệu, ngữ nghĩa, hành vi), và các sản phẩm (kết quả của sự suy nghĩ về các thông tin: các đơn vị, các loại, các mối liên hệ, các hệ thống, các biến thái, các liên kết) Guilford phát hiện ra quá trình sáng tạo phần lớn các sản phẩm thuộc tư duy phân kỳ, còn trí thông minh thuộc tư duy hội tụ bởi vì nó chỉ nhằm vào một trả lời
(theo J P Guilford 1967)
+ Howard Gardner, nhà tâm lý học Harvard, định nghĩa trí tuệ là “khả năng giải quyết vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm có giá trị trong một hoặc nhiều bối cảnh văn hóa” Theo Howard Gardner (1983), có 8 kiểu trí tuệ khác nhau trong mỗi con người:
Trí tuệ ngôn ngữ (Linguistic Intelligence) là khả năng nói và viết, khả năng học
và sử dụng ngôn ngữ để đạt được mục tiêu, khả năng sử dụng ngôn ngữ hiệu quả để
Trang 22thể hiện bản thân bằng hùng biện, thi ca hoặc có thể dùng ngôn ngữ để nhớ thông tin;
Trí tuệ lôgic - toán học (Logical - Mathematical Intelligence) là khả năng tư
duy phân tích các vấn đề một cách logic, có thể giải quyết các vấn đề liên quan đến toán học tốt, đánh giá các vấn đề theo một góc nhìn rất khoa học Những cá nhân sở hữu trí thông minh này có khả năng tư duy để khám phá, tư duy nên các quy trình, nguyên nhân và tư duy logic tốt, cách tư duy theo dạng nguyên nhân – hệ quả Trí thông minh này có mối liên kết với các sáng kiến về khoa học và toán học, có tư duy sáng tạo, có khả năng phát triển nên các mô hình số học;…
Trí tuệ âm nhạc (Musical Intelligence), gồm các kỹ năng biểu diễn, sáng tác,
và cảm nhận âm nhạc Thông minh âm nhạc góp phần phát triển tư duy nhận biết và sáng tác giai điệu, cao độ và nhịp điệu Theo Howard Gardner trí tuệ âm nhạc gắn liền với trí tuệ ngôn ngữ Hơn nữa, trí tuệ âm nhạc luôn tồn tại trong tiềm thức của mỗi chúng ta, chỉ cần cá nhân này có khả năng lắng nghe tốt, khả năng hát theo giai điệu, nghe được các dạng âm nhạc khác nhau;
Trí tuệ không gian (Spatial Intelligence) liên quan đến suy nghĩ bằng hình ảnh,
hình tượng và khả năng cảm nhận, chuyển đổi và tái tạo lại thế giới không gian trực quan Những cá nhân có trí tuệ không gian cao sẽ sở hữu sự nhạy cảm sắc bén và có khả năng tưởng tượng sống động, có thể vẽ, phác họa các sáng kiến của họ dưới các dạng khác nhau như hình ảnh, đồ họa, có khả năng định hướng tốt trong không gian
ba chiều;
Trí tuệ thể chất (Body - Kinesthetic Intelligence) là khả năng sử dụng cơ thể để
giải quyết vấn đề, khả năng trí não điều khiển các hoạt động đó Các cá nhân theo các nhóm nghề nghiệp sau sẽ có khả năng tư duy này: vận động viên thể thao, thủ công, thợ cơ khí, bác sĩ phẫu thuật, Họ là những người thực hiện, có sự nhạy cảm nhất định, họ sẽ có mong muốn vận động cơ thể thường xuyên và có khả năng phản ứng ngay với các tình huống, sự việc;
Trí tuệ nội tâm (Intrapersonal Intelligence) là ngươi có thể dễ dàng tiếp cận và
nhìn rõ được những cảm xúc của chính mình, phân biệt nhiều loại trạng thái tình cảm
và sử dụng sự hiểu này để làm phong phú thêm và vạch ra con đường cho cuộc đời mình Họ có thể là những người hướng nội, sẽ dành nhiều thời gian trầm ngâm suy
Trang 23nghĩ, tự tìm hiểu thế giới nội tâm và tự đối thoại với bản thân một cách sâu sắc Trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, họ có sự tự lập cao, thích làm việc một mình hơn làm việc với trong một nhóm người hay làm việc với người khác
Trí tuệ giao tiếp (Extrapersonal Intelligence) là năng lực hiểu và làm việc được
với những người khác Nổi bật là khả năng nhận biết, chia sẻ, thấu hiểu tính cách, nắm
rõ ý định và ý muốn của những người xung quanh Một người sở hữu trí tuệ giao tiếp
sẽ có lòng thấu cảm và tinh thần trách nhiệm cao đối với mọi người xung quanh, hoặc
là người có sức hút với những người xung quanh và trong các đội nhóm, họ có khả năng thấu cảm cao những người xung quanh và từ đó quan sát xã hội bên ngoài;
Trí tuệ tự nhiên (Naturalist Intelligence) là khả năng nhận thức, phân loại và
rút ra được những đặc điểm của môi trường Những người sở hữu trí tuệ tự nhiên luôn
có mong muốn được sinh sống hòa hợp với thiên nhiên, họ yêu thích các hoạt động như nuôi trồng, khám phá thế giới tự nhiên, học về các loài động – thực vật khác nhau Hiện tại, Gardner đã kết nạp thêm hai dạng thông minh nữa là Thông minh Sinh tồn (Existentialist Intelligence) và Thông minh triết học
(theo Gardner, Howard 1999)
Quan điểm của Gardner đã được đánh giá cao, gây một tiếng vang trong giới sư phạm ở Mỹ vì đã thừa nhận hoàn cảnh văn hoá của trí tuệ, đã tính đến nhiều năng lực của con người và phân tích trí tuệ ở nhà trường và các môi trường ứng dụng khác Nhưng, chính ông cũng phải chấp nhận rằng những lý giải và quan điểm của mình không thể nào lý giải được tất cả vấn đề Một số loại trí tuệ của Gardner được
đo bằng các trắc nghiệm trí tuệ truyền thống - đó là trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ logic - toán, trí tuệ không gian, còn các loại khác đều không đánh giá được bằng trắc nghiệm trí tuệ truyền thống
