Hành vi của con người được biểu đạt ra bên ngoài bằng những phương pháp khácnhau hành động hoặc không hành động, nghĩa là nó phải thể hiện trong thế giớikhách quan thông qua những thao t
Trang 1-ĐẠI HỌC -TRƯỜNG KINH DOANH- KHOA KINH DOANH QUỐC TẾ - MARKETING
UEH-TIỂU LUẬN
Môn học: Luật kinh doanh.
ĐỀ TÀI:
TÌM HIỂU VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ MỐI QUAN HỆ NHÂN QUẢ GIỮA HÀNH VI
VI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ HẬU QUẢ XẢY
RA.
Giảng viên: Nguyễn Thùy Dung
Lớp: BS5-K47
Nhóm 2: Lê Thị Minh Tú
Huỳnh Thị Phương Thảo
Phan Thị Thùy Dương
Lê Đoàn Bảo Trân
Phạm Lê Ngọc Diễm Quỳnh
Lê Thị Thanh Tâm
TP Hồ Chí Minh, ngày 4 tháng 12 năm 2021
LỜI CẢM ƠN ……… 3
I LÝ THUYẾT CHUNG ……… 4
Trang 2Vi phạm pháp luật……… ……… 4
Mối quan hệ giữa VPPL và hậu quả xảy ra… ………….………… ….15
II THỰC TIỄN VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT ……….17
1 Thực tiễn về vi phạm pháp luật……….…17
2 Những nguyên nhân dẫn đến vi phạm pháp luật……… …22
3 Tổng kết phần 2……….23
III THỰC TIỄN VỀ MỐI QUAN HỆ NHÂN QUẢ GIỮA VPPL VÀ HẬU QUẢ XẢY RA……… 23
1.Vai trò việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và hậu quả xảy ra……….24
2 Một số trường hợp thể hiện mối quan hệ nhân quả giữa VPPL và hậu quả xảy ra 3 Tổng kết chương 3………26
IV THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT Ở NƯỚC TA………27
1 Các biện pháp thực hiện pháp luật.……… 27
2 Đánh giá chung……….35
3 Tổng kết phần 4………36
V KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP 1 Cách xử lí các vi phạm pháp luật……… 37
2 Giải pháp phòng chống các vi phạm pháp luật……… 42
LỜI CẢM ƠN
Trang 3Để hoàn thành tiểu luận này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:Ban giám hiệu trường Đại Học UEH vì đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất với hệthống thư viện hiện đại, đa dạng các loại sách, tài liệu thuận lợi cho việc tìmkiếm, nghiên cứu thông tin Xin cảm ơn giảng viên bộ môn - Cô Nguyễn ThùyDung đã giảng dạy tận tình, chi tiết để em có đủ kiến thức và vận dụng chúngvào bài tiểu luận này Do chưa có nhiều kinh nghiệm làm để tài cũng như nhữnghạn chế về kiến thức, trong bài ti ểu luận chắc chắn sẽ không tránh khỏi nhữngthiếu sót Rất mong nhận được sự nhận xét, ý kiến đóng góp, phê bình từ phía
Cô để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn Lời cuối cùng, chúng em xin kính chúc
Cô nhiều sức khỏe, thành công và hạnh phúc
I.LÝ THUYẾT CHUNG:
VI PHẠM PHÁP LUẬT:
1 Khái niệm:
Pháp luật là hệ thống quy tắc của hành vi, là tiêu chuẩn đánh giá của hành vi con người Trong hoạt động thường ngày của mỗi người biểu hiện ra thế giới
Trang 4khách quan là những hành vi nhằm thỏa mãn các lợi ích vật chất và tinh thần,trong những hoạt động ấy, có những hành vi được pháp luật điều chỉnh mà chủthể bắt buộc phải thực hiện, gọi là hành vi pháp luật (đúng luật) về hành vi chính
là những phản ứng cách xử sự được biểu hiện ra bên ngoài của con người trongnhững hoàn cảnh điều kiện nhất định Mỗi hành vi đều được hình thành trên cơ
sở nhận thức và kiểm soát của chủ thể, nghĩa là chủ thể ý thức được và chủ độngthực hiện nó Những hoạt động của con người trong trạng thái vô thức không thểcoi là hành vi
Hành vi của con người được biểu đạt ra bên ngoài bằng những phương pháp khácnhau (hành động hoặc không hành động), nghĩa là nó phải thể hiện trong thế giớikhách quan thông qua những thao tác hành động hoặc không hành động của chủthể và của các chủ thể khác có thể nhận biết được điều đó Hành vi của chủ thể cóthể là hành vi thực hiện pháp luật (hành vi hợp pháp) hoặc hành vi không thực hiệnpháp luật (hành vi bất hợp pháp) Thông thường, khi tham gia vào các quan hệpháp luật đa phần chủ thể có hành vi hợp pháp, tuy nhiên trong xã hội vì nhiềunguyên nhân khác nhau mà vẫn còn nhiều chủ thể thực hiện hành
vi bất hợp pháp hay còn gọi là hành vi trái pháp luật Nhưng hành vi trái phápluật chưa hẳn đã là vi phạm pháp luật, vì vi phạm pháp luật cần phải thỏa mãnnhiều yếu tố khác nhau Vậy một hành vi như thế nào mới được xem là vi phạmpháp luật?
