MỤC LỤCCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.2 Khái quát về Marketing dịch vụ 1.3 Khái niệm về quản lý chất lượng dịch vụ CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CÔNG TY DỊCH VỤ MÀ NHÓM SINH VIÊN CHỌN V
Trang 1ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINHKHOA MARKETING - KINH DOANH QUỐC TẾ
Trang 2Đoàn Đào Thảo Anh 2011239042
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH
ĐÁNH GIÁ CÁC THÀNH VIÊN
HK1B-2021-2022 HỌC PHẦN: MARKETING DỊCH VỤ
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
Trang 4NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
………
………
………
………
………
TP HCM, Ngày tháng năm 2022 Giảng viên hướng dẫn
(ký và ghi họ tên)
Trang 5MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.2 Khái quát về Marketing dịch vụ
1.3 Khái niệm về quản lý chất lượng dịch vụ
CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CÔNG TY DỊCH VỤ MÀ NHÓM SINH VIÊN CHỌN VIẾT TRONG BÀI
2.1 Tổng quan về công ty
2.2 Sản phẩm dịch vụ của công ty
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG CÁC HOẠT ĐỘNG MARKETING DỊCH
VỤ CHO DOANH NGHIỆP 3.1 Phân tích môi trường vĩ mô
3.2 Phân tích môi trường vi mô
3.3 Mục tiêu Marketing của doanh nghiệp
3.4 Xây dựng các hoạt động Marketing dịch vụ
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và internet đã làm thay đổi cuộc sống hiện tại một cách rõ rệt Con ngời sống trong môi trường tự nhiện với các thiết bị hiện đại và các mối quan hệ của họ không bị bó hẹp trong một địa phương, đất nước mà vươn ra toàn thế giới Chính những điều đólàm thay dổi hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp, lấn dần từ kinh doanh thương mại truyền thống sang thương mại điện tử
Bắt kịp với xu hướng đó mô hình kinh doanh thương mại điện tử cũng đãđược áp dụng vào Việt Nam trong những năm gần đây Với sự tiện lợi trongtrao đổi giữa người mua và người bán, Thương mai điện tử đang trở thành
sự lựa chọn của nhiều người bận rộn, cư dân mạng
Để hiểu rõ mô hình kinh doanh mới mẻ này nhóm chúng tôi đã chọn đề tài:Chiến lược xây dựng và hoạt động Marketing của công ty Grab
Trang 7CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm về dịch vụ
Có nhiều định nghĩa khác nhau về dịch vụ nhưng nhìn chung các định nghĩađều thống nhất rằng dịch vụ là sản phẩm của công việc, không tồn tại dướidạng vật thể, quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời nhằm thoả mãnnhu cầu của sản xuất và tiêu dùng Theo nghĩa rộng nhất, sản phẩm và dịch vụ
là một lĩnh vực kinh tế thứ ba của nền kinh tế quốc dân Nó bao gồm nhiềuhoạt động kinh tế ngoài hai lĩnh vực chính là nông nghiệp và công nghiệp Tuynhiên, theo nghĩa hẹp, sản phẩm và dịch vụ là những hoạt động hữu ích của conngười tạo ra sản phẩm không tồn tại ở dạng vật chất và không dẫn đến quyền
sở hữu Tuy nhiên vẫn có thể đáp ứng đầy đủ và nhanh chóng các nhu cầu củasản xuất và đời sống trong xã hội Dịch vụ là sản phẩm kinh tế bao gồm sức laođộng dưới hình thức lao động, lao động chân tay, quản lý, tri thức, năng lực tổchức và kỹ năng nghề nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh hoặctiêu dùng của cá nhân, tổ chức.Theo Philip Kotler: “dịch vụ là bất kỳ hoạt độnghay lợi ích nào mà chủ thể này có thể cung cấp cho chủ thể kia Trong đó đốitượng cung cấp nhất định phải mang tính vô hình và không dẫn đến bất kỳquyền sở hữu một vật nào cả Còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không cầngắn liền với một sản phẩm vật chất nào”