Theo Salovey, J Mayer và D Goleman, môi trường làm việc thay đổi nhanh chóng, uyển chuyển và cởi mở của xã hội đòi hỏi phải kết hợp trí tuệ thông minh với
trí tuệ cảm xúc (emotional intelligence) - là khả năng kiểm soát và điều chỉnh các cảm
xúc của mình và của người khác, và khả năng sử dụng cảm xúc để dẫn dắt ý nghĩ, hành động (theo Salovey, P & Mayer, J.D 1990) Trong cuốn “Làm việc với trí tuệ cảm xúc” (1998), Goleman định nghĩa: Trí tuệ cảm xúc là năng lực nhận biết các cảm
Trang 24xúc của mình và của người khác, năng lực tự thúc đẩy và năng lực quản lý tốt các cảm xúc trong bản thân mình và trong các mối liên hệ với người khác Ông Goleman đã tìm ra 5 năng lực cơ bản về cảm xúc và xã hội là: năng lực tự ý thức, năng lực tự điều chỉnh, năng lực thúc đẩy, năng lực đồng cảm và các kỹ năng xã hội
Cuối thế kỷ 20, xuất hiện xu thế nghiên cứu trí tuệ thực hiện các nhiệm vụ thực tiễn gọi là trí tuệ thực tiễn (Practical Intelligence, PI) Đồng thời, khi cùng chung sống trong cộng đồng, con người phải chú ý đến các quy luật xã hội, chuẩn mực xã hội, phải chẩn đoán hành động của người khác để quyết định hành động phù hợp của mình Những yêu cầu này đòi hỏi con người phải có trí tuệ xã hội (Social Intellitgence, SI) – là năng lực hoàn thành nhiệm vụ trong sự tương tác với người khác, trong đó trí tuệ cảm xúc là hạt nhân Eysenck (1988) đã đề xuất mô hình 3 tầng: trí tuệ sinh học (biological intelligence), trí tuệ tâm lý (psychometric intelligence) hay trí tuệ hàn lâm (Academic intelligence) và trí tuệ xã hội (social intelligence)
Robert Sternberg (1999) nêu khái niệm “trí tuệ thành công” (successful intelligence) để đạt những mục đích quan trọng Thuyết ba nhân tố trí tuệ của ông dựa trên quá trình con người chế biến thông tin: (i) là các quá trình bên trong cá nhân gồm các kỹ năng xử lý thông tin để hướng dẫn các hành vi thông minh (gọi là trí thông
Hình 2 3-Ba t ầng trí tuệ theo Eysenck, 1988
Trang 25minh phân tích); (ii) năng lực tạo ra sự phù hợp tối ưu giữa kỹ năng của cá nhân và môi trường bên ngoài (gọi là trí thông minh thực hành); (iii) năng lực huy động kinh nghiệm cá để ứng phó thành công (năng lực sáng tạo) Cụ thể là:
Trí tuệ phân tích (Analytical or Componential Intelligence) phản ánh năng lực
tư duy, suy luận, ngôn ngữ, giải quyết vấn đề, đánh giá,… Người có trí thông minh phân tích cao có khả năng nhìn thấy, tìm ra các giải pháp không thông thường bởi các
kỹ năng tư duy phân tích, trừu tượng hóa, khái quát học, đánh giá,… của họ Ví dụ, học sinh A luôn đạt điểm cao trong các test chuẩn hóa do khả năng phân tích, tóm tắt, đánh giá các giải pháp nêu trong tài liệu
Trí tuệ sáng tạo / trải nghiệm (Creative or Experiential Intelligence) là năng lực kết hợp những kinh nghiệm, sự kiện, khám phá, tưởng tượng, dự đoán,… theo những cách thức mới để giải quyết được những vấn đề đặt ra Ví dụ, Học sinh B là một người
có trí thông minh sáng tạo vì khả năng sử dụng kiến thức và kỹ năng đã có để giải quyết các vấn đề mới thường xuyên
Trí tuệ thực hành là năng lực hoạt động trong các tình huống thực tiễn, phản ánh sự “lõi đời” như mặc cả khi mua bán mà bạn không hề được dạy ở nhà trường Ví
dụ, bác C đang cân nhắc mua một chiếc xe máy cũ Một nhân viên bán hàng đang cố gắng thuyết phục bác mua một chiếc xe, nhưng bác đã đưa ra sự so sánh giá và đã quyết định nói không với những tính năng bổ sung không cần thiết của chiếc xe mà người bán giới thiệu
2.2 CẢM XÚC
2.2.1 Khái niệm cảm xúc
Cảm xúc (emotion) như là một kích động hay một rối loạn tinh thần, tình cảm, đam
mê, mọi trạng thái mãnh liệt hay kích thích Theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ
biên - 1997): “Cảm xúc - rung động trong lòng do tiếp xúc với sự việc gì đó” Theo từ
điển Tâm lý (Nguyễn Khắc Viện chủ biên - 1991): cảm xúc - phản ứng rung chuyển của
con người trước một kích động vật chất hoặc một sự việc gồm hai mặt:
Những phản ứng sinh lí do thần kinh thực vật như: tim đập nhanh, toát mồ hôi, hoặc run rẩy, rối loạn tiêu hóa Phản ứng tâm lý qua những thái độ, lời nói, hành vi và cảm
Trang 26giác dễ chịu, khó chịu, vui sướng, buồn khổ, có tính bột phát, chủ thể kiềm chế khó khăn Lúc phản ứng chưa phân định gọi là cảm xúc, lúc phân định rõ nét gọi là cảm động, lúc biểu hiện với cường độ cao gọi là cảm kích
(Trong từ điển Oxford English Dictionary: 22, tr.30-31)
Cảm xúc - sự phản ánh tâm lý về mặt ý nghĩa sống động của các hiện tượng và hoàn cảnh, tức mối quan hệ giữa các thuộc tính khách quan của chúng với nhu cầu của chủ thể, dưới hình thức những rung động trực tiếp
Trong tâm lý học, xúc cảm thường được quan niệm là thái độ phản ánh ý nghĩa của
sự vật, hiện tượng với nhu cầu của cá thể có tính chất tình huống
Hiện nay trong tâm lý học, có rất nhiều quan niệm khoa học khác nhau về bản chất
và ý nghĩa của xúc cảm, thậm chí trái ngược nhau: Schachtel (1959) khẳng định rằng: Không có các hoạt động và các hành vi nếu không có xúc động mạnh Tomkins (1963)
