1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) TIỂU LUẬN môn CHỦ NGHĨA xã hội KHOA học tên đề tài vấn đề dân tộc TRONG THỜI kì QUÁ độ lên CHỦ NGHĨA xã hội ở VIỆT NAM HIỆN NAY

19 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Nhóm 5
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thanh Hải
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 149,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này chủ yếu nghiên cứu đến yếu tố Dân tộc và Tôn giáo bởi hiện nay vấn đề của mối quan hệ này là hai yếu tố ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị - xã hội của Việt Nam.. 2.2 Nhiệm vụ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM

CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO

ĐẶC BIỆT

TIỂU LUẬN MÔN:

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

TÊN ĐỀ TÀI:

VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

GVHD: ThS Nguyễn Thanh Hải

DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 5

Trang 2

Thành phố Hồ Chí Minh, 2022

Trang 3

Mục lục

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 1

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 1

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3.1 Đối tượng 2

3.2 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài 2

5 Kết cấu đề tài 2

VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Chương 1: Khái niệm, đặc trưng cơ bản về tôn giáo và dân tộc PHẦN 1: KHÁI NIỆM DÂN TỘC VÀ ĐẶC ĐIỂM DÂN TỘC Ở VIỆT NAM 3

PHẦN 2: KHÁI NIỆM TÔN GIÁO VÀ TÍNH CHẤT CỦA TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM 4

1 Khái niệm tôn giáo 4

2 Tính chất của tôn giáo 4

Chương 2: Mối mối quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam 2.1 Đặc điểm mang tính đặc thù cơ bản đầu tiên 6

2.2 Đặc điểm mang tính đặc thù cơ bản thứ hai 7

2.3 Đặc điểm mang tính đặc thù cơ bản thứ ba 8

Chương 3: Ảnh hưởng của mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc đến sự ổn định chính trị-xã hội PHẦN KẾT BÀI 16

Các nguồn tham khảo: 16

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Từ lâu, vấn đề tôn giáo đã là một vấn đề nhạy cảm không chỉ ở Việt Nam, mà còn ở nhiều nước trên thế giới Hiện nay, sự can thiệp của tôn giáo vào đời sống chính trị ngày càng gia tăng dưới nhiều hình thức khác nhau, Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò của tôn giáo đối với đời sống tinh thần của nhân loại, bằng chứng

là, những thăng trầm của lịch sử đều liên quan ít nhiều với tôn giáo Vì vậy cần tìm hiểu kỹ trước khi giải quyết vấn đề

Việt Nam là quốc gia có nhiều tôn giáo và xu hướng phát triển đa dạng Với 54 dân tộc anh em cùng chung sống đoàn kết trên mảnh đất hình chữ S, mỗi dân tộc có một tín ngưỡng riêng, nhưng không có sự xung đột, phân biệt đối xử Sự hội nhập của các nền văn hóa và hoạt động tín ngưỡng, phong tục, ngôn ngữ được thể hiện rõ nét trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và trong sự nghiệp đấu tranh kiên cường

vì độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Đối với Việt Nam, một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, đây là đặc điểm đòi hỏi phải phát triển mối quan hệ tôn giáo, dân tộc gắn bó chặt chẽ với Việt Nam để làm cơ sở tiếp thu các yếu tố ngoại sinh Đề tài này chủ yếu nghiên cứu đến yếu tố Dân tộc và Tôn giáo bởi hiện nay vấn đề của mối quan hệ này là hai yếu tố ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị - xã hội của Việt Nam

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài này nghiên cứu về các khái niệm tôn giáo, dân tộc và các đặc trưng có bản Nắm được các mối quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam và định hướng giải quyết cũng như một số giải pháp nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc ở Việt Nam Đồng thời, nghiên cứu ảnh hưởng của mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc đến sự ổn định chính trị-xã hội

