1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) TIỂU LUẬN môn học kinh tế chính trị mác lênin thực trạng cạnh tranh và độc quyền ở việt nam

29 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng cạnh tranh và độc quyền ở Việt Nam
Tác giả Nhóm 4
Người hướng dẫn Vũ Anh Tuấn
Trường học Trường Kinh Doanh Quốc Tế - Marketing, Đại Học UEH
Chuyên ngành Kinh tế Chính trị Mác - Lênin
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 48,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cạnh tranh giữa các ngành: Cạnh tranh giữa các ngành chính là mức đầu tư sinh lời có lợi nhất giữa các xí nghiệp tư bản kinh doanh trong các ngành sản xuất khác nhau, nhằm mục đích tìm n

Trang 1

ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH DOANH KHOA KINH DOANH QUỐC TẾ - MARKETING

TIỂU LUẬN

Môn học: Kinh tế Chính trị Mác - Lênin

Giảng viên: Vũ Anh Tuấn

Mã lớp học phần: 22D1POL51002444

Thực hiện: Nhóm 4

Khóa – Lớp: K47 -KM002

Trang 2

Mục Lục

1 Cạnh tranh 2

1.1 Quan niệm về cạnh tranh: 2

1.1.1 Khái niệm cạnh tranh và quy luật cạnh tranh 2

1.1.2 Tư duy về cạnh tranh cũ là như thế nào? 2

1.1.3 Tư duy về cạnh tranh ngày nay là như thế nào? 2

1.2 Các hình thức cạnh tranh 3

1.2.1 Theo ngôn ngữ của Mác 3

1.2.2 Theo giác độ của kinh tế học thì cạnh tranh được chia thành ba loại: 4

1.3 Tác động của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường: 6

1.3.1 Tác động tích cực của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường: 6

1.3.2 Tác động tiêu cực của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường: 7

2 Độc quyền 8

2.1 Khái niệm 8

2.2 Các mối quan hệ cạnh tranh và độc quyền 8

2.2.1 Độc quyền sinh ra từ cạnh tranh tự do 8

2.2.2 Độc quyền khiến cho cạnh tranh trở nên đa dạng, gay gắt hơn 9

2.3 Các mối quan hệ cạnh tranh độc quyền 9

2.3.1 Cạnh tranh với số lượng lớn các doanh nghiệp khác: 10

2.3.2 Cạnh tranh về giá cả: 10

2.3.3 Cạnh tranh về khác biệt sản phẩm: 10

2.4 Các loại độc quyền 11

2.4.1 Độc quyền 11

2.4.2 Độc quyền nhà nước 16

3 Sự tác động qua lại và yêu cầu cần bảo vệ cạnh tranh, chống độc quyền 20

3.1 Sự tác động qua lại và mối quan hệ giữa cạnh tranh và độc quyền 20

3.2 Tầm quan trọng của yêu cầu bảo vệ cạnh tranh, chống độc quyền 21

3.3 Một số chính sách bảo vệ cạnh tranh chống độc quyền 21

4 Thực trạng cạnh tranh và độc quyền ở Việt Nam 24

4.1 Tình trạng cạnh tranh bất bình đẳng: 24

4.2 Hành vi cạnh tranh của các doanh nghiệp: 24

4.3 Độc quyền của một số công ty 25

4.4 Độc quyền tự nhiên trong các ngành kết cấu hạ tầng: 26

4.5 Một số yếu tố khác: 27

TÀI LIỆU THAM KHẢO 28

Trang 3

1 Cạnh tranh

1.1 Quan niệm về cạnh tranh:

1.1.1 Khái niệm cạnh tranh và quy luật cạnh tranh

Cạnh tranh là sự ganh đua giữa những chủ thể kinh tế với nhau nhằm có được những

ưu thế về sản xuất cũng như tiêu thụ và thông qua đó mà thu được lợi ích tối đa Ví dụnhư việc cạnh tranh giữa Honda và Yamaha trong thị trường xe máy, Cocacola vàPepsi cạnh tranh về thị trường nước ngọt, McDonald's và Burger King cạnh tranh nhau

về thị trường thức ăn nhanh, Còn quy luật cạnh tranh là quy luật kinh tế điều tiếtmột cách khách quan mối quan hệ ganh đua kinh tế giữa các chủ thể trong sản xuất vàtrao đổi hàng hoá