và Lizard (1972) khẳng định: các xúc cảm tạo nên một hệ thống động cơ sơ cấp của con người, chính xúc cảm đóng vai trò quan trọng trong sự tổ chức, sự tạo động cơ và sự củng cố hành vi [1] Trong tâm lý học, việc nghiên cứu bản chất, cấu trúc xúc cảm luôn
là một vấn đề phức tạp vì nó là đối tượng của nhiều khoa học liên ngành như tâm lý học
xã hội, tâm lý học nhân cách, tâm lý học, tâm thần học, thần kinh học, sinh hóa học…
( Theo từ điển Tâm lý học - Vũ Dũng chủ biên - 2000) X.L Rubinstein, nhà tâm lý học Xô Viết: “Xúc cảm là một sự trải nghiệm đặc biệt
được đặc trưng bởi phẩm chất tính cách của nó như vui, buồn, giận dữ, khùng " Ông cho rằng: “Về mặt nội dung, các xúc cảm được xác định bởi các mối quan hệ xã hội của con người, bởi tập quán và thói quen trong từng hoàn cảnh xã hội, tư tưởng của nó” Qua việc phân tích nguồn gốc, sự nảy sinh và biểu hiện dưới góc độ lý thuyết hoạt động, ông khẳng định: xúc cảm của người, xét về nguồn gốc, chức năng hay sự biểu hiện luôn mang tính xã hội
Nguyễn Huy Tú đã định nghĩa: “Xúc cảm của con người là những rung động khác
nhau của chúng ta nảy sinh do sự thỏa mãn hay không thỏa mãn những nhu cầu nào đó,
Trang 27do sự phủ hợp hay không phù hợp của các biến cố, hoàn cảnh cũng như trạng thái bên trong cơ thể với mong muốn, hứng thú, khuynh hướng, niềm tin và thói quen của chúng ta” [23, tr.23] Trần Trọng Thủy quan niệm: Xúc cảm là một quá trình tâm lý, biểu thị thái độ của con người hay con vật với sự vật, hiện tượng có liên quan đến nhu cầu của
cá thể đó, gắn liền với phản xạ không điều kiện, với bản năng Carroll E Izard, nhà tâm
lý học Mĩ nhận định: một định nghĩa cảm xúc trọn vẹn phải tính đến tính chất thể nghiệm của nó, phải bao hàm những thành tổ thần kinh và biểu cảm Ông cho rằng: “cảm xúc là một hiện tượng phức tạp bao gồm những yếu tố sinh lí thần kinh, những yếu tố vận động biểu cảm và sự thể nghiệm chủ quan” [1, tr.89] Theo Izard, các cảm xúc nấy sinh như
là kết quả của những biến đổi trong hệ thần kinh và những biến đổi này có thể được quy định bởi các sự kiện bên trong cũng như bên ngoài [I, tr.34]
Izard chỉ ra rằng: mỗi xúc cảm trọn vẹn phải được tạo thành bởi ba yếu tố: cơ chất thần kinh chuyên biệt bị chế ước bên trong, những phức hợp biểu cảm bằng nét mặt đặc trưng và sự thể hiện chủ quan khác biệt Ông đưa ra thuyết các xúc cảm phân hóa và khẳng định rằng xúc cảm có cấu trúc tầng bậc gồm những xúc cảm nền tảng và những xúc cảm phức hợp
Các xúc cảm nền tảng gồm: hứng thú, hồi hộp, vui sướng, ngạc nhiên, đau khổ, căm giận, ghê tởm, khinh bỉ, khiếp sợ, xấu hổ và tội lỗi Các phức hợp xúc cảm là cấp bậc thứ hai của xúc cảm, được tạo nên từ “những tổ hợp có biến thiên của các xúc cảm nền tảng và các quá trình xúc động” như: lo lắng, sự trầm uất, tình yêu, lòng thù địch
Daniel Goleman, dưới góc độ nghiên cứu xúc cảm và mối quan hệ giữa xúc cảm và trí tuệ, đã định nghĩa: “Xúc cảm vừa là một tình cảm và các ý nghĩa, các trạng thái tâm
lý và sinh lí đặc biệt, vừa là tháng của các xu hướng hành động do nó gây ra” Ông cho rằng xúc cảm rất phong phú và đa dạng: “có hàng trăm xúc cảm với những kết hợp, những biến thể và những biến đổi của chúng Những sắc thái của chúng trên thực tế nhiều đến mức chúng ta không có đủ từ để chỉ”
Goleman đã chỉ ra một số xúc cảm phổ biến như: giận, buôn, sợ, khoái, yêu, ngạc nhiên, ghê tởm, xấu hổ Ông xem xét các xúc cảm theo họ (familles) Theo ông những
họ chính của xúc cảm là: giận, buôn, sợ, thích, xấu hổ Mỗi họ này có một hạt nhân
Trang 28xúc cảm căn bản làm trung tâm, còn xung quanh là những làn sóng nối tiếp nhau của vô
số các xúc cảm có họ hàng với nó J Mayer, P Salovey và D Caruso định nghĩa: “Xúc cảm là một hệ thống đáp lại của cơ thể giúp điều phối những thay đổi về sinh lí, tri giác, kinh nghiệm, nhận thức và các thay đổi khác thành những trải nghiệm mạch lạc về tâm trạng và tình cảm, chẳng hạn như hạnh phúc, tức giận, buồn chán, ngạc nhiên ”
Theo đó, khi bàn về cảm xúc, thường nhấn mạnh đến các khía cạnh sau:
Cảm xúc là một hiện tượng tâm lý thể hiện thái độ của con người đối với hiện thực khách quan và chính bản thân; có tính cường độ, tính đối cực, tính đối tượng, tính phù hợp và tính chân thực
Cảm xúc gắn liền với nhu cầu của con người Con người chỉ bộc lộ cảm xúc với sự vật, hiện tượng có liên quan tới sự thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu
của chính họ Theo đó, khẳng định được vai trò của cảm xúc chính là động lực thúc đẩy con người hoạt động
Cảm xúc gắn bó chặt chẽ với suy nghĩ và được biểu hiện thông qua những thay đổi sinh lý và cử chỉ hành vi Không có một hiện tượng tâm lý nào lại tác động nảy sinh những thay đổi sinh lý, cử chỉ, hành vi rõ rệt như cảm xúc Cụ thể là những thay đổi bên trong như sự thay đổi hoạt động của cơ quan nội tạng: nhịp tim, nhịp thở; mức độ đáp ứng hệ thần kinh, thay đổi nội tiết và đáp ứng điện sinh học) và bên ngoài thông qua ngôn ngữ, nét mặt, điệu bộ, cử chỉ và vận động toàn thân
