1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI tập NHÓM môn LỊCH sử ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM CHỦ đề đấu TRANH bảo vệ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG NON TRẺ 1945 1946

25 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đấu Tranh Bảo Vệ Chính Quyền Cách Mạng Non Trẻ 1945-1946
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Hạnh
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Thể loại Bài tập nhóm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Bắc Ninh
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 850,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Lãnh đạo xây dựng, bảo vệ chính quyền chính quyền non trể những năm 1945-1946 thểhiện được sự lãnh đạo sáng suốt và sáng tạo của đảng trước những khó khăn tro

Trang 1

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

BÀI TẬP NHÓM MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CHỦ ĐỀ: ĐẤU TRANH BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH

MẠNG NON TRẺ 1945-1946 Giảng viên hướng dẫn: TS.Nguyễn Thị Hạnh

BẮC NINH,2022

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 4

1 Tình hình Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 4

1.1 Về thuận lợi 4

1.2 Khó khăn 4

2 Xây dựng chính quyền cách mạng mới 6

3 Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ 10

3.1 Giai đoạn 1945 10

3.2 Giai đoạn 1946 12

4 Bài học lịch sử 13

TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lãnh đạo xây dựng, bảo vệ chính quyền chính quyền non trể những năm 1945-1946 thểhiện được sự lãnh đạo sáng suốt và sáng tạo của đảng trước những khó khăn trong nước vàquốc tế sau cách mạng tháng 8/1945 như giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, ngoại giao, hệthống chính trị còn thiếu thốn về nhiều mặt Sự lãnh đạo đúng đắn của đảng là nhân tố hàngđầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam sau này

2 Mục đích và nhiệm vụ

Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về lãng đạoxây dựng và bảo vệ chính quyền non trẻ Cần phải có trách nghiệm hiểu được những chính sáchđường lối, từ đó liên hệ vào thực tiễn bản thân mỗi người

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng bao gồm những văn kiện, chính sách của Đảng trong lãnh đạo xây dựng, bảo

vệ chính quyền non trẻ năm 1945-1946 sau cách mạng tháng 8

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và

các quan điểm Đảng cộng sản Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp lịch sử và logic, phương pháp luận Hồ Chí Minh với

phương pháp liên ngành kết hợp với phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu, khái quát hoá, trừutượng hoá và các phương pháp khác để làm sáng tỏ vấn đề

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Những thành quả đấu tranh đã bảo vệ được nền độc lập của đất nước, giữ vững chínhquyền cách mạng; xây dựng được những nền móng đầu tiên và cơ bản cho một chế độ mới, chế

độ Việt Nam dân chủ cộng hòa; chuẩn bị được những điều kiện cần thiết, trực tiếp cho cuộckháng chiến toàn quốc sau đó

Thông qua đề tài giúp sinh viên hiểu được những đường lối đúng đắn của Đảng trongcông cuộc lãnh đạo xây dựng, bảo vệ chính quyền, trân trọng hơn quá trình giành độc lập tự dotrong quá trình lập và giữ nước của ông cha ta

Trang 4

- Việt Nam trở thành quốc gia độc lập tự do, nhân dân Việt Nam trở thành chủ nhân của chế độdân chủ mới, Đảng cộng sản Đông Dương lãnh đạo cách mạng, hệ thống chính quyền cáchmạng hình thành từ trung ương cho đến địa phương, chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo sáng suốt.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, ngày 2/9/1945

Trang 5

1.2 Khó khăn

1.2.1 Giặc Ngoại xâm:

- Quân Tưởng, Anh, Pháp, Nhật và các lực lượng phản cách mạng trong nước chống pháCM

- Đế quốc âm mưu chia lại hệ thống thuộc địa, ra sức tấn công đàn áp phong trào cáchmạng thế giới

- Ở Bắc vĩ tuyến 16, theo hiệp ước Posdam, 8/1945 hơn 20 vạn quân đội của tưởng giớithạch tràn qua biến giới dưới sự bảo trợ của Mỹ với danh nghĩa quân đồng minh vào giải cứu

- Ở Vĩ tuyến 16 trở vào Nam, Quân anh kéo vào, dọn đường cho Pháp trở lợi Trên cảnước còn 6 vạn quân Nhật chờ giải pháp, theo lệnh Anh chống phá cách mạng