Qua đây ta có thể thấy, kinh tế thị trường càng phát triển thì cạnh tranh trên thị trườngcàng trở nên thường xuyên, quyết liệt hơn Do tác động của quy luật cạnh tranh làmcho việc cạnh tranh trở thành hoạt động tất yếu của mỗi chủ thể kinh tế trên thị trườngnhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mình với mục đích tối đa hoá lợi ích

1.1.2 Tư duy về cạnh tranh cũ là như thế nào?

Trước đây, khi nhắc đến 2 từ “cạnh tranh” có thể ta sẽ suy diễn đến ngay đó là “Cá lớnnuốt cá bé”- là những thương vụ thâu tóm, hành động chèn ép, thôn tính, dùng mọi thủđoạn của các doanh nghiệp lớn có vị thế để cưỡng bức, cưỡng chế kìm hãm các doanhnghiệp nhỏ Nuốt cá bé trước khi cá bé kịp lớn mạnh Mục đích của những việc này là

để tiếp tục duy trì vị thế bành trướng của họ trên thị trường cũng như để diệt trừ hậuhọa trong tương lai, vì nếu để cá bé kịp lớn mạnh thì sẽ trở thành đối thủ của chínhmình

1.1.3 Tư duy về cạnh tranh ngày nay là như thế nào?

Ngày nay, cạnh tranh còn có thể được gọi là tranh giành bên cạnh nhau, tức là vừachèn ép đối thủ nhưng mà vẫn hòa hợp để cho đối thủ song hành bên cạnh chúng tanhưng mà điều quan trọng là người ta phân phối lợi ích trong cái sự tương tác đó nhưthế nào Cho nên mới nói cạnh tranh là sự tranh giành bên cạnh nhau chứ không phải

Trang 4

triệt hạ đối thủ theo tư duy cũ Khác với tư duy cạnh tranh cũ, tư duy cạnh tranh ngàynay không không còn xảy ra nhiều tình trạng cá lớn nuốt cá bé, mạnh chèn ép yếu,cưỡng bức, triệt hạ đối thủ nữa Các doanh nghiệp giờ đây có xu hướng cạnh tranhcông bằng, mang tính chất thi đua để nâng cao năng lực của bản thân hơn là cố tìmcách để triệt hạ, đẩy đối thủ ra khỏi đường đua Điều đó đã cho thấy rằng nếu cạnhtranh theo lối cũ thì doanh nghiệp chỉ ngày càng lụi tàn, dù có thắng thì cũng khó đểtồn tại được lâu Kinh doanh không phải là cuộc chơi luôn phải có người thắng kẻthua, để ngày càng phát triển thì các doanh nghiệp nên song hành cùng nhau, thà có lợicho cả đôi bên còn hơn hãm hại lẫn nhau.

Tóm lại, có thể hiểu theo tư duy ngày nay là các doanh nghiệp vẫn luôn cạnh tranh vớinhau, nhưng thay vì triệt hạ nhau thì các doanh nghiệp lại luôn lấy việc cạnh tranh làmđộng lực để phát triển nhiều hơn nữa Cạnh tranh là sự tranh giành bên cạnh nhau chứkhông phải triệt hạ đối thủ theo tư duy kiểu cũ

Để cạnh tranh, các doanh nghiệp sẽ ra sức cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ, hợp lýhóa sản xuất, tăng năng suất lao động để hạ thấp giá trị cá biệt của hàng hóa, làm chogiá trị của hàng hóa sản xuất ra thấp hơn giá trị xã hội của hàng hóa đó Kết quả củacạnh tranh trong nội bộ ngành là hình thành giá trị thị trường hay còn gọi là giá trị xã