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Dựa trên cơ sở tổng quan những công trình nghiên cứu về Tôn giáo và Dân tộc, Tiểu luận khái quát, tổng hợp các tư liệu có liên quan đến mối quan hệ này, định hướng giải quyết và làm rõ ảnh hưởng của mối quan hệ này đến tình hình ổn định chính trị - xã hội

Trang 5

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng

Đề tài nghiên cứu về mối quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam và ảnh hưởng của mối quan hệ này đến sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu tập trung chủ yếu vào:

- Mối quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam

- Sự ảnh hưởng của mối quan hệ đến sự ổn định chính trị- xã hội của đất nước

4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài

Đề tài được nghiên cứu với mong muốn tìm tòi, học hỏi, được hiểu rõ và nâng cao nhận thức về mối quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam hiện nay và sự ảnh hưởng của mối quan hệ này đến đất nước về sự ổn định của chính trị - xã hội Vấn

đề dân tộc, tôn giáo luôn có vị trí quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội của mỗi quốc gia có một hay nhiều tộc người cả trong lịch sử và trong thế giới hiện đại

Vì vậy, ta cần phải có cái nhìn đúng đắn những vấn đề lí luận và thực tiễn về vấn đề tôn giáo cũng như dân tộc

5 Kết cấu đề tài

Đề tài gồm 4 phần:

- Phần mở đầu

- Phần nội dung

- Phần kết bài

- Phần tài liệu tham khảo

Phần nội dung thì gồm 3 chương:

+ Chương 1: Khái niệm, đặc trưng cơ bản về tôn giáo và dân tộc

+ Chương 2: Mối mối quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam

+ Chương 3: Ảnh hưởng của mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc đến sự ổn định chính trị - xã hội

Trang 6

VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO TRONG THỜI KỲ

QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI 1

NỘI DUNG CHÍNH:

 Khái niệm dân tộc và đặc điểm dân tộc ở Việt Nam

 Khái niệm tôn giáo và tính chất tôn giáo ở Việt Nam

 Quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, những biểu hiện

 Ảnh hưởng của mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc đến sự ổn định chính trị-xã

hội

Chương 1: Khái niệm, đặc trưng cơ bản về tôn giáo và dân tộc

PHẦN 1: KHÁI NIỆM DÂN TỘC VÀ ĐẶC ĐIỂM DÂN TỘC Ở VIỆT NAM

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, dân tộc là quá trình phát triển lâu

dài của xã hội loài người, trải qua các hình thức cộng đồng từ thấp đến cao, bao

gồm: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc Sự biến đổi của phương thức sản xuất chính là

nguyên nhân quyết định sự biến đổi của cộng đồng dân tộc Cho đến nay, dân tộc

được hiểu theo hai nghĩa:

- Dân tộc là khái niệm dùng để chỉ một - Dân tộc (ethnic) là khái niệm dùng để

cộng đồng người ổn định làm thành chỉ một cộng đồng tộc người được hình nhân dân một nước, có lãnh thổ riêng, thành trong lịch sử, có mối liên hệ chặt nền kinh tế thống nhất, có ngôn ngữ chẽ và bền vững, có chung ý thức tự chung và có ý thức về sự thống nhất của giác tộc người, ngôn ngữ và văn hóa mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi Với nghĩa này, dân tộc là một bộ phận chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa hay thành phần của quốc gia Chẳng

và truyền thống đấu hạn, Việt Nam là quốc gia có 54 dân tộc tranh chung trong suốt quá trình lịch sử tức 54 cộng đồng tộc người Sự khác lâu dài dựng nước và giữ nước Với nhau giữa các cộng đồng tộc người ấy nghĩa này, khái niệm dân tộc dùng để biểu hiện chủ yếu ờ đặc trưng văn hóa, chỉ một quốc gia, nghĩa là toàn bộ nhân lối sống, tâm lý, ý thức tộc người

dân của một nước - Dân tộc-tộc người có một số đặc

- Ví dụ: dân tộc Ấn Độ, dân tộc trưng cơ bản sau:

Trung Hoa, dân tộc Việt Nam v.v + Cộng đồng về ngôn ngữ (bao gồm

1

Trang 7

- Một số đặc trưng cơ bản sau: ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết; hoặc chi + Thứ nhất: có chung một vùng lãnh riêng ngôn ngữ nói)

thổ ổn định + Cộng đồng về văn hóa Văn hóa

+ Thứ hai: có chung một phương bao gồm văn hóa vật thể và phi vật thể ở thức sinh hoạt kinh tế mỗi tộc người phản ánh truyền thống, lối

+ Thứ ba: có chung một ngôn ngữ sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, làm công cụ giao tiếp tôn giáo của tộc người đó

+ Thứ tư: có chung một nền văn hóa + Ý thức tự giác tộc người Đây là tiêu

và tâm lý

chí quan trọng nhất để phân định một + Thứ năm: có chung một nhà nước (nhà tộc người và có vị trí quyết định đối với nước dân tộc) sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc

người

PHẦN 2: KHÁI NIỆM TÔN GIÁO VÀ TÍNH CHẤT CỦA TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

1 Khái niệm tôn giáo

Theo khoản 5 Điều 2 của Luật tín ngưỡng tôn giáo 2016 quy định: Tôn giáo là

niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức

2 Tính chất của tôn giáo

Tính lịch sử của tôn giáo: Tôn giáo là một hiện tượng xã hội có sự hình thành,

tồn tại và phát triển và có khả năng biến đổi trong những giai đoạn lịch sử nhất định để thích nghi với nhiều chế độ chính trị-xã hội Khi các điều kiện kinh tế-xã hội, lịch sử thay đổi thì tôn giáo cũng có sự thay đổi Chính các điều kiện kinh tế-xã hội, lịch sử cụ thể đã làm cho các tôn giáo bị phân liệt, chia tách thành nhiều tôn giáo, hệ phái khác nhau Theo Chủ nghĩa Mác-Lênin, đến một giai đoạn lịch sử nào đó, khi khoa học và giáo dục giúp cho đại đa số nhân dân nhận thức được bản chất các hiện tượng tự nhiên và xã hội thì tôn giáo sẽ dần dần mất đi vị trí của nó trong đời sống xã hội và cả trong nhận thức, niềm tin của mỗi người

Tính quần chúng: Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phổ biến ở tất cả các dân

tộc, quốc gia, châu lục Không chỉ biểu hiện ở số lượng đông đảo (gần ¾ TG); mà còn thể hiện ở chỗ các tôn giáo là nơi sinh hoạt văn hóa, tinh thần của một bộ

Trang 8

phận quần chúng nhân dân Dù tôn giáo hướng con người vào niềm tin hạnh phúc

hư ảo của thế giới bên kia, song nó luôn phản ánh khát vọng của những người lao động về một xã hội tự do, bác ái Mặt khác, nhiều tôn giáo có tính nhân văn, nhân đạo và hướng thiện, vì vậy, được nhiều người ở tầng lớp khác nhau trong xã hội, đặc biệt là quần chúng lao động tin theo

Tính chính trị: Khi xã hội chưa có giai cấp, tôn giáo chỉ phản ánh nhận thức

hồn nhiên, ngây thơ của con người về bản thân và thế giới xung quanh mình, tôn giáo chưa mang tính chính trị Tính chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp, có sự khác biệt, sự đối kháng về lợi ích giai cấp Trước hết, do tôn giáo là sản phẩm của những điều kiện kinh tế-xã hội, phản ánh lợi ích, nguyện vọng của các giai cấp khác nhau trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, nên tôn giáo mang tính chính trị Song, khi các giai cấp bóc lột, thống trị sử dụng tôn giáo để phục vụ cho lợi ích giai cấp mình, chống lại các giai cấp lao động và tiến bộ xã hội, tôn giáo sẽ mang tính chính trị tiêu cực, phản tiến bộ