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động cung ứng dịch vụ rất đa dạng,phong phú Đó có thể là các dịch vụ tiêu dùng như ăn uống, sửa chữa nhà cửa,máy móc gia dụng; các dịch vụ công cộng như cung ứng điện, nước, vệ sinh đôthị; các dịch vụ hỗ trợ cho sản xuất kinh doanh như ngân hàng, bảo hiểm, vậntải; các dịch vụ mang tính nghề nghiệp chuyên môn cao như kiểm toán, tư vấnkiến trúc, bác sĩ, tư vấn pháp luật
1.2 Khái quát về Marketing dịch vụ
1.2.1 Khái Niệm
Marketing dịch vụ là sự phát triển lý thuyết chung của Marketing và lĩnh vực dịch vụ.Dịch vụ lại rất biến động và đa dạng với nhiều ngành khác biệt nhau.Vì thế cho tới nay về học thuật chưa có định nghĩa nào khái quát được đầy đủ
về Marketing dịch vụ.Philip Kotler đã nêu rằng: “ Marketing dịch vụ đòi hỏi các giải pháp nâng cao chất lượng, năng suất sản phẩm, dịch vụ, tác động nhằm thay đổi cầu vào việc định giá cũng như phân phối cổ động”.Theo Kpippendori thì : “ Đây là một sự thích ứng có hệ thống và phối hợp chính sách kinh doanh dịch vụ tư nhân và chính phủ với sự thoả mãn tối ưu những nhu cầu của những nhóm khách hàng đã được xác định và đạt được lợi nhuận xứng đáng”.Nói tóm lại chúng ta có thể hiểu về Marketing dịch vụ một cách tổng thể như sau: “ Marketing dịch vụ là
sự thích nghi lý thuyết hệ thống vào thị trường dịch vụ bao gồm quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thoả mãn nhu cầu của thị trường
Trang 8mục tiêu bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác động vào toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất, cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thông qua phân phối các nguồn lực của tổ chức.Marketing được xem xét trong sự năng động của mối quan hệ qua lại giữa các sản phẩm dịch vụ của công ty và nhu cầu của người tiêu dùng cùng với hoạt động của đối thủ cạnh tranh trên nền tảng cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội”.Như vậy, theo tôi Marketing dịch vụ thực chất là nghiên cứu nhu cầu và thoả mãn tối đa các nhu cầu đó trên cơ sở tận dụng tối đa các nguồn lực bên trong cùng với sự kết hợp
có hiệu quả với các nguồn lực bên ngoài doanh nghiệp
1.2.2 Bản chất
Marketing được xây dựng dựa trên các lý thuyết chung của Marketing và bản chất của Marketing dịch vụ không nằm ngoài bản chất của Markting.Hoạt động Marketing dịch vụ diễn ra trong toàn bộ quá trình từ sản xuất, phân phối đến tiêu dùng dịch vụ.Quá trình thực hiện sự thích nghi của các công cụ bên trong với những yếu tố bên ngoài doanh nghiệp chính là quá trình thực hiện chương trình Marketing.Có thể kể đến các yếu tố bên trong doanh nghiệp như: sản phẩm dịch vụ, phí dịch vụ, con người, quá trình dịch vụ, hoạt động giao tiếpdịch vụ, và các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp như: khách hàng, đối thủ cạnh tranh, Nhà nước và các thể chế luật pháp, công chúng.Khi thực hiện một
chương trình Marketing cần chú ý đến việc nhận biết các yếu tố về chính sách Marketing, thực hiện khả năng kiểm soát của doanh nghiệp, nhận biết môi trường bên ngoài doanh nghiệp đồng thời tiếp cận, thích nghi giữa nguồn lực bên trong doanh nghiệp với các lực lượng bên ngoài doanh nghiệp.Các chương trình Marketing cần phải chi tiết, phù hợp với những biến đổi của các yếu tố thị trường phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để tiếp cận hơn nữacác cơ hội trên thị trường.Thực chất hoạt động cung ứng dịch vụ diễn ra theo quá trình bao gồm nhiều dịch vụ cụ thể trong phạm vi không gian và thời gian rộng lớn, tạo thành một hệ thống dịch vụ tổng thể được khách hàng tiếp nhận và