Trang 5

hội của từng loại hàng hóa Các doanh nghiệp sản xuất cùng một loại hàng hóa nhưng

do điều kiện sản xuất khác nhau nên hàng hóa sản xuất ra có giá trị cá biệt khác nhau,nhưng trên thị trường các hàng hóa phải bán theo một giá thống nhất hay còn gọi là giáthị trường Giá cả thị trường do giá trị thị trường quyết định Giá trị thị trường khôngchỉ chịu tác động của giá trị xã hội, mà còn chịu tác động của giá trị cá biệt của nhàsản xuất cung ứng đại bộ phận một loại hàng hóa cho thị trường Theo C.Mác: "Mộtmặt phải coi giá trị thị trường là giá trị trung bình của những hàng hóa được sản xuất

ra trong một khu vực sản xuất nào đó Mặt khác, lại phải coi giá trị thị trường là giá trị

cá biệt của những hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện trung bình của khuvực đó và chiếm một khối lượng lớn trong tổng số những sản phẩm của khu vực này"

1.2.1.2 Cạnh tranh giữa các ngành:

Cạnh tranh giữa các ngành chính là mức đầu tư sinh lời có lợi nhất giữa các xí nghiệp

tư bản kinh doanh trong các ngành sản xuất khác nhau, nhằm mục đích tìm nơi đầu tư

có lợi hơn, tức là tỷ suất lợi nhuận cao hơn Như vậy tư bản đầu tư vào các ngành khácnhau thì sẽ có tỷ lệ sinh lời khác nhau

Biện pháp cạnh tranh đó là tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác, tức

là phân phối tư bản vào các ngành sản xuất khác nhau Do điều kiện sản xuất khônggiống nhau giữa các ngành sản xuất trong xã hội, vì thế lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuậncủa họ thu được cũng không giống nhau nên các nhà tư bản phải chọn ngành nào có tỷsuất lợi nhuận cao nhất để đầu tư Tỷ suất lợi nhuận bình quân chỉ tồn tại trong giaiđoạn nhất định Kết quả là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá trị hàng hoáchuyển thành giá cả sản xuất

Ví dụ như bảo hiểm và ngân hàng là hai ngành đang cạnh tranh với nhau rất mạnh hiệnnay Hoặc cạnh tranh giữa các ngành như ngành may mặc, ngành thiết bị y tế, ngànhxây dựng

1.2.2 Theo giác độ của kinh tế học thì cạnh tranh được chia thành ba loại:

- Cạnh tranh giữa người bán và người bán

Trang 6

- Cạnh tranh giữa người mua và người mua

- Cạnh tranh giữa người mua và người bán

1.2.2.1 Cạnh tranh giữa những người bán với nhau:

Là cuộc cạnh tranh nhằm giành giật khách hàng và thị trường, từ đó lấy được lợi thếtrong cuộc cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường đối thủ và kết quả đánh giá sự chiến thắngchính là tăng doanh số tiêu thụ, tăng thị phần và cùng với đó sẽ là tăng lợi nhuận.Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào tỏ ra đuối sức, không chịu được sức ép

sẽ phải rút lui khỏi thị trường, nhường thị phần của mình cho các đối thủ mạnh hơn

Và thông thường giá cả giảm xuống và có lợi cho người mua

Để lấy ví dụ về cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thì có lẽ “cặp đôi” mà rất nhiềungười sẽ nghĩ ngay đến là Coca Cola và Pepsi, đây chính là những đối thủ truyền kỳcủa nhau khi đối đầu trực tiếp, với việc cung cấp cùng một dòng sản phẩm Đươngnhiên, họ không chỉ đưa ra các cuộc chạy đua về sản phẩm hay giá thành, mà ngay cảtrong các hoạt động marketing, truyền thông cũng vô cùng “sôi động”

1.2.2.2 Cạnh tranh giữa những người mua với nhau:

Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường Khi cung nhỏ hơncầu thì cuộc cạnh tranh trở nên gay gắt, giá cả hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng lên, ngườimua phải chấp nhận giá cao để mua được hàng hoá hoá mà họ cần

Ví dụ như trong một buổi đấu giá, tại đây các sản phẩm được đấu giá hầu hết là cácsản phẩm rất hiếm hoặc có thể là độc nhất nhưng vẫn rất nhiều người muốn sở hữu nóbằng cách trả giá khác nhau để sở hữu