- Tháng 9.1945 , 2 vạn quân của Anh- ấn đổ bộ vào Sài Gòn để giải cứu quân Nhật.Chúng tạo điều kiện cho Pháp đánh chiếm Sài Gòn Chợ Lớn, 23/9/1945, Pháp quay trở lại lần 2xâm lược Việt Nam

- Nhật kéo thêm tay sai Việt Quốc (Việt Nam quốc dân Đảng), Việt cách âm mưu thâmđộc”diệt Cộng, cầm Hồ” phá Việt Minh Các Đảng phái này dựa hơi của quân Tưởng mà phảnđộng lập chính quyền ở Yên Bái, Móng cái, Vĩnh Yên

- Chính những khó khăn này đã đưa nhà nước chính quyền cách mạng non trẻ của VNrơi vào tình thế “Vận mệnh dân tộc như ngàn cân treo sợi tóc” cùng một lúc phải đối phó mớinạn đói dốt, rồi thù trong giặc ngoài

1.2.2 Giặc đói ( kinh tế khó khăn, tiêu điều, 50% ruộng đất bị bỏ hoang, kho bạc bị trống

rỗng)

- Nạn đói cuối 1944-1945 làm 2 triệu người dân chết

Trang 6

Nạn đói năm 1944-1945

- Nhà nước còn non trẻ phải tiếp quản một nền kinh tế xơ xác, tiêu điều, ruộng đất bị bỏhoang, nạn lũ lụt lớn làm vỡ đe ở 9 tỉnh Bắc bộ đến tận tháng 8/1945 vẫn chưa phục hồi, rồithêm hạn hán kéo dài, khiến cho nửa tổng số ruộng đất không thể canh tác Công nghiệp đìnhđốn giá cả sinh hoạt đắt đỏ Tài chính ngân khố kiệt quệ kho bạc trống rỗng: Còn vỏn vẹn 1.2triệu đồng Có đến một nửa là tiền rách không dùng được Hệ thống ngân hàng vẫn còn bị Nhậtkiểm soát, tiền trung hoa dân quốc tung ra thị trường làm tài chính nước ta rối loạn

Tiền giấy Việt Nam năm 1946

Trang 7

- Nông nghiệp lạc hậu, hậu quả của nạn đói cuối năm 1944, đầu năm 1945 chưa khắcphục được Nhiều xí nghiệp còn nằm trong tay tư bản Pháp

1.2.3 Giặc dốt: Các hủ tục lạc hậu, tật xấu tệ nạn xã hội chưa được khắc phục, 95% dân

thất học, mù chữ

- Chế độ ngu dân của thực dân Pháp, nô dịch về văn hóa làm 95% dân số mù chữ

- Tệ nạn rượu chè, thuốc phiện, cờ bạc, mê tín, dị đoan, cải thiện bằng nhiều chính sáchnhư bình dân học vụ

1.2.4 Ngoại giao:

- Việt Nam chưa có bất cứ nước nào công nhận, bị bao vây, cách biệt

1.2.5 Hệ thống chính quyền mới thành lập non trẻ thiếu thốn về nhiều mặt.

- Bộ máy chính quyền từ huyện xuống xã mơi thành lập còn non yếu, bỡ ngỡ và lúngtúng trong tổ chức quản lý xã hội

2 Xây dựng chính quyền cách mạng mới

2.1 Giải pháp giải quyết hệ thống chính quyền

- Để xây dựng chính quyền cách mạng mới, Nhà nước Việt Nam mới rất quan tâm đếnviệc phát triển các tổ chức trong Mặt trận Việt Minh, tổ chức thêm các đoàn thể cứu quốc, gồmcác lực lượng yêu nước và tiến bộ Tháng 5-1946, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (LiênViệt) được thành lập, thu hút các đảng phái và cá nhân yêu nước Để chính quyền cách mạngtiêu biểu cho khối đoàn kết toàn dân, Nhà nước mở rộng thành phần Chính phủ, đưa các nhân

sĩ, trí thức vào tham gia Đồng thời, ban hành các sắc lệnh tổ chức HĐND và Ủy ban hànhchính các cấp; quy định cách tổ chức chính quyền dân chủ nhân dân; quy định nhiệm vụ vàquyền hạn của HĐND và Ủy ban hành chính các cấp, v.v… Trong điều kiện mới ra đời, chưa

có đủ thời gian xây dựng và ban hành văn bản luật, để điều hành đất nước và để bảo đảm cho

Trang 8

hệ thống chính quyền nhà nước hoạt động có hiệu quả, Chính phủ ban hành nhiều sắc lệnh vớinhững quy định cụ thể.