Chương 2: Mối mối quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam

PHẦN 3: QUAN HỆ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO, NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA QUAN HỆ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1 Quan hệ dân tộc và tôn giáo

Quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, tùy thuộc vào góc độ tiếp nhận Song, nhìn chung quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo là sự liên kết tác động qua lại, sự vận động, biến đổi các tôn giáo gắn liền với

sự vận động, biến đổi của các vấn đề dân tộc; trái lại, sự tồn tại của cộng đồng dân tộc cũng thường gắn liền với một tôn giáo nhất định Cụ thể trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc là cơ sở thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, muốn thực hiện quyền tự do tín ngưỡng cho nhân dân trước hết phải có độc lập cho dân tộc; tôn giáo không thể nằm ngoài mối quan hệ với dân tộc, không thể tách rời vận mệnh dân tộc, vận mệnh đất nước Đất nước giành được độc lập, tạo cơ hội cho các tôn giáo có điều kiện phát triển và quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân được tôn trọng Thực tế

sự thành công của cách mạng Việt Nam đã cho thấy tầm quan trọng của việc giải quyết mối quan hệ dân tộc và tôn giáo, mối quan hệ này ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị và phát triển bền vững của mỗi quốc gia

2 Đặc điểm quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.

Trang 9

2.1 Đặc điểm mang tính đặc thù cơ bản đầu tiên

Việt Nam mang màu sắc là một đất nước nhiều dân tộc anh em giao thoa cùng

đa dạng văn hoá tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; quan hệ dân tộc và tôn giáo được thiết lập và củng cố trên cơ sở cộng đồng quốc gia, dân tộc thống nhất Xuyên suốt hàng nghìn năm văn hiến, dấu ấn tôn giáo đã in một phần không nhỏ vào trong truyền thống dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Cụ thể nhân dân ta đã trải qua

ba mươi năm ròng rã khó khăn, gian khổ, quyết chiến, hiến dâng mạng sống của mình để đẩy lùi kế hoạch xâm lăng của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, và hiển nhiên

đã có không ít tín đồ đã phải nằm ở lại nơi chiến trường ấy Sau mỗi sự kiện lịch sự trải qua góp phần không nhỏ tạo nên truyền thống gắn bó chặt chẽ với dân tộc, đồng hành cùng dân tộc, gắn đạo với đời của các tôn giáo ở Việt Nam Mọi dân tộc không phân biệt sinh sống trên đất nước Việt Nam hàng trăm năm hay hàng nghìn năm, không phân biệt quy mô dân số, không phân biệt về tín ngưỡng và tôn giáo cùng tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc Đặc biệt trước những thiên tai nghiêm trọng, địch họa ác liệt, thách thức sinh tồn càng làm cho các dân tộc mang theo sự phong phú về mặt tôn giáo càng gắn bó chặt chẽ hơn, phải phụ thuộc lẫn nhau để cùng ứng phó, tồn tại và phát triển Nhìn chung, quá trình này như việc gieo đa dạng hạt giống tôn giáo khác nhau trên mảnh đất hình chữ S màu mỡ về dân tộc anh

em và trái ngọt kết tinh là một quốc gia - dân tộc thống nhất Điều này càng trở nên

ý nghĩa hơn bao giờ hết, đặc biệt trong tình hình thế giới không ổn định, xung đột gay gắt về mặt chính trị - xã hội, thậm chí nội chiến nổ ra do không giải quyết ổn thoả, chính xác trong mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo Trong thực trạng đó, Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cùng với sự nghiệp đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, từng bước đổi mới nhận thức về vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo đã giải quyết khá tốt mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo bằng chứng là Việt Nam không hề có sự xuất hiện của xung đột tôn giáo Tuy nhiên, quá trình đưa vào thực tiễn, mối quan hệ này cũng nảy sinh những mâu thuẫn do nhận thức hoặc do thực hiện chưa đúng các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng

và Nhà nước Trên cơ sở vấn đề được đặt ra, đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải phát hiện kịp thời, đánh giá một cách khách quan, trực diện giải quyết trên cơ sở khoa học để rút được kinh nghiệm- bài học nhằm thắt chặt mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo phát triển những giá trị tốt đẹp vốn có và tạo ra được những giá trị mới mang màu sắc của một cộng đồng một dân tộc một quốc gia thống nhất hơn hết là tạo ra được một Việt Nam an toàn, ổn định về mặt chính trị - xã hội