1.2.2.3 Cạnh tranh giữa người mua và người bán:

Người bán muốn bán hàng hoá của mình với giá cao nhất, còn người mua muốn muavới giá thấp nhất Sự canh tranh này được thực hiện trong quá trình mặc cả và cuốicùng giá cả được hình thành và hành động bán mua được thực hiện

Trang 7

Giống như trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường trả giá khi người bán đưa ramột giá cả nào đó, hai bên sẽ thương lượng giá đến khi hai bên đều chấp nhận giá.Nhưng cơ bản chính là sự tương tác giữa người mua và người bán vì người mua vàngười bán đại diện trong hai đầu cầu trong mối quan hệ giữa cung và cầu, hai đại diệnnày không ngừng cân bằng cũng như thống nhất với nhau để tác động vào các hoạtđộng kinh tế, điều tiết cũng như cùng nhau phát triển thị trường lành mạnh, hợp lý.Đây là hai nhân tố tất yếu trong thị trường.

1.3 Tác động của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường:

1.3.1 Tác động tích cực của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường:

Thứ nhất, cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất Nhằm nâng cao

khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể sản xuất kinh doanhkhông ngừng tìm kiếm cũng như ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới, công nghệ mới vàosản xuất, kéo theo sự đổi mới và tiến bộ về mặt kiến thức cũng như tay nghề của ngườilao động Kết quả là, cạnh tranh giúp thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triểnnhanh hơn

Thứ hai, cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường Mọi hành vi của

các chủ thể kinh tế đều hoạt động trong môi trường cạnh tranh trong nền kinh tế thịtrường Mọi hành động đó đều nhằm mục đích tối đa lợi nhuận Để đạt được tối đa lợinhuận, ngoài việc hợp tác, họ cũng cạnh tranh với nhau để có được những điều kiệnthuận lợi trong sản xuất, kinh doanh để thu được lợi nhuận cao nhất Thông qua đó,nền kinh tế thị trường được hoàn thiện hơn

Thứ ba, cạnh tranh là cơ chế điều chỉnh linh hoạt việc phân bổ các nguồn lực Nền

kinh tế thị trường đòi hỏi việc sử dụng các nguồn lực phải dựa trên nguyên tắc cạnhtranh nhằm hướng tới việc nguồn lực đó được chủ thể sử dụng một cách hiệu quả nhất

Vì vậy, các chủ thể kinh doanh phải thực hiện cạnh tranh để có được cơ hội sử dụngcác nguồn lực để phục vụ cho sản xuất kinh doanh

Thứ tư, cạnh tranh thúc đẩy năng lực thỏa mãn nhu cầu của xã hội Trong nền kinh tế

thị trường, mục đích của các chủ thể kinh tế là tối đa lợi nhuận, mà người tiêu dùng là

Trang 8

người cuối cùng quyết định chủng loại, số lượng cũng như chất lượng của hàng hóatrên thị trường Chỉ có những sản phẩm hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng lựachọn thì mới bán được và chủ thể sản xuất mới có lợi nhuận Vì vậy, những chủ thểsản xuất phải tìm mọi phương pháp nhằm đa dạng lượng sản phẩm, chất lượng tốt, giáthành hạ, làm cho nhu cầu của người tiêu dùng và xã hội tăng.

1.3.2 Tác động tiêu cực của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường:

Cạnh tranh cũng gây ra sự ô nhiễm môi trường và mất cân bằng sinh thái Trong nền

kinh tế thị trường, vì mục tiêu lợi nhuận, nên các chủ thể kinh tế phải giảm chi phí sảnxuất đến mức tối thiểu, do đó các chất thải do quá trình sản xuất sinh ra không đượccác doanh nghiệp xử lý, gây ô nhiễm môi trường, làm thiệt hại cho người tiêu dùng và

xã hội Hơn nữa, cũng vì mục tiêu lợi nhuận, nên các doanh nghiệp tìm mọi thủ đoạn

