BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNGLUẬN VĂN THẠC SỸ TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH COVID-19 ĐẾN HOẠT ĐỘNG CHUỖI CUNG ỨNG HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC Ngành: Quản tr
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ
TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH COVID-19 ĐẾN HOẠT ĐỘNG CHUỖI CUNG ỨNG HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM
VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
Ngành: Quản trị kinh doanh
NGUYỄN KIM CHI
Hà Nội - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đề tài luận án “Tác động của dịch Covid-19 đến hoạt động
chuỗi cung ứng hàng Dệt may Việt Nam và các giải pháp khắc phục” là công
trình nghiên cứu độc lập của tác giả Công trình nghiên cứu và học tập tại TrườngĐại học Ngoại thương
Các tài liệu, số liệu mà tác giả sử dụng có nguồn trích dẫn hợp lí, không vi phạmquy định của pháp luật
Tác giả xin cam đoan những điều trên là đúng sự thật, nếu sai, tác giả hoàn toàn xinchịu trách nhiệm
Tác giả luận văn
Nguyễn Kim Chi
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH v
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH COVID 19 ĐẾN
CHUỖI CUNG ỨNG DỆT MAY 6
1.1 Tổng quan về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng 6
1.1.1 Định nghĩa chuỗi cung ứng 6
1.1.2 Cấu trúc chuỗi cung ứng 9
1.1.3 Mục tiêu của chuỗi cung ứng 14
1.1.4 Tổng quan về Quản trị chuỗi cung ứng 16
1.2 Chuỗi cung ứng ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi cung ứng dệt may toàn cầu 22
1.3 Tổng quan về tác động của dịch Covid 19 đến chuỗi cung ứng dệt may.26 1.3.1 Các mô hình lý thuyết về tác động của dịch Covid 19 đến chuỗi cung ứng 26
1.3.2 xuất Đề mô hình nghiên cứu 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH COVID-19 ĐẾN HOẠT ĐỘNG CHUỖI CUNG ỨNG HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 33
2.1 Khái quát về sự phát triển ngành Dệt may Việt Nam 33
2.1.1 thế Vị của ngành Dệt may Việt Nam trong nền kinh tế 33
2.1.2 Mức cạnh tranh của ngành Dệt may tại Việt Nam 36
2.2 Tình hình dịch Covid trên thế giới 42
2.3 Tác động của dịch Covid đến nền kinh tế thế giới và ngành dệt may 43
2.3.1 Tổng quan biến động thị trường thế giới 43
2.3.2 gãy Đứt các chuỗi cung ứng toàn cầu 46
Trang 52.3.3 Tác động dịch Covid đến ngành Dệt may thế giới 48
2.4 Hoạt động chuỗi cung ứng Dệt may dưới tác động của dịch Covid-19 52
2.4.1 hình Sự thành và phát triển dịch Covid-19 ở Việt Nam 52
2.4.2 Chuỗi cung ứng hàng Dệt may Việt Nam trong thời gian qua 56
2.5 Đánh giá tác động của dịch Covid-19 đến chuỗi cung ứng hàng Dệt may Việt Nam 70
2.5.1 Những tác động tích cực 70
2.5.2 Những tác động tiêu cực và nguyên nhân 72
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC VÀ HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA DỊCH COVID-19 ĐẾN HOẠT ĐỘNG CHUỖI CUNG ỨNG DỆT MAY TRONG THỜI GIAN QUA 80
3.1 Triển vọng nền kinh tế thế giới 80
3.2 Định hướng & mục tiêu phát triển chuỗi cung ứng hàng Dệt may Việt Nam trong giai đoạn tới 86
3.3 Một số giải pháp khắc phục và hạn chế tác động tiêu cực của dịch Covid 19 đến hoạt động chuỗi cung ứng và xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam trong giai đoạn tới 89
3.3.1 Một số rủi ro đối với tăng trưởng toàn cầu 89
3.3.2 xuất Đề giải pháp 91
3.3.3 Kiến nghị với Nhà nước 93
3.3.4 Kiến nghị đối với Doanh nghiệp 96
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Giá trị xuất khẩu của các DN FDI trong Công nghiệp hỗ trợ ngành dệt
may Việt Nam 35
Bảng 2.2 Kim ngạch nhập khẩu dệt may thế giới Quý 1/2020 49
Bảng 2.3 Kim ngạch nhập khẩu dệt may thế giới Quý 3 & 4/2020 50
Bảng 2.4 Kim ngạch nhập khẩu bông của Việt Nam 2019 59
Bảng 2.5 Kim ngạch nhập khẩu bông từ thị trường Mỹ giai đoạn 2015 – 2020 60
Bảng 2.6 Kim ngạch xuất nhập khẩu sợi dệt 2015 – 2020 61
Bảng 2.7 Kim ngạch xuất khẩu sợi Việt Nam lũy kế 8T/2015 – 2020 62
Bảng 2.8 Kim ngạch nhập khẩu vải giai đoạn 2015 -2019 64
Bảng 2.9 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam theo khu vực 2018-2019 67 Bảng 2.10 Kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam theo khu vực lũy kế 8T/2018 – 2020 .67
Bảng 3.1 Dự báo tăng trưởng toàn cầu của các tổ chức quốc tế 82
DANH MỤC BIỂU Biểu 1.1 Những sự kiện lịch sử về Quản trị chuỗi cung ứng 16
Biểu 2.1 Kim ngạch xuất khẩu Dệt may VN 2015-2020 34
Biểu 2.2 Số ca mắc và tử vong của các khu vực trên thế giới tính đến 0h ngày 31/12/20 43
Biểu 2.3 Kim ngạch nhập khẩu dệt may thế giới Quý 1/ 2020 (đv: nghìn USD) 49
Biểu 2.4 Kim ngạch nhập khẩu 6 tháng cuối năm 2020 (đv: nghìn USD) 50
Biểu 2.5 Cơ cấu nhập khẩu bông của Việt Nam 2019 59
Biểu 2.6 Tổng giá trị nhập khẩu bông và từ thị trường Mỹ 60
Biểu 2.7 Kim ngạch xuất nhập khẩu sợi dệt 2015 - 8T/2020 61
Biểu 2.8 Giá trị xuất nhập khẩu sợi của Việt Nam lũy kế 8T/2020 62
Biểu 2.9 Kim ngạch nhập khẩu vải 2015-2019 65
Biểu 2.10 Kim ngạch xuất khẩu dệt may theo khu vực lũy kế 8T/2018-2020 68
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Chuỗi cung ứng điển hình 8
Hình 1.2 Cấu trúc chuỗi cung ứng 10
Hình 1.3 Các hoạt động trong một chuỗi cung ứng 12
Hình 1.4 Chuỗi cung ứng cũ và mới 13
Hình 1.5 Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu 24
Hình 1.6 Giá trị gia tăng của chuỗi giá trị dệt may 25
Hình 1.7 Mô hình nghiên cứu của Harun Demirci 26
Hình 1.8 Mô hình nghiên cứu của Märta Stammarnäs 27
Hình 1.9 Mô hình nghiên cứu của Halil Garcevic & Erik Lidberg 28
Hình 1.10 Mô hình nghiên cứu tác giả đề xuất 29
Hình 2.1 Chuỗi cung ứng ngành 56
Hình 2.2 Các thị trường xuất nhập khẩu chính của ngành dệt may Việt Nam 2019 58
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
EVFTA Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU
CPTPP Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình
Dương
ĐHQGHN Đại học quốc giá Hà Nội
VCCI Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
VASI Hiệp hội công nghiệp hỗ trợ Việt Nam
FR Tổ chức xếp hạng tín dụng quốc tế Fitch Ratings
RCEP Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực
UNCTAD Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển
Trang 9TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngành dệt may Việt Nam là ngành chủ lực trong xuất khẩu, đứng thứ 2 trongtop 10 nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất Việt Nam với 90% sản phẩm dệt may Việtnam dùng để xuất khẩu Việt Nam đứng thứ 3 về xuất khẩu hàng dệt may chỉ sauTrung Quốc và Bangladesh
EVFTA và CPTPP đều là các hiệp định kỳ vọng sẽ mang lại thuận lợi cho sựphát triển của Việt Nam khi EU cũng như các nước thành viên trong hau Hiệp định
là các thị trường xuất khẩu tiềm năng cho hàng dệt may Việt Đáng chú ý, EU là thịtrường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới, thị phần của Việt Nam trên thịtrường này có tiềm năng tăng trưởng Tuy nhiên, quy tắc xuất xứ từ vải trở đi củaEVFTA và từ sợi trở đi của CPTPP sẽ làm khó các doanh nghiệp Việt Nam khi cácnguyên phụ liệu có xuất xứ trong nước chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ, hầu hết phụ thuộcvào nhập khẩu từ các thị trường không thuộc các nước trong hai Hiệp định Với bốicảnh như hiện nay, các doanh nghiệp trong ngành đang cấp thiết hoàn thiện pháttriển các giai đoạn sản xuất để thoát phụ thuộc vào nhập khẩu, nâng cao lợi nhuậncủa ngành và đạt điều kiện để hưởng lợi từ EVFTA và CPTPP
Ngành Dệt may là một trong số các ngành chịu ảnh hưởng nặng nề của dịchCovid-19 Chuỗi cung ứng nguyên liệu đầu vào bị gián đoạn, các thị trường nhậpkhẩu phải đóng cửa do thực hiện phong tỏa xã hội để phòng chống dịch bệnh, nhucầu tiêu thụ sản phẩm giảm là những khó khăn mà Ngành phải đối mặt trong năm
2020 Với mục đích đưa ra một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt maytrong thời kỳ dịch bệnh, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Tác động của dịch Covid-19đến hoạt động chuỗi cung ứng hàng Dệt may Việt Nam và các giải pháp khắc phục”làm đề tài cho Luận văn cao học của mình
Trong chương 1, Luận văn trình bày cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng, quản trịchuỗi cung ứng, tổng quan về tác động dịch Covid-19 đến chuỗi cung ứng dệt may.Trong chương 2, Luận văn khái quát sự phát triển của ngành Dệt may ViệtNam, tác động của dịch Covid 19 đến nền kinh tế thế giới và ngành dệt may, hoạtđộng của chuỗi cung ứng dệt may dưới tác động của dịch Covid-19 đồng thời đánhgiá tác động của dịch đến sự phát triển của ngành Trọng tâm của Chương 2 là thực
Trang 10trạng tác động tích cực cũng như tiêu cực của ngành Dệt may trong thời kỳ dịchbệnh dựa trên các phân tích, số liệu thống kê ngành trong thời gian qua.