sử dụng trực tiếp.Chính Marketing dịch vụ quản lý, tổ chức toàn bộ quá trình cung ứng đó.Hoạt động cung ứng dịch vụ diễn ra ở mọi lúc mọi nơi và theo quátrình nên Marketing dịch vụ không thể tập trung vào một cơ quan chức năng nào đó mà toàn công ty cùng phải thực hiện Marketing đồng thời phải thực hiệntốt mối quan hệ trong nội bộ, mối quan hệ giữa công ty với các chuyên gia, với
cơ quan chức năng và với các lực lượng bên ngoài công ty
1.3 Khái niệm về quản lý chất lượng dịch vụ
1.3.1 Khái niệm
Quan tri chât luơng dich vu trong tiếng Anh được gọi là Service Quality Management Quản trị chất lượng dịch vụ có thể được hiểu là hoạt động quản trịnhằm đưa ra các mục tiêu cũng như chính sách chất lượng dịch vụ và thực hiện các mục tiêu và chính sách đó bằng cách tiến hành các hoạt động như hoạch định chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống quản trị chất lượng
1.3.2 Nội Dung
Quan tri chât luơng dich vu bao gôm cac nọi dung sau:
Trang 9Xac đinh muc tieu va chinh sach chât luơng dich vu, mục tiêu chất lượngdịch vụ bao gồm các mục tiêu chung, tổng quát và cụ thể Các mục tiêu
chung và chung có thể là tuyên bố của các tổ chức và công ty về mức chất lượng mong muốn Ví dụ: mục tiêu chất lượng dịch vụ của một tổ chức có thểlà: "Tạo và cung cấp các dịch vụ có chất lượng cao nhất." đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng "hoặc" trở thành một trong ba nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam " Mục tiêu cụ thể là những mục tiêu cần được thể hiện bằng những con số cụ thể và những con số cụ thể cần đạt được thường liên quan chặt chẽ đến Hạn chót các phòng nhất định
Hoach đinh, đam bao va cai tiên chât luơng dich vu, hoach đinh, đam bao vacai tiên chât luơng la khau tiêp theo sau khi muc tieu va chinh sach chât luơng
đa đuơc xac đinh Đê lam đuơc điêu đo, cac tô chưc cung câp dich vu cân phai
co mọt bọ phạn chuyen trach đê thưc thi mọt chuong trinh cai tiên chât luơng hoạc triên khai mọt hẹ thông quan trị chất lượng Giam sat, đanh gia đê phat hiẹn lôi trong qua trinh sang tao va cung ưng dich vu
Tiếp theo, công việc xây dựng hệ thống và tổ chức cung cấp dịch vụ, giám sát và đánh giá, phát hiện những hỏng hóc trong quá trình tạo và cung cấp dịch
vụ là công việc rất cần thiết, chỉ qua giám sát và đánh giá chúng ta mới có thể biết được chất lượng dịch vụ ở Cấp độ nào ? hiện đang cung cấp dịch vụ để cóthể điều chỉnh kịp thời Việc đánh giá liên tục hoạt động của quy trình dịch vụ cần được thực hiện thường xuyên để phát hiện các sai sót (nếu có) và chủ độngtìm kiếm cơ hội cải tiến chất lượng dịch vụ (nếu cần) phải thiết lập và duy trì một hệ thống thông tin để thu thập và phổ biến dữ liệu từ tất cả các nguồn thích hợp Ban lãnh đạo phải phân công trách nhiệm về hệ thống thông tin và nâng cao chất lượng dịch vụ
Vì vậy, quản lý chất lượng có tầm quan trọng lớn
Trang 10Đôi vơi nên kinh tê quôc dan va khach hang: tang cuơng quan tri chât luơngdich vu se thưc hiẹn dich vu tôt hon, thoa man tôt hon khach hang, gop phân
phat triên toan diẹn con nguơi
Đôi vơi ban than doanh nghiẹp dich vu: tang cuơng quan tri chât luơng dich
vu se duy tri mơ rọng thi phân, tang kha nang canh tranh, mơ rọng va nang caohiẹu qua hoat đọng dich vụ
Chương 2: Giới thiệu sơ lược về Chiến lược xây dựng và hoạt
động Marketing của công ty Grab.