- Tính từ 02-9-1945 đến 31-12-1946, riêng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký và ban hành

181 sắc lệnh nhằm tổ chức, xây dựng, kiện toàn chính quyền nhà nước về mọi mặt Một vấn đềkhông kém phần quan trọng là sau khi chính quyền cách mạng ở các cấp trong cả nước đượcthành lập, đa số cán bộ, đảng viên tuân thủ đúng chương trình, kế hoạch và sắc lệnh của Nhànước Song, có nhiều nơi, nhiều người phạm “những lầm lỗi rất nặng nề” như: trái phép, vô kỷluật, cậy thế, tham ô, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo, v.v… Để chấn chỉnh những lỗi lầm trên, đồngthời đề cao ý thức phục vụ nhân dân, nâng cao sức chiến đấu, xây dựng chính quyền nhà nướccác cấp trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực, Hồ Chí Minh với tư cách người đứng đầu Nhànước Việt Nam mới đã có thư gửi UBND các kỳ, tỉnh, huyện và làng, huấn thị: “Các cơ quancủa Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vácviệc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị củaPháp, Nhật Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm Việc gì hại đến dân, ta phải hết sứctránh”(1) Người cũng không ngần ngại tỏ thái độ: “Ai đã phạm những lỗi lầm trên này, thì phảihết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”(2)

- Khẩn trương xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng: Để khẳng định địa vị pháp lýcủa Nhà nước Việt Nam, Đảng và Hồ Chí Minh đã chú trương sớm tổ chức một cuộc bầu cửtoàn quốc theo hình thức phổ thông đầu phiếu để bầu ra Quốc hội và thành lập Chính phủ chínhthức Ngày 6-1-1946, cả nước tham gia cuộc bầu cử và có hơn 89% số cử tri đã đi bỏ phiếu dânchủ lần đầu tiên, đồng bào Nam Bộ và một số nơi đi bỏ phiếu dưới làn đạn của giặc Pháp,nhưng tất cả đều thể hiện rõ tinh thần “mỗi lá phiếu là một viên đạn bắn vào quân thù”, làmthất bại âm mưu chia rẽ, lật đổ của các kẻ thù

Trang 9

Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2/3/1946

 Kết quả: Bầu cử thành công đã bầu ra 333 đại biểu Quốc hội đầu tiên của nhà nướcViệt Nam dân chủ cộng hòa Quốc hội khóa I đã họp phiên đầu tiên tại Nhà hát lớn Hà Nội vàongày 2-3-1946 và lập ra Chính phủ chính thức, gồm 10 bộ và kiện toàn nhân sự bộ máy Chínhphủ do Hồ Chí Minh làm chủ tịch Quốc hội đã nhất trí bầu Ban Thường trực Quốc hội do cụNguyễn Văn Tố làm chủ tịch

Nhân dân Hà Nội đón Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị ứng cử đại biểu Quốc hội khóa I

tại Hà Nội.

Trang 10

- Các địa phương cũng tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp và kiện toàn Ủy banhành chính các cấp Ban soạn thảo bản Hiến pháp mới được thành lập do Hồ Chí Minh làmtrưởng ban và tới kỳ họp thứ 2 (9-11-1946), Quốc hội đã biểu quyết thông qua Hiến pháp đầutiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dựa trên những nguyên tắc: “Đoàn kết toàn dân,không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo Bảo đảm các quyền tự do dân chủ Thựchiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”(3) Hiến Pháp quy định: Nghị viện nhândân là cơ quan có quyền lực cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Chính phủ là cơquan hành chính cao nhất của toàn quốc; ở tỉnh, thành phố, thị xã và xã có HĐND do đầu phiếuphổ thông và trực tiếp bầu ra HĐND tỉnh, thành phố, thị xã và xã cử ra Ủy ban hành chính Ở

bộ và huyện chỉ có Ủy ban hành chính Ủy ban hành chính bộ do Hội đồng các tỉnh và thànhphố bầu ra Ủy ban hành chính huyện do Hội đồng các xã bầu ra Hiến pháp cũng quy định hệthống tổ chức và quyền hạn của cơ quan tư pháp và những điều quy định về sửa đổi Hiến pháp