Tại Chương 3, Luận văn đã nêu rõ triển vọng của ngành dệt may Việt Nam,định hướng & mục tiêu phát triển chuỗi cung ứng ngành trong giai đoạn tới, và đềxuất các giải pháp đẩy khắc phục và hạn chế tác động tiêu cực của dịch đến hoạtđộng chuỗi cung ứng hàng dệt may Việt Nam trong giai đoạn Covid-19
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dệt may hiện nay là mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam và có tốc độtăng trưởng cao qua các năm Sản phẩm dệt may của Việt Nam hiện đã có mặt tạihơn 180 quốc gia trên thế giới, thiết lập được vị thế trên thị trường quốc tế, có thịphần đứng thứ hai tại những thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản Ngày11/1/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thươngmại thế giới (WTO) Sau hơn 13 năm hội nhập, hàng dệt may Việt Nam, cùng với
sự phát triển chung của các mặt hàng khác trong cả nước cũng có sự chuyển biếnlinh hoạt thích ứng với điều kiện mới Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam có điềukiện hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triểnkinh tế và đẩy mạnh sản xuất Với gần 2,5 triệu lao động, ngành đang giải quyết gần5% tổng số lao động cả nước và đóng góp 12,4% vào tổng kim ngạch xuất khẩunăm 2019 của Việt Nam Dệt may là mặt hàng xuất khẩu chủ lực thứ hai với giá trịgần gấp đôi giá trị xuất khẩu hàng nông sản
Trong bối cảnh đó, dịch Covid-19 đang là nhân tố chính ảnh hưởng đến tìnhhình kinh tế thế giới và trong nước Từ ngày 8/12/2019, sự bùng phát của dịchCovid-19 tại Trung Quốc đã và đang tác động rất lớn tới kinh tế toàn cầu Ngày11/3/2020, WHO đã chính thức tuyên bố Covid-19 là đại dịch toàn cầu Đến nay,khi dịch tại Trung Quốc tạm lắng xuống, thế giới lại phải hứng chịu làn sóng bùngphát của dịch giai đoạn hai, thậm chí còn tác động mạnh hơn so với gia đoạn đầu.Đặc biệt, từ cuối tháng 2/2020, dịch có diễn biến khó lường, nhiều nền kinh tế hàngđầu đã trở thành ổ dịch mới và có diễn biến rất phức tạp Nhiều quốc gia, thành phốphải áp dụng quyết liệt các biện pháp cách ly, phong tỏa khiến nhiều hoạt động kinh
tế bị đình trệ Các tổ chức và chuyên gia y tế đều chưa xác định được khi nào dịchbệnh sẽ được kiểm soát và kết thúc Có thể thấy mức độ ảnh hưởng của dịch bệnhvẫn tiếp tục trầm trọng làm gián đoạn chuỗi cung ứng, sản xuất và tiêu thụ toàn cầu.Tác động của đại dịch Covid-19 đối với thương mại thế giới diễn ra ở cả mặttổng cung và tổng cầu Các hoạt động kinh tế-xã hội bị ngưng trệ do các lệnh phongtỏa, cách ly, hạn chế đi lại, phòng chữa bệnh, quá trình sản xuất kinh doanh bị gián
Trang 12đoạn do thiếu hụt nguồn cung đầu vào cũng như bị "đóng băng" hoặc suy giảmmạnh đầu ra do sức cầu rất yếu Suy thoái kinh tế cũng khiến tổng cầu hàng hóadịch vụ giảm mạnh, ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của nhiều nước WTO(8/4/2020) dự báo thương mại toàn cầu năm 2020 sụt giảm khoảng 13-32% so vớinăm trước, tùy mức độ và diễn biến dịch bệnh, do dịch bệnh ảnh hưởng nghiêmtrọng đến hoạt động kinh tế và đời sống của người dân.
Chịu tác động nghiêm trọng từ đại dịch COVID-19, ngành dệt may đã chứngkiến sự gián đoạn chưa từng có đối với hoạt động và các chuỗi cung ứng của ngành.Trên toàn cầu, hàng ngàn nhà máy và cửa hàng đã đóng cửa Hiện tại, một số doanhnghiệp đang mở cửa trở lại, nhưng hàng triệu lao động vẫn đang trong tình cảnh bấpbênh Trong khi đó, tại Việt Nam, ngành dệt may cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọngbởi đại dịch với tổng giá trị xuất khẩu trong năm 2020 giảm 9,25% so với năm 2019.Với mục đích đưa ra một số giải pháp để đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may
trong thời kỳ dịch bệnh, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Tác động của dịch Covid-19
đến hoạt động chuỗi cung ứng hàng Dệt may Việt Nam và các giải pháp khắc phục” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ Quản trị kinh doanh.
2 Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, các vấn đề liên quan đến tình hình dịch Covid vẫn là đề tài rấtnóng trên thế giới và cả ở Việt Nam Đã có rất nhiều bài phân tích về ảnh hưởng củadịch Covid đến tình hình kinh tế nói chung và ngành dệt may nói riêng Thuật ngữ
“chuỗi giá trị toàn cầu” được khởi xướng bởi Michael Porter vào những năm 90 củathế kỷ 20 Đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề này như DukeUniversity, Raphael Kaplinski, Michael Hugos.… và còn nhiều đề tài khác đangđược nghiên cứu
Tại Việt Nam, cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu của nhiều tổchức, tác giả Mỗi nghiên cứu tiếp cận vấn đề này ở khía cạnh nghiên cứu, phạm vi
và đối tượng nghiên cứu khác nhau đã đưa ra được cơ sở lý luận khá đầy đủ vềchuỗi giá trị và các nhân tố ảnh hưởng.“Quản lý chuỗi cung ứng” của tác giảNguyễn Công Bình, Nhà xuất bản Thống kê năm 2008; “Quản lý chuỗi cung ứng”của tác giả Nguyễn Kim Anh, trường Đại học Mở bán công TP Hồ Chí Minh;
Trang 13“Tinh hoa Quản trị chuỗi cung ứng” của dịch giả Cao Hồng Đức, Nhà xuất bản TP.
Hồ Chí Minh năm 2010; “Những giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quảngành may Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Thu Phương, NXB Khoa học kỹ thuậtnăm 2000; bài viết “Ngành dệt may Việt Nam: giá trị gia tăng và chiến lược pháttriển” nằm trong dự án hợp tác giữa Tổ chức Hợp tác quốc tế của Nhật Bản (JICA)
và Trường Đại học kinh tế quốc dân năm 2004; “Tiếp cận chuỗi giá trị cho việcnâng cấp ngành dệt may Việt Nam” của nhóm tác giả trường Đại học Kinh tế, Đạihọc Đà Nẵng trong Tạp chí Khoa học và công nghệ của Đại học Đà Nẵng số 2 (37),2010…
Ngoài ra còn có nhiều bài báo, hội thảo khoa học về dệt may “Báo cáo ngànhdệt may” của FPTS tổng hợp năm 2017; “Nhìn lại năm 2020 qua biến cố Covid-19”của tác giả Nguyễn Sơn & Hoàng Hà, Báo Nhân dân 2020; “Ngành dệt may thế giới
và Việt Nam 3 tháng đầu năm 2020” của tác giả Hồng Hạnh, Tạp chí số tháng
4/2020; “Chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may của Việt Nam: những bất lợi, khó khăn và
biện pháp đối phó”, của PGS, TS Hà Văn Hội, tạp chí Khoa học ĐHQGHN tháng 8năm 2012; “Ngành dệt may Việt Nam trong bối cảnh thực hiện Hiệp định Đối tácxuyên Thái Bình Dương TPP”, tác giả Phạm Minh Đức, Hội thảo VCCI tại Hà Nội,Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng tháng 8 năm 2014; “Cơ hội và thách thức đốivới dệt may Việt Nam”, tác giả Trần Hồng Trang 3 Quang và Nguyễn Quốc Trườngđăng trong Kỷ yếu hội thảo quốc tế: Gia nhập TPP cơ hội và thách thức đối với ViệtNam và ASEAN tháng 3 năm 2014; Trần Thị Thùy Linh (2015), Tạp chí tài chính
Có rất nhiều bài phân tích sự ảnh hưởng của dịch Covid đối ngành dệt may ViệtNam trong các cuộc hội thảo, tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu sâu nào vềtác động của dịch Covid-19 đến chuỗi cung ứng Dệt may Việt Nam Đề tài nghiên
cứu “Tác động của dịch Covid-19 đến hoạt động chuỗi cung ứng hàng Dệt may
Việt Nam và các giải pháp khắc phục” sẽ góp phần làm rõ tình hình phát triển
ngành trong giai đoạn dịch bệnh, góp phần tăng giá trị xuất khẩu, tăng giá trị trongnền kinh tế quốc dân cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về chuỗi cung ứng, quản trị chuỗi
Trang 14cung ứng nói chung và đối với sản phẩm dệt may nói riêng.