Đó là: vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, do chủ thể có năng lực hành
vi thực hiện một cách có lỗi (cố ý hoặc vô ý), xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ và gây hậu quả thiệt hại cho xã hội
2 Đặc điểm:
Việc xem xét các đặc điểm của vi phạm pháp luật không chỉ cho thấy những điểm khác biệt so với hành vi hợp pháp mà còn có những điểm khác biệt so với
Trang 5hành vi vi phạm pháp luật và vi phạm quy tắc xã hội Hành vi vi phạm pháp luật
có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, vi phạm pháp luật luôn luôn là hành vi của con người Tức là nó phải
được biểu hiện ra bên ngoài và các chủ thể khác có thể nhận biết được dướidạng hành động và không hành động (hành vi hành động là hành vi mà chủ thểphải thực hiện bằng những thao tác nhất định; hành vi không hành động là hành
vi mà chủ thể thực hiện nó bằng cách không tiến hành những thao tác nhất định).Hơn nữa, nói vi phạm pháp luật phải là hành vi, bởi những suy nghĩ,tâm tư, tìnhcảm không phải là đối tượng của pháp luật nên cho dù suy nghĩ đó có xấu xa, nguyhiểm thế nào đi chăng nữa thì cũng không thể là vi phạm pháp luật
Ví dụ: A đang chèo thuyền trên sông, A thấy B đangchới với kêu cứu vì sắpchết đuối nhưng A không cứugiúp B dẫn đến việc B bị chết đuối (trong khi đó Alàngười bơi giỏi, trên thuyền lại có phao cứu hộ) A đã viphạm pháp luật vìkhông cứu giúp người trong tình trạng nguy kịch đến tính mạng dẫn đến việcngười đóchết (không hành động)Những ý nghĩ dù tốt, dù xấu cũng không thể coi
là những vi phạm pháp luật
Thứ hai, hành vi đó phải là hành vi trái pháp luật, xâm hại tới các quan hệ xã
hội được pháp luật bản vệ Vì hành vi của chủ thể biểu hiện ra bên ngoài có thể
là hành vi hợp pháp hoặc bất hợp pháp Vậy, bất cứ vi phạm pháp luật nào cũnghàm chứa trong nó hành vi trái pháp luật, không có hành vi trái pháp luật thìcũng không có vi phạm pháp luật Nghĩa là, chủ thể đã xâm hại đến các quan hệ
xã hội được pháp luật bảo vệ
Hành vi trái pháp luật là hành vi không phù hợp vớinhững quy định của phápluật như không thực hiệnnhững nghĩa vụ pháp lý, sử dụng quyền hạn vượtquágiới hạn pháp luật cho phép, Tính trái pháp luật làdấu hiệu không thể thiếucủa hành vi bị coi là vi phạm pháp luật
Ví dụ: A là cán bộ làm công tác tư pháp hộ tịch ở xã.Chị B và anh H (cháuruột A) đến gặp A để làm thủ tục đăng ký kết hôn Mặc dù biết rõ anh H mới 18
Trang 6tuổi nhưng A vẫn tiến hành làm thủ tục đăng ký kết hôn cho B và H Vì vậy A
đã làm trái quy định của pháp luật về Hôn nhân và Gia đình
Thứ ba, Hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội Nếu hành vi hợp pháp là hành vi
có ích cho xã hội thì hành vi vi phạm pháp luật luôn có tính nguy hiểm cho xãhội, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật được thể hiện ởchỗ nó có thể gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội.Tuy nhiên, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội là khác nhau giữa các loại
vi phạm pháp luật
Thứ tư, Chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật phải có năng lực trách nhiệm
pháp lý Trong pháp luật xã hội chủ nghĩa, sự độc lập gánh chịu nghĩa vụ pháp
lý chỉquy định đối với những người có khả năng tự lựa chọncách xử sự và có tự
do ý chí, người đó phải có khả năngnhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vicủa mình Những hành vi mặc dù trái pháp luật nhưng do những người mất khảnăng nhận thức hoặc khả năng điềukhiển hành vi của mình thì không thể coi là
vi phạmpháp luật Hành vi trái pháp luật của trẻ em (chưa đếnđộ tuổi pháp luậtquy định phải chịu trách nhiệm pháplý) cũng không bị coi là vi phạm pháp luật.Như vậy, trách nhiệm pháp lý trong pháp luật xã hội chủ nghĩa chỉ quy định chonhững người đã đạt một độ tuổi nhấtđịnh theo quy định của pháp luật, có khả năng
lý trí và tự do ý chí
Ví dụ: A 10 tuổi, đang học lớp 4, sang nhà hàng xómchơi và đã lấy trộm 3triệu đồng để đi chơi game Sauđó A bị người bị hại phát hiện và báo công an.Trong trường hợp này A không bị truy cứu trách nhiệm hình sựvì chưa đủ tuổi
để chịu trách nhiệm hình sự
Thứ năm, hành vi đó phải có lỗi Lỗi là yếu tố chủ quan thể hiện thái độ của chủ
thể đối với hành vi trái pháp luật của mình
Dấu hiệu trái pháp luật mới chỉ là biểu hiện bên ngoài củahành vi Để xác địnhhành vi vi phạm pháp luật cần xem xét cả mặt chủ quan của hành vi, Nói cách
Trang 7quan) mà còn rất quan tâm người đó nghĩ gì khi làm điều đó (mặt chủ quan).Nếu một hành vi trái pháp luật được thực hiện do những hoàn cảnh và điều kiệnkháchquan, chủ thể hành vi đó không cố ý và không vô ý thựchiện hoặc khôngthể ý thức được, từ đó không thể lựa chọn cách xử sự theo yêu cầu của pháp luậtthì hành viđó không thể coi là có lỗi và chủ thể không bị coi là viphạm phápluật Kể cả những hành vi trái pháp luật màchủ thể bị buộc phải thực hiện trongđiều kiện không cótự do ý chí thì cũng không bị coi là có lỗi Hành vi có lỗi làhành vi mà chủ thể nhận thức và điều khiển được hành vi của mình nhưng đãlựa chọn xử sự trái pháp luật.