Từ đây, quyền làm chủ nước nhà, quyền và nghĩa vụ của công dân, hệ thống chính quyền nhànước các cấp được thể chế trong Hiến pháp

2.2 Giải pháp về giải quyết giặc đói

Với cương vị là người đứng đầu Chính phủ cách mạng lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minhxem đói nghèo cũng là một thứ giặc nguy hiểm như giặc dốt và giặc ngoại xâm Theo Người:''Nước nhà đã giành được độc lập tự do mà dân vẫn còn đói nghèo cực khổ thì độc lập tự dokhông có ích gì''

Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 03/9/1945, Người đã nêu sáu vấn đề cấpbách trong đó cứu đói là một trong sáu nhiệm vụ cấp bách hàng đầu Người nói: “Nhân dânđang đói…Hơn hai triệu đồng bào chúng ta đã chết đói vì chính sách độc ác này…Nhữngngười thoát chết đói nay cũng bị đói Chúng ta phải làm thế nào cho họ sống” Người nêu rabiện pháp khắc phục: “Tôi đề nghị với Chính phủ là phát động một chiến dịch tăng gia sảnxuất…Tôi đề nghị mở một cuộc lạc quyên Mười ngày một lần, tất cả đồng bào chúng ta nhịn

ăn một bữa Gạo tiết kiệm được sẽ góp lại và phát cho người nghèo”

Trang 11

Người đã khởi xướng, đề xuất và gương mẫu thực hiện phong trào hũ gạo cứu đói, vớinghĩa cử cao đẹp mỗi tuần nhịn ăn một bữa, cùng với phong trào ''Tuần lễ vàng'' Hưởng ứnglời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, ở khắp các địa phương trên cả nước, Mặt trận Việt Minh và cácđoàn thể cứu quốc vận động nhân dân hưởng ứng lời kêu gọi Một phong trào quyên góp, tổchức “ngày đồng tâm”, “hũ gạo cứu đói” được phát động mạnh mẽ Trên tinh thần “tình làngnghĩa xóm”, hoạn nạn có nhau, chỉ sau một thời gian ngắn số lương thực cứu đói thu được khánhiều, giải quyết kịp thời nhu cầu bức thiết của đời sống nhân dân.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người dân trong cả nước đã tích cực góp

gạo cứu đói cho đồng bào.

Song song với công tác lạc quyên cứu đói, chính quyền cách mạng còn phát độngphong trào tăng gia sản xuất để giải quyết nạn đói tận gốc Đối với Bác, dù trong bất cứ hoàncảnh nào, Bác đều đặt vấn đề đẩy mạnh phong trào tăng gia sản xuất như là một nhu cầu nội tạicủa quốc gia, của cách mạng

Trang 12

Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác, nhân dân ta đã phát huy tinh thần hăng hái lao động,đẩy mạnh tăng gia sản xuất Nhiều quãng đê bị vỡ đã được gia cố lại, đắp thêm một số đê mới.Cho đến đầu năm 1946, tức là chỉ bốn tháng sau cách mạng, công tác đê điều đã hoàn thành.Đồng thời với việc đắp đê, với khẩu hiệu “tấc đất tấc vàng”, chính quyền và nhân dân tất cả cácđịa phương ra sức cải tạo đất công cộng còn trống như sân bãi, vỉa hè, bờ đê để trồng trọt, nhất

là hoa màu ngắn ngày Kết quả sản lượng hoa màu đã tăng gấp bốn lần so với thời kỳ Phápthuộc Chỉ trong năm tháng từ tháng 11-1945 đến tháng 5-1946 đã đạt 614.000 tấn, qui ra thóc

là 506.000 tấn, hoàn toàn có thể bù đắp được số thiếu hụt của vụ mùa năm 1945 Bằng chứng

rõ nhất là dân không đói, giá thóc gạo không tăng mà lại giảm Giặc đói đã bị đánh lui

Đoàn xe điện chở gạo cứu đói, Hà Đông,năm 1945.