- Đánh giá tác động của dịch Covid 19 đến chuỗi cung ứng hàng dệt may ViệtNam trong thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần khắc phục và hạn chế tácđộng tiêu cực của dịch Covid 19 đến hoạt động chuỗi cung ứng Dệt may trongthời gian tới
4 Đối tượng & phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Luận văn tốt nghiệp tập trung nghiên cứu tác động của Covid 19 đếnhoạt động chuỗi cung ứng hàng Dệt may Việt Nam và các giải pháp đẩy mạnhhoạt động chuỗi cung ứng và xuất khẩu hàng Dệt may Việt Nam trong thời giantới
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích: phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức từ đóthấy rõ tình hình hiện tại
- Phương pháp thống kê: Thống kê so sánh sản lượng xuất khẩu…
- Phương pháp logic: Tổng hợp, đánh giá về thực trạng của chuỗi cung ứng, sảnlượng xuất khẩu, các khó khăn trong thời kỳ dịch bệnh để từ đó đưa ra các giảipháp dựa trên cơ sở khoa học và các bài học kinh nghiệm
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phần phụ lục, nộidung của luận văn được chia thành 3 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về tác động của Covid 19 đến chuỗi cung ứng dệt may
Trang 15- Chương 2: Thực trạng tác động của dịch Covid 19 đến hoạt động chuỗi cung ứnghàng dệt may Việt Nam trong thời gian qua.
- Chương 3: Các giải pháp khắc phục và hạn chế tác động tiêu cực của dịch Covid
19 đến hoạt động chuỗi cung ứng hàng dệt may trong thời gian tới
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH COVID 19 ĐẾN
CHUỖI CUNG ỨNG DỆT MAY 1.1 Tổng quan về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng
1.1.1 Định nghĩa chuỗi cung ứng
Cạnh tranh một cách thành công trong bất kỳ môi trường kinh doanh nàohiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp phải tham gia vào công việc kinh doanh của nhàcung cấp cũng như khách hàng của nó Điều này yêu cầu các doanh nghiệp khi đápứng sản phẩm hoặc dịch vụ mà khách hàng cần phải quan tâm sâu sắc hơn đến dòngdịch chuyển nguyên vật liệu, cách thức thiết kế và đóng gói sản phẩm và dịch vụcủa nhà cung cấp, cách thức vận chuyển và bảo quản sản phẩm hoàn thành vànhững điều mà người tiêu dùng hoặc khách hàng cuối cùng thực sự yêu cầu (ví dụnhư có nhiều doanh nghiệp có thể không biết sản phẩm của họ được sử dụng nhưthế nào trọng việc tạo ra sản phẩm cuối cùng mà khách hàng sử dụng) Hơn nữa,trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt ở thị trường toàn cầu hiện nay, việc giới thiệusản phẩm mới với chu kỳ sống ngày càng ngắn hơn, cùng với mức độ kỳ vọng ngàycàng cao của khách hàng đã thúc đẩy các doanh nghiệp phải đầu tư, và tập trungnhiều vào chuỗi cung ứng của nó Điều này, cùng với những tiến bộ liên tục trongcông nghệ truyền thông và vận tải (ví dụ, truyền thông di động, Internet và phânphối hàng qua đêm), đã thúc đẩy sự phát triển không ngừng của chuỗi cung ứng vànhững kỹ thuật để quản lý nó
Trong một chuỗi cung ứng điển hình, nguyên vật liệu được mua ở một hoặcnhiều nhà cung cấp; các bộ phận được sản xuất ở một nhà máy hoặc nhiều hơn, sau
đó được vận chuyển đến nhà kho để lưu trữ ở giai đoạn trung gian và cuối cùng đếnnhà bán lẻ và khách hàng Vì vậy, để giảm thiểu chi phí và cải tiến mức phục vụ,các chiến lược chuỗi cung ứng hiệu quả phải xem xét đến sự tương tác ở các cấp độkhác nhau trong chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng, cũng được xem như mạng lướihậu cần, bao gồm các nhà cung cấp, các trung tâm sản xuất, nhà kho, các trung tâmphân phối, và các cửa hàng bán lẻ, cũng như nguyên vật liệu, tồn kho trong quátrình sản xuất và sản phẩm hoàn thành dịch chuyển giữa các cơ sở
Có rất nhiều định nghĩa về quản trị chuỗi cung ứng
Trang 17 “Chuỗi cung ứng là sự liên kết giữa các công ty chịu trách nhiệm mang sản phẩm hoặc dịch vụ ra thị trường” – (Lambert, Doughlas M., James R.Stock
& M.Ellram, 1998)
“Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các giai đoạn liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc thỏa mãn yêu cầu của khách hàng Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và người phân phối mà còn có cả người vận chuyển, nhà xưởng, người bán lẻ và bản thân khách hàng…” – (Chopra, Sunil &
Peter Meindl, 2003)
“Chuỗi cung ứng là mạng lưới các nhà xưởng và những lựa chọn phân phối những thành phẩm này thành bán thành phẩm và thành phẩm, phân phối những thành phẩm này đến khách hàng.” – (Ganeshan, Ram và Terry P.
Harrison, 1995)
Từ các khái niệm trên về chuỗi cung ứng, ta có thể thấy chuỗi cung ứng là sựhợp tác giữa các doanh nghiệp để đưa sản phẩm và dịch vụ ra thị trường, là một hệthống các tổ chức, con người, hoạt động, thông tin và các nguồn lực liên quan tớiviệc di chuyển sản phẩm hay dịch vụ từ nhà cung cấp hay nhà sản xuất đến ngườitiêu dùng Đây là tập hợp các doanh nghiệp trong một chuỗi từ nhà cung ứngnguyên vật liệu đến nhà sản xuất sản phẩm và phân phối sản phẩm đến người cuốicùng Nói chung, các doanh nghiệp có liên quan đến việc sản xuất và cung ứng sảnphẩm/dịch vụ đến tay người tiêu dùng như nhà cung cấp nguyên vật liệu, nhà lắpráp, nhà bán buôn, nhà bán lẻ, công ty vận chuyển đều là những thành phần củachuỗi cung ứng Đồng thời, những định nghĩa này xem người tiêu dùng cuối cùngcũng là một bộ phận của chuỗi cung ứng Vậy, chuỗi cung ứng bao gồm tất cả cácdoanh nghiệp tham gia, một cách trực tiếp hay gián tiếp, trong việc đáp ứng nhu cầukhách hàng Bên trong mỗi tổ chức, chẳng hạn nhà sản xuất, chuỗi cung ứng baogồm tất cả các chức năng liên quan đến việc nhận và đáp ứng nhu cầu khách hàng.Những chức năng này bao gồm, nhưng không bị hạn chế, phát triển sản phẩm mới,marketing, sản xuất, phân phối, tài chính và dịch vụ khách hàng
Trang 18Hình 1.1 Chuỗi cung ứng điển hình
Khi nghiên cứu hình 1.1, các doanh nghiệp nằm ở khu vực giữa được xemnhư Doanh nghiệp trung tâm Trong khi doanh nghiệp trung tâm được giới thiệu ởphần này và ở cuối chương như là doanh nghiệp lắp ráp sản phẩm cuối cùng, nó cóthể là bất cứ doanh nghiệp nào tham gia trong chuỗi cung ứng, tùy thuộc vào phạm
vi tham chiếu của nhà quản trị khi xem xét mô hình
Tất cả các sản phẩm đến tay người tiêu dùng thông qua một vài hình thứccủa chuỗi cung ứng, có một số thì lớn hơn và một số thì phức tạp hơn rất nhiều Với
ý tưởng chuỗi cung ứng này, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng chỉ có một nguồn tạo
ra lợi nhuận duy nhất cho toàn chuỗi đó là khách hàng cuối cùng Khi các doanhnghiệp riêng lẻ trong chuỗi cung ứng ra các quyết định kinh doanh mà không quantâm đến các thành viên khác trong chuỗi, điều này rốt cuộc dẫn đến giá bán chokhách hàng cuối cùng là rất cao, mức phục vụ chuỗi cung ứng thấp và điều này làmcho nhu cầu khách hàng tiêu dùng cuối cùng trở nên thấp
Có rất nhiều doanh nghiệp khác liên quan một cách gián tiếp đến hầu hết cácchuỗi cung ứng, và họ đóng vai trò quan trọng trong việc phân phối sản phẩm cuốicùng cho khách hàng Họ chính là các nhà cung cấp dịch vụ, chẳng hạn như cáccông ty vận tải đường không và đường bộ, các nhà cung cấp hệ thống thông tin, cáccông ty kinh doanh kho bãi, các hãng môi giới vận tải, các đại lý và các nhà tư vấn.Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ này đặc biệt hữu ích đối với các doanh nghiệp
Trang 19trong đa số chuỗi cung ứng, vì họ có thể mua sản phẩm ở nơi họ cần, cho phépngười mua và người bán giao tiếp một cách hiệu quả, cho phép doanh nghiệp phục
