1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

DIỄN NGÔN VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX (KHẢO SÁT QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU).

171 8 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Diễn ngôn về người phụ nữ trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Tác giả Phan Thị Tâm Thanh
Người hướng dẫn PGS.TS Trần Văn Toàn
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận án Tiến sĩ Ngữ văn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DIỄN NGÔN VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX (KHẢO SÁT QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU).DIỄN NGÔN VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX (KHẢO SÁT QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU).DIỄN NGÔN VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX (KHẢO SÁT QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU).DIỄN NGÔN VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX (KHẢO SÁT QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU).DIỄN NGÔN VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX (KHẢO SÁT QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU).DIỄN NGÔN VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX (KHẢO SÁT QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU).DIỄN NGÔN VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX (KHẢO SÁT QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU).DIỄN NGÔN VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX (KHẢO SÁT QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU).DIỄN NGÔN VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX (KHẢO SÁT QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU).

Trang 1

PHAN THỊ TÂM THANH

DIỄN NGÔN VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX (KHẢO SÁT QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU)

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 9.22.01.21

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN VĂN TOÀN

Trang 3

liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận án là trung thực Kết quả nghiên cứu nàykhông trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó.

Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Hà Nội, tháng 12 năm 2022

Tác giả luận án

PHAN THỊ TÂM THANH

Trang 4

Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần VănToàn, người đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập,nghiên cứu để hoàn thành luận án.

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các thầy, cô Tổ Bộ môn Văn học ViệtNam, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã đóng góp ý kiến và tạo điềukiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại Khoa

Tôi xin gửi lời cảm ơn trường Đại học Sư phạm Hà Nội, nơi đã cho tôi những cơhội học tập và phát triển bản thân trong những năm tháng dưới mái trường này

Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Trường Đại học Tây Nguyên, Khoa Sưphạm, Bộ môn Văn học đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

Tôi xin được cảm ơn gia đình, đồng nghiệp và những người đã luôn giúp đỡ tôitrong suốt những năm học tập vừa qua

Hà Nội, tháng 12 năm 2022

Tác giả luận án

PHAN THỊ TÂM THANH

Trang 5

STT Kí hiệu viết tắt Viết đầy đủ

Trang 6

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp mới của luận án 5

6 Cấu trúc của luận án 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 6

1.1 Giới thuyết chung về lý thuyết diễn ngôn 6

1.1.1 Định nghĩa diễn ngôn 6

1.1.2 Các khuynh hướng nghiên cứu diễn ngôn 6

1.1.3 Đặc điểm của diễn ngôn văn học 9

1.1.4 Quan niệm diễn ngôn của luận án 12

1.1.5 Những thao tác phân tích diễn ngôn 14

1.2 Tình hình nghiên cứu vấn đề người phụ nữ trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX 17

1.2.1 Những nghiên cứu chung về vấn đề người phụ nữ 17

1.2.2 Những nghiên cứu về vấn đề người phụ nữ từ góc nhìn diễn ngôn 27

Chương 2: QUYỀN LỰC, TRI THỨC PHƯƠNG TÂY VÀ SỰ XUẤT HIỆN DIỄN NGÔN MỚI VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ 29

2.1 Những điều kiện mới của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX ảnh hưởng tới chủ thể thuộc địa 29

2.1.1 Ảnh hưởng của văn minh phương Tây với chủ nghĩa nhân văn và tinh thần tự do, dân chủ 29

2.1.2 Ảnh hưởng của phong trào nữ quyền và giải phóng phụ nữ trên thế giới 34

2.1.3 Ảnh hưởng của môi trường giáo dục dưới chế độ thuộc địa 39

2.2 Sự xuất hiện diễn ngôn mới về người phụ nữ và mô hình nữ tính Việt 44

2.3 Mối quan hệ của diễn ngôn nữ quyền với diễn ngôn dân tộc, diễn ngôn cá nhân và diễn ngôn về mặt trái của hiện đại hoá/Âu hoá 49

Trang 7

SÁNG TÁC CỦA PHAN BỘI CHÂU VÀ NHẤT LINH, KHÁI HƯNG 55 3.1 Người phụ nữ và diễn ngôn về dân tộc trong sáng tác của Phan Bội Châu 55 3.1.1 Phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX và nhận thức mới về vấn đề phụ nữ 55 3.1.2 Anh hùng hóa nữ tính và sự kiến tạo người nữ anh hùng trong sáng tác của Phan Bội Châu 60 3.2 Người phụ nữ và diễn ngôn về dân tộc trong sáng tác của Nhất Linh và Khái Hưng 72 3.2.1 Văn minh phương Tây và nỗ lực cải cách xã hội, hiện đại hóa dân tộc của Nhất Linh, Khái Hưng 72 3.2.2 Nam tính hóa nữ tính và sự kiến tạo bản sắc nữ tính mới trong sáng tác của Nhất Linh, Khái Hưng 75 Tiểu kết 84 Chương 4: NGƯỜI PHỤ NỮ VÀ DIỄN NGÔN VỀ CÁ NHÂN TRONG SÁNG TÁC CỦA NHÀ NHO TÀI TỬ VÀ TRÍ THỨC TÂY HỌC 85 4.1 Người phụ nữ và diễn ngôn về cá nhân trong văn chương nhà nho tài tử (Trường hợp Tản Đà) 85 4.1.1 Tản Đà – sự giao cắt giữa mẫu hình nhân cách nhà nho tài tử và con người cá nhân tư sản 85 4.1.2 Tình yêu ngoài hôn nhân và hình tượng người tri kỷ 91 4.2 Xung đột của diễn ngôn truyền thống và diễn ngôn cá nhân trong tiểu thuyết “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách 97 4.2.1 Chủ đích sáng tác của Hoàng Ngọc Phách và diễn ngôn truyền thống 97 4.2.2 Tiếp nhận của độc giả và diễn ngôn về cá nhân 105 4.3 Người phụ nữ và diễn ngôn về cá nhân trong sáng tác của Nhất Linh và Khái Hưng 109 4.3.1 Văn minh phương Tây và sự hình thành lối sống đô thị của con người cá nhân tư sản 109 4.3.2 Giải nhị phân thân/tâm và quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc của người phụ nữ 115 Tiểu kết 124

Trang 8

VÀ NGUYÊN HỒNG 125 5.1 Những mặt trái của hiện đại hoá /Âu hoá dưới góc nhìn của trí thức Nho giáo và trí thức Tây học 125 5.1.1 Mặt trái của hiện đại hoá/Âu hoá dưới góc nhìn của trí thức Nho giáo 125 5.1.2 Mặt trái của hiện đại hoá dưới góc nhìn của trí thức Tây học 130 5.2 Mô hình nữ tính suy đồi và tha hoá trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng và diễn ngôn về mặt trái của hiện đại hoá/Âu hoá 137 5.2.1 Sự suy đồi của người phụ nữ trong xã hội thượng lưu qua sáng tác của Vũ Trọng Phụng 137

5.2.2 Sự tha hoá của người phụ nữ dưới đáy xã hội trong sáng tác của VũTrọng Phụng và Nguyên Hồng 146

Tiều kết 147 KẾT LUẬN 148 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 152

TÀI LIỆU THAM KHẢO 153

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trong một thời gian dài, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa cấu trúc, nghiên

cứu văn học chủ yếu tập trung vào những quan hệ nội tại và xem nhẹ mối quan hệ giữavăn học với ý thức hệ xã hội Chính trong bối cảnh đó mà hướng nghiên cứu diễn ngôntrong văn học xuất hiện Nghiên cứu văn học từ góc độ diễn ngôn chủ yếu nghiên cứutác phẩm trên phương diện tư tưởng, thế giới quan, nghiên cứu phương thức kiến tạochân lí, kiến tạo bức tranh về thế giới Đây là kiểu nghiên cứu liên ngành, nó cho thấymối quan hệ khăng khít giữa văn học và tư tưởng, giữa văn học và văn hóa, giữa tính

xã hội và tính thẩm mĩ Tại các nước Âu Mỹ, diễn ngôn đã trở thành khái niệm trungtâm của các khuynh hướng nghiên cứu đương đại như chủ nghĩa hậu hiện đại, chủnghĩa hậu thuộc địa, chủ nghĩa nữ quyền, chủ nghĩa nữ quyền sinh thái… Cùng vớiviệc giới thiệu lý thuyết diễn ngôn, nhiều nhà khoa học đã vận dụng nó để phân tíchthực tiễn văn học và gặt hái được những thành tựu đáng kể, tiêu biểu như các côngtrình của Trần Đình Sử, Lã Nguyên, Trần Văn Toàn Vì vậy, việc đặt vấn đề nghiêncứu diễn ngôn về người phụ nữ trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam nửa đầu thế kỷ

XX được nảy sinh từ quá trình vận động và phát triển trong việc nghiên cứu và tiếpnhận lý thuyết nước ngoài ở Việt Nam

1.2 Từ đầu thế kỷ XX đến 1945 là “thời kỳ vàng” của lịch sử văn học Việt Nam.

Nằm trong sự giao thoa của hai nền văn hóa Á- Âu, sự va chạm giữa các giá trị văn hóaĐông - Tây, những xung đột xã hội trong hoàn cảnh cụ thể của đất nước nửa đầu thế kỷ

đã trở thành nguồn cảm hứng mãnh liệt trong sáng tác văn học giai đoạn này, trong đó có

đề tài người phụ nữ Cùng với những thay đổi của cơ cấu xã hội, những chuyển động củalịch sử, văn học dân tộc đã chuyển mình mạnh mẽ để bước sang thời kì hiện đại Văn họcxuất hiện nhiều khuynh hướng, trào lưu khác nhau, mà ở khuynh hướng, trào lưu nàocũng hiện diện những cây bút xuất sắc với những tác phẩm xứng đáng được gọi là kiệttác, trong đó có nhiều tác phẩm đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp về vấn đề người phụ nữ.Khi các phong trào giải phóng phụ nữ, nam nữ bình quyền và phong trào duy tân, giảiphóng dân tộc ngày càng lan rộng trong xã hội, vấn đề phụ nữ đã trở thành vấn đề trungtâm của đời sống văn học nghệ thuật, chính trị xã hội, văn hóa và giáo dục Hình tượngngười phụ nữ giờ đây, trở thành điểm quy chiếu cho các vấn đề giai cấp, dân tộc, đượcphản ánh trên bình diện xã hội, triết học, mĩ học, mang những đặc điểm mới so với ngườiphụ nữ trong văn học trung đại Vận dụng lý thuyết diễn ngôn để tìm hiểu vấn đề phụ nữtrong văn xuôi nghệ thuật giai đoạn này, không chỉ giúp nhận diện đặc điểm của giới nữ

Trang 10

mà còn mở ra khả năng lý giải cơ chế sáng tạo hình tượng người phụ nữ, khả năng lý giải

vì sao người phụ nữ lại được miêu tả như thế trong văn học giai đoạn này? Trong nhữngđiều kiện, hoàn cảnh nào, những nguyên tắc nào đã quy định sự kiến tạo hình tượng ngườiphụ nữ như thế? Nói cách khác, nghiên cứu diễn ngôn về người phụ nữ trong văn học giaiđoạn này là hành trình giải mã cơ chế tạo lập diễn ngôn về người phụ nữ và diễn giải bảnsắc nữ tính của họ Thực chất chính là phân tích, lý giải cơ chế hình thành phát ngôn vềcác mặt giới tính, cả mặt xã hội và sinh học của người phụ nữ

1.3 Hình tượng người phụ nữ góp phần giúp nhận diện chân dung con người

Việt Nam, nhân cách Việt Nam, văn hóa Việt Nam trong quá trình tồn tại và phát triển

Đã có nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá hệ thống nhân vật nữ trong văn học với tưcách là những nhân vật chính, những nhân vật tạo nên sự thành công của tác phẩm,khẳng định sự sáng tạo độc đáo, góp phần làm sáng tỏ tư tưởng và phong cách nghệthuật của các nhà văn Luận án của chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu diễn ngôn vềngười phụ nữ trong văn xuôi nghệ thuật nửa đầu thế kỉ XX, nghĩa là nghiên cứu vănhọc ở phương diện ý thức xã hội chứ không chỉ ở ý thức nghệ thuật; nghiên cứu ở cấp

độ xã hội chứ không chỉ ở cấp độ cá nhân; nghiên cứu những nguyên tắc chi phối sángtác của cả giai đoạn chứ không phải chi phối mỗi tác giả Việc nghiên cứu đề tài luận án

sẽ giúp cắt nghĩa hệ hình ý thức xã hội, cơ chế văn hóa, môi trường văn hóa và bối cảnhlịch sử xã hội đã ảnh hưởng thế nào đến việc hình thành diễn ngôn về người phụ nữ trongvăn học giai đoạn này Kết quả nghiên cứu của luận án giúp nhận diện tính chất đặc thù,

đa dạng của hình tượng người phụ nữ qua hệ thống các diễn ngôn, qua đó thấy được sựvận động của lịch sử tư tưởng về vấn đề phụ nữ trong văn học qua các thời kỳ, góp phầnnhận diện đóng góp của dòng văn xuôi nghệ thuật giai đoạn 1900 - 1945 trong tiếntrình hiện đại hóa nền văn học dân tộc

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trong công trình này, chúng tôi chủ yếu vận dụng lý thuyết diễn ngôn của M.Foucault làm công cụ để khảo sát tập trung và có hệ thống cơ chế tạo lập diễn ngôn vềngười phụ nữ và mô hình nữ tính mới trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam nửa đầu thế kỷ

XX qua sáng tác của một số tác giả tiêu biểu thuộc các trào lưu, khuynh hướng chính.Luận án hướng tới những mục đích cơ bản sau:

- Làm sáng tỏ cơ chế tạo lập diễn ngôn về người phụ nữ và sự xuất hiện môhình nữ tính mới trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX

- Chỉ ra tính đặc thù, tính đa dạng của hình tượng người phụ nữ trong mối

Trang 11

quan hệ với diễn ngôn dân tộc, diễn ngôn cá nhân và diễn ngôn về mặt trái của hiệnđại hoá/Âu hoá.