Cảm xúc xuất hiện chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau, trong đó phụ thuộc nhiều vào đánh giá của con người về các sự kiện gây nên cảm xúc Cá nhân đánh giá sự kiện đã thỏa mãn được hay không thỏa mãn được các nhu cầu của họ thì cảm xúc tương ứng sẽ xuất hiện, dương tính,
âm tính hay tích cực, tiêu cực
Cảm xúc là phương thức thích nghi của con người với môi trường và mang bản chất xã hội - lịch sử Sự hình thành và phát triển của các loại cảm xúc chịu sự chi phối, tác động chủ yếu của yếu tố xã hội và đồng thời phản ánh mối quan hệ trong xã hội loài người Theo tiến trình phát triển của xã hội, cảm xúc của con người sẽ ngày càng phong phú hơn, có nội dung xã hội mới trên cơ sở các mối quan
hệ xã hội ngày càng mở rộng và nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú
Trang 29và xúc cảm được cấu tạo từ 3 thành tố:
- Tín hiệu hay kích thích
- Sự đánh giá - được coi như là chức năng của bộ não mà nhờ đó cá thể đã đánh giá được tình huống kích thích so với nhu cầu của bản thân
- Phản ứng phức hợp, gồm 3 loại: phản ứng nhận thức, phản ứng biểu cảm, phản ứng phương thức Phản ứng nhận thức được coi như là cơ chế tự vệ (dồn nén hay từ chối) Phản ứng biểu cảm mà quan trọng nhất là biểu cảm ở nét mặt, thường chia làm 2 kiểu: biểu cảm sinh vật và biểu cảm tự tạo (biểu cảm văn hóa) Phản ứng phương thức thể hiện ở 3 loại là tín hiệu tượng trưng, những hành động phức tạp và có hướng (sự gây hấn hay bỏ chạy), tập quán - những phản ứng bị quy định về mặt văn hóa Carroll E Izard đưa ra lý thuyết các xúc cảm phân hóa và cho rằng xúc cảm có cấu trúc tầng bậc gồm những xúc cảm nền tảng và những xúc cảm phức hợp Mỗi xúc cảm trọn vẹn phải được tạo thành bởi 3 yếu tố: cơ chế thần kinh chuyên biệt bị chế ước bên trong, những phức hợp biểu cảm nét đặc trưng và sự thể hiện chủ quan khác biệt Theo ông mười xúc cảm nền tảng gồm: hứng thú, hỏi hộp, vui sướng, ngạc nhiên, đau khổ, căm giận, ghê tởm, khinh bỉ, khiếp sợ, xấu hổ, tội lỗi
C.E.Izard quan niệm cấp bậc thứ hai của xúc cảm là phức hợp xúc cảm được tạo nên từ
“những tổ hợp có biến thiên của xúc cảm nền tảng và quá trình xúc động”, như là:
Lo lắng: như là phức hợp các xúc cảm nền tảng, bao gồm sự khiếp sợ, đau khổ, căm giận, xấu hổ, tội lỗi và đôi khi cả hứng thú, hưng phấn
Sự trầm uất: các xúc cảm nền tảng tham gia vào là đau khổ, căm giận, khinh bỉ,
có liên quan tới chính bản thân mình và với người khác
Trang 30 Tình yêu: là dạng phức hợp xúc cảm đặc biệt trong mỗi con người, như tình mẫu
tử, tình yêu đôi lứa, tình cảm bạn bè, Cái chung của kiểu xúc cảm tình yêu là sự gắn kết con người với nhau, nó có ý nghĩa tiến hóa sinh vật, văn hóa xã hội và cá nhân Tình yêu có ảnh hưởng đến tất cả các ngưỡng xúc cảm khác và mọi quá trình nhận thức của con người Lòng thù địch: là sự tác động lẫn nhau của các xúc cảm nền tảng như căm giận, ghê tởm, khinh bỉ Nó là cơ sở của hành vi xâm lược (Izard, 1975).Daniel Goleman, khi bàn đến cấu trúc xúc cảm đã chỉ ra rằng: “có hàng trăm xúc cảm với những kết hợp, những biến thể và những biến đổi của chúng Những sắc thái của chúng trên thực tế nhiều đến mức chúng ta không có đủ từ để chỉ”
Ông đã chỉ ra một số xúc cảm thường được nhắc tới với một số thành phần của chúng:
Giận: cuồng nộ, phẫn nộ, oán giận, bực tức, gay gắt, hung hăng, bất mãn, cáu kinh, thủ
địch và có thể đạt tới độ tột cùng của thù hẳn và bạo lực bệnh lý
Buồn: buồn phiền, sầu não, rầu rĩ, u sầu, thương thân, cô đơn, thất vọng, trầm cảm sâu Sợ: lo hãi, e sợ, bị kích thích, lo âu, sợ sệt, khiếp hãi, khủng khiếp, ghê sợ và trở thành
bệnh lý là chứng sợ, chứng hoảng hốt
Khoái: sung sướng, vui vẻ, nhẹ nhõm, bằng lòng, hạnh phúc, hoan hỉ, tự hào, khoái cảm, sảng khoái, ngây ngất
Yêu: ưng ý, tình bạn, tin cậy, dễ ưa, cảm tình, tận tụy, hâm mộ
Ngạc nhiên: choáng váng, ngơ ngác, kinh ngạc
Ghê tởm: khinh miệt, coi thường, kinh tởm, chán ghét, phát ngấy
Xấu hồ: ý thức phạm tội, bối rối, phật ý, ăn năn, nhục nhã, hối tiếc
Daniel Goleman xem xét các xúc cảm theo họ (familles) hay các chiều kích (dimensions) Ông cho rằng những họ chính của xúc cảm là: giận, buồn, sợ, thích, xấu
hổ Mỗi họ này có một hạt nhân xúc cảm căn bản là trung tâm, các xúc cảm có họ với
nó thì nằm xung quanh như những làn sóng nối tiếp của vô số những biến đổi, ở ngoại
vi có những tâm trạng (humerus) mà xét về mặt kỹ thuật, chúng ít sinh động hơn và kéo
Trang 31đài lâu hơn những xúc cảm đích thực Sau các tâm trạng đến các tính khí, một thiên hướng gây ra một xúc cảm hay một tâm trạng nào đó, khiến người ta thành u buồn, nhút nhát hay vui vẻ Sau đó là những rối nhiễu (troubles) tâm lý thật sự, như sự trầm cảm lâm sàng hay sự lo hãi mãn tính
2.2.3 Các loại cảm xúc cơ bản và ảnh hưởng của nó đến sinh viên
2.2.3.1 Về các loại cảm xúc cơ bản:
Có nhiều cách phân loại khác nhau về cảm xúc của con người