Ví dụ: Nghe tiếng kêu cứu thất thanh của đứa contrai, ông B đang ở sau vườnchạy vội vào nhà và thấy Hhung hãn cầm mã tấu trên tay chém tới tấp vàocontrai mình, ông B liền nhanh chống dùng thanh gỗ phangvào đầu H làm H bấttỉnh tại chổ Kết quả giám định H bị tỷ lệ thương tật 22% Nhưng trong trườnghợp nàyông B không có lỗi vì nằm trong trường hợp phòng vệ chính đáng (thấyngười thân đang bị nguy hiểm đến tính mạng)
3 Cấu thành:
a) Khái niệm:
Cấu thành là các yếu tố, các bộ phận hợp thành, vi phạm pháp luật cũng cónhiều yếu tố cấu thành Nghiên cứu cấu thành của vi phạm pháp luật sẽ chochúng ta có được cái nhìn toàn diện về vi phạm pháp luật và thông qua đó chúng
ta sẽ lý giải được nhiều vấn đề liên quan đến hậu quả của nó như: mức độ xử lý,hình thức xử lý, biện pháp xử lý,…
Nói đến cấu thành vi phạm pháp luật là chúng ta đề cập đến các yếu tố của nótheo quan điểm cấu trúc, đó là các yếu tố không thể thiếu được để một hành viđược coi là vi phạm pháp luật Các yếu tố cấu thành của vi phạm pháp luật baogồm:
Trang 8 Mặt khách quan: Bất cứ một hành vi nào của con người biểu hiện ra bên ngoài
đều để lại những dấu vết, hình ảnh - đó là thuộc tính phản ánh của vật chất Vậy,mặt khách quan của vi phạm pháp luật là những biểu hiện ra bên ngoài mà khôngphụ thuộc vào ý muốn chủ quan của chủ thể thực hiện, bao gồm các yếu tố sau: hành
vi trái pháp luật, hậu quả, mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả, thời gian, địa điểm,công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn Có thể nói rằng, mặt khách quan làyếu tố hết sức quan trọng trong cấu thành của vi phạm pháp luật, nhờ có mặt kháchquan mà cơ quan nhà nước có thể tìm ra và xác định một cách chính xác sự thật của
vụ việc hoặc vụ án
Hành vi trái pháp luật: là yếu tố bắt buộc phải có của vi phạm pháp luật và
được thể hiện qua ba yếu tố sau: Làm điều pháp luật cấm làm, Không làm điều pháp luật bắt làm, Làm điều vượt quá giới hạn pháp luật cho phép Bên cạnh đó,hành vi trái pháp luật còn hàm chứa tính nguy hiểm cho xã hội (gây thiệt hại hay
đe dọa gây thiệt hại cho xã hội)
Hậu quả: là yếu tố để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi vi phạm pháp luật bao gồm những thiệt hại thực tế về vật chất hoặc tinh thần mà xã hội gánh chịu hoặc nguy cơ tất yếu xảy ra thiệt hại và được thể hiện qua các yếu tố sau: Thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần, Thiệt hại về thể chất
Mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả: Nếu hành vi trái pháp luật là nguyên
nhân trực tiếp, còn sự thiệt hại là kết quả tất yếu do hành vi đó gây ra thì đápứng 2 điều kiện sau: Hành vi trái pháp luật phải có trước, hậu quả là cái có sau
và Sự thiệt hại là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật
Mặt chủ quan: Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật là những biểu hiện tâm lý
bên trong của chủ thể vi phạm Muốn xác định được mặt chủ quan phải thông quamặt khách quan, việc xác định mặt chủ quan của vi phạm pháp luật không những xử
lý đúng người, đúng mức độ vi phạm mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc cảitạo, giáo dục người vi phạm trở thành người có ý thức pháp luật
Trang 9cao, không tái phạm hành vi vi phạm pháp luật Mặt chủ quan bao gồm các yếu
tố sau: lỗi, động cơ, mục đích
Lỗi: là trạng thái tâm lý bên trong, phản ánh thái độ của chủ thể đối với hành vi
trái pháp luật mà mình đã gây ra và hậu quả do hành vi trái pháp luật đó gây ra Ngoài ra, lỗi là yếu tố bắt buộc phải có trong mọi vi phạm pháp luật Lỗi được phân làm hai loại: lỗi cố ý và lỗi vô ý
Vô ý
Động cơ: là cái thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật và không
bắt buộc phải có trong mọi vi phạm pháp luật Ví dụ: Động cơ vụ lợi, động cơ
đê hèn, trả thù…
Trang 10Mục đích: là kết quả cuối cùng mà chủ thể mong muốn đạt được khi thực hiện
hành vi vi phạm pháp luật và không bắt buộc phải có trong mọi vi phạm phápluật Tuy nhiên lưu ý, không phải lúc nào kết quả của hành vi vi phạm pháp luật trên thực tế cũng trùng hợp với mục đích mà chủ thể mong muốn đạt được
Chủ thể: Chủ thể của vi phạm pháp luật là chủ thể hội đủ điều kiện tự mình
tham gia quan hệ pháp luật, nghĩa là chủ thể phải có năng lực hành vi Chủ thể của
vi phạm pháp luật ở mỗi ngành luật có cơ cấu chủ thể khác nhau, nhưng nhìn chungchủ thể của vi phạm pháp luật là cá nhân, tổ chức (có hoặc không có tư cách phápnhân)
Đối với cá nhân: căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:
- Trách nhiệm hình sự:
+ Từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm với mọi vi phạm hình sự.+ Từ đủ 14 đến dưới 16, chỉ chịu trách nhiệm với các tội nghiêm trọng, tội do cố ý
- Trách nhiệm hành chính:
+ Từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm với mọi vi phạm hành
chính
+ Từ đủ 14 đến dưới 16, chỉ chịu trách nhiệm với các hành vi do cố ý
- Trách nhiệm dân sự: Từ đủ 18 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm với mọi vi phạm dân sự
Đối với tổ chức: năng lực trách nhiệm pháp lí gắn với năng lực chủ thể.