để tập trung khai thác bừa bãi, khai thác kiệt quệ tài nguyên, gây mất cân bằng sinhthái, làm giảm hiệu quả của nền kinh tế

Trong cạnh tranh không lành mạnh, các chủ thể kinh tế thường dẫn đến những hành vi

vi phạm đạo đức kinh doanh, vi phạm pháp luật Trong nền kinh tế thị trường, cạnh

tranh không lành mạnh như các chủ thể kinh tế dùng những thủ đoạn làm phương hại đốithủ cạnh tranh, đến người tiêu dùng và xã hội để thu lợi nhuận cao nhất về mình Đó là

họ thường sử dụng các hành vi vi phạm đạo đức kinh doanh, vi phạm pháp luật, làm hànggiả, hàng nhái, trốn lậu thuế, tung tin giả, … tất cả những hành vi đó sẽ gây thiệt hại lợiích cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính, làm thiệt hại lợi ích cho người tiêu dùng và

xã hội

Cạnh tranh góp phần làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội Trong cạnhtranh, những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trang bị kỹ thuật tiên tiến, hiệnđại, có trình độ tay nghề lao động cao, hợp lý hóa sản xuất tốt, thì sẽ có năng suất laođộng cao, có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết, họ sẽkhông ngừng mở rộng sản xuất kinh doanh và do đó sẽ có lãi cao và giàu lên nhanhchóng Ngược lại, những người không có điều kiện kinh doanh thuận lợi, trang bị kỹthuật lạc hậu, trình độ tay nghề thấp, tổ chức quản lý yếu kém, năng suất lao động

Trang 9

thấp, hao phí lao động cá biệt sẽ cao hơn hao phí lao động xã hội cần thiết,… Họ sẽ bị thua lỗ, phá sản và sẽ trở thành những người nghèo khó trong xã hội.

2 Độc quyền

2 1 Khái niệm

Độc quyền là sự liên minh giữa các doanh nghiệp lớn, nắm trong tay phần lớn việc sảnxuất và tiêu thụ một số loại hàng hoá, có khả năng định ra giá cả độc quyền, nhằm thulợi nhuận độc quyền cao Ví dụ như điện và nước đang là 2 ngành công nghiệp độcquyền tại Việt Nam và nhiều quốc gia khác trên thế giới

Độc quyền có thể được coi là kết quả cực đoan của chủ nghĩa tư bản và thị trường tự

do kinh tế khi không có bất kỳ hạn chế hoặc rào cản nào Nhờ thế, một công ty hoặcmột nhóm các doanh nghiệp có thể tự do phát triển, trở nên đủ lớn để sở hữu tất cảhoặc gần như toàn bộ thị trường (hàng hóa, vật tư, hàng hóa, cơ sở hạ tầng và tài sản)cho một loại sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể Trên thực tế, các công ty công nghệ lớntrên thế giới như Google và Facebook đang phải đối mặt với rất nhiều đơn kiện và cáobuộc về vấn đề độc quyền trên thị trường hiện nay

2.2 Các mối quan hệ cạnh tranh và độc quyền

Các mối quan hệ được khái quát chung đó là: Độc quyền sinh ra từ cạnh tranh tự do,độc quyền đối lập với cạnh tranh tự do Nhưng sự xuất hiện của độc quyền không thủtiêu được cạnh tranh, trái lại còn làm cho cạnh tranh trở nên đa dạng, gay gắt và có sứcphá hoại to lớn hơn

2.2.1 Độc quyền sinh ra từ cạnh tranh tự do

Cạnh tranh và độc quyền là hai thái cực đối lập và có mối quan hệ nhân quả trong cấutrúc thị trường Nếu cạnh tranh gay gắt, cao độ và không có sự kiểm soát của Nhànước sẽ dẫn đến tích tụ, tập trung và dẫn đến độc quyền, hay độc quyền là hệ quả tấtyếu của cạnh tranh

Trang 10

Ngược lại, độc quyền nếu không có sự kiểm soát của Nhà nước sẽ là lực cản và có thểtriệt tiêu cạnh tranh, làm thay đổi cơ cấu và tương quan thị trường, gây hậu quả cho xãhội và người tiêu dùng.