Theo X.L Rubinstein (1960), căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, liên quan đến điều kiện, hoàn cảnh, có bốn loại cảm xúc [29]:
Cảm xúc sơ cấp
Cảm xúc sống liên quan đến tri giác cơ thể hay đối tượng tạo ra niềm khoái lạc
Cảm xúc đánh giá (cảm xúc giá trị)
Cảm xúc với môi trường bên ngoài
Đáng chú ý là nghiên cứu của Feldman Barrett và Russell (1998) về “circumplex” Từ này không dịch sang tiếng Việt được vì sẽ giải thích không hết ý nghĩa của nó Các tác giả cho rằng có những cảm xúc đặc trưng điển hình và có những cảm xúc mang tính ảnh hưởng Theo đó, có hai vòng tròn cảm xúc
Vòng tròn bên ngoài chỉ ra một số trường hợp cảm xúc điển hình như:
Hình 2 4-Circumplex model of Emotion – Russell and Feldman Barrett (1998)
Vòng tròn bên trong cho thấy một bản sơ đồ các cảm xúc được cho là lõi (core) ảnh hưởng
Trang 32 Góc phần tư phía trên bên trái của hình cho thấy có cảm xúc: Căng thẳng (Tense),
lo lắng (Nervous), căng thẳng – Stressed (khác với tense), buồn – upset (khác với sadness)
Góc phần tư phía trên bên phải của hình cho thấy có cảm xúc vui (Happy), tự hào (Elated), hào hứng (Excited), tỉnh táo (Alert)
Góc phần tư phía dưới bên trái có cảm xúc mệt mỏi (Fatigued), thờ ơ (Lethargic), chán nản (Depressed), buồn rầu (Sad)
Góc phần tư phía dưới bên phải của hình có cảm xúc mãn nguyện (Contented), thanh thản (Serene), thư thái (Relaxed), bình tĩnh (Calm)
Những cảm xúc điển hình có thể có bóng dáng của các cảm xúc lõi ảnh hưởng tùy theo từng tác nhân kích thích
Carrol.E Izard (1992) cho rằng cảm xúc có cấu trúc tầng bậc bao gồm nhữngcảm xúc nền tảng và những cảm xúc phức hợp Có 10 cảm xúc nền tảng và 4 cảm xúc phức hợp [6] Xuất phát từ tính chất và tác dụng của cảm xúc đối với hoạt động của con người, có thể chia cảm xúc con người thành những loại sau: Cảm xúc dương tính và cảm xúc âm tính; cảm xúc tích cực và cảm xúc tiêu cực Cảm xúc dương tính là cảm xúc biểu hiện sự thỏa mãn nhu cầu, có tác dụng làm tăng nghị lực, thúc đẩy hoạt động như cảm xúc vui sướng, hân hoan, phấn khởi… Cảm xúc âm tính là cảm xúc biểu hiện sự không thỏa mãn nhu cầu, có tác dụng hạn chế hay giảm nghị lực và cản trở hoạt động như lo âu, buồn chán… Cảm xúc tích cực là những cảm xúc có tác dụng thôi thúc con người hoạt động, mang đến cho con người sự tự tin, lạc quan, củng cố ý chí và làm tăng sức sáng tạo Cảm xúc tiêu cực là những cảm xúc kìm hãm hoạt động của con người, làm cho con người trở nên yếu đuối, tự ti, bi quan, chán nản, tức giận… Phần lớn những cảm xúc tiêu cực dễ dẫn đến không kiểm soát bản thân, dễ có hành động bột phát
Thực tế cho thấy những cách phân chia này chỉ mang tính tương đối Có những cảm xúc thường được cho là tiêu cực như giận dữ hay xấu hổ, nhưng chưa hẳn đúng vì trong nhiều trường hợp đây là những cảm xúc tích cực Theo đó, đánh giá tích cực hay tiêu cực tùy thuộc vào nhiều yếu tố như tương tác giữa chủ thể và môi trường, tình huống, hoàn cảnh cụ thể, đặc điểm văn hóa, phong tục, tập quán… Trong luận án, nghiên cứu sinh tiếp cận nghiên cứu cảm xúc theo hướng cảm xúc dương tính – âm tính, trong đó cảm xúc âm
Trang 33tính được hiểu là những cảm xúc biểu hiện sự không thoả mãn nhu cầu, làm mất hứng thú, giảm nghị lực như tức giận, buồn chán, lo âu… và những cảm xúc này ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình học tập và rèn luyện tại trường của sinh viên
2.2.3.2 Về ảnh hưởng của cảm xúc đến sinh viên:
Bên cạnh việc nghiên cứu cảm xúc và các loại cảm xúc, các nhà nghiên cứu còn tìm hiểu sự ảnh hưởng của cảm xúc đến chủ thể Những cảm xúc dương tính hay âm tính bản thân nó cũng
đã cho thấy những ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực Tuy nhiên, ngay cả đối với cảm xúc âm tính nhưng với cường độ phù hợp cũng có thể giúp sinh viên tích cực, chủ động, thích ứng với môi trường học tập, rèn luyện Cụ thể:
Một là ảnh hưởng đến tâm sinh lý sinh viên
Về phương diện sinh lý, các cảm xúc có thể tạo ra những ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực Theo Daparôgiét (1977), những phản ứng cảm xúc đều biểu thị bằng những thay đổi sâu sắc của các quá trình thực vật (thở, tuần hoàn, tiêu hóa), chính vì vậy những cảm xúc dương tính hay âm tính sẽ tác động đến các cơ quan thể chất Chẳng hạn như khi vui vẻ thì các phản ứng của cơ thể được thể hiện thông qua việc giải phóng endorphine và oxytocin, thường được gọi là “cuddle hormone” hay còn gọi là “hormone âu yếm” Chúng
ta cảm thấy tốt khi có những cảm xúc này và muốn có chúng nhiều hơn nữa Trong khi các cảm xúc tiêu cực sẽ bị mắc kẹt trong cơ thể thì cảm xúc tích cực lại giúp loại bỏ tác động của cảm xúc tiêu cực ra khỏi cơ thể Chúng không bị “giam cầm” mà được tin rằng