- Chỉ ra những đóng góp và cả hạn chế của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam nửađầu thế kỷ XX về các phương diện nói trên

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Giới thuyết khái niệm diễn ngôn, đặc trưng của diễn ngôn văn học, các thaotác phân tích diễn ngôn văn học; làm rõ nội hàm của các khái niệm, thuật ngữ này vàxem đó là công cụ then chốt trong quá trình nghiên cứu của luận án

- Chứng minh cơ chế tạo lập diễn ngôn về người phụ nữ và diễn giải bản sắc nữtính mới qua việc phân tích các tương quan quyền lực/tri thức và sự giao cắt phức tạpcủa các tương quan này trong đời sống tư tưởng, văn hóa nửa đầu thế kỉ XX, bằng hệthống các luận điểm, luận chứng cụ thể

- Chỉ ra sự vận động trong tư tưởng của từng tác giả, khuynh hướng tư tưởngcủa thời đại đã tạo nên tính đặc thù, tính đa dạng của hình tượng người phụ nữ quasáng tác của một số tác giả tiêu biểu trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam nửa đầu thế

kỉ XX

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là cơ chế tạo lập diễn ngôn về người phụ nữ

và bản sắc nữ tính mới trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX qua sáng tác của một số tác giả tiêu biểu

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu chung của luận án là sáng tác của một số tác giả tiêu biểutrong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX Chúng tôi không có ý địnhbao quát toàn bộ tác giả, tác phẩm văn xuôi nghệ thuật giai đoạn này, mà thấy cần thiếtphải tập trung vào sáng tác của một số tác giả tiêu biểu để có điều kiện phân tích sâu

cơ chế kiến tạo cũng như khái quát được tính đặc thù của hình tượng người phụ nữ đốivới mỗi tác giả, tác phẩm, mỗi trào lưu, khuynh hướng

Chúng tôi tiến hành lựa chọn một số tác giả văn xuôi tiêu biểu ở mảng đề tài viết vềphụ nữ thuộc các đối tượng được phản ánh khác nhau (phụ nữ bình dân, nghèo khổ, phụ nữthượng lưu) Cụ thể, chúng tôi khảo sát các sáng tác đề cập trực tiếp đến vấn đề người phụ

nữ trong mối quan hệ với các diễn ngôn thời đại và có chứa những nét biến đổi cơ bản trongquan niệm về người phụ nữ so với những sáng tác văn học trong quá khứ, đó là truyện ký

và tiểu thuyết của Phan Bội Châu, truyện và ký sự của Tản Đà, tiểu thuyết Tố Tâm của

Hoàng Ngọc Phách, tiểu thuyết của Nhất Linh và Khái Hưng, truyện ngắn và tiểu thuyếtcủa Vũ Trọng Phụng và Nguyên Hồng

Trang 12

Vấn đề người phụ nữ trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX làmột vấn đề lớn Do giới hạn của một luận án nên chúng tôi xin phép tạm thời khôngđưa vào khảo sát chính sáng tác của một số tác giả ở miền Trung và miền Nam nhưPhan Thị Bạch Vân, Đạm Phương nữ sử, Huỳnh Thị Bảo Hoà, Hồ Biểu Chánh,… màchỉ đề cập đến như sự liên hệ, mở rộng để so sánh nhằm làm sáng rõ vấn đề trọng tâmcủa luận án

Phạm vi nghiên cứu tuy đã được giới hạn nhưng vẫn đảm bảo tính phổ quát,tính hệ thống của đề tài

Về cơ sở lý luận, để giải quyết vấn đề đặt ra trong luận án, chúng tôi vận dụngchủ yếu lý thuyết diễn ngôn theo quan điểm của M Foucault làm công cụ để xem xétvấn đề người phụ nữ vừa như một thực tại được phản ánh bằng ngôn ngữ nghệ thuật,vừa là cái biểu đạt cho văn hóa của một thời đại, được nhìn nhận như một thành tố củatoàn bộ cấu trúc văn hóa xã hội

4 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài luận án đề ra, chúng tôi sửdụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

- Phương pháp cấu trúc – hệ thống: nhằm định hình những đặc trưng cơ bảncủa mô hình nữ tính mới thông qua hệ thống các diễn ngôn cũng như xem xét sự vậnđộng của vấn đề phụ nữ trên cả hai bình diện đồng đại và lịch đại

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Dựa vào một số khái niệm của thi pháphọc để thấy được đặc điểm riêng về hình tượng người phụ nữ trong sáng tác củatừng tác giả, từng khuynh hướng, trào lưu là một việc làm cần thiết, bổ sung giá trịthẩm mĩ bên cạnh ý nghĩa xã hội học cho luận án khi nghiên cứu diễn ngôn vềngười phụ nữ

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: để nghiên cứu các quy tắc tư tưởng xã

hội chìm sâu, hữu thức hoặc vô thức; các yếu tố xã hội, văn hoá, chính trị đã chi phốiquá trình sáng tác của nhà văn, cho thấy mối quan hệ khăng khít giữa văn học và tưtưởng, giữa văn học và văn hóa, giữa tính xã hội và tính thẩm mĩ

- Phương pháp so sánh - đối chiếu: để thấy được tính chất ổn định cũng như

biến đổi của hình tượng người phụ nữ, không thể không tiến hành so sánh, đối chiếucác sáng tác của cùng một tác giả, sáng tác của các tác giả ở các trào lưu, khuynhhướng khác nhau ở cả hai bình diện đồng đại và lịch đại

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số thao tác để bổ trợ cho các phương phápnghiên cứu trên:

- Thao tác phân tích, tổng hợp: để phân tích các tương quan tri thức/quyềnlực, sự biến đổi của khung tri thức thời đại, sự dịch chuyển của cơ cấu xã hội, các

Trang 13

loại hình tác giả,… và ảnh hưởng của chúng đối với sự hình thành diễn ngôn vềngười phụ nữ Trên cơ sở đó, chúng tôi sẽ khái quát thành những nhận định chung

về cơ chế tạo lập cũng như mô hình nữ tính mới trong văn xuôi nghệ thuật nửađầu thế kỉ XX

- Thao tác thống kê, phân loại: để chọn lựa một số chi tiết nghệ thuật quan trọngnhằm làm rõ đặc trưng của hình tượng người phụ nữ trong tác phẩm phục vụ cho mụcđích nghiên cứu

5 Đóng góp mới của luận án

- Luận án là một trong những công trình chuyên biệt đầu tiên vận dụng lí thuyết

diễn ngôn để nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề người phụ nữ trong sáng tác củamột số tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

- Luận án chỉ ra cơ chế tạo lập diễn ngôn về người phụ nữ qua việc phân tích cáctương quan quyền lực/tri thức và sự giao cắt phức tạp của các tương quan này trong đờisống tư tưởng, văn hóa nửa đầu thế kỉ XX

- Luận án diễn giải bản sắc nữ tính mới trong mối quan hệ với diễn ngôn dân tộc,diễn ngôn cá nhân và diễn ngôn về mặt trái của hiện đại hoá/Âu hoá

- Luận án cung cấp thêm tư liệu cũng như tiền đề để nghiên cứu vấn đề diễnngôn về người phụ nữ trong văn học

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận án gồm 5 chương:

Chương 1 Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Chương 2 Quyền lực/ tri thức phương Tây và sự xuất hiện diễn ngôn mới vềngười phụ nữ

Chương 3 Người phụ nữ và diễn ngôn về dân tộc trong sáng tác của Phan BộiChâu và Nhất Linh, Khái Hưng

Chương 4 Người phụ nữ và diễn ngôn về cá nhân trong sáng tác của nhà nhotài tử và trí thức Tây học

Chương 5 Người phụ nữ và diễn ngôn về mặt trái của hiện đại hoá/Âu hoátrong sáng tác của Vũ Trọng Phụng và Nguyên Hồng

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Giới thuyết chung về lý thuyết diễn ngôn

1.1.1 Định nghĩa diễn ngôn

Diễn ngôn (discourse) là một thuật ngữ được đề xuất bởi các nhà lí luận phươngTây thế kỉ XX Khó để đưa ra một định nghĩa thông suốt về khái niệm diễn ngôn vì nộihàm phức tạp và không ngừng được mở rộng của nó Theo từ điển mởhttp://www.wikipedia.org, diễn ngôn được hiểu là “sự giao tiếp hay tranh luận bằngngôn ngữ nói hay viết Diễn ngôn còn có thể được gọi bằng những tên khác như hội

thoại, tranh luận hay chuỗi lời nói” Theo Collins Concise English dictionary (1988),

thì diễn ngôn được hiểu với những hàm nghĩa như sau: “Thứ nhất là sự giao tiếp bằnglời nói, nói chuyện, hội thoại Thứ hai là sự triển khai một vấn đề nào đấy bằng cáchnói hoặc viết theo một trật tự Thứ ba, các nhà ngôn ngữ học thường sử dụng thuật ngữdiễn ngôn để chỉ một đơn vị của văn bản – đơn vị ngôn ngữ lớn hơn câu” [82; tr.7] Dù

có nhiều định nghĩa khác nhau, song hiểu một cách tổng quát, diễn ngôn là thực tiễngiao tiếp của con người trong xã hội, biểu hiện qua ngôn ngữ Diễn ngôn là ngôn ngữtrong hoạt động, ngôn ngữ trong sự hành chức của nó Nói đến diễn ngôn là nói đếnnhững phương thức hoặc quy tắc đặc trưng của việc tổ chức hoạt động ngôn từ.Diễn ngôn được tạo nên từ tri thức và những quan hệ quyền lực đa dạng trong cuộcsống Diễn ngôn đến lượt nó, cũng là phương cách tạo lập nên tri thức, cùng vớinhững thực hành xã hội, các dạng thức của chủ thể và các mối quan hệ quyền lực.Bởi vậy sẽ không có tri thức nào là chân lý tuyệt đối và hoàn toàn khách quan Xétđến cùng, mọi diễn ngôn đều là sản phẩm của văn hóa, xã hội

1.1.2 Các khuynh hướng nghiên cứu diễn ngôn

Trong lí luận hiện nay có 3 khuynh hướng nghiên cứu diễn ngôn: ngữ dụng học

do các nhà ngữ dụng đề xuất, lí luận văn học do M.Bakhtin đề xuất và xã hội học doM.Foucault khởi xướng

Thứ nhất là hướng nghiên cứu diễn ngôn của các nhà ngôn ngữ học Nhìnchung đối với các nhà ngôn ngữ học, nghiên cứu diễn ngôn chính là nghiên cứu thựctiễn ngôn từ, tức là nghiên cứu ngôn từ trong giao tiếp, ngôn từ trong sử dụng, ngôn từtrong ngữ cảnh Việc nghiên cứu diễn ngôn của các nhà ngôn ngữ học được xem như

là một phản ứng với ngôn ngữ học truyền thống vốn chỉ tập trung vào những đơn vịthành tố và cấu trúc câu Trong khi các nhà ngôn ngữ học truyền thống cho rằng điều

Trang 15

quan trọng nhất đối với việc nghiên cứu ngôn ngữ là nghiên cứu câu thì những côngtrình nghiên cứu về diễn ngôn lại nhấn mạnh tầm quan trọng của việc mô tả khả nănggiao tiếp; nhấn mạnh khả năng của chúng ta trong việc kết hợp các câu lại với nhau,liên kết chúng một cách mạch lạc theo chủ đề của diễn ngôn Các nhà phân tích diễnngôn chỉ ra rằng, hiếm khi một người giao tiếp với người khác bằng những câu đơn lẻ.Mặt khác, nếu chỉ lắp ghép các câu đúng ngữ pháp với nhau thì ta vẫn chưa thực hiệnmột hoạt động giao tiếp thành công, những kiến thức về hội thoại trong liên kết câu vàkết nối với ngữ cảnh phù hợp là một điều kiện cần thiết để giao tiếp thành công

Thứ hai là hướng nghiên cứu diễn ngôn của các nhà nghiên cứu văn học do M.Bakhtin đề xuất Bakhtin không đồng ý với Saussure chỉ dừng lại phân biệt ngôn ngữ

và lời nói Trong các công trình Những vấn đề thi pháp Dostoievski, Mĩ học sáng tạo

ngôn từ, Bakhtin cho rằng phát ngôn chính là đơn vị giao tiếp của lời nói bởi bản thân

lời nói chỉ tồn tại trong thực tế dưới hình thức những phát ngôn cụ thể của nhữngngười nói riêng lẻ Chính phát ngôn thể hiện bản chất sống động của ngôn ngữ trongthực tiễn sử dụng vì qua những phát ngôn như thế, bản thân đời sống nhập vào ngônngữ Nếu Saussure cho rằng sau ngôn ngữ chung của xã hội (ngôn ngữ trong từ điển)

là đến lời nói cá nhân thì Bakhtin lại cho rằng lời nói của cá nhân không chỉ phụ thuộcvào vốn ngôn ngữ chung của xã hội mà còn phụ thuộc vào môi trường văn hóa củatừng thời kỳ lịch sử Nếu Saussure cho rằng, ngoài cấu trúc ra, các yếu tố khác nhưhoàn cảnh lịch sử, ngữ cảnh… đều không quan trọng trong việc quy định nghĩa củadiễn ngôn thì Bakhtin cho rằng ý nghĩa của diễn ngôn, phương thức diễn ngôn (dùng

từ gì, dùng như thế nào?) không chỉ do cấu trúc ngôn ngữ hay do cá tính người phátngôn quy định mà còn do ngữ cảnh, do các quan hệ lời nói trong xã hội quy định Diễnngôn gắn liền với kí hiệu nên gắn liền với xã hội, nó mang tính xã hội Con người phảinói theo quy tắc ngôn ngữ nhất định nếu muốn tồn tại trong xã hội Tóm lại, trongquan niệm của Bakhtin, diễn ngôn là ngôn ngữ trong chỉnh thể sống động, cụ thể, ngônngữ trong sử dụng, có tư tưởng, có tính hoạt động xã hội, tính thực tiễn Diễn ngôn làlời nói phát ra trong thực tế chứ không phải là ngôn ngữ trong từ điển, nó không thểtách rời ý thức chủ quan của người nói, nó là sản phẩm của giao tiếp, là sản phẩm của

xã hội Bản chất của diễn ngôn là mang tính đối thoại bởi nó là mảnh đất giao cắt, hội

tụ, tranh biện của những tư tưởng, quan niệm khác nhau về thế giới Mỗi phát ngôncủa chúng ta chỉ được hình thành và phát triển trong sự tác động qua lại, thường xuyên

và liên tục với những phát ngôn của các cá nhân khác Trong Những vấn đề thi pháp

Trang 16

Dostoievski, M.Bakhtin có một chương chuyên nghiên cứu ngôn ngữ của Dostoievski.