vụ các thị trường xa xôi, giúp các doanh nghiệp tiết kiệm tiền trong vận tải nội địa
và quốc tế, và nói chung cho phép doanh nghiệp phục vụ tốt khách hàng với chi phíthấp nhất có thể
Mục đích then chốt cho sự hiện hữu của bất kỳ chuỗi cung ứng nào là đểthỏa mãn nhu cầu khách hàng, trong tiến trình tạo ra lợi nhuận cho chính nó Cáchoạt động chuỗi cung ứng bắt đầu với đơn đặt hàng của khách hàng và kết thúc khikhách hàng thanh toán đơn đặt hàng của họ Thuật ngữ chuỗi cung ứng gợi nên hìnhảnh sản hẩm hoặc cung cấp dịch chuyển từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất đến nhàphân phối, đến nhà bán lẻ đến khách hàng dọc theo chuỗi cung ứng Điều quantrọng là phải mường tượng dòng thông tin, sản phẩm và tài chính dọc cả hai hướngcủa chuỗi này Trong thực tế, nhà sản xuất có thể nhận nguyên liệu từ vài nhà cungcấp và sau đó cung ứng đến nhà phân phối Vì vậy, đa số các chuỗi cung ứng thực
sự là các mạng lưới
1.1.2 Cấu trúc chuỗi cung ứng
Các đối tượng tham gia vào chuỗi cung ứng:
Hình thức đơn giản nhất: chuỗi cung ứng bao gồm một công ty, các nhà cung ứng
và các khách hàng của công ty đó Đây là những đối tượng cơ bản để tạo thành mộtchuỗi cung ứng cơ bản
Hình thức mở rộng: chuỗi cung ứng còn có thêm ba đối tượng khác như: nhà cungcấp của các nhà cung cấp (hay còn gọi là nhà cung cấp đầu tiên), khách hàng củacác khách hàng (khách hàng cuối cùng) và các công ty cung cấp dịch vụ vềlogistics, tài chính, marketing và công nghệ thông tin,…
Trang 20Hình 1.2 Cấu trúc chuỗi cung ứng
Ngoài ra, chuỗi cung ứng còn có sự kết hợp của các công ty thực hiện các nhiệm vụkhác nhau như:
- Nhà sản xuất (Producers): Là các tổ chức thực hiện nhiệm vụ sản xuất ra sảnphẩm, bao gồm các doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu thô và doanh nghiệpsản xuất thành phẩm Nhà sản xuất có thể sản xuất các sản phẩm vô hình (âmnhạc, giải trí, phần mềm, thiết kế) hoặc các sản phẩm là dịch vụ
- Nhà phân phối/Nhà bán sỉ (Distributors/Wholesalers): Nhà phân phối là nhữngcông ty tồn trữ hàng với số lượng lớn từ nhà sản xuất và phân phối sản phẩm đếnkhách hàng Nhà phân phối cũng được xem là nhà bán sỉ Nhà phân phối bán sảnphẩm cho những nhà kinh doanh khác với số lượng lớn hơn so với khách hàngmua lẻ Do sự biến động nhu cầu về sản phẩm, nhà phân phối tồn trữ hàng hóa,thực hiện bán hàng và phục vụ khách hàng Một nhà phân phối điển hình là một
tổ chức sở hữu nhiều sản phẩm tồn kho mua từ nhà sản xuất và bán lại cho ngườitiêu dùng Ngoài khuyến mãi sản phẩm và bán hàng, có những chức năng khác
mà nhà phân phối phải thực hiện là quản lý tồn kho, vận hành cửa hàng, vậnchuyển sản phẩm cũng như chăm sóc khách hàng Nhà phân phối cũng là một tổchức chỉ đại diện bán hàng giữa nhà sản xuất và khách hàng, không bao giờ sở
Trang 21hữu sản phẩm đó Loại nhà phân phối này thực hiện chức năng chính yếu làkhuyến mãi và bán sản phẩm Với cả hai trường hợp này, nhà phân phối là đại lýnắm bắt liên tục nhu cầu của khách hàng, làm cho khách hàng mua sản phẩm từcác công ty sản xuất Dự trữ hàng hóa với số lượng lớn từ các nhà cung ứng vàphân phối sản phẩm cũng với khối lượng lớn tới khách hàng.
- Nhà bán lẻ (Retailers): Nhà bán lẻ tồn trữ sản phẩm và bán cho khách hàng với
số lượng nhỏ hơn Nhà bán lẻ trong khi bán hàng cũng nắm bắt ý kiến và nhu cầucủa khách hàng rất chi tiết Do nỗ lực chính là thu hút khách hàng đối với nhữngsản phẩm mình bán, nhà bán lẻ thường quảng cáo và sử dụng một số kỹ thuật kếthợp về giá cả, sự lựa chọn và sự tiện dụng của sản phẩm
- Khách hàng (Customers): Khách hàng hay người tiêu dùng là bất kỳ cá nhân, tổchức nào mua và sử dụng sản phẩm Khách hàng là tổ chức có thể mua một sảnphẩm để kết hợp với sản phẩm khác rồi bán chúng cho khách hàng khác là người
sử dụng sản phẩm sau/ mua sản phẩm về tiêu dùng
- Nhà cung cấp dịch vụ (Service Providers): Đó là những tổ chức cung cấp dịch vụcho nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và khách hàng Nhà cung cấp dịch
vụ có những chuyên môn và kỹ năng đặc biệt ở một hoạt động riêng biệt trongchuỗi cung ứng Chính vì thế, họ có thể thực hiện những dịch vụ này hiệu quảhơn và với mức giá tốt hơn so với chính các nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán
lẻ hay người tiêu dùng làm điều này
- Trong bất kỳ chuỗi cung ứng nào, nhà cung cấp phổ biến nhất là cung cấp dịch
vụ vận tải và dịch vụ nhà kho Đây là các công ty xe tải và công ty kho hàng vàthường được biết đến là nhà cung cấp hậu cần Nhà cung cấp dịch vụ tài chínhcung cấp các dịch vụ như cho vay, phân tích tính dụng và thu các khoản nợ đáohạn Đó chính là ngân hàng, công ty định giá tín dụng và công ty thu nợ Một sốnhà cung cấp thực hiện nghiên cứu thị trường, quảng cáo, thiết kế sản phẩm, dịch
vụ kỹ thuật, dịch vụ pháp lý và tư vấn quản lý Chuỗi cung ứng bao gồm nhiềuđối tượng tham gia và những đối tượng này được chia ra thành một hay nhiềuloại Điều cần thiết của chuỗi cung ứng là duy trì tính ổn định theo thời gian
Trang 22Những gì thay đổi chính là sự tác động và vai trò của các đối tượng tham giatrong chuỗi cung ứng nắm giữ.
Cấu trúc chuỗi cung ứng có thể được thể hiện ở các hình thức sau:
- Hoạt động xuôi dòng và hoạt động ngược dòng: Lấy doanh nghiệp nào đó trongchuỗi làm quy chiếu, nếu xét các hoạt động trước nó - dịch chuyển nguyên vậtliệu đến - được gọi là các hoạt động ngược dòng; nếu xét các hoạt động phía sau
nó - dịch chuyển sản phẩm ra ngoài - được gọi là các hoạt động xuôi dòng
- Các hoạt động ngược dòng được dành cho các nhà cung cấp: Nhà cung cấpchuyển nguyên vật liệu trực tiếp đến doanh nghiệp là nhà cung cấp cấp một Nhàcung cấp đảm nhiệm việc dịch chuyển nguyên vật liệu cho nhà cung cấp cấp một
là nhà cung cấp cấp hai Cứ ngược dòng như vậy sẽ đến nhà cung cấp cấp ba,…rồi đến tận cùng sẽ là nhà cung cấp gốc Các hoạt động xuôi dòng được dành chokhách hàng: Khách hàng nhận sản phẩm trực tiếp từ doanh nghiệp là khách hàngcấp một Khách hàng nhận sản phẩm từ khách hàng cấp một là khách hàng cấphai Tương tự, chúng ta sẽ có khách hàng cấp ba,… và tận cùng của dòng dịchchuyển này là khách hàng cuối cùng
Hình 1.3 Các hoạt động trong một chuỗi cung ứng
Trang 23Trong thực tế, đa số các doanh nghiệp mua nguyên vật liệu từ nhiều nhà cung cấpkhác nhau và bán sản phẩm đến nhiều khách hàng Vì vậy, chúng ta có khái niệmchuỗi hội tụ và chuỗi phân kỳ Chuỗi hội tụ khi nguyên vật liệu dịch chuyển giữacác nhà cung cấp Chuỗi phân kỳ khi sản phẩm dịch chuyển xuyên suốt các kháchhàng.
- Liên kết dọc và liên kết ảo:
Hình 1.4 Chuỗi cung ứng cũ và mới
Nguồn: Nguyễn Kim Anh, 2006.
Ngày nay do toàn cầu hóa, thị trường cạnh tranh cao, thay đổi nhanh về côngnghệ kéo theo sự tiến triển của chuỗi cung ứng trong đó các công ty kết hợp vớinhau và mỗi công ty tập trung vào những hoạt động mà mình làm tốt nhất Trong thịtrường tiêu dùng nhanh của nền kinh tế hiện hành, một doanh nghiệp cần phải tậptrung vào những yếu tố được cân nhắc là giá trị cốt lõi trong việc quản trị chuỗicung ứng của doanh nghiệp đó, đồng thời tiến hành thuê ngoài những yếu tố còn lạinhằm tối đa hóa hiệu suất của chuỗi
Trước đó, đối với thị trường đại chúng, thông thường các doanh nghiệp đều
cố gắng quản lý phần lớn các yếu tố trong chuỗi của mình Hình thức này được gọi
Trang 24là hình thức liên kết theo chiều dọc (Vertical integration), mục đích của hình thứcnày nhằm tối đa hóa hiệu quả dựa trên tính kinh tế theo quy mô.