sẽ kích thích sự thay đổi trong các tế bào, đồng thời giúp cải thiện chức năng hoạt động bình thường của mỗi chúng ta Các nhà khoa học ở Đại học Michigan cho biết các cảm xúc tích cực (chẳng hạn như vui sướng, quan tâm, thỏa mãn) gia tăng các phản ứng hành động – suy nghĩ tam thời của mỗi cá nhân, kết quả là có thể xây dựng nên những tài nguyên riêng bền vững phục vụ cho chức năng có tính di truyền của việc thúc đẩy sự sống Nhưng với cảm xúc âm tính như giận dữ, sợ hãi, lo âu, cơ thể sẽ có những biểu hiện như: đau đầu, đau ngực, huyết áp và nhịp tim tăng lên, hơi thở nhanh, tăng trương lực cơ bắp, vả mồ hôi, lưu lượng máu tới các nhóm cơ lớn được tăng lên, và các chức năng hệ thống miễn dịch và tiêu hóa bị ức chế Người ta cũng đã chứng minh được những cảm xúc âm tính như căng thẳng, giận dữ có liên quan đến những bệnh lý như: các vấn đề về
Trang 34tim mạch, rối loạn hệ tuần hoàn, gây các chứng đau thượng vị, suy yếu hệ miễn dịch… Những người trải qua những cơn hoảng sợ thường có cảm giác như thể họ sắp chết Theo Eckhardt, Deffenbacher (1995), nguyên nhân hàng đầu cướp đi sinh mạng của người dân
Mỹ chính là bệnh động mạch vành, căn bệnh này liên quan đến sự giận dữ Kết luận của hầu hết các nhà nghiên cứu Suarez và Williams (1989) trong lĩnh vực này cho thấy những người có mức độ giận dữ và thù địch cao thường có nguy cơ bị bệnh động mạch vành Đồng thời,một số người, đặc biệt là những người có bệnh về tim mạch, khi không kiềm chế được cơn giận hoặc gặp những cú shock lớn, mạnh, đôi khi có thể dẫn đến sự nhồi máu cơ tim, hay là đột quỵ Nghiên cứu của Firth (1989), Sekas và các đồng sự (1980) cho thấy hầu hết những học sinh, sinh viên bị căng thẳng ở mức độ nặng đều mắc chứng đau dạ dày, đường ruột, chứng tăng huyết áp, hen suyễn, tăng trọng lượng một cách bất thường, đau đầu, thường xuyên mất ngủ, phổ biến là chứng đau đầu và mất ngủ
Về phương diện tâm lý, có thể nhận thấy rõ nhất ảnh hưởng của những cảm xúc âm tính Các cảm xúc âm tính như giận dữ, căng thẳng, lo âu có liên quan đến các chứng trầm cảm, rối loạn hành vi và các biểu hiện bệnh lý tâm thần khác như mệt mỏi tinh thần, mất tập trung, trí lực giảm sút, hành vi tự hủy hoại bản thân… Cảm giác buồn rầu kéo dài cùng với sự thất vọng, chán chường có thể dẫn đến trạng thái trầm cảm Trong nghiên cứu của Zhou, Peled và Moretti (2008), sự buồn bã được xem như là một nhân tố dự báo cho hành vi tự làm hại bản thân, ý định tự tử và hành vi tự tử Theo US Department of Health and Human Services (2000), Hauenstein (2003), tự tử là nguyên nhân đứng thứ 3 dẫn đến tử vong của những trẻ tuổi từ 15 đến 24 Tổ chức Y tế Thế giới (2005) cảnh báo căng thẳng là một đại dịch toàn cầu Nó liên quan đến sáu nguyên nhân hàng đầu cướp đi sinh mạng của con người trên hành tinh này: bệnh tim mạch, ung thư, viêm phổi, xơ gan, tai nạn và tự tử (APA, 2006) Nghiên cứu của Sekas và các đồng sự (1980), Lindner (1973), Pitt (1961) cho thấy mối tương quan thuận giữa căng thẳng và các triệu chứng của trầm cảm Theo Lehnert, Overholser và Spirito (1994), Silver, Field, Sanders và Diego (2000), giận dữ cũng liên quan đến mức độ trầm cảm cao Ngoài ra, sự căng thẳng,
lo âu có thể khiến con người có cảm giác tội lỗi và vô vọng, và điều này có thể làm lòng
tự trọng, tự tôn của họ giảm nhiều Sự chản nản, buồn rầu, căng thẳng cũng có thể khiến một người năng động, nhiều khát vọng trở nên thiếu nhiệt huyết, sống bất cần và chán chường về tương lai Bên cạnh đó, trong cảm xúc lo âu, chán nản, mệt mỏi, giận dữ nhiều
Trang 35trẻ vị thành niên đã tìm đến các chất kích thích như như rượu, bia, thuốc lá, cà phê, thuốc phiện Các nhóm nghiên cứu trên cũng đã chứng minh được rằng giận dữ liên quan với việc gia tăng lạm dụng chất kích thích Ngược lại, cảm xúc dương tính có thể tác động đến tâm lý cá nhân như tốc độ tư duy nhanh chóng, linh hoạt, sáng tạo, niềm tin được củng cố
Hai là ảnh hưởng đến học tập, rèn luyện của sinh viên
Các cảm xúc ảnh hưởng đến học tập, rèn luyện theo hai hướng, hoặc là tác động nâng cao hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện hoặc là làm giảm sút kết quả học tập, rèn luyện Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy cảm xúc âm tính có thể khiến thành tích học tập
bị giảm sút Theo Lehnert, Overholser và Spirito (1994), Silver, Field, Sanders và Diego (2000), giận dữ liên quan với điểm số trung bình học tập thấp Các nghiên cứu của Yousefi
và các cộng sự (2010), Rana và Mahmood (2010) cũng cho thấy sự lo âu có mối quan hệ
âm tính với thành tích học tập của học sinh, sinh viên Tuy nhiên cũng có những công trình nghiên cứu xem lo âu như là yếu tố giúp tích cực hóa hoạt động học tập Theo Morlock (1984), Irvine và Wilson (1994), Priest và Gass (2005), xây dựng các chương trình giáo dục “phiêu lưu”, cố ý sử dụng các tình huống khó khăn để khuyến khích học tập
Ba là ảnh hưởng đến các mối quan hệ xã hội của sinh viên
Các mối quan hệ xã hội chịu sự tác động của cảm xúc chủ yếu ở ba khía cạnh mối quan hệ với thầy cô, nhóm bạn bè và gia đình Theo đó, cảm xúc dương tính hay âm tính ảnh hưởng đến sự tồn tại và chất lượng mối quan hệ xã hội của sinh viên Sự vui vẻ giúp gắn kết các thành viên trong nhóm bạn bè, thấy được giá trị tinh thần khi tham gia nhóm Nhưng ngược lại, khi có những cảm xúc âm tính, sẽ có thể để lại những ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan hệ xã hội Mức độ cảm xúc âm tính cao có thể dẫn đến những những vấn