Mở đầu chương này, ông tuyên bố muốn bàn đến lời văn, tức là ngôn ngữ trong tínhtoàn vẹn cụ thể và sinh động của nó chứ không phải ngôn ngữ với tính cách là đốitượng chuyên biệt của ngôn ngữ học Cái gọi là chỉnh thể ngôn ngữ mà M Bakhtinhay dùng thực chất là diễn ngôn Sự phân tích ngôn ngữ của Bakhtin thực chất là phântích diễn ngôn, ông nghiên cứu phần nội dung, ý nghĩa và sức mạnh do ngôn ngữmang lại M Bakhtin nêu xu hướng nghiên cứu “siêu ngôn ngữ học”, tức là lấy diễnngôn (lời nói, văn bản) làm đối tượng nghiên cứu, hình thành khuynh hướng “diễnngôn học”, mở ra một hướng mới trong cách tiếp cận ngôn từ văn học

Thứ ba là hướng nghiên cứu diễn ngôn của các nhà xã hội học mà tiêu biểu là

M Foucault Foucault đã có công trong việc đưa diễn ngôn trở thành một khái niệmthực sự có ý nghĩa trong lịch sử tư tưởng thế kỷ XX Cái mà Foucault bận tâm khôngphải là ý nghĩa nào ẩn chứa trong diễn ngôn mà là những quy tắc đã chi phối việc diễn

ngôn ra đời và vận hành trong đời sống Trong các công trình như Kỉ luật và Trừng

phạt (Disipline and Punish), Lịch sử tính dục (The History of Sexuality), ông chỉ ramối quan hệ giữa tri thức và quyền lực trong việc kiến tạo ra diễn ngôn; tri thức haydiễn ngôn chẳng qua chỉ là những sản phẩm cũng như công cụ để thực thi quyền lực.Foucault cho rằng các nhóm thống trị xã hội thông qua diễn ngôn để tạo ra tri thức, tạo

ra chân lí, để áp đặt lên các nhóm bị trị những lĩnh vực tri thức đặc thù, những nguyêntắc và giá trị của mình nhằm muốn hợp pháp hóa quá trình trị vì thiên hạ của mình.Chính vì thế, những tri thức do diễn ngôn kiến tạo nên không thể mang tính kháchquan, trung tính bởi nó luôn là sản phẩm của các quan hệ quyền lực Trong Khảo cổ học tri thức (The Archaeology of Knowledge), theo Foucault, thực tại dù có trước,song thực tại ấy chỉ có thể tái tạo thành diễn ngôn thì mới trở thành ý thức của conngười, con người sẽ hành xử với thế giới theo nội dung của diễn ngôn chứ không phảitheo bản chất tự nhiên, vốn có của nó Thế giới khách quan vẫn tồn tại nhưng chúngchỉ có nội dung, ý nghĩa cụ thể thông qua diễn ngôn Đến lượt mình, mọi diễn ngônđều là kết quả của các quan hệ tri thức/quyền lực trong một thời đại cụ thể Foucaultđịnh nghĩa diễn ngôn như sau: “Thay vì giảm dần các nét nghĩa mơ hồ của từ diễnngôn, tôi tin rằng thực tế tôi đã bổ sung thêm ý nghĩa của nó: lúc thì coi nó như mộtkhu vực chung của tất cả các nhận định, lúc thì coi nó như một nhóm các nhận địnhđược cá thể hoá, và đôi khi lại xem nó như một hoạt động được qui ước nhằm tạo nênmột tập hợp các nhận định (statement)” [126, tr.47] Như vậy, Foucault không nói diễn

Trang 17

ngôn về mặt ngữ học, mà nói trên ý nghĩa triết học và tư tưởng hệ Theo diễn giải củatác giả Trần Văn Toàn, định nghĩa diễn ngôn của Foucault được hiểu theo ba cấp độ.Thứ nhất, diễn ngôn bao gồm tất cả các nhận định nói chung (tất cả các phát ngôn hoặcvăn bản mang nghĩa và có một hiệu lực nào đó trong thế giới thực) Ở đây, diễn ngônđược hiểu là công cụ để con người tri nhận thế giới, việc lựa chọn diễn ngôn nào sẽquy định cách hiểu của chúng ta về thế giới hiện thực Mối quan hệ giữa ngôn ngữ vàhiện thực là quan hệ lựa chọn, chứ không phải là quan hệ phụ thuộc Thứ hai, diễnngôn là một nhóm các nhận định được cá thể hóa Nghĩa là các nhận định được đặtchung vào một nhóm khi chúng được tổ chức theo một quy ước chung, có một mạchlạc và hiệu lực chung Theo đó, chúng ta có thể sử dụng các cách diễn đạt như diễnngôn nữ quyền, diễn ngôn thực dân, diễn ngôn thuộc địa, diễn ngôn dân tộc… Đơn vịcủa diễn ngôn có thể lớn hoặc nhỏ, thuộc các cấp độ khác nhau, diễn ngôn lớn như yhọc lâm sàng, nhỏ như bệnh tâm thần… Thứ ba, diễn ngôn là một hoạt động đượckiểm soát/điều chỉnh nhằm tạo nên một tập hợp các nhận định Theo ý nghĩa này thìdiễn ngôn còn bao gồm các nguyên tắc, cơ chế chi phối đến sự hình thành và vận hànhcủa một tập hợp các nhận định nào đó Cơ chế kiểm soát/điều chỉnh diễn ngôn baogồm hệ thống loại trừ từ bên ngoài (external system of exclusion) và hệ thống loại trừbên trong (internal system of exclusion).

Như vậy, cả Foucault và Bakhtin đều là nhà lịch sử, nhà tư tưởng, nhà triết họcchứ không đơn thuần là nhà nghiên cứu văn học nên cả hai ông đều nhìn ngôn ngữ ởgóc độ xã hội, ngôn ngữ là sản phẩm của tư tưởng hệ Họ khẳng định rằng chính hìnhthái ý thức xã hội, trạng thái tri thức của con người và cơ chế quyền lực trong xã hội

đã trở thành cái logic nội tại, cái cơ chế thầm kín chi phối cách sử dụng ngôn từ củacon người

1.1.3 Đặc điểm của diễn ngôn văn học

Về cơ bản, diễn ngôn văn học cũng mang những đặc điểm của diễn ngôn nóichung, tuy nhiên, có một số đặc điểm thể hiện tập trung hơn, nổi bật hơn ở diễn ngônvăn học Trước hết, diễn ngôn văn học là hình thái nghệ thuật của tư tưởng Diễn ngônvăn học là một hình thái nghệ thuật ngôn từ trong đó có sự thống nhất hữu cơ giữahình thức và nội dung, giữa hình thức và tư tưởng Ở diễn ngôn văn học, hệ thống diễnđạt bao gồm hình tượng, loại hình ngôn ngữ, các phương tiện tu từ đều gắn với những

nội dung văn hóa, tư tưởng nhất định Trong tác phẩm Chủ nghĩa Mác và triết học

ngôn ngữ, khi nghiên cứu về hình thức và tư tưởng của văn học, M Bakhtin cho rằng

Trang 18

mọi ngôn ngữ đều là ngôn ngữ ý thức hệ Các nguyên tắc thế giới quan sẽ chuyểnthành các nguyên tắc nghệ thuật chi phối hình thức biểu đạt của ngôn ngữ Diễn ngônvăn học gắn chặt với lịch sử tư tưởng, nó là một bộ phận của hệ hình tư tưởng, nó chịu

sự chi phối của các hình thái ý thức xã hội, của ý thức hệ, của triết học, văn hóa, thẩmmĩ… Chẳng hạn cùng viết về số phận người kĩ nữ, song do lập trường tư tưởng, ý thức

hệ khác nhau, mỗi tác giả sẽ tạo ra những cấu trúc diễn ngôn khác nhau Với Xuân

Diệu (Lời kĩ nữ), người kĩ nữ mang số phận bi kịch: cô đơn, không lối thoát Ngược lại, trong cái nhìn của Tố Hữu – một nhà cách mạng – thì người kĩ nữ (Tiếng hát sông

Hương) hoàn toàn có thể thay đổi số phận của mình, hòa nhập vào cuộc sống mới và

có một tương lai tươi sáng nhờ cách mạng

Tư tưởng thời đại chi phối đến việc xây dựng diễn ngôn văn học Mỗi thời đạivới tư tưởng khác nhau sẽ tạo nên khung tri thức khác nhau và từ đó sẽ tạo nên diễnngôn khác nhau Trước đây, quan niệm chủ nghĩa xã hội là lý tưởng, là tương laiđáng mơ ước đã tạo ra một loạt diễn ngôn kiểu “trời mỗi ngày lại sáng” như trongthơ Tố Hữu: “Năm năm mới bấy nhiêu ngày – Mà trông trời đất đổi thay đã nhiều –

Dân có ruộng dập dìu hợp tác – Lúa mượt đồng ấm áp làng quê” (Ba mươi năm đời

ta có Đảng) Ngược lại, khi quan niệm về Cách mạng xã hội chủ nghĩa thay đổi,

không còn đơn giản, một chiều như thế thì một loạt diễn ngôn nhận thức lại kiểu như

Thời xa vắng của Lê Lựu, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh,… cho thấy những hậu

quả đáng tiếc của chiến tranh Tư tưởng thay đổi, hệ hình tư duy thay đổi sẽ dẫn đếncách kiến tạo nhân vật, cách sử dụng từ ngữ, sử dụng phương thức tu từ của diễnngôn,… của văn học cũng thay đổi Dưới chế độ phong kiến, nhân vật trung tâm củanhững diễn ngôn văn học mang nặng ý thức hệ phong kiến thường là những “con đẻ”của chế độ, một lòng phụng sự, bảo vệ lợi ích của chế độ ấy, những con người mangnặng đạo đức và lễ giáo phong kiến như người quân tử, liệt nữ, trượng phu, tiết phụ.Ngược lại vào thời điểm chế độ phong kiến suy vong, ý thức hệ phong kiến lung lay,thì kiểu nhân vật trung tâm của văn học lúc này là những “đứa con phản nghịch” của

chế độ ấy như Từ Hải (Truyện Kiều), Bảo Ngọc, Đại Ngọc (Hồng lâu mộng), Thôi Oanh Oanh (Oanh Oanh truyện), Lâm Xung (Thủy hử truyện)… Tóm lại, diễn ngôn

văn học là hình thức nghệ thuật của tư tưởng; nó là hình thức sử dụng ngôn từ đểhình tượng hóa, tri thức hóa tư tưởng của thời đại Diễn ngôn chịu sự quy định của hệthống tri thức xã hội và thay đổi theo sự thay đổi của hệ thống tri thức xã hội Quadiễn ngôn văn học, ta có thể thấy được sự phát triển của lịch sử tư tưởng

Trang 19

Thứ hai, diễn ngôn văn học là sự kiến tạo những thế giới quan mới Cũng giốngnhư diễn ngôn nói chung, chức năng của diễn ngôn văn học là kiến tạo nên tri thức vềđời sống theo một quan niệm tư tưởng hệ nhất định Điều đáng lưu ý là diễn ngôn vănhọc không chỉ hướng tới kiến tạo một hiện tượng đời sống cụ thể, một ý kiến riêng lẻ

về đời sống mà là kiến tạo ra những nguyên tắc mới trong cách nhìn nhận về đời sống,

về con người Trước đây, người ta tin rằng có một thực tại là cái tồn tại khách quantrong vũ trụ, không phụ thuộc vào nhận thức của con người Niềm tin này đã dẫn đếntham vọng dùng văn chương để phản ánh thế giới một cách chân thực Dưới ánh sángcủa lý thuyết diễn ngôn, các học giả đương đại cho rằng, thế giới là một hệ thống kíhiệu, nó được tạo nên thông qua các diễn ngôn, không có cái nằm bên ngoài diễnngôn, bên ngoài văn bản Qua diễn ngôn văn học, thực tại hiện lên không phải như nóvốn có, mà bị biến dạng, thay đổi đi rất nhiều Việc nhà văn miêu tả thế giới khôngbao giờ là một hành động vô tư, chỉ thuần túy làm nhiệm vụ cung cấp thông tin mà nó

luôn bị nhào nặn bởi những quan hệ quyền lực, bởi ý thức hệ nhất định Trong Đông

phương luận, Edward Said đã chỉ ra rằng các nhà văn du kí, các thi sĩ, tiểu thuyết gia

thế kỉ XIX đã kiến tạo nên một hình ảnh phương Đông như một thứ thuộc địa man dimọi rợ, phi nhân tính Với lập trường của kẻ thống trị, mong muốn hợp thức hoá quátrình xâm lược các nước thuộc địa, các nhà văn đã kiến tạo nên hình ảnh một phươngĐông như một kho tàng của tri thức, kinh nghiệm phương Tây, chứ không phải là một

xã hội, một nền văn hóa vận hành theo kiểu riêng của nó Có thể nói, ở một phươngdiện nào đó, chính diễn ngôn văn học với việc kiến tạo nên thế giới quan mới đã cókhả năng thay đổi thói quen cảm nhận và đánh giá về thế giới của người đọc Diễnngôn văn học tìm cách tạo ra ý nghĩa mới về sự vật, đem lại cho con người cách nhìnmới về thế giới và vũ trụ Những đánh giá này sẽ quy định cách lựa chọn từ ngữ, điểmnhìn, giọng điệu, nhân vật và cả người nghe Diễn ngôn văn học giải phóng con người

ra khỏi sự chuyên chế của thói quen

Thứ ba, diễn ngôn văn học là hình thái phủ định trạng thái vô thức xã hội đểhướng tới một ý thức tự giác mới “Vô thức xã hội” là khái niệm do Eric Fromm đưa ra,thường được hiểu là một thế giới tư tưởng, tình cảm chưa được lên tiếng, chưa có tiếngnói công khai trong xã hội, là tình trạng bị mất tiếng nói của các cá thể người bị đè nén.Mỗi xã hội chỉ cho phép một số tư tưởng, tình cảm nào đó có thể đạt đến trình độ ý thức,còn một số khác chỉ tồn tại trong trạng thái vô thức Sự tiến bộ của đời sống đòi hỏi sựcần thiết phải biến cái vô thức thành ý thức và các nhà văn phải góp phần vào việc thực

Trang 20

hiện sứ mệnh cao cả này, phải giúp con người ý thức được cái vô thức của mình, đưa

trạng thái tư tưởng của con người từ vô thức trở thành ý thức Với AQ chính truyện, Lỗ

Tấn đã phơi bày phép thắng lợi tinh thần, sự vô thức của đám đông đã kìm hãm bướctiến của một dân tộc vĩ đại Phép thắng lợi tinh thần, luôn tự đánh lừa mình bằng ảotưởng này đâu chỉ là quốc dân tính của người Trung Hoa mà còn là nhân loại tính, nótồn tại khắp mọi nơi, trong mỗi chúng ta ai cũng có một chút AQ trong mình Câu

chuyện Bộ áo mới của hoàng đế đã cho thấy quyền lực và nguyên tắc cấm kị khiến cho

cái sự thực không được nói ra: “Vô thức xã hội là một khái niệm mang nội dung tưtưởng xã hội rất sâu sắc và nhân văn Sự tiến bộ và lành mạnh của đời sống đòi hỏi biếncái vô thức thành ý thức Và đây là cội nguồn của diễn ngôn văn học Nếu diễn ngôn vănhọc chỉ nói theo cơ chế xã hội cho phép thì văn học ấy chỉ có thể là văn chương tuyêntruyền, giáo huấn, chỉ nói được những gì bề ngoài, phổ thông, chứ chưa phải những gìsâu sắc có tính nhân loại” [99, tr.180] Sứ mạng của khoa học và nghệ thuật là đưa trạngthái tư tưởng của con người từ vô thức trở thành ý thức Có thể nói với sứ mệnh phủđịnh trạng thái vô thức xã hội để hướng tới một ý thức tự giác mới, diễn ngôn văn học