Khách thể: Là quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nhưng bị hành vi vi phạm
pháp luật xâm hại Tính chất của khách thể bị xâm hại phản ánh mức độ nguy hiểmcủa hành vi vi phạm pháp luật Cần phân biệt khách thể của vi phạm pháp luật vàkhách thể của quan hệ pháp luật, vì khách thể của quan hệ pháp luật là những lợi ích
mà vì nó chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật Ví dụ: Hành vi
Trang 11giết người đã xâm hại đến quyền được sống của cá nhân, quyền được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm.
b) Ví dụ: Phân tích cấu thành vi phạm pháp luật trong tình huống sau:
Tình huống: Chị T (40 tuổi, không chồng), có quan hệ với anh Lê Mạnh H (đã
có vợ), và sinh được một đứa con (cháu M) Sau khi chấm dứt quan hệ với anh H,chị luôn bị một người tên Đỗ Thị D (43 tuổi) – vợ của H, gọi điện thoại chửi mắng.Ngày 06/11/2009, D đến nhà chị T (Đông Anh, Hà Nội) Tại đây, D xin được bếđứa trẻ, chị T đồng ý Lấy cớ nghe điện thoại, D bế cháu xuống bếp và dùng chiếckim khâu lốp dài 7cm mang theo đâm vào đỉnh thóp đầu cháu Sợ bị phát hiện, Dlấy mũ đậy vết đâm lại, nhưng máu chảy quá nhiều, cháu khóc thét lên nên bị mọingười phát hiện Sau khi đưa đi cấp cứu, cháu M (40 ngày tuổi) qua đời D (sinhnăm 1974, Đông Anh, Hà Nội) không có bệnh về thần kinh, chưa có tiền án, là mộtngười làm ruộng
Phân tích cấu thành vi phạm pháp luật:
Mặt khách quan:
- Hành vi: việc làm của D (dùng kim khâu lốp đâm xuyên đầu đứa trẻ sơ sinh 40
ngày tuổi) là hành vi dã man, lấy đi tính mạng đứa trẻ, gây nguy hiểm cho xã hộiđược quy định tại Bộ luật hình sự
- Hậu quả: gây nên cái chết của cháu M, gây tổn thương tinh thần gia đình đứa trẻ
và bất bình trong xã hội Thiệt hại được gây ra trực tiếp bởi hành vi trái pháp luật
- Thời gian: diễn ra vào sáng ngày 06/11/2009
- Địa điểm: tại nhà bếp của chị T.
- Hung khí: là một chiếc kim khâu lốp dài 7cm đã được chuẩn bị từ trước.
Mặt chủ quan:
- Lỗi: hành vi của D là lỗi cố ý trực tiếp Bởi D là người có đủ năng lực trách
nhiệm pháp lý, biết rõ việc mình làm là trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng,
Trang 12nhưng vẫn mong muốn hậu quả xảy ra D có mang theo hung khí và có thủ đoạntinh vi (lấy cớ nghe điện thoại, che đậy vết thương của bé Minh).
- Động cơ: D thực hiện hành vi này là do ghen tuông với mẹ đứa trẻ.
- Mục đích: D muốn giết chết đứa trẻ để trả thù mẹ đứa trẻ.