2.2.2 Độc quyền khiến cho cạnh tranh trở nên đa dạng, gay gắt hơn

Trong nền kinh tế thị trường, nhìn chung, không chỉ tồn tại sự cạnh tranh giữa các chủthể sản xuất kinh doanh nhỏ và vừa mà còn có thêm các loại cạnh tranh giữa các tổchức độc quyền, đó là:

Một là, là cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền với các doanh nghiệp ngoài độc

quyền Các tổ chức độc quyền thường tìm cách để chi phối, thôn tính các doanhnghiệp ngoài độc quyền bằng nhiều biện pháp như: độc quyền mua nguyên liệu đầuvào, độc quyền phương tiện vận tải, độc quyền tín dụng, để có thể loại bỏ các chủthể chủ yếu thế hơn ra khỏi thị trường

Hai là, cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền với nhau Loại hình cạnh tranh này có

nhiều hình thức: cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền trong cùng một ngành, kếtthúc bằng một sự thỏa hiệp hoặc bằng sự phá sản của một bên cạnh tranh; cạnh tranhgiữa các tổ chức độc quyền khác ngành có liên quan với nhau về nguồn lực đầu vào,

Ba là, cạnh tranh trong nội bộ các tổ chức độc quyền Những doanh nghiệp tham gia

các tổ chức độc quyền cũng có thể cạnh tranh với nhau nhằm mục đích giành lợi thếtrong hệ thống Các thành viên trong các tổ chức độc quyền cũng có thể cạnh tranh vớinhau để chiếm tỷ lệ cổ phần khống chế, từ đó chiếm địa vị trí phối và phân chia lợi ích

có lợi hơn

Tóm lại, Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, cạnh tranh và độc quyền luôn cùng tồntại song hành với nhau Mức độ khốc liệt của cạnh tranh và mức độ độc quyền hóa phụthuộc vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi nền kinh tế thị trường khác nhau

2.3 Các mối quan hệ cạnh tranh độc quyền

Cạnh tranh độc quyền là cấu trúc thị trường kết hợp các yếu tố của thị trường độcquyền và thị trường cạnh tranh hoàn hảo,trong đó có sự cạnh tranh của các nhà độc

Trang 11

quyền bán những sản phẩm tương tự nhưng không đồng nhất với nhau một cách tuyệtđối.

2.3.1 Cạnh tranh với số lượng lớn các doanh nghiệp khác:

Vì tự do gia nhập mà không phải gặp bất kỳ hạn chế gì nên trong thị trường cạnh tranhđộc quyền có một số lượng lớn doanh nghiệp tham gia Mỗi một gia nhập mới của mộtdoanh nghiệp sẽ gây ra tác động tiêu cực cho các doanh nghiệp hiện đang hoạt động,bởi lúc này đối thủ cạnh tranh mới sẽ đánh cắp thị phần,khiến các doanh nghiệp nàymất khách hàng và giảm lợi nhuận

2.3.2 Cạnh tranh về giá cả:

Các nhà cung cấp sản phẩm hàng hóa, dịch vụ có thể kiểm soát được chính sách giá,sản lượng của doanh nghiệp mình ở một mức độ nào đó cho nên mỗi doanh nghiệptrong thị trường cạnh tranh độc quyền sẽ tuân theo một chính sách giá độc lập Giả sử,nếu một doanh nghiệp giảm giá, doanh số bán được sẽ bị chênh lệch một chút so vớinhiều đối thủ của nó,khi đó mức độ mà mỗi đối thủ phải gánh chịu sẽ rất nhỏ Như vậycác đối thủ sẽ không có lý do gì để phản ứng trước sự thay đổi của doanh nghiệp này