Quá trình toàn cầu hóa, thị trường cạnh tranh gay gắt và sự thay đổi nhanhchóng của công nghệ kéo theo sự phát triển của chuỗi cung ứng theo một hướngmới, đó là các công ty, doanh nghiệp tiến hành liên kết với nhau và mỗi công ty,doanh nghiệp tập trung vào những thành phần mà mình có khả năng làm tốt nhất
Sự chuyên môn hóa này giúp các doanh nghiệp có thể bắt kịp những thay đổi củanền kinh tế đồng thời cũng bổ sung cho mình những kĩ năng cần thiết để cạnh tranhvới các đối thủ trong ngành
Hiện nay, thay vì tập trung vào hình thức liên kết dọc, các công ty có xuhướng thực hiện liên kết ảo (virtual integration) bằng việc tìm kiếm các đối tác khác
để cùng thực hiện các hoạt động trong chuỗi cung ứng của họ Nói chung, các công
ty tập trung vào năng lực cốt lõi của mình và hợp tác với công ty khác nhằm tạo rachuỗi cung ứng trong thị trường biến đổi nhanh chóng (fast-moving markets) Nhưvậy, điều quan trọng hơn hết chính là công ty phải xác định đươc năng lực cốt lõicủa mình và xác định vị thế của công ty, trong chuỗi cung ứng, trên thị trường màcông ty phục vụ
1.1.3 Mục tiêu của chuỗi cung ứng
Mục tiêu của mọi chuỗi cung ứng là tối đa hóa giá trị tổng thể của chuỗi Giátrị của một chuỗi được tạo ra từ sự khác biệt giữa sản phẩm cuối cùng, cái kháchhàng nhận được và chi phí của chuỗi để đáp ứng nhu cầu khách hàng
Giá trị của chuỗi cung ứng = giá trị của khách hàng – chi phí của chuỗi cung
Trang 25nên được đo lường bằng khả năng sinh lợi của chuỗi chứ không phải bằng lợi nhuậncủa các cá nhân.
Sau khi định nghĩa sự thành công chuỗi cung ứng trong phạm trù của khả năngsinh lợi, bước tiếp theo là xem xét nguồn gốc của lợi nhuận và chi phí Đối với mọichuỗi cung ứng, chỉ có duy nhất một nguồn của lợi nhuận, đó là khách hàng Mọidòng thông tin, sản phẩm và vốn tạo ra chi phí trong chuỗi Vì vậy, việc quản lýthích hợp các dòng này đóng vai trò quan trọng cho sự thành công của chuỗi Việcquản lý hiệu quả chuỗi cung ứng liên quan tới việc quản lý tài sản của chuỗi vàdòng thông tin, sản phẩm, vốn để tối đa hóa khả năng sinh lợi của chuỗi
Nói cách khác, mục tiêu của mọi chuỗi cung ứng là tối đa hóa giá trị tạo ra chotoàn hệ thống từ khâu vận chuyển, phân phối đến tồn kho nguyên vật liệu, tồn khotrong sản xuất và thành phẩm Giá trị tạo ra của chuỗi cung cấp là sự khác biệt giữagiá trị của sản phẩm cuối cùng đối với khách hàng và nỗ lực mà chuỗi cung cấpdùng vào việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng Đối với đa số các chuỗi cung ứngthương mại, giá trị liên quan mật thiết đến lợi ích của chuỗi cung ứng, sự khác biệtgiữa doanh thu mà khách Lợi nhuận của chuỗi cung ứng là tổng lợi nhuận đượcchia sẻ xuyên suốt chuỗi Lợi nhuận của chuỗi cung ứng càng cao chứng tỏ sự thànhcông của chuỗi cung cấp càng lớn Thành công của chuỗi cung ứng nên được đolường dưới góc độ lợi nhuận của chuỗi chứ không phải đo lượng lợi nhuận ở mỗigiai đoạn riêng lẻ Vì vậy, trọng tâm không chỉ đơn giản là việc giảm thiểu đến mứcthấp nhất chi phí vận chuyển hoặc cắt giảm tồn kho mà hơn thế nữa chính là vậndụng cách tiếp cận hệ thống vào quản trị chuỗi cung ứng
Cuối cùng, bởi vì quản tri chuỗi cung ứng tập trung vào việc tích hợp mộtcách hiệu quả nhà cung cấp, người sản xuất, nhà kho và các cửa hàng, nó bao gồmnhững hoạt động của công ty ở nhiều cấp độ, từ cấp độ chiến lược đến chiến thuật
và tác nghiệp
- Cấp độ chiến lược xử lý với các quyết định có tác động dài hạn đến tổ chức.Những quyết định này bao gồm số lượng, vị trí và công suất của nhà kho, các nhàmáy sản xuất, hoặc dòng dịch chuyển nguyên vật liệu trong mạng lưới
Trang 26- Cấp độ chiến thuật điển hình bao gồm những quyết định được cập nhật ở bất cứnơi nào ở thời điểm của quý hoặc năm Điều này bao gồm các quyết định thumua và sản xuất, các chính sách tồn kho và các chiến lược vận tải kể cả tần suấtviếng thăm khách hàng.
- Cấp độ tác nghiệp liên quan đến các quyết định hàng ngày chẳng hạn như lênthời gian biểu, lộ trình của xe vận tải…
1.1.4 Tổng quan về Quản trị chuỗi cung ứng
1.1.4.1 Lịch sử phát triển Quản trị chuỗi cung ứng
Trong suốt thập niên 1950 và 1960, các công ty sản xuất của Mỹ áp dụngcông nghệ sản xuất hàng loạt để cắt giảm chi phí và cải tiến năng suất, trong khi ítchú ý đến việc tạo ra mối quan hệ với nhà cung cấp, cải thiện việc thiết kế quy trình
và tính linh hoạt, hoặc cải thiện chất lượng sản phẩm
Biểu 1.1 Những sự kiện lịch sử về Quản trị chuỗi cung ứng
Nguồn: Nguyễn Công Bình, 2008.
Thiết kế và phát triển sản phẩm mới diễn ra chậm chạp và lệ thuộc chủ yếuvào nguồn lực nội bộ, công nghệ và công suất Chia sẻ công nghệ và chuyên mônthông qua sự cộng tác chiến lược giữa người mua và người bán là một thuật ngữ
Trang 27hiếm khi nghe giai đoạn bấy giờ Các quy trình sản xuất được đệm bởi tồn khonhằm làm cho máy móc vận hành thông suốt và quy trì cân đối dòng nguyên vậtliệu, điều này dẫn đến tồn kho trong sản xuất tăng cao Trong thập niên 1960 và
1970, hệ thống hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu (MRP) và hệ thống hoạch địnhnguồn lực sản xuất (MRPII) được phát triển và tầm quan trọng của quản trị nguyênvật liệu hiệu quả càng được nhấn mạnh khi nhà sản xuất nhận thức tác động củamức độ tồn kho cao đến chi phí sản xuất và chi phí lưu giữ tồn kho Cùng với sựphát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là máy tính làm gia tăng tính tinh vi củacác phần mềm kiểm soát tồn kho dẫn đến làm giảm đáng kể chi phí tồn kho trongkhi vẫn cải thiện truyền thông nội bộ về nhu cầu của các chi tiết cần mua cũng nhưnguồn cung
Thập niên 1980 được xem như là thời kỳ bản lề của quản trị chuỗi cung ứng.Thuật ngữ quản trị chuỗi cung ứng lần đầu tiên sử dụng một cách rộng rãi trênnhiều tờ báo cụ thể là ở tạp chí vào năm 1982 Cạnh tranh trên thị trường toàn cầutrở nên khốc liệt vào đầu thập niên 1980 (và tiếp tục đến ngày nay) gây áp lực đếncác nhà sản xuất phải cắt giảm chi phí nâng cao chất lượng sản phẩm cùng với việcgia tăng mức độ phục vụ khách hàng Các hãng sản xuất vận dụng JIT và chiến lượcquản trị chất lượng toàn diện (TQM) nhằm cải tiến chất lượng, nâng cao hiệu quảsản xuất và thời gian giao hàng Trong môi trường sản xuất JIT với việc sử dụng íttồn kho làm đệm cho lịch trình sản xuất, các doanh nghiệp bắt đầu nhận thấy lợi íchtiềm tàng và tầm quan trọng của mối quan hệ chiến lược và hợp tác của nhà cungcấp - người mua - khách hàng Khái niệm về sự cộng tác hoặc liên minh càng nổibật khi các doanh nghiệp thực hiện JIT và TQM Khi cạnh tranh ở thị trường Mỹgia tăng nhiều hơn vào thập niên 1990 kèm với việc gia tăng chi phí hậu cần và tồnkho cũng như khuynh hướng toàn cầu hóa nền kinh tế làm cho thách thức của việccải thiện chất lượng, hiệu quả sản xuất, dịch vụ khách hàng và thiết kế và phát triểnsản phẩm mới cũng gia tăng Để giải quyết với những thách thức này, các nhà sảnxuất bắt đầu mua sản phẩm từ các nhà cung cấp chất lượng cao, có danh tiếng vàđược chứng thực Hơn nữa các doanh nghiệp sản xuất kêu gọi các nhà cung cấptham gia vào việc thiết kế và phát triển sản phẩm mới cũng như đóng góp ý kiến cào
Trang 28việc cải thiện dịch vụ, chất lượng và giảm chi phí chung Mặt khác, các công tynhận thấy rằng nếu họ cam kết mua hàng từ những nhà cung cấp tốt nhất cho họatđộng kinh doanh của mình thì đổi lại họ sẽ hưởng lợi gia tăng doanh số thông qua
sự cải tiến chất lượng, phân phối và thiết kế sản phẩm cũng như cắt giảm chi phínhờ vào việc quan tâm nhiều đến tiến trình, nguyên vật liệu và các linh kiện được
sử dụng trong hoạt động sản xuất Nhiều liên minh giữa nhà cung cấp và người mua
đã chứng tỏ sự thành công của mình
Tái thiết kế quy trình kinh doanh (BPR) nhằm giảm các lãng phí và gia tăngthành tích được giới thiệu vào đầu thập niên 1990 là kết quả của những quan tâm tolớn trong suốt giai đoạn này với mục đích cắt giảm chi phí và nhấn mạnh đến nhữngnăng lực then chốt của doanh nghiệp nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh dài hạn Khi