đã góp phần quan trọng vào việc làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn, nhân văn hơn

Thứ tư, diễn ngôn văn học luôn tự phủ định mình, tạo ra cái khác mình, chốnglại sự sáo mòn, khuôn mẫu Sự vận động của văn học suy cho cùng là sự vận của diễnngôn, hình thái diễn ngôn này phủ định hình thái diễn ngôn trước nó Ở phương Tây,diễn ngôn của chủ nghĩa lãng mạn với sự biểu cảm, tinh tế đã thay thế cho diễn ngônquy phạm, sáo mòn của chủ nghĩa cổ điển, diễn ngôn của chủ nghĩa hiện thực thay thếdiễn ngôn của chủ nghĩa lãng mạn Diễn ngôn hiện thực kiểu Nam Cao, Ngô Tất Tố,Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng… đối lập với diễn ngôn lãng mạn của tiểuthuyết TLVĐ với Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo… Diễn ngôn mới ra đời thay thếcho diễn ngôn giai đoạn trước đó

1.1.4 Quan niệm diễn ngôn của luận án

Trên cơ sở lựa chọn, kết hợp những kiến giải về diễn ngôn của M Bakhtin và

M Foucault, chúng tôi đưa ra quan niệm diễn ngôn của luận án, làm cơ sở lý thuyếtcho việc triển khai đối tượng nghiên cứu của mình như sau:

Thứ nhất, diễn ngôn là một cấu trúc liên văn bản, liên chủ thể Diễn ngôn cănbản không phải là các văn bản cụ thể, các loại biểu đạt các nội dung cụ thể mà là cái

cơ chế tạo thành các văn bản cụ thể ấy; nó chính là cái nguyên tắc ẩn chìm chi phối sựhình thành các văn bản như là sự kiện xã hội Việc ai nói, nói cái gì và nói như thế nào

Trang 21

bị kiểm soát chặt chẽ bởi những cơ chế quyền lực, những luật lệ bên trong và bênngoài diễn ngôn Điều này khiến cho chủ thể phát ngôn không còn là những chủ thể tự

do biểu lộ những ý kiến cá nhân, mà bị hạn chế và trói buộc trong một khung diễnngôn có trước

Thứ hai, diễn ngôn là sản phẩm của môi trường sinh thái văn hóa Diễn ngônkhông chỉ chịu sự chi phối của quy luật ngôn ngữ mà còn chịu sự chi phối của đờisống, của quy ước xã hội Mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi nền văn hóa, mỗi thể chế chínhtrị xã hội có một quy ước thực tiễn diễn ngôn nhất định Chỉ trong những quy ước vàchuẩn mực được mọi người đặt ra, được điều chỉnh và thừa nhận, diễn ngôn mới đượchình thành và vận hành: “Một người không phải bất cứ lúc nào, ở đâu, muốn nói cái gìthì nói” [99, tr.176] Mỗi khi môi trường sinh thái văn hóa thay đổi, diễn ngôn cũng sẽthay đổi Chính vì vậy, qua mỗi diễn ngôn, ta có thể thấy bóng dáng của xã hội, củathời đại lịch sử mà diễn ngôn đó ra đời

Thứ ba, diễn ngôn là sự kiến tạo thế giới theo một quan niệm, tư tưởng hệ nhất

định Trong tác phẩm Khảo cổ học tri thức, M Foucault không phủ nhận rằng có một

thực tại khách quan tồn tại trước con người, vấn đề là chúng ta không cách nào chạmđược vào thế giới khách quan đó một cách trực tiếp; ta chỉ có thể biết về nó một cách

có hệ thống và có ý nghĩa thông qua diễn ngôn Điều này có nghĩa là không có một trật

tự nội tại nào của thế giới ngoài cái trật tự mà ta áp đặt lên thế giới thông qua sự miêu

tả bằng ngôn ngữ về nó Phân tích diễn ngôn cần thiết phải chỉ ra được sự kiến tạo cáithực bởi các cấu trúc diễn ngôn

Thứ tư, diễn ngôn là một cấu trúc biểu nghĩa khái quát mang nội hàm văn hóa,

ý thức hệ Diễn ngôn là một cấu trúc biểu nghĩa, nó có tầng bậc của nó, nó được tạothành từ các cặp đối lập cơ bản Trường tri thức của thời đại được tạo thành từ những

mô hình khái quát với những cặp đối lập nổi lên Tất cả các mô hình biểu nghĩa (nhỏ làmột tác phẩm, lớn là một nền văn hóa) đều có thể phân tích dưới dạng cấu trúc này

Từ những phân tích nói trên, chúng tôi tạm rút ra quan niệm về diễn ngôn nhưsau: Diễn ngôn là những tổ chức ký hiệu, những cấu trúc ngôn ngữ mang nội dung tưtưởng hệ, thể hiện nhãn quan giá trị, hệ thống quan niệm về thực tại của một thời đại,của các nhóm xã hội khác nhau Nó là một cấu trúc liên văn bản, liên chủ thể; một sảnphẩm của môi trường sinh thái văn hóa, nó chứa đựng bên trong một cấu trúc biểunghĩa khái quát mang nội hàm văn hóa, ý thức hệ Nói đến diễn ngôn là ta nói đến một

sự kiện ngôn ngữ, đồng thời là một sự kiện xã hội, một sự kiện của văn hóa tư tưởng;

Trang 22

là cách kiến tạo thế giới bằng ngôn từ và cách kiến tạo này chịu sự chi phối của mộtquan niệm tư tưởng, một ý thức hệ nhất định Diễn ngôn gắn chặt với lịch sử tư tưởng,

là một hình thái để nắm bắt tư tưởng Đi vào nghiên cứu diễn ngôn đòi hỏi phải khảo

cổ học tri thức để khám phá cơ chế sinh thái văn hóa đã sản sinh ra nó

Có nhiều cách phân loại diễn ngôn tùy thuộc vào các tiêu chí khác nhau Nếudựa vào chủ đề diễn ngôn, có thể chia diễn ngôn thành các loại: diễn ngôn về conngười, diễn ngôn về chiến tranh, diễn ngôn về lịch sử, diễn ngôn về văn hóa, diễn ngôn

về tính dục… Nếu xét về mặt lịch sử văn hóa, có thể chia ra diễn ngôn cổ điển, diễnngôn khai sáng, diễn ngôn cách mạng, diễn ngôn hiện đại, diễn ngôn hậu hiện đại…Nếu xét về xã hội học, có thể chia ra diễn ngôn nữ quyền, diễn ngôn thực dân, diễnngôn hậu thực dân… Nếu dựa vào hình thái tri thức, lại có thể chia diễn ngôn thànhcác loại: diễn ngôn văn học, diễn ngôn khoa học, diễn ngôn chính trị, diễn ngôn tôngiáo, diễn ngôn báo chí, diễn ngôn đạo đức… Trong diễn ngôn văn học, lại có thể chiathành diễn ngôn thơ, diễn ngôn tiểu thuyết… Tuy nhiên sự phân chia này chỉ mangtính tương đối, chúng không tách bạch rạch ròi mà có thể giao thoa với nhau vì diễnngôn gắn với văn hóa mà văn hóa là hệ thống thống nhất mọi tri thức của nhân loại

1.1.5 Những thao tác phân tích diễn ngôn

Trong phạm vi luận án này, trên cơ sở tiếp thu thành tựu của các nhà nghiêncứu diễn ngôn đi trước, chúng tôi tạm đưa ra một số thao tác cơ bản sau:

Thứ nhất, phân tích tương quan quyền lực/tri thức (power/knowledge)

Diễn ngôn luôn hàm chứa trong nó một cách cắt nghĩa, một tri thức về thế giới vàcùng với việc tạo nghĩa, diễn ngôn còn định hướng cho sự tác động đến hiện thực Sự hìnhthành ý nghĩa trong các diễn ngôn hướng tới sự tác động, thay đổi thế giới, kiến tạo nên thếgiới xã hội của con người Vì vậy cách viết quyền lực/tri thức (diễn ngôn) chính là để biểuđạt sự gắn bó chặt chẽ giữa quyền lực/tri thức và mối quan hệ hữu cơ giữa các khái niệm nóitrên Cái mà Foucault quan tâm là các quy tắc nào đã chi phối việc ra đời và vận hành củadiễn ngôn đó trong đời sống Theo tác giả Trần Văn Toàn: “Cái gọi là sự thật về đời sốnghay con người theo Foucault, thực chất, cũng chỉ là sản phẩm của diễn ngôn được hìnhthành từ những tương quan quyền lực/tri thức của một giai đoạn, một thời kì lịch sử cụ thể.Thay cho việc đặt trọng tâm vào việc đặt câu hỏi: văn học đã làm thế nào để thu hẹp khoảngcách giữa nó và thực tế đời sống thì giờ đây, chúng ta phải quan tâm đến câu hỏi: trongnhững tương quan quyền lực/tri thức nào mà những sự thật nào đó được quyền xuất hiện vàmiêu tả trong diễn ngôn văn học” [126, tr.48] Như vậy, bản chất của phân tích diễn ngôn là

Trang 23

phân tích cơ chế tạo lập diễn ngôn, phân tích những tương quan quyền lực/tri thức nào đãtạo nên và vận hành diễn ngôn đó Một tương quan quyền lực/tri thức chỉ tồn tại khi có sựđối lập giữa một cặp nhị phân như nam tính/nữ tính, phương Tây/phương Đông, hiệnđại/truyền thống, tinh thần/thể xác, lý tính/cảm tính… với yếu tố đứng trước đóng vai tròtrung tâm Theo M Foucault, từ sự bất bình đẳng của các tương quan quyền lực này mà cáctri thức khoa học xã hội được tạo ra Diễn ngôn văn học của mỗi giai đoạn thường xoayquanh một số cặp nhị phân cơ bản Chính sự đối lập giữa các mặt của các cặp nhị phân này

sẽ tạo nên bức tranh về thế giới, tạo nên mã diễn ngôn của tác phẩm văn học Chẳng hạn,văn học lãng mạn thường xây dựng thế giới nghệ thuật dựa trên cặp đối lập: Tôi - Ta Tôi làcái cá nhân, ta là cái xã hội Tôi được coi là cái riêng, cái độc đáo, cái lí tưởng, ta là cáichung, cái tầm thường, cái cản trở Văn học hiện thực thường đặt mô hình nghệ thuật dựatrên cặp đối lập cơ bản: giàu - nghèo Giàu thường là kẻ áp bức, bất lương, độc ác; nghèothường là người tử tế, lương thiện, bị áp bức Diễn ngôn của văn học cách mạng giai đoạn

1945 - 1975 thường được hình thành trên cặp đối lập Ta - Địch, từ đây sẽ hình thành tiếpcác cặp nhị phân: chính nghĩa - phi nghĩa, tập thể - cá nhân, cách mạng - phản cách mạng,

vô sản - tư sản, nông dân - địa chủ… Vì thế, thông qua việc phân tích sự đối lập của các cặpnhị phân, chúng ta phần nào có thể hình dung được cách thức kiến tạo thế giới của nhà văn

Thứ hai, phân tích trật tự diễn ngôn

Trong lí thuyết diễn ngôn của Foucault, bên cạnh diễn ngôn mang tính thống trị,ông còn quan tâm đến những diễn ngôn bị loại trừ Từ sự bất bình đẳng về quyền lựcgiữa các cặp đối lập mà tri thức được tạo ra Về nguyên tắc chỉ có yếu tố ưu trội (cáibình thường) mới được quyền phát ngôn về yếu tố thấp hơn (cái bất thường), từ đókhẳng định sự hợp thức của yếu tố ưu trội Đây được coi là diễn ngôn trung tâm, chínhthống Tuy vậy, Foucault thừa nhận có một sự phản kháng từ bên dưới nhằm chống lại

sự áp đặt quyền lực: “ở đâu có quyền lực, ở đó có đấu tranh” [126, tr.49] Như vậy, đốitượng của phân tích diễn ngôn thường là những hiện tượng có vị trí thấp hơn về quyềnlực, vì đây là nơi để nhận diện tiếng nói của quyền lực Do đó, khi phân tích diễn ngôncần chú ý mối quan hệ của cả hai yếu tố ưu trội và thấp kém về quyền lực để thấy đượcrằng diễn ngôn không phải chỉ là kết quả trực tiếp từ quan hệ quyền lực một chiều, mà làkết quả của quá trình pha trộn, lai ghép phức tạp

Khi phân tích diễn ngôn có một điểm cần đặc biệt lưu ý: các quan hệ quyền lực

có tính chất bao trùm toàn bộ xã hội của một thời đại, được mỗi cá nhân và cộng đồng

xã hội đó vận hành Vì thế tương quan quyền lực/tri thức được biểu hiện thành các cặpnhị phân nói trên tồn tại trong mọi phương diện xã hội, trong mọi hình thức diễn ngôn,mọi văn bản khác nhau, do đó, phân tích diễn ngôn cần gắn với sự phân tích liên vănbản, phát hiện mối liên hệ giữa các văn bản văn học, văn bản khoa học, văn bản pháp

Trang 24

luật, quảng cáo, báo chí…

Thứ ba, phân tích trường tri thức thời đại chi phối sự hình thành và vận hành của diễn ngôn

Trong tác phẩm Từ ngữ và vật, Foucault đã đưa ra khái niệm “episteme”

(trường tri thức/ khung tri thức) Trường tri thức theo cách hiểu của Foucault là cáikhung tư tưởng, là nhận thức chung của cộng đồng trong một thời kỳ nhất định; là cáikhông gian tri thức quyết định từ ngữ được tồn tại như thế nào, vật được xem là cái gì.Ông cho rằng mỗi thời đại tồn tại một trường tri thức khác nhau và chính trường trithức sẽ quyết định các hệ hình giá trị và sự vận hành của các diễn ngôn Phân tích diễnngôn chính là đi tìm hệ hình tri thức, tìm những quy tắc vừa hữu thức vừa vô thức củamột cộng đồng người trong thời đại nhất định quy định cách nói trong cộng đồngngười đó Foucault quan tâm đến quy tắc nào đã chi phối việc diễn ngôn đó ra đời vàvận hành trong đời sống; bằng cách nào mà một sự thật đã được nói ra, bằng cách nào

mà sự kiện này trở nên có ý nghĩa hoặc bị bỏ qua Ông quan tâm đến cơ chế mà nhờ

đó một diễn ngôn trở thành diễn ngôn thống trị, còn các diễn ngôn khác bị nghi ngờ vàgạt ra ngoài lề xã hội Cơ chế này vừa là cái nằm bên trong vừa là cái nằm bên ngoàidiễn ngôn Như vậy, có thể khẳng định rằng, diễn ngôn không chỉ là các văn bản cụthể, các loại biểu đạt nội dung cụ thể mà quan trọng hơn chính là cái cơ chế tạo thànhcác văn bản cụ thể ấy; nó chính là cái nguyên tắc ẩn chìm chi phối sự hình thành cácvăn bản như là sự kiện xã hội Diễn ngôn là cái bên ngoài ta, nó chi phối ta một cáchsâu sắc Mỗi khi ta phát ngôn, ta luôn bị trói buộc trong một khung diễn ngôn có trước.Lời của ta chỉ là sự nối lời, tiếp lời, đối thoại lại với lời của người khác mà thôi Vậndụng vào phân tích diễn ngôn văn học, ta phải đi tìm những quy tắc, những cơ chế tinhthần, những quy luật tâm lí chi phối cách xây dựng hình tượng văn học, cách sử dụngngôn ngữ văn học của nhà văn