Mặt khách thể:
- Hành vi của D đã xâm phạm tới quyền được bảo đảm về tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm của công dân, vi phạm đến quan hệ xã hội được pháp luật bảovệ
Chủ thể vi phạm:
- Chủ thể của vi phạm pháp luật là Đỗ Thị D (43 tuổi) là một công dân có đủ khả
năng nhận thức và điểu khiển hành vi của mình
Như vậy, xét về các mặt cấu thành nên vi phạm pháp luật có thể kết luận đây làmột hành vi vi phạm pháp luật hình sự nghiêm trọng Cần được xử lý nghiêm minhtheo quy định của pháp luật
4 Phân loại vi phạm pháp luật
Trang 13- Phân loại tội phạm : Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội củahành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04loại sau đây: (Khoản 1 Điều 9 Bộ Luật hình sự 2017)
+ Tội phạm ít nghiệm trọng: là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;
+ Tội phạm nghiêm trọng: là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xãhội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội
ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;
+ Tội phạm rất nghiêm trọng: là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho
xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đốivới tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;
+ Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng :là tội phạm có tính chất và mức độ nguyhiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật nàyquy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tửhình
- Trách nhiệm pháp lý : người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự thể hiện ở việc người đó phải chấp nhận hình phạt theo quyết định của Tòa án
+ Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừnhững tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.(Khoản 1 Điều 12)
+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.(Khoản 2 Điều 12)
b Vi phạm hành chính:
- Khái niệm:là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy địnhcủa pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định củapháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính (Khoản 1 Điều 2 Luật xử lý vi phạmhành chính 2012)
Trang 14- Trách nhiệm pháp lý : người vi phạm phải chịu trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật
+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý (Điểm a Khoản 1 Điều 5)
+ Người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính.(Điểm a Khoản 1 Điều 5)
c Vi phạm dân sự:
- Khái niệm : Vi phạm dân sự là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm tới cácquan hệ tài sản (quan hệ sở hữu, quan hệ hợp đồng, ) và quan hệ nhân thân (liênquan đến các quyền nhân thân, không thể chuyển giao cho người khác, ví dụ:quyền đối với họ, tên, quyền được khai sinh, bí mật đời tư, quyền được xác địnhlại giới tính, )
- Trách nhiệm pháp lý : người có hành vi vi phạm dân sự phải chịu trách nhiệm dân sự
+ Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi (Khoản 1 Điều 21)+ Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện (khoản 2 Điều 21)
+ Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giaodịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sựphục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.(Khoản 3 Điều 21)+ Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thựchiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sảnphải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đạidiện theo pháp luật đồng ý(Khoản 4 Điều 21)
d Vi phạm kỷ luật:
Trang 15- Khái niệm : Vi phạm kỷ luật là hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm các quan
hệ lao động, công vụ nhà nước do pháp luật lao đọng và pháp luật hành chính bảovệ
- Trách nhiệm pháp lý : cán bộ, công chức, viên chức vi phạm kỉ luật phải chịutrách nhiệm kỉ luật với các hình thức khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, chuyểncông tác khác, buộc thôi việc
MỐI QUAN HỆ GIỮA VI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ HẬU QUẢ XẢY RA:
1 Khái niệm: Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả là mối quan hệ
giữa các hiện tượng trong đó một hiện tượng được gọi là nguyên nhân (là hành vikhách quan) làm phát sinh một hiện tượng khác là kết quả (là hậu quả của tộiphạm)
2 Các điều kiện xảy ra:
Dựa trên cơ sở lý luận của cặp phạm trù nhân quả trong phép biện chứng ( lĩnhvực Triết học) ,ta có thể xác định được các điều kiện của mối quan hệ nhân quảgiữa hành vi vi phạm pháp luật và hậu quả như sau:
- Hành vi phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian
- Bên trong hành vi phải chứa đựng mầm mống gây ra hậu quả- mầm mống nội tạihay còn gọi là nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh hậu quả
- Nếu hậu quả xảy ra thì nó phải có khả năng thực tế hóa hành vi làm phát sinh hậu quả
3 Vai trò việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và hậu quả xảy ra:
Nguyên nhân là sự tác động qua lại giữa các mặt trong một sự vật hiện tượng,hậu quả là làm biến đổi sự vật, hiện tượng đó hoặc làm biến đổi sự vật, hiệntượng khác Thiệt hại xảy ra phải đúng là kết quả tất yếu của hành vi trái phápluật hay ngược lại, hành vi trái pháp luật là nguyên nhân trực tiếp hoặc là
Trang 16nguyên nhân có ý nghĩa quyết định đối với thiệt hại xảy ra Khi xem xét mối quan hệ nhân quả trên, ta cần đảm bảo hai điều sau:
+ Nguyên nhân và kết quả mang tính khách quan, quan hệ nhân quả nằm trongbản chất sự việc, không phụ thuộc vào ý chí con người Hành vi đào bới, san lậpchính là nguyên nhân dãn đến tình trạng mồ mả bị sụp, lún, bị lấp,…
+ Khi có sự biến đổi của sự vật hiện tượng luôn có nguyên nhân gây nên sự biếnđổi đó Không có hiện tượng nào bị biến đổi mà không có nguyên nhân Như vây,không thể có thiệt hại nếu không có hành vi gây thiệt hại Nghĩa là việc mồ mả bịxâm phạm phải xuất phát từ nguyên nhân nào đó, gây nên những hậu quả nhấtđịnh Mồ mả có thể bị sụp, lún, bị phá hủy do thiên tai, động đất và hành vi củacon người Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ đặt ra trong trường hợp đó là hành
vi của con người, gây ra hậu quả mà thôi
Việc chúng ta tiến hành xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quảcủa tội phạm đối với những tội có cấu thành vật chất nhằm mục đích xác địnhtội phạm có xảy ra hay không
Vì thế, khi chúng ta muốn xác định tội phạm, thì không những chúng ta cần xácđịnh hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi khách quan đó, mà chúng ta cònphải xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật đó và hậuquả xảy ra từ hành vi đó.Việc nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa hành vinguy hiểm và hậu quả của tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xácđịnh có tội phạm xảy ra hay không, xác định tội phạm đã hoàn thành hay chưa,xác định mức độ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong từng trườnghợp cụ thể, cũng như xác định hậu quả xảy ra là của hành vi nào.