Trang 10

Đại đa số người dân Việt Nam ta có truyền thống tín ngưỡng lâu đời, văn hoá tâm linh vô cùng phong phú, đa dạng diễn ra ở nhiều khu vực, vùng miền từ nông thôn đến đồng bằng, từ miền cao đến miền thấp Tín ngưỡng truyền thống hiện diện khắp nơi trên mảnh đất hình chữ S biểu hiện ở nhiều cấp bật mà phổ biến nhất là phong tục thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ, người thân trong mỗi gia đình

- Ở cấp độ gia đình: thờ cúng tổ tiên là hoạt động quen thuộc thường thấy, hơn

hết là một phong tục đẹp, giàu bản sắc, có tính giáo dục truyền thống cho các thế hệ Có thể nói, trước khi có xuất hiện của các tôn giáo ngoại sinh du nhập vào Việt Nam như Nho giáo, Phật giáo, Kitô giáo…thì dân tộc Việt đã có hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo riêng là đạo Tổ Tiên Tổ tiên được coi như vị thần của gia đình, dòng họ được con cháu tưởng niệm với ý nghĩa vừa kính vừa sợ (kính: sự mang ơn, nuôi dưỡng, sinh thành; sợ: trừng phạt) Do đó con cháu có trách nhiệm lo lắng, chăm sóc việc thờ cúng tươm tất Đây không chỉ là sợi dây kết nối giữa người đã khuất với người còn sống trên phương diện tôn giáo mà còn thực hiện mối quan hệ huyết thống, là sợi dây liên kết giữa những người trong gia đình dòng họ, dòng tộc dù họ không cư trú trên cùng một địa bàn, lãnh thổ Chính hệ thống tôn giáo này hình thành tiềm thức gắn bó các thành viên mặt khác gắn bó với quê hương, đất nước từ đó tạo nên mối quan hệ khăng khít của tôn giáo và dân tộc

- Ở cấp độ làng xã: thờ cúng tổ tiên hay Đạo thờ cúng tổ tiên theo nghĩa rộng

không chỉ thờ những người thân trong gia đình đã khuất mà thờ cả Thành hoàng, thần làng, thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” Tùy theo từng làng; bản; xã mà những vị thần được lưu truyền bằng những câu chuyện khác nhau; có khi những vị thần này là thần của tự nhiên (sông, núi, thổ thần, ) Phần lớn là những người có công dựng làng, sáng lập ra làng, hoặc tổ sư một nghề riêng của làng đó Một làng có thể có nhiều Thành hoàng khác nhau, có Thành hoàng là do vua cử vì có công với nước, có Thành hoàng là do người dân tại đó tôn vinh Người dân thờ phụng Thành hoàng với chức năng bảo hộ và phù trợ mọi việc làng, hằng năm người dân tổ chức ngày giỗ Thành hoàng-ngày đông vui nhất của làng, của phố Tại đây, người dân cùng nhau tụ họp tế lễ, rước kiệu, phá cỗ và rất nhiều nghi lễ truyền thống khác Tất cả điều đó tạo nên sợi dây liên kết giữa các cá nhân lại với nhau, giữa gia đình với làng xã, giữa làng xã với triều đình trung ương - đại diện cho cộng đồng quốc gia dân tộc Điều này được thể hiện qua lễ bái vọng về ông Vua - Thần để chứng tỏ lòng trung thành không chỉ thực hiện trong đời sống bình thường, mà còn ngay cả trong tín ngưỡng, tôn giáo

7

Ngày đăng: 15/12/2022, 15:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w