đề trong quan hệ bạn bè của sinh viên Các yếu tố gia đình thường bị ảnh hưởng bởi cảm xúc âm tính là sự tương tác gia đình, sự gắn kết các mối quan hệ và các căng thẳng trong gia đình Theo Sigfusdottir, Farkas và Silver (2004), sự tương tác gia đình tiêu cực có thể
là kết quả của sự gia tăng các cảm xúc âm tính như giận dữ, trạng thái trầm cảm Theo Stiffler (2008), những xung đột của gia đình cũng thường bắt nguồn từ sự giận dữ Mối quan
hệ với giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục cũng chịu sự tác động của những cảm xúc
Trang 36của sinh viên Duy trì và bộc lộ những cảm xúc tích cực giúp tạo dựng mối quan hệ thầy trò tích cực và ngược lại dễ dẫn những ứng xử không phù hợp trong giao tiếp với giảng viên trên lớp hay ngoài lớp
2.3 TRÍ TU Ệ CẢM XÚC (EQ)
2.3.1 Nguồn gốc:
Nguồn gốc sâu xa nhất của trí tuệ cảm xúc có thể truy ngược về việc Darwin nghiên cứu về tầm quan trọng của sự diễn đạt cảm xúc của các cá thể trong quá trình chọn lọc tự nhiên và các thay đổi thích nghi[2] Vào những năm 1900, mặc dù các định nghĩa truyền thống về trí tuệ nhấn mạnh tới yếu tố nhận thức như là trí nhớ và khả năng giải quyết vấn
đề, nhiều nhà khoa học có ảnh hưởng trong lĩnh vực trí nghiên cứu trí tuệ đã bắt đầu nhận
ra tầm quan trọng của khía cạnh "ngoài nhận thức" (non-cognitive) Ví dụ như ngay từ
những năm 1920, E L Thorndike, đã sử dụng khái niệm "hiểu biết xã hội" để miêu tả kỹ năng hiểu và quản lý người khác
Tương tự, năm 1940 David Wechsler đã miêu tả ảnh hưởng của yếu tố không hiểu biết tới các ứng xử thông minh, và chứng tỏ xa hơn rằng các mô hình của chúng ta về sự thông minh vẫn chưa hoàn thiện cho tới khi chúng ta có thể miêu tả thích đáng các yếu
tố này Năm 1983, trong cuốn Frames of Mind: The Theory of Multiple Intelligences
(Những cơ cấu của nhận thức: Lý thuyết về thông minh bội) [4] của Howard Gardner đã giới thiệu về ý tưởng về những thông minh bội mà trong đó bao gồm "Trí tuệ giữa các cá nhân" (khả năng hiểu những ý định, động cơ và mong muốn của người khác) và "Trí tuệ trong cá nhân" (khả năng hiểu ai đó, tán đồng cảm nhận của người đó, cảm giác sợ hãi
và động cơ thúc đẩy) Trong quan sát của Gardner, các kiểu trí tuệ truyền thống như IQ, không thể giải thích một cách đầy đủ khả năng nhận thức của con người.[5] Vì vậy thậm chí với những tên cho trước đến những khái niệm biến đổi, đều có một tin tưởng chung rằng những định nghĩa truyền thống về trí tuệ đang thiếu khả năng giải thích những kết quả trước đó
Wayne Payne là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ Trí tuệ xúc cảm (TTXC) trong luận văn tiến sĩ của anh: "Nghiên cứu về xúc cảm: Phát triển trí tuệ xúc cảm" vào năm 1985.[6]Tuy nhiên, thuật ngữ gần tương tự đã xuất hiện trước đó Leuner (1966) Greenspan
Trang 37(1989) cũng đồng thời đề xuất mô hình TTXC này năm 1985, nối tiếp bởi Salovey và Mayer (1990), và Goleman (1995)
2.3.2 Định nghĩa:
Có rất nhiều tranh luận về định nghĩa của Trí tuệ cảm xúc khi xem xét thuật ngữ và
cả các hoạt động Tiên phong là Salovey và Mayer (1990) đã định nghĩa TTXC là "khả năng giám sát cảm giác và xúc cảm của một người nào đó và những người khác, phân biệt giữa họ và sử dụng thông tin này để dẫn dắt suy nghĩ và hành động của người đó"
(Salovey, P & Mayer, J.D (1990) "Emotional Intelligence" Imagination, Cognition, and
Personality, 9, 185-211)
EQ là viết tắt của Emotional Quotient, có nghĩa là chỉ số cảm xúc, và đôi khi cũng được gọi là Emotional Intelligence (EI) - trí tuệ cảm xúc EQ biểu đạt khả năng theo dõi cảm xúc của chính bạn cũng như cảm xúc của người khác, để phân biệt và gắn nhãn chính xác các loại cảm xúc khác nhau và sử dụng thông tin cảm xúc để điều hướng suy nghĩ và hành vi của bạn và sự ảnh hưởng của chúng đến người khác
(theo Goleman, 1995; Mayer và Salovey, 1990)
Nhà lý thuyết gia có sức ảnh hưởng Howard Gardner của Harvard đã phát biểu: "Chỉ
số EQ của bạn tượng trưng cho mức độ thấu hiểu của bạn đối với người khác, những gì thúc đẩy họ và làm thế nào để làm việc một cách hợp tác với họ"
Năm 1995, nhà tâm lý học và cũng nhà ký giả khoa học Daniel Goleman đã xuất bản một cuốn sách giới thiệu hầu hết đến thế giới những khái niệm non trẻ về trí tuệ cảm xúc
- "Emotional Intelligence" Ý tưởng về khả năng thấu hiểu và làm chủ cảm xúc tác động đến khả năng thành công của một người nhanh chóng đạt được bước tiến triển lớn và tiếp tục có ảnh hưởng nhất định đến cách mọi người nghĩ về cảm xúc và hành vi của con người
Cụ thể trong một số trường hợp, trí thông minh cảm xúc là những gì chúng ta sử dụng khi cảm thấy đồng cảm với đồng nghiệp nơi công sở, trong những cuộc trò chuyện sâu sắc về mối quan hệ với những người quan trọng và khi nỗ lực để quản lý một đứa trẻ ương bướng Nó cho phép chúng ta kết nối với những người khác, hiểu rõ bản thân mình hơn và sống một cuộc sống chân thực, lành mạnh và hạnh phúc hơn