xu hướng này mất dần vào giữa cuối thập niên 1990 (thuật ngữ trở nên đồng nghĩavới việc thu hẹp quy mô), quản trị chuỗi cung ứng trở nên phổ quát hơn như lànguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Mãi cho đến thời điểm đó thìquản trị chuỗi cung ứng mới được nhìn nhận như là hoạt động hậu cần bên ngoàidoanh nghiệp Khi các doanh nghiệp bắt đầu ứng dụng các sáng kiến của quản trịchuỗi cung ứng, họ bắt đầu hiểu được sự cần thiết phải tích hợp tất cả các quy trìnhkinh doanh then chốt giữa các bên tham gia trong chuỗi cung ứng, cho phép chuỗicung ứng vận hành và phản ứng như một thể thống nhất Ngày nay, hậu cần đượcxem như là một thành tố quan trọng của khái niệm quản trị chuỗi cung ứng
Quản trị chuỗi cung cấp ngày nay phát triển song song theo hai hướng: (1)quản trị cung cấp và thu mua nhấn mạnh đến khách hàng công nghiệp hoặc kháchhàng tổ chức và (2) vận tải và hậu cần nhấn mạnh từ nhà bán sỉ và nhà bán lẻ Mức
độ phổ biến của các liên minh với nhà cung cấp và khách hàng (nhà cung cấp củanhà cung cấp và khách hàng của khách hàng) vào cuối thập niên 1990 và tiếp tụcđến ngày nay cũng mang hàm ý rằng một lệ thuộc nhiều vào vận tải, tồn kho vàdịch vụ hậu cần tạo ra các dịch vụ vận tải, tồn kho, tư liệu cho nhiều doanh nghiệptrong chuỗi cung cấp Xây dựng mối quan hệ cũng xảy ra đối với nhiều nhà cungcấp dịch vụ thứ ba hoặc các doanh nghiệp sử dụng chúng để đảm bảo việc cung ứngliên tục và không bị gián đoạn hàng hóa Sự cần thiết phải đánh giá hiệu suất và
Trang 29thành tích của mối quan hệ này theo từng giai đoạn cũng đồng hành với sự pháttriển của quản trị chuỗi cung ứng Một trong những thách thức mà nhiều doanhnghiệp đối diện hiện nay liên quan đến quản trị chuỗi cung cấp chính là cách thứcđánh giá đầy đủ hiệu suất toàn diện trong một chuỗi cung ứng toàn cầu và thường làcực kỳ phức tạp Đối với ngành bán sỉ và bán lẻ, trọng tâm của quản trị chuỗi cungcấp là những vấn đề về vị trí và hậu cầu hơn là vấn đề sản xuất Quản trị chuỗi cungứng trong những ngành này thường liên quan đến việc đáp ứng nhanh chóng hoặchậu cần tích hợp Thành tựu của hệ thống chuyển đổi dữ liệu điện tử nội bộ (EDI),
hệ thống mã vạch, Internet và công nghệ quét sóng băng tầng trong hai thập kỷ quađược hỗ trợ cho sự phát triển của khái niệm chuỗi cung ứng tích hợp Các doanhnghiệp trong ngành bán lẻ đã sử dụng quản trị chuỗi cung cấp nhằm đương đầu vớitính phức tạo và không chắc chắn chưa từng có của thị trường và để giảm thiểu tồnkho xuyên suốt chuỗi cung cấp Việc phát triển nhanh chóng phần mềm quản trịchuỗi cung ứng khách hàng/máy chủ mà điển hình bao gồm việc tích hợp quản trịchuỗi cung ứng và các cấu thành của thương mại điện tử đã hỗ trợ đắc lực cho sựphát triển và ứng dụng quản trị chuỗi cung ứng Chia sẻ thông tin với các đối tácchuỗi cung ứng thông qua EDI và Internet cho phép doanh nghiệp tích hợp chứcnăng tồn kho, hậu cần, mua nguyên vật liệu, vận chuyển và các chức năng khácnhằm tạo ra phương thức quản trị tiên phong và hiệu quả hơn Trong tương lai,chúng ta sẽ hy vọng rằng quản trị chuỗi cung ứng nhấn mạnh đến việc mở rộngchuỗi cung cấp, gia tăng trách nhiệm của chuỗi và nhấn mạnh hơn nữa vào chuỗicung ứng “xanh” cũng như cắt giảm đáng kể chi phí của chuỗi
1.1.4.2 Khái niệm Quản trị chuỗi cung ứng
Thuật ngữ “Quản trị chuỗi cung ứng” xuất hiện từ cuối những năm 1980s vàđược sử dụng rộng rãi vào những năm 1990s Trước đó, các nhà kinh doanh sửdụng thuật ngữ “logistic” và “quản trị vận hành” (operations management) để thaythế Dưới đây là một vài định nghĩa tham khảo:
“Sự kết hợp mang tính chiến lược, có hệ thống các chức năng kinh doanh truyền thống, đồng thời đề ra sách lược phối hợp các chức năng này trong một công ty cụ thể cũng như liên kết các Doanh nghiệp trong một chuỗi cung
Trang 30ứng nhằm mục đích nâng cao năng lực của từng công ty và toàn bộ chuỗi cung ứng trong dài hạn” – (Mentzer, John T., William Dewitt, James S.
Keebler, Soonhong Min, Nancy W.Nix, Carlo D.Smith và Zach G Zacharia,2001)
“Quản lý chuỗi cung ứng là việc phối hợp hoạt động sản xuất, lưu kho, địa điểm và vận tải giữa các thành viên của chuỗi cung ứng nhằm mang đến cho thị trường mà bạn đang phục vụ sự kết hợp tiện ích và hiệu quả tốt nhất” -
(Michael Hugo, 2010)
Như vậy, cả hai định nghĩa đều chỉ ra quản trị chuỗi cung ứng là sự kết hợp,phối hợp các hoạt động, chức năng sản xuất, tồn kho, địa điểm và vận tải giữa cácthành viên tham gia trong chuỗi cung ứng nhằm đạt được hiệu quả nhất trên thịtrường Nó bao gồm hoạt động hợp tác của các doanh nghiệp nhằm tạo đòn bẩy choviệc hoạch định chiến lược và nâng cao hiệu quả của hoạt động vận hành Với mỗidoanh nghiệp khi tham gia vào chuỗi, mỗi mối quan hệ phản ánh sự lựa chọn mangtính chiến lược Chiến lược chuỗi cung ứng là sự sắp xếp có tổ chức kinh doanh vàkênh phân phối dựa trên sự phụ thuộc lẫn nhau và các hợp tác đã được thừa nhận.Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng còn mang ý nghĩa một mạng lưới các mối quan
hệ kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả bằng cách loại trừ các công việc trùng lắp vànăng suất thấp
Quản trị chuỗi cung ứng gồm quản lý cung và cầu trong toàn hệ thống củacác doanh nghiệp, bao gồm mạng lưới các quyết định về các vấn đề chính sau:
Thu mua: Trên cơ sở nhu cầu các nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, dịch vụ,
… đã được xác định Doanh nghiệp sẽ phải tổ chức lựa chọn nhà cung cấp, kýkết hợp đồng, tổ chức thực hiện, nhập kho, bảo quản và cung cấp cho các bộphận có nhu cầu
Phân phối: Phân phối là một trong những hoạt động quan trọng trong chuỗicung ứng, nối liền doanh nghiệp và khách hàng Bản chất của phân phối làlàm thay đổi vị trí của sản phẩm từ nhà sản xuất đến khách hàng cuối cùng.Doanh nghiệp thường cố định, còn khách hàng thì hầu hết ở khắp nơi, nếu
Trang 31không có hoạt động phân phối thì sản phẩm khó có thể đến tay khách hàngnơi xa.
Tồn kho: Tồn kho như là một bộ phận giảm xóc cho tính không chắc chắn,không ổn định trong chuỗi cung ứng Tồn kho trong chuỗi cung ứng bao gồmtồn kho nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm
Địa điểm: Đúng địa điểm không bảo đảm sự thành công cho doanh nghiệpnhưng sai địa điểm chắc chắn sẽ dẫn đến thất bại Doanh nghiệp cần xác địnhcác vị trí tốt nhất cho các cấu thành khác nhau trong chuỗi cung ứng củamình
Vận tải: Hoạt động này liên quan đến việc dịch chuyển nguyên vật liệu từnhà cung cấp đến doanh nghiệp hoặc sản phẩm hoàn thành từ doanh nghiệpđến với khách hàng Điều này bao gồm việc lựa chọn phương tiện và loạihình vận tải, lựa chọn doanh nghiệp vận tải, thiết kế quy trình vận chuyển đểđảm bảo rằng việc vận chuyển an toàn, đúng lúc với giá cả hợp lý
Thông tin: Xuyên suốt chuỗi cung ứng chính là dòng thông tin Thông tingắn kết các thành tố của chuỗi cung ứng Thông tin chính xác và kịp thờigiúp doanh nghiệp có các quyết định đúng đắn về hoạt động quản trị chuỗicung ứng của mình
1.1.4.3 Ý nghĩa của Quản trị chuỗi cung ứng
Quản trị chuỗi cung ứng có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh cạnh tranh trênthị trường ngày càng tăng cao, nguồn cung cấp hàng hóa ngày càng bị siết chặt.Chuỗi cung ứng có sức tác động lớn sẽ chiếm lĩnh thị trường và sự tín nhiệm củakhách hàng, tạo nên giá trị cổ đông, mở rộng chiến lược và khả năng vươn xa chodoanh nghiệp Thêm vào đó, trong môi trường kinh doanh hiện nay, chuỗi cung ứng
là một trong những nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp so vớiđối thủ cùng ngành
Ý nghĩa của quản trị chuỗi cung ứng được thể hiện:
- Đảm bảo cho sản xuất tiến hành nhịp nhàng, liên tục
- Tạo điều kiện nâng cao trình độ kỹ thuật của sản xuất, kích thích các hoạtđộng sáng tạo, áp dụng các kỹ thuật mới, tạo ra các năng lực sản xuất mới
Trang 32- Tạo điều kiện nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm.
- Tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị
1.2 Chuỗi cung ứng ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi cung ứng dệt may toàn cầu
Theo tài liệu nghiên cứu về chuỗi giá trị của Kaplinsky (2000), chuỗi giá trịbao gồm các hoạt động cần thiết của một chu trình sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ
kể từ giai đoạn nghiên cứu sáng chế, qua các giai đoạn khác nhau của quá trình sảnxuất, phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng, cũng như xử lý rác thải sau khi sửdụng
Như vậy có thể hiểu về chuỗi giá trị là tập hợp các giá trị được tạo ra từ cácgiai đoạn của quá trình sản xuất một sản phẩm hay dịch vụ, từ khâu nghiên cứu pháttriển, thiết kế, cung cấp đầu vào, sản xuất, marketing và phân phối tới người tiêudùng cuối cùng Nếu một chuỗi giá trị của một sản phẩm hay dịch vụ diễn ra quanhiều nước trên phạm vi toàn cầu thì chuỗi giá trị đó được gọi là chuỗi giá trị toàncầu Từ lý thuyết về chuỗi giá trị, Gereffi (2001) đã xây dựng lý thuyết về chuỗicung ứng, ông cho rằng có hai yếu tố liên quan đến việc tạo ra giá trị hay quyết địnhdạng chuỗi cung ứng của một ngành
Thứ nhất là chuỗi cung ứng do phía cung tạo ra Đây là những chuỗi hànghóa mà trong đó tác nhân chính các nhà sản xuất lớn, thường là những nhà sản xuấtxuyên quốc gia hợp nhất theo chiều dọc đóng vai trò trung tâm trong việc phối hợpcác mạng lưới sản xuất quốc tế Các ngành công nghiệp thâm dụng vốn và côngnghệ như sản xuất xe hơi, máy bay, điện tử là đặc trưng của chuỗi cung ứng do phíacung quyết định Thứ hai là chuỗi cung ứng do phía cầu hay người mua quyết định.Đây là đặc trưng của những ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng thâm dụnglao động như ngành may mặc, giày dép, và các hàng thủ công khác Các nhà bán lẻlớn, các nhà buôn và các nhà sản xuất có thương hiệu là những tác nhân chính đóngvai trò cốt yếu trong việc hình thành các mạng lưới sản xuất được phân cấp tạinhiều quốc gia xuất khẩu Đặc điểm chính của chuỗi giá trị do người mua quyếtđịnh là sự hợp nhất theo mạng lưới để thúc đẩy sự phát triển của các khu chế xuất
và thực hiện thuê gia công toàn cầu của các nhà bán lẻ Ngành dệt may là một minh
Trang 33họa kinh điển của chuỗi giá trị do người mua quyết định, việc tạo ra sản phẩm cuốicùng phải qua nhiều công đoạn và hoạt động sản xuất thường được tiến hành ởnhiều nước Trong đó các nhà sản xuất với thương hiệu nổi tiếng, các nhà buôn, nhàbán lẻ lớn đóng vai trò then chốt trong việc thiết lập mạng lưới sản xuất và địnhhình việc tiêu thụ hàng loạt thông qua các thương hiệu mạnh và sự phụ thuộc củachúng vào những chiến lược thuê gia công toàn cầu nhằm thỏa mãn nhu cầu này(Gereffi, 1999) Theo kết quả nghiên cứu về chuỗi giá trị dệt may toàn cầu củaGereffi và Memodovic (2003) có thể phân chia chuỗi giá trị dệt may làm năm phânkhúc chính theo Hình 1.5.
Trang 34Hình 1.5 Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu
Nguồn: Lê Hồng Thuận, 2017.
Trang 35Xét trên góc độ chuỗi giá trị dệt may toàn cầu: khâu thiết kế kiểu dáng sản phẩm đượcthực hiện ở các trung tâm thời trang nổi tiếng thế giới như Paris, London, New York…Nguyên liệu chính là vải được sản xuất tại Hàn Quốc, Trung Quốc hoặc các phụ liệu khácđược sản xuất tại Ấn Độ Khâu sản xuất, gia công sản phẩm cuối cùng được thực hiện ởcác nước có chi phí nhân công rẻ như Việt Nam, Trung Quốc… Các sản phẩm dệt mayhoàn chỉnh sẽ được đưa ra bán trên thị trường bởi các công ty thương mại danh tiếng.Trong chuỗi giá trị toàn cầu hàng dệt may, khâu có lợi nhuận cao nhất là thiết kế mẫu,cung cấp nguyên phụ liệu và thương mại Tuy nhiên, dệt may Việt Nam chỉ tham gia vàokhâu sản xuất sản phẩm cuối cùng với lượng giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi giá trị.Theo ước tính, khoảng 90% doanh nghiệp may mặc của Việt Nam tham gia vào khâu nàycủa chuỗi giá trị dưới hình thức gia công Vì thế, tuy sản phẩm dệt may của Việt Namđược xuất đi nhiều nơi, Việt Nam có tên trong top 10 nước xuất khẩu dệt may lớn nhấtthế giới nhưng giá trị thu về rất thấp
Hình 1.6 Giá trị gia tăng của chuỗi giá trị dệt may
Stan Shih – người sáng lập ra công ty máy tính Acer của Đài Loan đưa ra luậnđiểm mô hình chuỗi giá trị đường cong nụ cười “Chuỗi giá trị khác nhau ở từng tổ chức
cụ thể và mỗi tổ chức là một chuỗi giá trị đặc thù Ngành dệt may là một minh họa kinhđiển của chuỗi giá trị do người mua quyết định, việc tạo ra sản phẩm cuối cùng phải quanhiều công đoạn và hoạt động sản xuất thường được tiến hành ở nhiều nước Trong đócác nhà sản xuất với thương hiệu nổi tiếng, các nhà
Trang 36Sự gián đoạn đồng thời về cung, cầu và cơ sở hạ tầng hậu cần
Dịch bệnh lan truyền làm gián đoạn trong chuỗi cung ứng và lan truyền dịch bệnh trong cộng đồng (tức là lan truyền đại dịch)Tác động của dịch Covid-19 đến chuỗi cung ứng
Sự tồn tại lâu dài và khả năng mở rộng không thể đoán trước của dịch bệnh
buôn, nhà bán lẻ lớn đóng vai trò then chốt trong việc thiết lập mạng lưới sản xuất vàđịnh hình việc tiêu thụ hàng loạt thông qua các thương hiệu mạnh và sự phụ thuộc củachúng vào những chiến lược thuê gia công toàn cầu nhằm thỏa mãn nhu cầu này”
(Nguyễn Xuân Thọ, 2019)
1.3 Tổng quan về tác động của dịch Covid 19 đến chuỗi cung ứng dệt may
1.3.1 Các mô hình lý thuyết về tác động của dịch Covid 19 đến chuỗi cung ứng
1.3.1.1 Mô hình của Harun Demirci (2021)
Hình 1.7 Mô hình nghiên cứu của Harun Demirci
Nguồn: Harun Demirci (2021)
Đại dịch là sự gián đoạn duy nhất vì chúng tác động đến nội bộ chuỗi cung ứng(ví dụ: công nhân, bệnh tật) và bên ngoài (ví dụ: nguồn cung thiếu hụt, nhu cầu tăng lên)
Các đại dịch trước đây đã ảnh hưởng đến một số liên kết của chuỗi cung ứng như các nhàcung cấp, vận chuyển, phân phối và khách hàng Theo Harun Demirci, Covid-19 có khảnăng tác động đến cả phía cầu và phía cung của chuỗi cung ứng Tác động phụ khiếnngười tiêu dùng hoang mang, tác động của một thảm họa đối với hành vi của khách hàngtrong thời kỳ đại dịch dẫn đến sức mua giảm Sự gián đoạn bên cung bao gồm tình trạngthiếu lao động do công nhân ốm đau, hạn chế di chuyển hoặc bị cô lập Cuộc khủnghoảng Covid-19 rõ ràng cho thấy sự thiếu khả năng phục hồi trong chuỗi cung ứng”
Tổng kết, hiện tại Cuộc khủng hoảng Covid-19 đã dẫn đến nhu cầu tăng đột biến vàthiếu hụt nguồn cung Mô hình
Trang 37nghiên cứu phân tích các phản ứng và ảnh hưởng của các phản ứng đó của cácchuỗi cung ứng trước đây, trong và sau tác động của cuộc khủng hoảng Covid-19.