Thứ tư, phân tích nội hàm tư tưởng của các yếu tố trong cấu trúc diễn ngôn

Hệ thống nhân vật chính với khả năng biểu đạt tư tưởng của chúng cũng là mộtyếu tố của cấu trúc diễn ngôn Nhân vật đại diện cho ai, cho tư tưởng nào; xung độtgiữa các nhân vật là xung đột giữa các ý thức hệ nào trong xã hội Chẳng hạn, diễnngôn cá nhân của tiểu thuyết TLVĐ được thể hiện qua cuộc xung đột giữa hai hệthống nhân vật phụ nữ thuộc tư tưởng dân chủ tư sản và ý thức hệ phong kiến, đó là sựxung đột giữa hai thế hệ trẻ và già; tiến bộ và bảo thủ Bên cạnh đó, việc xác định chủthể diễn ngôn cũng rất cần thiết Cần trả lời cho câu hỏi ai là chủ thể của diễn ngôn,lập trường, quan điểm, giới tính, thẩm mĩ của chủ thể ra sao? Chủ thể diễn ngôn trongvăn học hiện thực là người thư kí trung thành của thời đại, sáng tác của anh ta là những

Trang 25

ghi chép chân thực về bộ mặt xã hội Chủ thể diễn ngôn trong văn học lãng mạn làngười giãi bày các cung bậc tình cảm, các trạng thái tâm hồn Chủ thể diễn ngôn trongvăn học cách mạng là người ca ngợi lí tưởng cách mạng và chế độ xã hội chủ nghĩa

Thứ năm, phân tích hệ thống phương thức biểu đạt của cấu trúc diễn ngôn

Để trả lời cho câu hỏi một sự thật nào đó đã được nói lên bằng cách nào, chúng

ta cần chú ý đến cách sử dụng từ ngữ, biểu tượng, giọng điệu, các biện pháp tu từ…Trong diễn ngôn tiểu thuyết Kafka, giọng điệu vô âm sắc, mang tính trung hoà là mộtphương tiện hữu hiệu để bộc lộ tư tưởng của chủ thể diễn ngôn về một thế giới phi lý,hỗn loạn, cái quái dị và cái bình thường cùng tồn tại cạnh nhau Diễn ngôn giới nữtrong văn học xã hội chủ nghĩa thường có giọng ngợi ca người phụ nữ như là nhữngbiểu tượng về người chiến sĩ anh hùng, người “mẹ tổ quốc”: “Em là ai? Cô gái haynàng tiên/ Em có tuổi hay không có tuổi/Mái tóc em đây hay là mây là suối/ Đôi mắt

em nhìn hay chớp lửa đêm giông/ Thịt da em hay là sắt là đồng?” (Tố Hữu, Người con

gái Việt Nam)

1.2 Tình hình nghiên cứu vấn đề người phụ nữ trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX

1.2.1 Những nghiên cứu chung về vấn đề người phụ nữ

1.2.1.1 Giai đoạn trước 1975

Trong đời sống phê bình văn học những năm trước 1945, đã xuất hiện một sốcông trình nghiên cứu về người phụ nữ trong sáng tác của Nhất Linh, Khái Hưng, VũTrọng Phụng, Nguyên Hồng Ở phía Bắc, đầu tiên phải kể đến các công trình của

Trương Chính trong tác phẩm Dưới mắt tôi (1939), Dương Quảng Hàm trong Việt

Nam văn học sử yếu (1941), Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn Việt Nam hiện đại (1942).

Các nhà nghiên cứu ở phía Nam có thể kể đến là Thanh Quế, Thiếu Sơn, Trúc Hà,Dương Nghiễm Mậu… Trong đó, các nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Nhất Linh vàKhái Hưng nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Trương Chính nhận

định về Loan (Đoạn tuyệt – Nhất Linh): “Loan là một người gái mới (…) Sở dĩ cả một

thời thanh xuân của nàng bị bỏ phí và sau biết bao khổ nhục, nàng mới tìm thấy conđường chánh đáng, là vì trong lúc dở cũ dở mới này, đời nàng phải là một cuộc thí

nghiệm chua xót” [18, tr.11] Nhà văn Trúc Hà dành tình cảm yêu mến cho Mai (Nửa

chừng xuân – Khái Hưng) và Loan (Đoạn tuyệt – Nhất Linh) Ông phát biểu trên báo Sống số 28 năm 1935 như sau: “Trận xung đột của gia đình và cá nhân bày ra rõ rệt.

Người đọc lúc nào cũng cảm thấy những tư tưởng hẹp hòi, nghiêm khắc thường khi lạiđộc ác, đê tiện của những hạng người chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh xưa và lúc nào

Trang 26

cũng yêu thương Mai và Loan, hai cá nhơn hoàn toàn bị bó buộc trong khuôn khổ giađình cũ Tự nhiên người ta sẵn lòng bênh vực Mai, Loan, nhơn đó, người ta ghétnhững lễ nghi phiền phức, những thói tục hủ bại của thời trước” [104, tr.429] Nhìnchung, các nhà nghiên cứu đều thống nhất trong việc khẳng định tiếng nói chống Nhogiáo, đòi giải phóng cá nhân và người phụ nữ của các nhà văn TLVĐ

Tiếp theo là sự xuất hiện các tác giả ở miền Nam lẫn miền Bắc trước 1975 nhưPhạm Thế Ngũ, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Lãng, Thế Phong và nhóm Lê Quý Đôn, Phan Cự

Đệ, Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức, Mã Giang Lân Từ các công trình nghiên cứu

quy mô như Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1965) của Phạm Thế Ngũ, Văn học

thế hệ 1932 in trong: Bảng lược đồ văn học Việt Nam, quyển hạ (1967) của Thanh Lãng, Nhà văn tiền chiến 1930 – 1945 (1974) của Thế Phong, Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, tập 3 – từ giữa thế kỷ XIX đến 1945 (1957) của nhóm Lê Quý Đôn, Văn học Việt Nam 1930 – 1945, tập 1 (1961) của Bạch Năng Thi – Phan Cự Đệ, hay từ các bài viết đơn

lẻ của các nhà nghiên cứu nói trên mà vấn đề người phụ nữ trong sáng tác của Nhất Linh,Khái Hưng, Hoàng Ngọc Phách, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, … đã được bàn đến.Trong đó, sáng tác của Nhất Linh và Khái Hưng tiếp tục được nhìn nhận ở phương diệnphê bình gia đình phong kiến kìm kẹp cá nhân, ràng buộc người phụ nữ vào lễ giáo truyền

thống; cổ vũ giải phóng cá nhân và người phụ nữ Trong Giáo trình Lịch sử văn học Việt

Nam 1930 – 1945 (1978), tác giả Hoàng Dung khi so sánh các nhân vật nữ trong tiểu

thuyết TLVĐ, cho rằng Mai là nhân vật đầu tiên trực tiếp chống lễ giáo phong kiến Maithu được cảm tình của người đọc ở chỗ yêu đương tự do mà không rơi vào lố lăng, phóng

túng; kiên quyết tự lập để bảo vệ tình yêu chân chính của mình Mai gần với Liên (Gánh

hàng hoa) ở phương diện đạo đức truyền thống Ngược lại, Loan “mới” hơn Mai cả về

hình thức lẫn nội dung: “áo màu, quần trắng, răng trắng, vấn tóc trần, đi giày mang cá (…)Loan thắng lễ giáo phong kiến trở về được với người mình yêu” [66, tr.69] So với Loan,

Nhung (Lạnh lùng) không đủ can đảm công khai chống lễ giáo như Loan để “đi bước

nữa” Nhung vì sợ điều tiếng mà không dám đường hoàng tái giá Phần thương mẹ, phần

thiếu can đảm nên người đàn bà trẻ đó đành sống một cuộc đời giả dối Hồng (Thoát ly)

chỉ gợi được cho người đọc một mối thương cảm Hồng giỏi chịu đựng hơn là biết đấu

tranh Doãn Quốc Sỹ khi so sánh Mai (Nửa chừng xuân) và Loan (Đoạn tuyệt), cho rằng

“về mặt học thức Mai chỉ biết đọc biết viết đủ dùng và chịu ảnh hưởng đậm của nền giáodục Nho giáo, trong khi Loan có một trình độ Tây học vững vàng và hoàn toàn đối lập với

ý kiến gia đình… Loan bướng bỉnh theo mới đến cùng.” [104, tr.433]

Trang 27

Trong Những cuộc tranh luận văn học nửa đầu thế kỷ XX (2005), Mã Giang

Lân đã tổng thuật lại cuộc tranh luận hấp dẫn xoay quanh vấn đề dâm hay không dâmtrong sáng tác của Vũ Trọng Phụng Các ý kiến chia thành hai tuyến: ủng hộ và phêphán quan điểm viết về cái dâm của Vũ Trọng Phụng Ở tuyến phê phán, Trương Chính

lên án Vũ Trọng Phụng khá gay gắt khi bàn về tiểu thuyết Giông tố của họ Vũ Nhà phê

bình cho rằng Vũ Trọng Phụng đã hi sinh nghệ thuật để viết văn khiêu dâm Trong khi

đó, Nguyễn Hoành Khung thì chỉ ra hạn chế ở hình tượng nhân vật Mịch Theo ông,nhân vật đã bị chính tác giả của nó làm hỏng khi giải thích sự biến chất ở Mịch bằngniềm khao khát nhục dục một cách bệnh hoạn Quan điểm sinh lý thô bạo của chủ nghĩa

tự nhiên và ngòi bút phân tích tâm lý có khuynh hướng suy đồi của Vũ Trọng Phụng đãlàm mất đi tính chân thực và ý nghĩa tích cực ban đầu đầy hứa hẹn của hình tượng Nhìnchung, các công trình nói trên đã khái quát được một số đặc điểm của hình tượng nhânvật nữ và khẳng định các hình tượng ấy đã đem lại thành công đáng kể cho tác phẩmcũng như sự nghiệp sáng tác của các nhà văn Nguyên Hồng với chủ nghĩa nhân đạothống thiết, trong khi phản ánh số phận bất hạnh, đau khổ của những người phụ nữ nhỏ

bé, nghèo khổ trong xã hội thực dân phong kiến vẫn không đánh mất niềm tin yêu đốivới vẻ đẹp thiện lương trong tâm hồn họ Nam Cao trăn trở với những vấn đề triết lýnhân sinh thông qua những nhân vật nữ dị dạng về nhân hình, có số phận bất hạnh

1.2.1.2 Giai đoạn sau 1975

Đến những thập niên 80, 90 của thế kỷ XX, với công cuộc đổi mới tư duynghệ thuật, các nhà nghiên cứu phê bình như Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức,Phan Cự Đệ, Nguyễn Hoành Khung,… đã có dịp đánh giá lại một cách toàn diện hơncác hiện tượng phức tạp trước cách mạng Các nhà nghiên cứu đã có cái nhìn kháchquan và công tâm hơn đối với các trường hợp Nhất Linh, Khái Hưng và Vũ TrọngPhụng Các nhà văn TLVĐ được khẳng định đã góp phần xây dựng nền văn xuôiViệt Nam hiện đại nửa đầu thế kỷ XX với việc xây dựng thành công hình tượngngười phụ nữ trong cuộc đấu tranh chống lễ giáo phong kiến, đặc biệt ở lĩnh vực hôn

nhân và gia đình Trong cuốn Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hoá văn học (1995),

Vu Gia đã ghi nhận đóng góp của Nhất Linh khi ông đã từng bước đưa vấn đề cải cách

xã hội vào sáng tác của mình Những năm cuối thập niên 20, khi xã hội phong kiếnvẫn còn buộc người phụ nữ goá bụa vào tam tòng tứ đức, tiết hạnh khả phong, thì nhân

vật Từ Nương (Người quay tơ) của Nhất Linh đã “được mẹ chồng cho đến người trong

họ ai ai cũng cho phép nàng cải giá” Đến cô Loan (Đoạn tuyệt), thì nhân vật của Nhất

Trang 28

Linh đã phát triển lên hàng “gái mới” Loan là cô gái hiểu đạo, hiểu đời, khi chưa xuấtgiá cô đã có những quan điểm rất cứng cỏi như “Mẹ chồng ác thì đi chỗ khác mà ở”,

cô không ngại đấu tranh với cha mẹ về chuyện hôn nhân của đời mình, đó là “mộtchuyện rất hệ trọng trong đời con, mà chỉ quan hệ trong đời con mà thôi”, khiến chocha mẹ cô “tuy thấy con nói có lí, nhưng không khỏi ngạc nhiên, lo sợ Ông bà mangmáng thấy con mình xa cách hẳn mình, thành một người ở xã hội khác hẳn cái xã hộiViệt Nam bình thường” [39, tr.201]

Trong Văn học Việt Nam lãng mạn 1930 – 1945 (1997), Phan Cự Đệ cho

rằng, từ năm 1932, các nhà văn TLVĐ đã mở ra một thời kỳ văn học nghiêng vềnhững quan niệm nhân sinh và xã hội của phương Tây Sáng tác của họ được xem làmột cuộc đấu tranh nhằm giải phóng cá nhân, chống phong kiến quan liêu: “Chúng ta

đánh giá cao những tác phẩm lãng mạn tiến bộ của TLVĐ (Nửa chừng xuân, Đoạn

tuyệt, Đôi bạn) đã đấu tranh cho tự do yêu đương, cho quyền sống của con người, cho

việc giải phóng cá nhân ra khỏi đại gia đình phong kiến” [25, tr.246] Tuy nhiên, tácgiả cũng lưu ý rằng càng về sau, khi con người cá nhân phát triển đến chỗ cực đoan,thì các nhân vật nữ trong sáng tác của TLVĐ càng xa với hình tượng người phụ nữ

trong văn học truyền thống: “cô Tuyết trong Đời mưa gió là một con người xa lạ… ta

thấy Tuyết gần gũi với các nhân vật sau này trong tiểu thuyết có màu sắc hiện sinh củaChu Tử và Nguyễn Thị Hoàng hơn là giống với nhân vật lãng mạn” [25, tr.250] Giáo

sư Trần Hữu Tá trong Nhà văn Vũ Trọng Phụng với chúng ta (1999) đã giới thiệu các

bài viết của nhiều tác giả về nhà văn Vũ Trọng Phụng Trong đó, vấn đề tha hoá và suyđồi đạo đức của người phụ nữ trong xã hội thuộc địa qua sáng tác của Vũ Trọng Phụngđược giải thích bằng sự ảnh hưởng học thuyết phân tâm học S Freud ở ngòi bút củanhà văn họ Vũ