3 Cơ sở xác định:
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm là mối quan hệ giữanhững hiện tượng mà trong đó một hiện tượng được gọi là nguyên nhân (là hành vikhách quan) làm phát sinh một hiện tượng khác gọi là kết quả (là hậu quả của
Trang 17tội phạm).nó được dùng để chỉ hành vi khách quan đóng vai trò là nguyên nhân, hậu quả nguy hiểm cho xã hội đóng vai trò là hậu quả.
Vậy để xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả chúng ta cần dựa vào các cơ sở có tính nguyên tắc sau:
Thứ nhất, hành vi được coi là nguyên nhân phải là hành vi trái pháp luật và có
trước hậu quả về mặt thời gian: nguyên nhân phải xảy ra và vận động kết hợp với những điều kiện nhất định cần thiết mới có thể dẫn đến hậu quả Vì vậy, giữa nguyên nhân và hậu quả luôn có một khoảng thời gian nhất định trong
đó nguyên nhân là cái có trước
Thứ hai, phải có mối quan hệ nội tại và tất yếu:Giữa nguyên nhân và hậu quả.Quan hệ nội tại nghĩa là một nguyên nhân bao giờ cũng chứa đựng mầm mốngbên trong nội tại nhằm phát sinh kết quả nhất định Trong các hành vi đã chứađựng khả năng phát sinh hậu quả Quan hệ tất yếu tức là hậu quả phản ánh xuthế phát triển của hành vi
Trên thực tế, một sự vật, hiện tượng có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra và mộtnguyên nhân có thể làm phát sinh nhiều sự vật hiện tượng Vì vậy, trong sự đadạng của hành vi vi phạm pháp luật, một hậu quả có thể được sinh ra từ nhiềunguyên nhân và tất cả các nguyên nhân này đều có mối quan hệ nhân quả vớihậu quả đó Tương tự, một nguyên nhân cũng có thể gây nên nhiều hậu quả màmỗi hậu quả đều có quan hệ nhân quả với nguyên đó
1 Thực tiễn về vi phạm pháp luật:
Tình hình vi phạm pháp luật:
Hiện nay, hoạt động các loại tội phạm có kiềm chế, giảm đáng kể Các cơquan điều tra các cấp đã thực hiện nghiêm túc chủ trương, chính sách của Đảng,pháp luật của Nhà nước về phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm; đẩynhanh tiến độ điều tra các vụ án, khắc phục tình trạng điều tra kéo dài; rà soát
Trang 18giải quyết dứt điểm các vụ án tồn đọng Chất lượng điều tra, xử lý các loại tộiphạm tiếp tục chuyển biến tích cực…
Tuy nhiên, tình hình tội phạm vẫn còn diễn biến phức tạp, nổi lên tội phạm:xâm phạm trật tự an toàn xã hội; tội phạm xâm phạm trật tự, quản lý kinh tế,tham nhũng và chức vụ; tội phạm về môi trường; tội phạm sử dụng công nghệcao; tội phạm ma túy… với các hành vi manh động, thủ đoạn ngày càng tinh vi.Tình hình vi phạm pháp luật diễn ra khá phổ biến, đa dạng và phức tạp ở hầu hếtcác lĩnh vực, chủ yếu là trong các lĩnh vực: trật tự, an toàn giao thông; phòngchống cháy nổ; môi trường; xây dựng; vi phạm ở một số cơ sở kinh doanh cóđiều kiện về an ninh, trật tự và đặ biệt là vi phạm luật an ninh mạng
Một số trường hợp vi phạm pháp luật:
Vi phạm pháp luật hành chính:
Trong nhiệm kỳ, các Tòa án đã thụ lý 36.354 vụ, đã giải quyết, xét xử được32.466 vụ18, đạt tỷ lệ 89,3%, vượt chỉ tiêu Nghị quyết của Quốc hội đề ra (sovới nhiệm kỳ trước, đã thụ lý tăng 10.889 vụ, đã giải quyết tăng 7.707 vụ).Trong đó, năm 2020, các Tòa án nhân dân đã thụ lý 12.470 vụ; đã giải quyết, xét
xử được 8.582 vụ, đạt tỷ lệ 68,8% (so với năm 2019, thụ lý giảm 332 vụ, xét xửtăng 1.027 vụ) Tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy là 3,26% (do nguyên nhân chủquan là 2,62%); bị sửa là 2,92%(do nguyên nhân chủ quan là 2,54%) Tỷ lệ bản
án sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là 28,5%; tỷ lệ bản
án sơ thẩm, phúc thẩm có kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm là 1,13% CácTòa án nhân dân đã giải thích hoặc kháng nghị đối với 02 bản án, quyết định dotuyên không rõ ràng, gây khó khăn cho công tác thi hành án; ban hành 124 quyếtđịnh buộc thi hành án hành chính
Vi phạm hình sự:
a Thực trạng tình hình tội phạm ở nước ta trong giai đoạn đầu năm 2021:
Trang 19- Năm 2020 là một giai đoạn đầy biến động của nước ta khi phải trải qua đạidịch Covid-19 kéo theo nhiều biến động của tất cả các mặt kinh tế xã hội Các thếlực thù địch, phản động tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá với nhiềuphương thức, thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm hơn Hoạt động của các loại tội phạmtiếp tục diễn biến phức tạp; tai nạn giao thông, cháy nổ còn gây thiệt hại nghiêmtrọng Công bố số liệu (sơ bộ) về công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm của BộCông an được đăng tải vào ngày 25/06/2021 cho thấy:
- Số vụ phạm tội về trật tự xã hội: toàn quốc xảy ra 3.478 vụ; khám phá 2.966
vụ; bắt giữ, xử lý 5.974 đối tượng; tỷ lệ khám phá đạt 85,28%; triệt phá 165 băng,nhóm So với tháng 5/2021, giảm 149 vụ (-4,11%), giảm 20 số vụ khám phá (-0,67%), giảm 92 số đối tượng bị bắt giữ, xử lý (-1,52%), tăng 05 số băng, nhóm bịtriệt phá (+3,13%)
- Số vụ phạm tội về trật tự quản lý kinh tế: toàn quốc xảy ra 414 vụ, so với
- Công tác truy nã: toàn quốc đã bắt, vận động đầu thú, thanh loại 502 đối
tượng truy nã, 160 đối tượng nguy hiểm và đặc biệt nguy hiểm So với tháng5/2021, số đối tượng truy nã đã bắt, vận động đầu thú và thanh loại tăng 32 đốitượng, số đối tượng nguy hiểm và đặc biệt nguy hiểm bị bắt, vận động đầu thú vàthanh loại tăng 32 đối tượng
b Một số vấn đề đáng lưu ý:
Trang 20- Thứ nhất, các loại tội phạm nguy hiểm, sử dụng bạo lực, hình thành các băng
nhóm hoạt động có tổ chức, tính chất mức độ nguy hiểm, nghiêm trọng có xuhướng gia tăng, có sự móc nối với một số cán bộ, công chức suy thoái về phẩm chấtđạo đức
- Thứ hai, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm có yếu tố nước ngoài, băng nhóm
người nước ngoài hoặc là người Việt cấu kết với các đối tượng người nước ngoài đểlừa đảo, buôn bán ma túy, buôn bán người, tổ chức phản động, thù địch, khủng bố
- Thứ ba, hành vi phạm tội ngày càng manh động, tội phạm trong các vụ giết
người do nguyên nhân xã hội chiếm tỷ lệ khá cao, có lúc lên đến khoảng 90% Cónhiều vụ nguyên nhân rất đơn giản là chỉ vì mâu thuẫn, cãi vã, chửi nhau dẫn đếntội phạm, đau lòng hơn là có những vụ người thân trong gia đình giết nhau
- Thứ tư, tội phạm xảy ra ở mọi lứa tuổi, mọi thành phần trong xã hội ( đáng
quan tâm nhất là lứa tuổi vị thành niên)
Vi phạm dân sự:
a Thực trạng tình hình vi phạm dân sự ở nước ta trong giai đoạn năm 2020:
- Theo báo cái Tổng kết công tác của Tòa án nhan dân tối cao được đăng tải vào tháng 12 năm 2020 cho thấy:
+ Trong đó, các Tòa án đã thụ lý 448.025 vụ việc dân sự; đã giải quyết 400.651
Trang 21thủ tục phá sản đối với 59 trường hợp, ra quyết định đình chỉ giải quyết 19trường hợp, tuyên bố phá sản 30 trường hợp; các trường hợp còn lại đang đượctiếp tục xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
b Một số vấn đề đáng lưu ý:
- Thứ nhất, số vụ vi phạm dân sự tăng lên so với giai đoạn 2019 So với năm
2019, Tòa án nhân dân đã xét xử tăng hơn 32.365 vụ việc (Căn cứ theo Báo cáoTổng kết công tác của Tòa án nhân dân tối cao năm 2020)
- Thứ hai, các vụ án về lao động chủ yếu do tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải,đơn phương chấm dứt hợp đồng lao đồng; tranh chấp về bảo hiểm y tế, bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm nghề nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động;tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương
- Thứ ba, các vụ tranh chấp kinh doanh thương mai chủ yếu là trong lĩnh vực đầu tư tài chính, ngân hàng, mua bán hàng hóa
vị trí công tác để tư lợi, sách nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp, viphạm các quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước
- Trong lĩnh vực kinh tế:
+ Tình trạng tham nhũng, hối lộ vẫn còn khá phổ biến; việc quấy rối tình dụcnơi môi trường làm việc vẫn còn diễn ra; vi phạm nghiêm trọng ky luật lao động
Trang 22về thời gian làm việc, nghỉ ngơi; một số người có hành vi xử sự kém văn minh, không phù hợp với thuần phong mỹ tục ở chốn công sở.