2.3.3 Cạnh tranh về khác biệt sản phẩm:

Trên thị trường cạnh tranh độc quyền, mỗi doanh nghiệp chỉ độc quyền đối với sảnphẩm mà họ sản xuất, nhưng nhiều doanh nghiệp khác cũng sản xuất các sản phẩm vớimục đích tương tự như vậy để thu hút cùng một nhóm khách hàng Do đó các tổ chứcđộc quyền chủ yếu cạnh tranh về chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch vụ Thôngqua tiếp thị quảng cáo và xây dựng thương hiệu, họ luôn cố gắng để khiến sản phẩmcủa mình có những đặc tính khác biệt hoặc người tiêu dùng cảm nhận được sự khácbiệt giữa chúng về một mặt nào đó Sản phẩm có thể được phân biệt theo một số yếu

tố, bao gồm chất lượng, kiểu dáng, sự tiện lợi, điểm bán và tên thương hiệu, giá trị giatăng…Cạnh tranh độc quyền có xu hướng dẫn đến tiếp thị nặng vì các công ty khácnhau cần phải phân biệt rộng rãi các sản phẩm tương tự Ở đây có thể kể đến

Trang 12

McDonald's và Burger King, cả hai đều dành riêng cho cùng một thứ, thức ăn nhanh,nhưng chúng có các sản phẩm khác nhau, ngay cả khi chúng giống nhau thì giá cảcũng khác nhau Điều này khiến họ trở thành đối thủ cạnh tranh độc quyền vì họ cungcấp các sản phẩm khác biệt, với các mức giá khác biệt.

2.4 Các loại độc quyền

2.4.1 Độc quyền

2.4.1.1 Nguyên nhân hình thành:

Một là, sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tác động tiến bộ khoa học kỹ thuật

đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng dụng kỹ thuật mới nên phải có vốn lớn, thúc đẩy tích tụ

và tập trung sản xuất

Hai là, cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX có rất nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật mới

làm xuất hiện những ngành sản xuất mới đòi hỏi các doanh nghiệp phải có quy mô

lớn Ba là, tác động của các quy luật kinh tế thị trường như quy luật giá trị thặng dư,

quy luật tích luỹ làm biến đổi cơ cấu kinh tế của xã hội theo hướng tập trung sảnxuất quy mô lớn

Bốn là, cạnh tranh gay gắt làm các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị phá sản, để tiếp tục

phát triển các doanh nghiệp còn lại tìm cách tập trung, liên kết doanh nghiệp thành quy

mô lớn

Năm là, khủng hoảng kinh tế năm 1873 làm phá sản hàng loạt các doanh nghiệp vừa và

nhỏ, doanh nghiệp lớn muốn tiếp tục tồn tại và phát triển phải thúc đẩy nhanh quá trình

tích tụ và tập trung sản xuất nên hình thành các tổ chức độc quyền có quy mô lớn Sáu là,

tín dụng tư bản chủ nghĩa phát triển là đòn bẩy quan trọng để tập trung sản xuất và pháttriển các công ty cổ phần tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức độc quyền

2.4.1.2 Lợi nhuận độc quyền:

Lợi nhuận độc quyền là lợi nhuận thu được cao hơn lợi nhuận bình quân, do sự thốngtrị của các tổ chức độc quyền đem lại

Trang 13

Nguồn gốc của lợi nhuận độc quyền bao gồm: Lao động không công của công nhântrong xí nghiệp độc quyền, lao động không công của công nhân trong xí nghiệp ngoàiđộc quyền, 1 phần giá trị thặng dư của xí nghiệp tư bản vừa, nhỏ bị thiệt và 1 phần laođộng tất yếu của công nhân lao động trong các nước tư bản và các nước thuộc địa, phụthuộc.

Giá cả độc quyền: Giá cả do tổ chức độc quyền áp đặt khi mua với giá cả độc quyềnthấp, khi bán với giá cả độc quyền cao Trong đó:

Giá cả độc quyền = Chi phí sản xuất + Lợi nhuận độc quyền

Qua đó, ta thấy được rằng giá cả độc quyền không thoát ly khỏi giá trị và không phủđịnh cơ sở của nó là giá trị Giá cả thị trường trong giai đoạn này xoay quanh giá cảđộc quyền