Cùng thời gian này, sự bùng nổ của vấn đề phụ nữ gắn liền với vấn đề dântộc trong xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX cũng nhận được sự quan tâm của các

học giả nước ngoài David Marr với cuốn Vietnamese tradition on Trial 1920 – 1945

(Truyền thống Việt Nam trong thử thách 1920 – 1945) (1984), Shawn McHale với tiểuluận “Printing and power: Vietnamese debates over women’s place in society, 1918 –

1934” in trong Essays into Vietnamese pasts (Những bài tiểu luận về Việt Nam xưa)

và W Wilcox với công trình “Women, westernization and the Origins of ModernVietnamese Theatre” (Người phụ nữ, phương Tây hóa và nguồn gốc của kịch nghệ

Việt Nam hiện đại) (2006) in trong Journal of Southeast Asian Studies đã cho thấy

Trang 29

điều đó Từ sự phân tích các dữ kiện, các tác giả đi đến nhận định rằng những ảnhhưởng của sách báo và các phong trào đấu tranh xã hội trên thế giới đã dẫn tới sự bùng

nổ vấn đề phụ nữ trong xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX Trên các diễn đàn văn chương

và báo chí, vấn đề phụ nữ đã trở thành tâm điểm của các cuộc thảo luận sôi nổi Vai trò

và vị thế của người phụ nữ đã được nhận thức lại, gắn với vấn đề dân tộc trong xã hộiViệt Nam thời kỳ này

Hệ thống quan điểm tiến bộ về vấn đề phụ nữ của Phan Bội Châu nhận được sựquan tâm đặc biệt của nhiều nhà nghiên cứu, trong đó, những kết luận của tác giả

Trịnh Thu Tiết khiến chúng ta phải lưu ý Trong công trình Phan Bội Châu về tác gia

và tác phẩm (2001) do Chương Thâu và Trần Ngọc Vương tuyển chọn, với tiểu luận

“Phan Bội Châu, người khai sáng tư tưởng tiến bộ về vấn đề phụ nữ trong Văn họcViệt Nam”, nhà nghiên cứu Trịnh Thu Tiết đã chỉ ra một trong hai luận đề lớn nhấttrong sáng tác của Phan Bội Châu là luận đề về vấn đề phụ nữ Hình tượng nhân vật nữanh hùng cứu nước mang tính cách mạng của thời đại mới là một đóng góp đáng kể

của cụ Phan cho văn học nước nhà Những cô Chí, cô Triệu, cô Liên (Trùng Quang

tâm sử), Bạch Liên nữ sỹ, Âu Vân phu nhân (Tái sinh sinh),… góp thêm vào văn học

Việt Nam những gương mặt phụ nữ mới mẽ, sinh động Họ không chỉ là con hiếu, mẹhiền, dâu thảo mà còn là những nữ anh hùng góp công không nhỏ trong sự nghiệp giảiphóng dân tộc Sau gần một thế kỉ nhìn lại, các công trình nói trên đã có sự nghiên cứungày càng chuyên sâu và kĩ lưỡng về vấn đề người phụ nữ trong sáng tác của các tácgiả tiêu biểu nửa đầu thế kỷ XX; vị trí, đóng góp của các nhà văn cũng được tôn vinhxứng đáng

Đến những năm đầu thế kỉ XXI, lịch sử nghiên cứu về vấn đề người phụ nữtrong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX lại tiếp tục được làm phong phú thêm

bởi các nhà nghiên cứu Trong Những bài giảng về tác gia Văn học Việt Nam hiện đại

(2005), giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã đi sâu đánh giá nhân vật nữ trong sáng tác củaNguyên Hồng trước cách mạng tháng Tám: “Đọc Nguyên Hồng, thấy nhân vật phụ nữtrội hẳn lên và có một vẻ riêng: thường là một bà mẹ trẻ, nghèo khổ, cần cù, nhẫn nại,giàu lòng vị tha và đức hi sinh, có một thứ bản năng tự nhiên của phụ nữ là thèm khát

sự sinh nở và yêu thương con tha thiết Người đàn bà ấy thường là nạn nhân của chế

độ hôn nhân gia đình phong kiến Nhưng trái tim sôi nổi, dễ yêu và yêu mãnh liệt,người đàn bà ấy nhiều khi gạt phăng cả những tục lệ, những thành kiến hà khắc, quyền

uy nhất để chạy theo tiếng gọi của hạnh phúc” [69, tr.264] Nguyên Hồng được nhận

Trang 30

xét là một cây bút am hiểu hơn ai hết những nỗi khổ của người phụ nữ ở cả hai phươngdiện giai cấp và giới tính

Trong Bàn về tiểu thuyết Khái Hưng (2006), Ngô Văn Thư đánh giá đóng góp của Khái Hưng qua các tác phẩm Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Trống mái, Gia

đình, Thoát ly, Thừa tự và Tiêu sơn tráng sỹ là đã khám phá, miêu tả, quảng bá cho một

mẫu hình con người mới, mà tập trung nhất là hình tượng người trí thức Tây học Họ lànhững người trẻ, có ý thức về quyền sống cá nhân, tự do yêu đương, tự do kết hôn, tự dolựa chọn lối sống của mình, có đời sống tâm hồn phong phú, có vẻ đẹp hình thể, biếttrang điểm Họ cũng là những chiến sỹ xã hội cúi mình xuống, dành tình thương chonhững người dân quê cùng khổ và làm những việc có ích cho đời

Trần Thị Việt Trung trong Hình tượng nhân vật phụ nữ trong văn xuôi Việt

Nam hiện đại (2008), đã đưa ra cái nhìn có tính hệ thống về các nhân vật nữ trong tiểu

thuyết TLVĐ Các nhà văn TLVĐ rất quan tâm đến vấn đề giải phóng phụ nữ ra khỏigia đình phong kiến bảo thủ và lạc hậu Vì thế trong hầu hết tác phẩm của mình, họ đãxây dựng thế giới nhân vật nữ theo hai tuyến đối lập nhau, đại diện cho hai luồng tưtưởng cũ - mới Lớp người cũ như bà Phán, bà Án, bà Tuần,… ngày đêm ra sức gìngiữ cái nề nếp gia phong xưa và ra sức bài trừ cái mới, mà họ coi là lố lăng Hệ thốngnhân vật đại diện cho cái mới là thế hệ trẻ, nhờ tiếp xúc với văn minh phương Tây hiệnđại, ý thức cá nhân được thức tỉnh mạnh mẽ, đã kiên quyết đứng lên đấu tranh bênhvực cho cái mới, cho chủ nghĩa cá nhân Xung đột giữa họ không thể dung hòa được,trở thành những cuộc đấu tranh căng thẳng, quyết liệt, đưa đến hậu quả có thể là cái

chết do tự tử (Hồng trong Thoát ly), hoặc đổ máu (Loan trong Đoạn tuyệt) Trong sáng

tác của TLVĐ về sau còn xuất hiện một loại nhân vật nữ hiện đại đến mức xa lạ, rơivào chủ nghĩa cá nhân cực đoan Họ quá coi trọng cái tôi cá nhân, sống theo nhữngkhát vọng mang tính bản năng, mà tiêu biểu nhất cho kiểu phụ nữ này là cô Tuyết

trong Đời mưa gió.

Đỗ Hồng Đức trong Luận án tiến sỹ Nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Nhất

Linh và Khái Hưng (2010) đã đánh giá cao đóng góp của các nhà văn TLVĐ trong

việc đả phá những tư tưởng cổ hủ của đạo đức truyền thống, đem lại cái nhìn mới

về giá trị và vẻ đẹp của người phụ nữ Các nhà văn đã cổ vũ cho tư tưởng mới mộtcách rầm rộ, và họ đã tạo nên một cơn địa chấn thực sự trên bình diện tư tưởng.Những tư tưởng ấy không phải không có lúc gây sốc bởi nó quá mới, quá bạonhưng nó đã đạt được mục đích, đó là thổi bùng trong xã hội những nhận thức mới

Trang 31

về vấn đề phụ nữ Có thể nói, trong bộ phận văn học hợp pháp lúc bấy giờ, chỉ cótiểu thuyết TLVĐ làm được điều đó Về ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố xã hội vàthời đại đối với việc xây dựng hình tượng người phụ nữ, Đỗ Hồng Đức cho rằngvấn đề về người phụ nữ trong văn chương TLVĐ nói chung và tiểu thuyết của NhấtLinh, Khái Hưng nói riêng không phải là chỉ là vấn đề xuất phát trong nội bộ đờisống văn học, mà là vấn đề xuất phát từ hiện thực xã hội rộng lớn, thậm chí là vấn

đề của toàn thế giới Tìm hiểu phong trào phụ nữ trên thế giới và ở Việt Nam cuốithế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, so sánh với những vấn đề về người phụ nữ trong tiểuthuyết TLVĐ có thể khẳng định điều đó Sự va đập tư tưởng cũ - mới đã khiến cho

xã hội người phụ nữ bị phân hoá Ở những nhân vật nữ đại diện cho tư tưởng bảothủ thì tính nữ (giới tính) bị mờ hoá, con người chức năng, con người bổn phậnđược nhấn mạnh; ở những cô “gái mới" thì vẻ đẹp hiện đại về hình thức, khát vọng

và phẩm chất mới được tô đậm (thậm chí được tô đậm thái quá trở thành hạn chế)

Thao Nguyễn trong Khái Hưng nhà tiểu thuyết có biệt tài trong công cuộc

canh tân văn học (2013), đã tập hợp các tiểu luận của các nhà nghiên cứu bàn về tác

phẩm của Khái Hưng một cách tập trung nhất Trong số này, bài viết của Phạm ThếNgũ đã đưa ra một sự khái quát thú vị về các nhân vật nữ của Khái Hưng: họ gắn với

các cung bậc khác nhau của tình yêu Trong Hồn bướm mơ tiên (1932), tình yêu của

chú tiểu Lan giả trai đi tu ở chùa Long Giáng với Ngọc là tình yêu thanh sạch dướibóng từ bi của Phật tổ Cô Mai trong Nửa chừng xuân (1933) hi sinh hạnh phúc cánhân giữa lúc còn xuân để giúp Lộc và bản thân mình vươn lên phận sự cao cả, là ái

tình với nhiệm vụ xã hội Đến Tiêu sơn tráng sỹ (1934), tình yêu của Nhị Nương và

Trần Quang Ngọc là yêu nhau trong sự nghiệp cách mạng Tình yêu của Hiền dành

cho Vọi trong Trống mái (1935) là tình yêu có tác dụng “giải độc” Tố Tâm, hướng

thanh niên vào con đường sống vui khoẻ và không phân biệt giai cấp xã hội Đến

Đẹp (1940), tình yêu của Lan và Nam là ái tình của nghệ sỹ, gắn với cái Đẹp Lan

theo bản năng của người đàn bà tìm tới hôn nhân, nhưng nàng đã không có được thứ

hạnh phúc gia đình hoàn toàn như mình mong ước Cuối cùng là tiểu thuyết Băn

khoăn (1942), tình yêu của cả hai cha con ông Thanh Đức với Liên, một cô gái xinh

đẹp lộng lẫy, thì tình yêu đã xa cách với phong vị lý tưởng ban đầu, để mang màu sắcvật dục Liên yêu người cha vì tiền tài và yêu người con vì trẻ trung

Trong Giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại (2015), giáo sư Trần Đăng

Suyền khi khái quát mô hình nhân vật trong tiểu thuyết TLVĐ, đã nhấn mạnh ảnh

Trang 32

hưởng của văn minh phương Tây đến tầng lớp thanh niên, trí thức thượng lưu: “Họchống lễ giáo phong kiến, đấu tranh cho chủ nghĩa cá nhân, cho tình yêu và hônnhân tự do, cổ vũ cho phong trào Âu hóa từ tư tưởng văn chương nghệ thuật đến yphục và cách hưởng thụ đời sống vật chất Về mặt tư tưởng, họ thực sự là những tín

đồ của phong trào Âu hóa, được Âu hóa từ đầu tới gót, từ y phục, thể xác đến linhhồn Ở họ, tư tưởng Âu hóa thấm nhuần, biến thành lối sống Âu hóa và được thểhiện trên nhiều phương diện của đời sống: ý thức sâu sắc về quyền cá nhân, đề caoluyến ái tự do và coi trọng vẻ đẹp hình thức của con người.” [93, tr.126 – 127] Gần

đây, trong bài viết “Khuynh hướng tư tưởng tiểu thuyết TLVĐ” đăng trên Tạp chí Lý

luận phê bình Văn học nghệ thuật (8/2021), nhà nghiên cứu đã tổng kết quá trình phát

triển tư tưởng của Nhất Linh và Khái Hưng, trong đó có đề cập đến vấn đề phụ nữ.Giai đoạn thứ nhất từ 1932 – 1936, thực dân Pháp một mặt khủng bố cách mạng, mặtkhác thấy cần làm dịu bớt bầu không khí xã hội bằng việc khuyến khích phát triển cáchoạt động văn hoá như thời trang, thể thao, hội thi sắc đẹp, văn chương lãng mạn…Sáng tác của TLVĐ lúc này đã phản ánh được tâm trạng của một bộ phận thanh niênthành thị muốn thoát khỏi hoàn cảnh sống ngột ngạt, bế tắc lúc đó bằng hành động đấutranh chống phong kiến, đòi giải phóng cá nhân và người phụ nữ Giai đoạn thứ hai từ

1936 – 1939, bầu không khí xã hội có phần dễ thở hơn trước Nhạy bén với tình hìnhchính trị xã hội mới, TLVĐ đã đặt vấn đề đấu tranh cải thiện đời sống của dân quê lênhàng đầu Giai đoạn thứ ba từ cuối 1939 – 1943, nhân vật chính trong tiểu thuyếtTLVĐ là con người cá nhân cực đoan Họ bế tắc trước thực tại và mất phương hướng,không tìm được lối ra

Từ góc nhìn so sánh, Bang Jeong Yun trong luận án “Hình tượng người phụ nữmới trong một số tác phẩm tiêu biểu của TLVĐ và văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc”(2019), đã chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt cơ bản trong hình tượng ngườiphụ nữ mới giữa hai nền văn học trong một xã hội Á Đông như Việt Nam và Hàn Quốc

Họ đã có những thay đổi quan trọng, khác xa với hình ảnh những người phụ nữ theotruyền thống Nho giáo Xã hội mới đã tạo nên ở họ một diện mạo mới, đời sống mới, tưtưởng mới,… tất cả được gọi chung với cái tên “phụ nữ mới” ở Việt Nam hay “sinyosong” ở Hàn Quốc Đồng thời, người phụ nữ mới trong văn học cũng là một biểutượng sinh động cho những ý tưởng, những dự đồ của các trí thức bản địa Trong bốicảnh khi mà các tư tưởng không ngừng giao thoa với nhau (tư tưởng quốc gia, tư tưởnghiện đại hóa…), người phụ nữ được sử dụng như là một công cụ để thể hiện cho những

Trang 33

tư tưởng của thời đại Vấn đề người phụ nữ trở thành một luận đề xã hội mà ở đó mỗinhà văn, mỗi khuynh hướng tư tưởng, mỗi quốc gia lại có những lựa chọn riêng trongkhi tạo dựng hình tượng người phụ nữ mới.