2.3 Giải pháp về giải quyết giặc dốt

Ngày 8.9.1945, Chính phủ ban hành sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ (BDHV)quyết định thành lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp học bình dân buổi tối Việc họcchữ quốc ngữ bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người Hạn trong một năm, toàn thểdân chúng Việt nam trên 8 tuổi phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ Ngoài ra còn vận động

Trang 13

toàn dân xây dựng nếp sống mới để đẩy lùi các tệ nạn, hủ tục, thói quen cũ, lạc hậu cản trở tiếnbộ.

Lớp bình dân học vụ

Lời kêu gọi của Bác về nhiệm vụ chống giặc dốt đã nhanh chóng thấm sâu vào tâm trícủa mọi người, làm thức dậy lòng tự tôn dân tộc và thấy rõ trách nhiệm của mình là chỉ trongvòng một năm, ai ai cũng phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ Những nhà có nhà ở rộng rãi

mở lớp học tư gia cho bà con xóm giềng, nhiều hoà thượng, linh mục cho mượn chùa, nhà thờ

để làm lớp Dùng cánh cửa, chiếu trải xuống đất để ngồi

Lớp học khắp nơi, học trưa, học chiều, học tối Lớp đông giáo viên, lớp một thầy mộttrò Chữ viết sẵn trên bảng, treo trên khóm tre, bụi chuối, bờ ao để bà con học tập Để tăngcường và đẩy mạnh việc học, việc hỏi chữ được thiết lập Những người nào đọc được các chữviết trên các bảng đen dựng bên các bến đò, cổng làng, cổng chợ thì được đi qua cổng trangtrí đẹp gọi là “Cổng vinh quang” để đi vào chợ, sang sông, về làng

Chỉ sau một năm hoạt động Bình dân học vụ (08/09/1945 đến 08/09/1946) đã có2.520.678 người thoát nạn mù chữ (dân số lúc đó là 22 triệu người) Đời sống tinh thần của một

13

Trang 14

bộ phận nhân dân được cải thiệt rõ rệt, nhân dân tin tưởng vào chế độ mới, nêu cao quyết tâmbảo vệ chính quyền cách mạng.

2.4 Giải pháp về ngoại giao

Về ngoại giao, Đảng chủ trương kiên trì nguyên tắc thêm bạn bớt thù, thực hiện khẩuhiệu "Hoa - Việt thân thiện" đối với quân đội Tưởng Giới Thạch và "Độc lập về chính trị, nhânnhượng về kinh tế" đối với Pháp Đồng thời tuyên truyền, hết sức kêu gọi đoàn kết chống chủnghĩa thực dân Pháp xâm lược, “đặc biệt chống mọi mưu mô phá hoại chia rẽ của bọn Trốtxkit,Đại Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng”,…

3 Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ

3.1 Giai đoạn 1945

- Diễn biến

+ Ngay trước khi Chính phủ lâm thời chính thức ra mắt đồng bào, ngày 22/8/1945, 20vạn quân Tưởng do Lư Hán chỉ huy bắt đầu kéo vào Đông Dương

+ Cuối tháng 12/1945, Lư Hán đưa tối hậu thư đòi Chính phủ ta phải loại các bộ trưởng

là đảng viên cộng sản… Cùng với các hoạt động chính trị, quân Tưởng và các thế lực phảnđộng liên tục thực hiện nhiều hoạt động cướp bóc, khủng bố, phá hoại, buôn lậu…

+ Ở miền Nam, dựa vào quân Anh, thực dân Pháp đã trở lại xâm lược nước ta Ngày23/9/1945, tiếng súng chống Pháp đã nổ tại Sài Gòn, sau đó lan rộng toàn Nam bộ, báo hiệumột trận chiến mới vô cùng khắc nghiệt

+ Ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã nêu 6 nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: chống giặc đói;chống giặc dốt; tổ chức tổng tuyển cử; giáo dục lại tinh thần của nhân dân bằng cách thực hiệncần, kiệm, liêm, chính; bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò và cấm thuốc phiện; thực hiện tự do tínngưỡng

14

Ngày đăng: 15/12/2022, 15:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w