1.3.1.2 Mô hình của Märta Stammarnäs (2021)
Hình 1.8 Mô hình nghiên cứu của Märta Stammarnäs
Nguồn: Märta Stammarnäs (2021)
Mô hình của Märta Stammarnäs cho thấy các khía cạnh Covid-19 và các vấn đềtrong mối quan hệ người mua – nhà cung cấp trong chuỗi cung ứng do đại dịch, tiết lộảnh hưởng đến các nguồn lực xã hội, và ảnh hưởng như thế nào tới các khoản dự phòng,khả năng bổ sung và giá trị cuối cùng
Cấu trúc xã hội bắt nguồn từ quan hệ thị trường, quan hệ thứ bậc và quan hệ xã hội,
Ba loại mối quan hệ này cần được xem xét kỹ trong mối quan hệ người mua
– nhà cung cấp trong chuỗi cung ứng Quan hệ thị trường liên quan đến thị trường nơicác đơn đặt hàng do nhà cung cấp đưa ra được trao đổi với người mua Mối quan hệthứ bậc quan tâm trong bối cảnh này phải tuân theo các cơ quan có thẩm quyền của chínhphủ và các quy định phải tuân thủ Mối quan hệ người mua - nhà cung cấp trong chuỗicung ứng hàng dệt may do đại dịch đã khiến các tác nhân trước hết nhìn vào lợi ích của
họ để tồn tại trên thị trường Các vấn đề lớn phát sinh do đại dịch liên quan đến việc nhàcung cấp xử lý các tình huống phát sinh chẳng hạn như đơn đặt hàng bị trì hoãn Nhàcung cấp đang gặp bất lợi khi họ đang ở phụ thuộc vào người mua Điều này ảnh hưởnglớn đến cơ hội, động lực và khả năng với
Trang 38tư cách là nhà cung cấp ví dụ: mất khả năng thương lượng, vì họ phải chấp nhận bất kỳgiá nào trên một đơn đặt hàng để tồn tại, hoặc lòng tin giữa các bên giảm do đại dịch vàmọi người đặt lợi ích của họ lên hàng đầu Có thể thấy trong đại dịch, tác động đến mốiquan hệ giữa người mua và nhà cung cấp trong chuỗi cung ứng trở nên rõ ràng hơn, nơingười mua có quyền lực, và nhà cung cấp ở vị trí phụ thuộc.
1.3.1.3 Mô hình của Halil Garcevic & Erik Lidberg (2021)
Hình 1.9 Mô hình nghiên cứu của Halil Garcevic & Erik Lidberg
Nguồn: Halil Garcevic & Erik Lidberg (2021)
Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Cấu trúc và quy trình quản lý chuỗi cung ứng như thếnào?
Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Đại dịch Covid-19 đã phá vỡ chuỗi cung ứng của các công
ty sản xuất trong ngành như thế nào?
Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Covid-19 đã ảnh hưởng như thế nào đến chuỗi cung ứngcủa các công ty sản xuất trong ngành?
Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu công thức đòi hỏi sự kết hợp giữa lý thuyết và dữliệu thực trạng Thiết kế nghiên cứu được xây dựng theo một quy trình và liên tiếp, bắtđầu bằng kiến thức lý thuyết thông qua nền tảng tài liệu Do đó, nền tảng tài liệu sẽcung cấp cơ sở lý thuyết để xây dựng khung lý thuyết giúp các tác giả trả lời RQ1 Điềunày được thực hiện để cung cấp bối cảnh và sự hiểu biết về chủ đề Quản trị chuỗi cungứng và tóm tắt các chiến lược và quy trình Cơ sở lý luận sau đó được sử dụng đểhướng dẫn thu thập dữ liệu thực nghiệm tại các công ty khác nhau trong ngành Nền tảngtài liệu bao gồm một số chủ đề, chẳng hạn như Quản lý chuỗi cung ứng, Quản lý chuỗicung ứng và Quản lý rủi ro chuỗi cung ứng, để có thể có được sự hiểu biết rộng rãi vềchủ đề này Dữ liệu thực trạng được thu thập trong nghiên cứu sẽ được sử dụng để trảlời RQ2, RQ3, là những câu hỏi nghiên
Trang 39cứu liên quan đến ngành và Covid-19 Sau khi hoàn thành các bước trước, nghiên cứu sẽphân tích và thảo luận các kết quả thực nghiệm trước khi đưa ra kết luận.
1.3.2 Đề xuất mô hình nghiên cứu
Dựa trên sự tham khảo của các bài nghiên cứu có trước đó trên thế giới cũng như tạiViệt Nam, bài nghiên cứu này quyết định lựa chọn mô hình nghiên cứu trong bài nghiêncứu của Halil Garcevic & Erik Lidberg (2021) Tuy nhiên, với nội dung bài nghiên cứuchú trọng vào hàng dệt may, và phạm vi nghiên cứu tại Việt Nam, nên tác giả đã điềuchỉnh, bổ sung để phù hợp với bài nghiên cứu
Hình 1.10 Mô hình nghiên cứu tác giả đề xuất
Nguồn: Tác giả đề xuất
Trong mô hình nghiên cứu, tác giả đề cập đến 3 câu hỏi nghiên cứu: Câu hỏi nghiêncứu 1 (RQ1): Định nghĩa, cấu trúc chuỗi cung ứng, tổng quan tác động của dịch Covid-
19 đến chuỗi cung ứng dệt may? Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Thực trạng hoạt động
chuỗi cung ứng ngành dệt may dưới tác động của dịch như thế nào?Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Tác động của dịch Covid-19 đã ảnh hưởng như thế nàođến chuỗi cung ứng ngành dệt may?
Tác động là việc gây ra sự biến đổi nào đó cho sự vật được hành động hướng tới.Đại dịch Covid-19 là đại dịch toàn cầu, được biết đến như đại dịch về bệnh truyền nhiễm,với tác nhân là virus SARS-CoV-2 Đại dịch Covid-19 đã tàn phá nghiêm trọng tổng thểnền kinh tế và thị trường lao động toàn cầu, là cú sốc kinh tế lớn nhất trong vòng 35 nămqua: kinh tế suy giảm, thất nghiệp tràn lan, nghèo đói và thất nghiệp gia tăng Tác độngcủa nó gây ra rất rộng, ảnh hướng đến xã hội nói chung, kinh tế, văn hóa, sinh thái, chínhtrị và nhiều lĩnh vực khác
Đại dịch Covid-19 tác động gần như đồng thời tới toàn bộ các nền kinh tế trên thếgiới nhưng theo các cơ chế khác nhau cả về phía cung và phía cầu Mức độ ảnh hưởngphụ thuộc rất nhiều vào cấu trúc của mỗi nền kinh tế cũng như sự liên kết
Trang 40của nền kinh tế đó với phần còn lại của thế giới Biện pháp chống dịch được các quốc gia
sử dụng phổ biến là cách ly và tạo khoảng cách xã hội khiến nguồn cung lao động giảmmạnh, đặc biệt trong những khu vực đòi hỏi sự tham gia trực tiếp của lao động vào quátrình sản xuất Với việc hoạt động sản xuất được thiết kế dựa trên chuỗi cung ứng toàncầu, sự đứt gãy trong sản xuất đầu vào tại một quốc gia sẽ dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực tớiquá trình sản xuất tiếp theo tại quốc gia khác
Đại dịch Covid 19 đang làm thay đổi cả chuỗi sản xuất của ngành dệt may toàncầu Những nền công nghiệp gia công và xuất khẩu dệt may hàng đầu thế giới như Ấn
Độ, Bangladesh hay Việt Nam đang phải chịu những tổn thất liên tiếp khi nguồn cungnguyên liệu lớn nhất thế giới là Trung Quốc và nguồn cầu lớn nhất thế giới là châu Âu và
Mỹ đang nằm trong tình trạng đóng cửa Trong bối cảnh hiện nay, dù Trung Quốc đãkiểm soát được dịch bệnh, dần khôi phục hoạt động sản xuất trong nước, nhưng EU và
Mỹ đang là tâm dịch, sự gián đoạn trong chuỗi cung ứng toàn cầu là điều không thể tránhkhỏi, do vai trò của Mỹ và Châu Âu trong chuỗi là vô cùng quan trọng
Về cung, trong Tháng 1 và Tháng 2/2020 khi dịch Covid-19 bùng phát ở Vũ Hán– Trung Quốc, nhiều nhà máy sợi, dệt đã bị đóng cửa, công nhân nghỉ kéo dài Tình trạngnày khiến tình hình cung ứng nguyên phụ liệu cho các doanh nghiệp dệt may trên toànthế giới bị ảnh hưởng, nhất là những quốc gia chuyên sản xuất gia công như Việt Nam,Bangladesh Do tính chất toàn cầu hóa của ngành dệt may, các công ty, nhà bán lẻ phảivận chuyển hàng hóa và nguyên liệu thô của họ đến nhiều quốc gia Ở cấp độ toàn cầu,Trung Quốc vẫn là nhà cung cấp hàng hóa thời trang quan trọng, nhưng cũng đã trở thànhngười tiêu dùng quan trọng của ngành công nghiệp này Bên cạnh Trung Quốc, các quốcgia khác đóng vai trò quan trọng là trung tâm chính xung quanh việc buôn bán các sảnphẩm thời trang diễn ra như Mỹ (là thị trường bán lẻ quan trọng nhất) và một số nướcchâu Âu (như Bỉ, Đức, Pháp và Anh) trong hoạt động thương mại này
Về cầu, bước sang tháng 3, khi dịch bệnh lan rộng ra các nước Hàn, Nhật, Châu
Âu và Mỹ, lập tức nhu cầu tiêu dùng toàn thế giới bị ảnh hưởng nặng nề Thứ nhất, kinh
tế bất ổn khiến người tiêu dùng chỉ tập trung vào các sản phẩm thiết yếu