2.4.1.3 Tác động của độc quyền:

Về tích cực, độc quyền tạo khả năng to lớn trong nghiên cứu và triển khai ứng dụngcác hoạt động khoa học kỹ thuật bởi nó có khả năng tập trung nguồn lực tài chính, cóthể làm tăng năng suất lao động, nâng cao khả năng cạnh tranh thương mại trong hoạtđộng sản xuất Ngoài ra, độc quyền còn tạo sức mạnh kinh tế góp phần thúc đẩy nềnkinh tế phát triển theo hướng sản xuất lớn hiện đại

Tuy nhiên, vẫn còn một vài tác động tiêu cực như làm cho cạnh tranh không hoàn hảogây thiệt hại cho người tiêu dùng và xã hội, có thể kìm hãm tiến bộ khoa học kỹ thuật,theo đó kìm hãm sự phát triển của kinh tế, xã hội và chi phối các quan hệ KT- XH làmgia tăng sự phân hoá giàu nghèo

2.4.1.4 Những đặc điểm kinh tế cơ bản:

* Tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền:

Kết quả tích tụ và tập trung sản xuất biểu hiện ở số lượng các xí nghiệp lớn chiếm tỷtrọng nhỏ nhưng nắm giữ các lĩnh vực sản xuất chủ yếu của nền kinh tế, số lượng côngnhân lớn, sản xuất phần lớn tổng sản phẩm xã hội

Trang 14

Do số lượng doanh nghiệp lớn ít nên có thể dễ dàng thỏa thuận và do doanh nghiệp lớnvới kỹ thuật cao, cạnh tranh gay gắt, từ đó xuất hiện sự thoả hiệp hình thành tổ chứcđộc quyền.

Các hình thức tổ chức độc quyền cơ bản từ thấp đến cao bao gồm:

- Cartel: Các xí nghiệp thỏa thuận về giá cả, khối lượng hàng hoá, thị trường tiêu thụ,

kỳ hạn thanh toán…còn sản xuất và lưu thông do từng thành viên tự thực hiện

- Syndicate: Các xí nghiệp thỏa thuận về giá cả, khối lượng hàng hoá, thị trường tiêu thụ, kỳ hạn thanh toán, lưu thông…còn sản xuất do từng thành viên tự thực hiện

- Trust: Các tư bản tham gia Trust trở thành cổ đông để thu lợi nhuận, có Ban quản trị thống nhất quản lý cả sản xuất và lưu thông

- Consortium: là hình thức tổ chức độc quyền có trình độ và quy mô lớn hơn ( bao gồm

cả hình thức độc quyền Cartel, Syndicate, Trust) cả những ngành khác nhau nhưng liênquan nhau về kinh tế - kỹ thuật Là kiểu liên kết dọc, một consortium có thể có hàng trăm

xí nghiệp liên kết dựa trên cơ sở hoàn toàn phụ thuộc về tài chính vào một nhóm các nhà

tư bản kếch xù

Ngoài ra còn xuất hiện các công ty độc quyền xuyên quốc gia bên cạnh sự phát triểncủa các xí nghiệp vừa và nhỏ thông qua phát triển liên kết dọc và liên kết ngang, trong

và ngoài nước tạo ra tổ chức độc quyền mới:

- Concern: là tổ chức độc quyền đa ngành có hàng trăm xí nghiệp có quan hệ với những ngành khác nhau và phân bổ ở nhiều nước

- Conglomerate: là sự kết hợp hàng chục hãng vừa và nhỏ không có bất kỳ sự liênquan nào về sản xuất hoặc dịch vụ cho sản xuất Mục đích thu lợi nhuận bằng nghiệp vụkinh doanh chứng khoán

Bên cạnh các tổ chức độc quyền, xuất hiện nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ ( do việcứng dụng khoa học công nghệ cho phép tiêu chuẩn hoá, chuyên môn hoá sâu sắc nêncần hệ thống gia công là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hơn nữa các doanh nghiệp vừa

và nhỏ có thế mạnh nhạy cảm, linh hoạt ứng phó với sự biến động của thị trường)

* Tư bản tài chính và hệ thống tài phiệt chi phối sâu sắc nền kinh tế:

Ngày đăng: 15/12/2022, 15:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w