Tóm lại, những nghiên cứu chung về người phụ nữ trong văn học Việt Nam nửađầu thế kỷ XX ngày càng được thực hiện chuyên sâu và toàn diện hơn từ phương diệnnội dung luân lí xã hội đến nghệ thuật xây dựng nhân vật Các công trình nghiên cứu vềsau đã chú ý mở rộng khảo sát những yếu tố bên ngoài văn bản như hoàn cảnh lịch sử,

xã hội, văn hoá đã ảnh hưởng đến việc xây dựng hình tượng nhân vật trong tác phẩm.Nhờ đó, bức tranh chung về người phụ nữ trong văn học giai đoạn này trở nên rõ nét và

có hệ thống

1.2.2 Những nghiên cứu về vấn đề người phụ nữ từ góc nhìn diễn ngôn

1.2.2.1 Về mặt du nhập lý thuyết

Ở Việt Nam, lý thuyết diễn ngôn được giới thiệu sớm nhất trong lĩnh vực ngôn

ngữ học, có thể kể đến các công trình tiêu biểu sau: Hệ thống liên kết văn bản tiếng

Việt của Trần Ngọc Thêm (1985); Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản của Diệp Quang Ban (1998), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2

của Đỗ Hữu Châu (2001), Dụng học Việt ngữ của Nguyễn Thiện Giáp (2000), Phân tích

diễn ngôn - một số vấn đề lí luận và phương pháp của Nguyễn Hoà (2003), Từ điển tu

từ - phong cách - thi pháp học của Nguyễn Thái Hoà (2005) Bên cạnh đó, một số công

trình nghiên cứu về diễn ngôn của nước ngoài đã được dịch sang tiếng Việt, như Dụng

học, một số dẫn luận nghiên cứu ngôn ngữ của George Yule (Hồng Nhâm, Trúc Thanh,

Ái Nguyên dịch, 1997); Dẫn nhập phân tích diễn ngôn của David Nunan (Hồ Mỹ Huyền, Trúc Thanh dịch, 1998); Phân tích diễn ngôn của Gillian Brown, George Yule (Trần Thuần dịch, 2002), Dẫn luận ngữ pháp chức năng của Mak Halliday (Hoàng Văn

Vân dịch, 2004)

Trong lĩnh vực khoa học văn học, các nhà nghiên cứu đã tiếp thu lý thuyết diễnngôn có sáng tạo và chọn lọc, xây dựng nên một hệ thống lý thuyết phân tích diễn ngônđặc thù, làm cơ sở cho việc giải mã các tác phẩm văn học cụ thể Có thể kể đến các công

trình tiêu biểu như Chủ nghĩa cấu trúc và văn học (2002) của Trịnh Bá Đĩnh; Sự đỏng

đảnh của phương pháp (2004) của Đỗ Lai Thuý; Văn học hậu hiện đại thế giới, những vấn đề lí thuyết, (2003) của Lại Nguyên Ân, Đoàn Tử Huyến; Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỉ 20 (2003) do

Đào Tuấn Ảnh, Trần Hồng Vân, Lại Nguyên Ân dịch; Logic học về các thể loại văn

học (2004) của Kate Hamburger do Vũ Hoàng Địch và Trần Ngọc Vương dịch; Tác phẩm như là quá trình (2007) của Trương Đăng Dung; Thi pháp văn xuôi, Dẫn luận về

Trang 34

văn chương kì ảo của Tzevan Todorov do Đặng Anh Đào, Lê Hồng Sâm dịch (2003,

2007); Bản mệnh của lí thuyết của Antoine Compagnon do Đặng Anh Đào, Lê Hồng Sâm dịch (2006); Nhập môn Foucault của L.A Fillingham, M Susser do Nguyễn Tuệ Đan, Tôn Thất Huy dịch (2006); Thi học và ngữ học của Jakobson do Trần Duy Châu biên khảo (2008); Lý luận - phê bình văn học thế giới thế kỉ XX, tập 1, 2 do Lộc Phương Thuỷ chủ biên (2007); Mấy vấn đề phê bình và lí thuyết văn học (2007) của Nguyễn Hưng Quốc ; Những huyền thoại của R Barthes do Phùng Văn Tửu dịch (2008); Hoàn

cảnh hậu hiện đại của Jean-François Lyotard do Ngân Xuyên dịch (2008); Những vấn

đề lý luận văn học phương Tây hiện đại, Tự sự học kinh điển do Trần Huyền Sâm biên

soạn (2009)… Giáo sư Trần Đình Sử là người đầu tiên giới thiệu lý thuyết diễn ngônvăn học với các bài tiểu luận đơn lẻ như “Bản chất xã hội, thẩm mĩ của diễn ngôn vănhọc” và “Bước ngoặt diễn ngôn và chuyển đổi hệ hình trong nghiên cứu văn học” được

in trong sách Trên đường biên của lý luận văn học (2014)

1.2.2.2 Về thực hành nghiên cứu diễn ngôn

Trong những năm gần đây, cùng với việc giới thiệu lý thuyết diễn ngôn, nhiềunhà khoa học đã vận dụng lý thuyết này để phân tích thực tiễn văn học Nhà nghiêncứu Lã Nguyên tiếp cận các hiện tượng văn học Việt Nam theo hướng kết hợp lýthuyết quyền lực và ký hiệu học với các công trình như “Nhìn lại các bước đi, lắngnghe những tiếng nói (Về văn học Việt Nam thời đổi mới 1975 – 1991), “Những dấuhiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn HuyThiệp và Phạm Thị Hoài”, “Văn xuôi hậu hiện đại Việt Nam: Quốc tế và bản địa, cáchtân và truyền thống”, “Nguyễn Tuân – Nhà văn của hình dung từ”, “Tố Hữu – Lá cờđầu của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa” Nghiên cứu vấn đề giới nữ từ góc nhìndiễn ngôn có luận án tiến sỹ của Nguyễn Thị Vân Anh với đề tài “Diễn ngôn về giới

nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (2017)

Trong số các nghiên cứu về vấn đề phụ nữ trong văn xuôi nghệ thuật Việt Namnửa đầu thế kỷ XX theo hướng diễn ngôn gần đây, chúng tôi thấy nổi lên các tiểu luận

của tác giả Trần Văn Toàn như “Nam tính hóa nữ tính – đọc Đoạn tuyệt của Nhất Linh

từ góc nhìn giới tính” (2011); “Phương Tây và sự hình thành diễn ngôn về bản sắcViệt Nam” (2015), “Nam tính – Nữ tính và nghiên cứu văn học sử Việt Nam” (2019).Các công trình này chủ yếu tiếp cận theo hướng lý thuyết quyền lực, mã tư tưởng hệđược bộc lộ ở bình diện giới Kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Văn Toàn cho thấykhả năng vận dụng lý thuyết về cấu trúc nam tính – nữ tính để nghiên cứu văn học sửViệt Nam Cụ thể, trong “Nam tính hoá nữ tính – đọc Đoạn tuyệt của Nhất Linh từ gócnhìn giới tính” (2011), nhà nghiên cứu đã chỉ ra chính tinh thần dân tộc và tham vọng

Trang 35

hiện đại hoá đất nước đã quy định nguyên tắc kiến tạo bản sắc nữ tính mới của Loan:

“Người phụ nữ hăm hở giải phóng mình khỏi lễ giáo phong kiến nhưng không phải đểkiến tạo cho mình một bản sắc riêng mà để đồng nhất bản sắc của mình với bản sắcnam giới” [111, tr.224] Loan trở thành biểu tượng cho một tương lai mới của dân tộcđồng thời qua đó tái khẳng định bản sắc nam tính của đàn ông Việt

Với luận văn thạc sỹ Diễn ngôn về người phụ nữ trong sáng tác của Phan Bội

Châu (2017), Đào Lê Tiến Sỹ đã có những khám phá mới về người phụ nữ trong sáng

tác của Phan Bội Châu Xuất phát từ tinh thần dân tộc và mục tiêu hiện đại hóa đấtnước, ở Phan Bội Châu đã xuất hiện nhận thức mới về vai trò của người phụ nữ đối vớitiền đồ dân tộc Chính trong ý nghĩa này, người phụ nữ thay vì được nhìn nhận theocách mà Nho giáo đã áp đặt cho họ với những thuộc tính yếu đuối, kém cỏi nhằm tách

họ ra khỏi môi trường xã hội, quốc gia, dân tộc, thì bây giờ họ được mô tả với nhữngđặc điểm không khác gì nam giới: mạnh mẽ, kiên cường, nhận thức được nghĩa vụ, bổnphận của người dân đối với đất nước và sẵn sàng xả thân vì nước, họ đóng vai trò là “vậttruyền dẫn” để nhà văn nam thể hiện ý hướng của họ về xã hội mới

Gần đây nhất, trong công trình Văn học Việt Nam trung cận đại – hướng tiếp cận

và vấn đề nghiên cứu (2021) do Nguyễn Đình Chú chủ biên, chúng tôi chú ý đến tiểu

luận của tác giả Lê Thị Vân Anh: Diễn giải ý niệm về phương Đông thông qua hình

tượng người phụ nữ trong các sáng tác Đoạn tuyệt – Lạnh lùng – Đời mưa gió của Nhất

Linh Từ góc nhìn của diễn ngôn, tác giả đã phân tích và chỉ ra hình tượng nhân vật

Loan trong Đoạn tuyệt là một ước nguyện mới cho phương Đông Nhung trong Lạnh

lùng là hình tượng mang tính chất nước đôi trong tâm thế phương Đông và Tuyết trong Đời mưa gió là hình tượng mang ý nghĩa tượng trưng cho hành trình Đông – Tây với

những hoài nghi và dang dở Các công trình nghiên cứu nói trên đã cho thấy sự cầnthiết phải đặt văn học trong một bối cảnh rộng lớn của những vấn đề văn hóa và xã hội

để tiến tới thực tiễn xã hội học văn học

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu vấn đề người phụ nữ trong văn học ViệtNam nửa đầu thế kỉ XX, ngày càng phong phú bởi sự đóng góp của nhiều thế hệ tácgiả, nhà nghiên cứu Tuy nhiên việc tiếp cận vấn đề người phụ nữ từ lý thuyết diễnngôn chỉ mới xuất hiện ở một vài công trình rải rác, vẫn đang mở ra những triển vọngmới mẻ, mời gọi khám phá

Trang 36

Tiểu kết

Ở chương này, chúng tôi đã đưa được ra phương án vận dụng lý thuyết diễnngôn để nghiên cứu vấn đề người phụ nữ trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam nửa đầuthế kỉ XX thông qua việc xác lập khái niệm diễn ngôn, làm sáng tỏ đặc điểm của diễnngôn văn học và các thao tác phân tích diễn ngôn Việc nhìn lại lịch sử nghiên cứu vấn

đề người phụ nữ từ trước 1975 đến nay giúp chúng tôi bao quát được quá trình vậnđộng của lịch sử tư tưởng về vấn đề phụ nữ Phương án vận dụng này hứa hẹn mangcái nhìn mới, thú vị về văn học dân tộc giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX trong sự kết nốigiữa văn học và bối cảnh văn hoá xã hội, thấy được cơ chế tác động qua lại giữa xã hội

và văn học

Trang 37

Chương 2 QUYỀN LỰC, TRI THỨC PHƯƠNG TÂY

VÀ SỰ XUẤT HIỆN DIỄN NGÔN MỚI VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ

2.1 Những điều kiện mới của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX ảnh hưởng tới chủ thể thuộc địa

2.1.1 Ảnh hưởng của văn minh phương Tây với chủ nghĩa nhân văn và tinh thần

tự do, dân chủ

Cuối thế kỷ XIX, khi chủ nghĩa tư bản trở thành một hệ thống thế giới, vănminh phương Tây thời cận đại đã nhanh chóng phát triển và định hình thành nhữngđặc trưng cơ bản của nó Trong đó, phải kể đến chủ nghĩa nhân văn đề cao quyền conngười và tinh thần tự do, dân chủ được đặt nền móng từ phong trào phong trào Khaisáng (Enlightment) thế kỷ XVIII ở Tây Âu Đây là một trào lưu tư tưởng tiến bộ nhằmđánh đổ thần quyền và chủ nghĩa phong kiến, cổ vũ cho lý trí và khoa học, nhân đạo

và tự do, nhân quyền và tiến bộ, mở ra con đường cho nhân loại tiến đến văn minh trêntất cả các lĩnh vực xã hội, chính trị, văn hóa, tôn giáo, khoa học

Nhà Khai sáng nổi tiếng thường được nhắc đến hết là Montesquie (1689 - 1755)

với tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật Qua tác phẩm này, Montesquie đã xây dựng

trật tự, quy luật chung của luật pháp ở tất cả các dân tộc thuộc mọi thời đại với chủtrương phân quyền thế lực quốc gia (lập pháp, hành pháp, tư pháp) để bảo vệ quyền tự

do của con người và xây dựng một xã hội mới không có áp bức, bất công, có khả năngđem lại tự do cho mọi người và hòa bình cho nhân loại Bên cạnh Montesquie,Voltaire nổi tiếng là nhà tư tưởng của thời kỳ Khai sáng đấu tranh cho tự do cá nhân.Ông đả kích chế độ cường quyền của vua và giáo lý nhà thờ, bởi đây là nguyên nhângây trở ngại cho sự phát triển đúng hướng của con người Ông đề ra nguyên tắc tự do –bình đẳng – sở hữu và ủng hộ nền chính trị cộng hòa là sự đảm bảo tốt nhất cho 3

nguyên tắc trên Ngoài ra, không thể không nhắc đến tác phẩm Bàn về khế ước xã hội

của Rousseau với tinh thần đề cao tự do, dân chủ và bình đẳng trong xã hội Rousseauchủ trương xây dựng nhà nước, trong đó quyền lực chính trị được trao cho chínhquyền – những công bộc của dân – để điều hành đất nước theo nguyện vọng và ý chítập thể trên những nguyên tắc đã thống nhất Cuối cùng là sự cần thiết phải đề cập đến

công trình Về nguồn gốc muôn loài (1859) với thuyết tiến hóa của Charles Darwin.