Trang 38EQ là trí tuệ cảm xúc - tất cả những khái niệm là về việc xác định cảm xúc trong chính bản thân chúng ta và những người khác, liên quan đến người khác và sự truyền đạt về cảm xúc của chúng ta
Các yếu tố chính của sự tự nhận thức là:
· Nhận thức cảm xúc - Khả năng nhận diện cảm xúc và tác động của chúng
· Sự tự tin - Sự chắc chắn về giá trị bản thân và khả năng của bạn
b Self-regulation - Tự điều chỉnh
Thường một người ít có sự kiểm soát khi trải nghiệm cảm xúc Tuy nhiên, có một số người nói rằng một cảm xúc sẽ tồn tại bao lâu bằng cách sử dụng một số kỹ thuật để làm giảm bớt những cảm xúc tiêu cực như giận dữ, lo lắng hoặc trầm cảm Một vài trong số các kỹ thuật này bao gồm việc tái hiện lại một tình huống theo hướng tích cực hơn, đi bộ trong một quãng đường dài, thiền định hoặc cầu nguyện Tự điều chỉnh bao gồm:
· Tự kiểm soát - Quản lý các xung đột
· Đáng tin cậy - Duy trì tiêu chuẩn trung thực và liêm chính
· Sự tuân thủ - Chịu trách nhiệm về hiệu suất của riêng bạn
· Khả năng thích ứng - Xử lý thay đổi một cách linh hoạt
· Sự đổi mới - Cởi mở với những ý tưởng mới
Trang 39 Thúc đẩy thành tích - Không ngừng phấn đấu để cải thiện hoặc đáp ứng tiêu chuẩn xuất sắc
Cam kết - Phù hợp với các mục tiêu của đội nhóm hoặc tổ chức
Sáng kiến - Sẵn sàng để hành động khi có cơ hội
Lạc quan Theo đuổi mục tiêu một cách bền bỉ, bất chấp trở ngại và thất bại
d Empathy - Sự đồng cảm
Khả năng nhận ra cảm xúc của người khác, đây cũng là một yếu tố khác quan trọng
để đạt được thành công trong cuộc sống và sự nghiệp của bạn Bạn càng khéo léo trong việc nhận ra những cảm xúc đằng sau tín hiệu của người khác, bạn càng có thể kiểm soát tốt hơn các tín hiệu bạn gửi cho họ Một người thấu cảm với người khác vượt trội tại những điều sau:
Định hướng dịch vụ - Dự đoán, công nhận và đáp ứng nhu cầu của khách hàng
Phát triển những thứ khác - Nhận thấy những gì người khác cần để tiến bộ và củng cố khả năng của họ
Tận dụng sự đa dạng - Cơ hội rèn luyện thông qua những người đa dạng
Nhận thức chính trị - Đọc một dòng cảm xúc của một nhóm và những mối quan hệ quyền lực
Thấu hiểu người khác - Làm sáng tỏ cảm xúc đằng sau nhu cầu và mong muốn của người khác
e Social skills - Kỹ năng xã hội
Sự phát triển của các kỹ năng giao tiếp tốt cũng tương đương với mức độ thành công trong cuộc sống và sự nghiệp của bạn Trong một thế giới kết nối ngày nay, mọi người đều có thể truy cập nhanh chóng đến những kiến thức kỹ thuật Do đó, những người có
kĩ năng tốt thường chiếm vị thế khá quan trọng hơn cả vì bạn phải sở hữu một chỉ số EQ cao để thấu hiểu, cảm thông và đàm phán với người khác trong nền kinh tế toàn cầu Một
số các kĩ năng hữu ích nhất:
Sự ảnh hưởng - Sử dụng chiến thuật thuyết phục hiệu quả
Kỹ năng giao tiếp - Truyền đạt thông tin rõ ràng
Khả năng lãnh đạo - Truyền cảm hứng và dẫn dắt đội nhóm
Quản trị xung đột - Thấu hiểu, đàm phán và giải quyết các bất đồng
Trang 40 Xây dựng kết nối - Nuôi dưỡng những mối quan hệ
Hợp tác và cộng tác - Cộng tác với những người khác để hướng tới mục tiêu chung
Kỹ năng làm việc nhóm - Tạo ra sức mạnh tổng hợp của đội nhóm trong việc theo đuổi các mục tiêu tập thể
2.3.3 Kiểm soát cảm xúc
Nghiên cứu của Carolyn Webster-Stratton, Đại học Washington về cách giúp cho trẻ điều chỉnh cảm xúc đã chỉ ra điều chỉnh cảm xúc là khả năng con người kiểm soát thỏa đáng những phản ứng cảm xúc và có 3 cấp độ điều chỉnh cảm xúc Một là cấp độ cơ bản
nhất (phản ứng thích nghi liên quan sinh lý thần kinh) Cấp độ hai là phản ứng cảm xúc liên quan đến ứng xử Cấp độ ba là nhận thức liên quan đến cả hành vi, cử chỉ, cách nói năng, viết lách hay cả suy nghĩ
Đáng chú ý là mô hình điều chỉnh cảm xúc của Gross (2001) Sự điều chỉnh cảm xúc được xem như là những chiến lược cụ thể, bao gồm lựa chọn tình huống (situation selection), thay đổi tình huống (situation modification), triển khai sự chú ý (attentional deployment), thay đổi nhận thức (cognitive change) và điều chỉnh phản ứng (response modulation) Chiến lược thứ năm điều chỉnh phản ứng được đặc trưng bởi sự kiềm nén Thông thường có những cách phản ứng: kinh nghiệm (experiential), ứng xử (behavioral), sinh lý (physiological)
Theo đó, cách kiểm soát cảm xúc thể hiện ở những khía cạnh sau đây:
Lựa chọn tình huống (situation selection): Một người sẽ tự lựa chọn tình huống gắn
với cấp độ phản ứng cảm xúc mà họ mong muốn có cảm xúc đó Chẳng hạn, anh A sẽ chọn ở nhà thay vì đi đến buổi tiệc vì anh A đang xung đột với anh B mà anh A nghĩ rằng anh B đang đi đến buổi tiệc đó
Thay đổi tình huống (situation modification): Khi theo hướng này, một người sẽ thay đổi tình huống hiện tại để có được mức độ cảm xúc khác Chẳng hạn, khi đang xem một chương trình truyền hình làm mình phát cáu, anh A có thể chuyển sang kênh khác