- Trong lĩnh lực giáo dục:
+ Vẫn còn tồn tại một số giáo viên không làm tròn chức trách, Không tuân thủquy trình, quy định chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xửtrong khi thực hiện hoạt động nghề nghiệp; có thái độ hách dịch, cửa quyền hoặcgây khó khăn, phiền hà đối với nhân dân trong quá trình thực hiện công việc hoặcnhiệm vụ được giao; xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác trongkhi thực hiện hoạt động nghề nghiệp; quấy rối tình dục trong môi trường giáo dục
2 Những nguyên nhân dẫn đến vi phạm pháp luật:
Nguyên nhân khách quan:
- Tác động từ xã hội và môi trường sống: là những nhân tố không thuận lợi từ môi trường sống gây ra sự hình thành nhân cách lệch lạc của cá nhân
Gồm: + Các tiểu môi trường mà cá nhân đang sống và giao tiếp thường xuyên:gia đình, trường học, nơi cư trú, sinh sống,
VD: môi trường gia đình không hoàn thiện, môi trường cư trú có nhiều tệ nạn xãhội
+Môi trường xã hội vĩ mô: chính sách, pháp luật, phương tiện thông tin đạichúng, tác động của những ảnh hưởng tiêu cục mà người phạm tội chứng kiếnhoặc nghe kể…
VD: tình trạng thất nghiệp, đói nghèo…
- Tác động từ những trường hợp bất khả kháng: Sự kiện bất khả kháng là sự kiệnxảy ra một cách khách quan, không thể tiên liệu được và không thể khắc phục đượcmặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong điều kiện và khả năng cho phép
Trang 23VD: - Thiên tai,lũ lụt, động đất, núi lửa, chiến tranh…
- Những bất cập của pháp luật hiện hành
Nguyên nhân chủ quan:
Đầu tiên là nguyên nhân xuất phát từ ý thức của chủ thể Nó hầu như bắtnguồn từ những yếu tố thiên về cảm xúc như sự tức giận, tính ghen tuông, đố kị,
… nhất thời không làm chủ được bản thân mà gây ra Ví dụ về những cuộc ẩu
đả, xích mích vì những lí do không xứng đáng như một câu nói đùa cợt, một lời trêughẹo,… Chúng ta có thể bắt gặp tình huống đó rất nhiều ở khắp mọi nơi
Thứ hai, là nguyên nhân xuất phát từ nhận thức kém về pháp luật Mặc dù
đã được học qua về luật pháp ở bất cứ độ tuổi nào theo mức độ được phân chiatrong chương trình giáo dục, nhưng thái độ còn hời hợt, không hiểu được mức độquan trọng của luật pháp, và trên hết chính là thái độ xem nhẹ, coi thường luậtpháp, họ không biết được hậu quả của những vi phạm đó nên có thể dễ gây ra hành
vi vi phạm pháp luật hơn Hiện nay, mạng xã hội đã giúp kết nối rất nhiều thông tintrong đó có luật pháp của nhà nước, người dân cũng không hề chủ động tìm hiểu,đọc thêm về các luật pháp hiện hành để có thể tránh những lỗi vi phạm Ví dụthường gặp trong những vi phạm giao thông đường bộ là một bộ phận người thamgia giao thông không đội mũ bão hiểm, lạng lách đánh võng,…Dù biết hành vi trên
là vi phạm giao thông nhưng vẫn tiếp tục thực hiện, gây nguy hiểm cho bản thânmình và cả nhũng người tham gia giao thông khác
Trang 24III THỰC TIỄN VỀ MỐI QUAN HỆ NHẬN QUẢ GIỮA VPPL VÀ HẬU QUẢ
1.Vai trò việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và hậu quả xảy ra:
Như đã đề cập phần trước, nguyên nhân là sự tác động qua lại giữa các mặttrong một sự vật hiện tượng, hậu quả là làm biến đổi sự vật, hiện tượng đó hoặclàm biến đổi sự vật, hiện tượng khác Thiệt hại xảy ra phải đúng là kết quả tấtyếu của hành vi trái pháp luật hay ngược lại, hành vi trái pháp luật là nguyênnhân trực tiếp hoặc là nguyên nhân có ý nghĩa quyết định đối với thiệt hại xảy
ra Vì thế cần xác định chính xác mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạmpháp luật và hậu quả tương ứng để kết luận có xảy ra tội hay không
Điều này được áp dụng một cách linh hoạt, hiệu quả trong thực tiễn pháp luậtcủa nước ta hiện nay để đảm bảo tính công bằng khách quan cho con người và
sự việc Chẳng hạn như một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành viphạm tội của mình nếu như giữa hành vi đó và hậu quả của tội phạm có mốiquan hệ nhân quả Ví dụ : A đâm B, B bị chết, nếu như kết quả giám định kếtluận rằng B chết là do bị vết đâm của A gây thương tích nặng dẫn đến chết thì Aphải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người Nhưng trong trường hợp nếu Ađâm B, B chỉ bị thương Tuy nhiên, sau đó B do sơ suất bất cẩn nên B đã để vếtthương của mình bị nhiễm trùng uốn ván và dẫn đến cái chết thì ở đây có thể lậpluận rằng: nguyên nhân dẫn đến việc B chết là đến từ B (trường hợp khác có thể
do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan khác) mà không phải là trực tiếp từhành vi đâm của A Vì vậy, ta không thể kết luận rằng A phải chịu trách nhiệmcho cái chết của B, mà A chỉ chịu trách nhiệm hành chính (nếu thương tích béhơn 11%), hay trách nhiệm hình sự (nếu thương tích từ 11% trở lên)
2 Một số trường hợp thể hiện mối quan hệ nhân quả giữa vi phạm pháp luật và hậu quả xảy ra.