Thuyết tiến hóa giải thích sự hình thành chủng loại là kết quả của cạnh tranh sinh tồn

Trang 38

giữa các cá thể sinh vật trong một môi trường với tài nguyên hạn chế Kết quả là chỉnhững cá thể mạnh nhất, thích nghi dễ dàng với môi trường sống mới có thể tồn tạiđược Quy luật cạnh tranh sinh tồn, mạnh được yếu thua của thuyết tiến hóa này có tácdụng cảnh tỉnh các dân tộc chậm tiến trước nguy cơ mất nước và diệt vong Như vậy,phong trào Khai sáng thế kỷ XVIII ở Tây Âu đã đặt nền móng cho chủ nghĩa nhânvăn, chủ nghĩa duy lý và tự do cá nhân ở phương Tây Triết học Ánh sáng coi conngười với tư cách là một chủ thể văn hóa, được đối xử tôn trọng, với tư cách công dân,

là chủ thể của mọi chính sách cai trị, có quyền lựa chọn nhà cầm quyền Tinh thầnKhai sáng của Tây Âu cũng từng được người Việt tiếp cận qua trào lưu cải cách ởNhật dẫn đến sự ra đời của phong trào Duy tân đầu thế kỷ XX của Phan Chu Trinh(1872 – 1926) với phương châm “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, tức làcanh tân đất nước dựa trên sự học hỏi kiến thức, kỹ thuật mới của phương Tây với tinhthần tự chủ, tự cường để đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh

Kế thừa truyền thống dân chủ từ thời Hy Lạp cổ đại, chủ nghĩa nhân văn và tưtưởng tự do, dân chủ của các nhà Khai sáng thế kỷ XVIII, giai cấp tư sản đã giươngcao ngọn cờ “tự do, bình đẳng, bác ái” lật đổ chế độ phong kiến, xác lập chế độ tư bản,

mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển Tư tưởng dân quyền và nhân quyền của

phong trào cách mạng tư sản được thể hiện tập trung và tiêu biểu ở Tuyên ngôn Độc

lập của Mỹ và ở Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền trong Cách mạng tư sản Pháp.

Bên cạnh đó, việc áp dụng nguyên tắc về sự phân lập quyền lực trong tổ chức bộ máynhà nước dựa trên tư tưởng của Montesquieu, nhà khai sáng Pháp, đã giúp duy trì trật

tự xã hội một cách công bằng và bình đẳng Ngoài ra, việc xây dựng một nền văn hóa

và giáo dục phát triển đã chuẩn bị cho trẻ em sau khi trưởng thành có đủ trình độ vànăng lực để đảm nhận việc quản lý nhà nước và quản lý nền sản xuất hiện đại Cuốicùng là nền văn minh công nghiệp đã đem lại cho phương Tây một nguồn lực kinh tếmạnh mẽ

Trong khi đó, phương Đông do chịu ảnh hưởng của Nho giáo trong thời gian dài,trở nên lạc hậu, kém phát triển và trở thành đối tượng bị xâm lược, thống trị bởi chủ nghĩathực dân phương Tây Bước vào thế kỷ cạnh tranh toàn cầu, nguyên nhân chủ yếukhiến Việt Nam rơi vào tình trạng thuộc địa, chính là sự áp đảo của văn minh phươngTây đối với phương Đông trên mọi phương diện của đời sống, sự mất địa vị của triếthọc Nho – Phật – Đạo trước chủ nghĩa Duy vật, chủ nghĩa Phục hưng, triết học Ánhsáng Tư tưởng chuộng đức hơn chuộng tài cũng là một trong nguyên nhân dẫn tới sự

Trang 39

trì trệ của xã hội phương Đông Xuất phát từ phương thức tư duy cầu tính, tổng hợp,văn minh phương Đông yếu về khoa học kỹ thuật, ít chú trọng thực nghiệm, khiến chođời sống vật chất ngày càng trở nên lạc hậu so với phương Tây Quy luật “mạnh được,yếu thua” đã quyết định hệ tri thức đang chiếm ưu thế của phương Tây trở thành dòngchủ lưu: “Các nước Âu Mỹ đều khai hóa hết sức muộn màng, nhưng tiến bộ lại cực kỳnhanh chóng Một trăm năm trở lại đây, họ có nhiều bước tiến nhảy vọt về học thuật,chính trị, giáo hóa, phong tục, không mặt nào thua người, mà lại vươn lên hàng đầu Họ

tự cho là chủ nhân của thế giới” [142, tr.475] Sách vở thánh hiền đã mất hết tác dụngtrước sức mạnh của khoa học kỹ thuật phương Tây với đạn dược, tàu đồng, đại bác Lốihọc hành, thi cử nặng nề về hình thức, trọng hư danh, phù phiếm của Nho giáo đã bộc lộ

rõ tất cả sự yếu kém và lép vế trước nền học thuật thực dụng và hiện đại của phươngTây Truyền thống trọng văn hơn võ của chế độ phong kiến kéo dài đã khiến quốc dântính trở nên bạc nhược, thiếu sức mạnh võ dũng Sức mạnh của văn minh phương Tây

đã khiến các nhà nho thức tỉnh, Phan Bội Châu viết Lưu cầu huyết lệ tân thư (1903) kêu

gọi đổi mới, phá bỏ khoa cử để chấn hưng tân học: “Dạy cho họ cái học hữu dụng và bỏ

cái học hư văn … phụ thêm cái việc học của thái Tây” (Phan Bội Châu toàn tập, tập 1,

1990, tr.30) Có thể nói một phương Đông tâm linh đã thất bại trước một phương Tâykhoa học và thế tục Đến giữa thế kỷ XIX, thực dân phương Tây đã cơ bản xâm chiếmxong các nước châu Á Năm 1858, Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam Khi chiến tranhthế giới thứ nhất kết thúc, 85% lãnh thổ thế giới thuộc châu Âu

Sau khi phong trào Cần Vương thất bại và cuộc khởi nghĩa Yên Thế kéo dài sau

đó cũng bị dập tắt, thực dân Pháp đã hoàn thành việc bình định và đặt ách thống trị lêntoàn cõi Việt Nam Chính sách cai trị cùng với chương trình khai thác thuộc địa củathực dân Pháp đã làm biến đổi sâu sắc cơ cấu xã hội Việt Nam với những thay đổi lớn

về chính trị, kinh tế, giáo dục và văn hóa Do sự xâm nhập ngày càng mạnh mẽ củaquan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp

mà nền sản xuất trong nước đã có những biến đổi sâu sắc Một số ngành công nghiệp

ra đời như khai thác mỏ, giao thông vận tải… Sự phân hoá rõ rệt và sâu sắc trong xãhội đã tạo nên một cơ cấu giai cấp mới Ngoài giai cấp địa chủ và nông dân, bắt đầuxuất hiện các giai cấp khác là công nhân, tư sản, tiểu tư sản thành thị Các thiết chếvăn hóa, giáo dục đều dần dần được tổ chức theo mô hình của phương Tây

Có thể nói chủ nghĩa thực dân phương Tây đã tạo ra một cuộc va đập dữ dộitrong đời sống tinh thần của giới trí thức nhà nho Những giá trị cổ truyền bị xem xét,cân nhắc và bị đặt lại đồng loạt Trong bối cảnh đó, vấn đề đấu tranh giành độc lập và

Trang 40

xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc trở thành nhiệm vụ hàng đầu đặt lên vai tầng lớp tríthức bản địa Nguyễn Trường Tộ (1828 – 1871), một học giả lớn cuối thế kỷ XIX, làngười trực tiếp tiếp xúc với sách báo, thực tế phương Tây và am hiểu cả hai nền vănhóa Đông – Tây, đã dâng bản điều trần cho vua nhà Nguyễn Bản điều trần củaNguyễn Trường Tộ đã giúp các nhà đổi mới thấy được: “1 Thực tế Việt Nam; 2.Những cản trở gây nên bởi bệnh sách vở; 3 Nhân cách Việt Nam; 4 Những biện phápđổi mới” [74, tr.43] Trong các biện pháp mà Nguyễn Trường Tộ đề ra, trước hết làthay đổi chế độ giáo dục, khuyến khích tinh thần khoa học bằng cách dạy các môn họctạo nên sự hùng mạnh của châu Âu như kinh tế học, chính trị, lịch sử, các khoa họcứng dụng, đặc biệt là pháo binh và kỹ thuật quân sự Những điều trần của Nguyễn

Trường Tộ được Nguyễn Lộ Trạch (1852 – 1895) kế thừa với các tác phẩm như Thời

vụ sách (1882), Thiên hạ đại thế luận (1892) Văn minh phương Tây qua tân thư, tân

văn và rộng hơn là phong trào cải cách của các nước Á Đông mà tiêu biểu là TrungQuốc và Nhật Bản là tham chiếu đáng kể cho nhận thức thúc đẩy hành động cứunước của những người yêu nước Việt Nam Tân thư, tân văn là những sách báophương Tây được Nhật Bản dịch thuật do nhu cầu mở cửa, thông thương mạnh mẽcủa đất nước, rồi qua người Trung Quốc truyền vào Việt Nam bằng tiếng Hán.Người ta gọi đó là “tân thư”, tức sách mới, đối lập với loại sách Tống Nho quenthuộc, gọi là sách cũ Sau Nha phiến chiến tranh (1840), Trung Hoa nhận thức sâusắc nguy cơ mất nước trước dã tâm xâm lược của phương Tây Các nhà trí thứcTrung Hoa, do chỗ tiếp xúc nhiều với phương Tây, đặc biệt qua các bản dịch củaNhật mà người Trung Quốc có thể đọc dễ dàng, bắt đầu nhận thấy ưu thế củaphương Tây trước hết là ở tư tưởng, chứ không chỉ ở vũ khí Tăng Quốc Phiên,Trương Chi Động tiếp thu khẩu hiệu: “Đông học vi thể, Tây học vi dụng” tức là

“Tinh thần Trung Hoa, kỹ thuật phương Tây” Phương Đông muốn sống phải Âuhóa hệ tư tưởng của mình và để tạo nên sự kết hợp phải lấy phương Tây làm chuẩn.Người cầm đầu phong trào này là Khang Hữu Vi (1858 – 1927), nhưng người cóảnh hưởng lớn nhất ở Việt Nam là Lương Khải Siêu (1873 – 1929) Ngoài ra còn cótân thư, tân văn do người Nhật Bản và Trung Quốc viết với những tác phẩm mởmang hiểu biết cho người đọc về địa lý, kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật ở cácvùng đất phát triển trên thế giới của Lương Khải Siêu, Takayama Rinjiro (1897)…Vào đầu thế kỷ XX, các sách vở về cải cách đổi mới nhập vào Việt Nam rất đềuđặn khiến cho các nhà nho trước đây vốn chỉ biết có văn chương cử tử, bây giờ biết

Ngày đăng: 15/12/2022, 18:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Bội Châu (2001), “Hải ngoại huyết thư’, “Tân Việt Nam”, Phan Bội Châu toàn tập (tập 2), Nxb Thuận hóa - Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hải ngoại huyết thư’, “Tân Việt Nam”, "Phan Bội Châu toàntập
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Thuận hóa - Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2001
2. Phan Bội Châu (2001), “Việt Nam quốc sử khảo”, Phan Bội Châu toàn tập (tập 3), Nxb Thuận hóa - Trung tâm ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam quốc sử khảo”, "Phan Bội Châu toàn tập
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Thuận hóa - Trung tâm ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2001
3. Phan Bội Châu (1958), Việt Nam vong quốc sử, Nxb Văn sử địa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam vong quốc sử
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Văn sử địa
Năm: 1958
4. Phan Bội Châu (1990), Phan Bội Châu toàn tập, tập 1, Chương Thâu (sưu tầm, biên soạn), Nxb Thuận Hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Bội Châu toàn tập
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 1990
5. Phan Bội Châu (1990), Phan Bội Châu toàn tập, tập 2, Chương Thâu (sưu tầm, biên soạn), Nxb Thuận Hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Bội Châu toàn tập
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 1990
6. Phan Bội Châu (1990), Phan Bội Châu toàn tập, tập 3, Chương Thâu (sưu tầm, biên soạn), Nxb Thuận Hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Bội Châu toàn tập
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 1990
7. Phan Bội Châu (1990), Phan Bội Châu toàn tập, tập 4, Chương Thâu (sưu tầm, biên soạn), Nxb Thuận Hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Bội Châu toàn tập
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 1990
8. Phan Bội Châu (1990), Phan Bội Châu toàn tập, tập 5, Chương Thâu (sưu tầm, biên soạn), Nxb Thuận Hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Bội Châu toàn tập
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 1990
9. Phan Bội Châu (1990), Phan Bội Châu toàn tập, tập 6, Chương Thâu (sưu tầm, biên soạn), Nxb Thuận Hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Bội Châu toàn tập
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 1990
10. Phan Bội Châu (1990), Phan Bội Châu toàn tập, tập 7, Chương Thâu (sưu tầm, biên soạn), Nxb Thuận Hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Bội Châu toàn tập
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 1990
11. Phan Bội Châu (1990), Phan Bội Châu toàn tập, tập 8, Chương Thâu (sưu tầm, biên soạn), Nxb Thuận Hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Bội Châu toàn tập
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 1990
12. Phan Bội Châu (1990), Phan Bội Châu toàn tập, tập 9, Chương Thâu (sưu tầm, biên soạn), Nxb Thuận Hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Bội Châu toàn tập
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 1990
13. Phan Bội Châu (2020), Vấn đề phụ nữ ở nước ta, Đoàn Ánh Dương (giới thiệu và tuyển chọn), Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phụ nữ ở nước ta
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2020
14. Tản Đà (1986), Tuyển tập Tản Đà, (Xuân Diệu giới thiệu, Nguyễn Khắc Xương sưu tầm, chú thích), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Tản Đà
Tác giả: Tản Đà
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1986
15. Nguyên Hồng (2008), Tuyển tập Nguyên Hồng, (tập 1), Phan Cự Đệ biên soạn và giới thiệu, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Nguyên Hồng
Tác giả: Nguyên Hồng
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2008
16. Nguyên Hồng (2008), Tuyển tập Nguyên Hồng, (tập 2), Phan Cự đệ biên soạn và giới thiệu, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Nguyên Hồng
Tác giả: Nguyên Hồng
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2008
17. Khái Hưng (1999), Hồn bướm mơ tiên, tái bản, Nxb Văn nghệ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồn bướm mơ tiên
Tác giả: Khái Hưng
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 1999
19. Khái Hưng (2018), Nửa chừng xuân, tái bản, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa chừng xuân
Tác giả: Khái Hưng
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2018
20. Khái Hưng, Nhất Linh (2017), Gánh hàng hoa, tái bản, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gánh hàng hoa
Tác giả: Khái Hưng, Nhất Linh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2017
21. Nhất Linh (2006), Lạnh lùng, tái bản, Nxb Văn hóa Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạnh lùng
Tác giả: Nhất Linh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Sài Gòn
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w