2.1 Tổng quan về công ty:
Grab (trước đây gọi là GrabTaxi) là một công ty công nghệ có trụ sở tạiSingapore chuyên cung cấp các dịch vụ vận chuyển và đi lại bằng xe hơi tạiSingapore và các quốc gia Đông Nam Á khác như Malaysia, Indonesia,Philippines, Việt Nam, Thái Lan, Myanmar và Campuchia
Anthony Tan và Hooi Ling Tan nảy ra ý tưởng xây dựng Grab, một công tycung cấp dịch vụ gọi xe, khi đang theo đuổi tấm bằng MBA tại Trường Kinhdoanh Harvard Ban đầu, Grab chỉ là một dự án ở trường đại học và nhờ vào ýtưởng này, hai người bạn đã giành được giải thưởng 25,000 USD từ một cuộcthi do trường học tổ chức Xuất thân từ Malaysia, bộ đôi này đã nhận thức đượctình trạng hỗn loạn và vô tổ chức mà ngành giao thông của các nước Đông Nam
Á phải đối mặt Hơn nữa, họ có được lợi thế vì là người đầu tiên triển khai dịch vụgọi xe trong khu vực này Kết hợp kiến thức về quản trị kinh doanh và quản lý tổnghợp, cả hai bắt đầu vạch ra kế hoạch kinh doanh và xây dựng một ứng dụng từ số tiềnthưởng mà họ giành được từ cuộc thi nói trên.Sau những đêm không ngủ và vô số lầnđộng não, hai người đã triển khai GrabTaxi vào năm 2012 tại Malaysia, chỉ một nămtrước khi Uber ra mắt dịch vụ gọi xe tại Singapore và 2 năm sau khi Go-Jek ra đời ởIndonesia Tương tự ở các quốc gia đã và đang phát triển, dịch vụ gọi xe đã trở thànhứng dụng thường nhật ở các quốc gia Đông Nam Á Nền kinh tế trực tuyến trong khuvực được thúc đẩy mạnh mẽ bởi số lượng người dùng internet ngày càng nhiều vàcàng phụ thuộc Một báo cáo năm 2018 của Google và Temasek cho thấy nền kinh tếinternet tại Đông Nam Á đã đạt mốc 72 tỷ USD tổng giá trị giao dịch (GMV) Trong
đó, dẫn đầu là ngành du lịch trực tuyến, thương mại điện tử, phương tiện truyền thôngonline và dịch vụ gọi xe
Công ty TNHH Grab Việt Nam vào năm 2016 có vốn điều lệ 20 tỷ đồng, cơcấu cổ đông khá bất ngờ gồm 3 người Việt, đó là: Ông Nguyễn Tuấn Anh(34%), Nguyễn Phú Sinh (33%) và Trần Anh Đức (33%).Trong đó, ông NguyễnTuấn Anh (SN 1982) đóng vai trò quan trọng đặc biệt tại Grab Ông chính làngười mở đường triển khai thành công ứng dụng đặt xe, đặc biệt là GrabBike,GrabTaxi và GrabCar Mặt khác, ông cũng là người đem đến các giải phápthanh toán không dùng tiền mặt cho người dùng trên ứng dụng Grab thông qua
Trang 11hợp tác chiến lược với Moca Tại Grab Việt Nam, ông từng đảm nhiệm các vịtrí quan trọng như Giám đốc sáng lập Grab Việt Nam và Tổng giám đốc GrabFinancial Group Việt Nam Tuy nhiên, vào ngày 1/2/2020 ông Tuấn Anh đãchính thức nghỉ việc ở Grab Lô 1,02 triệu cổ phần, tức 51% vốn này sau đó đã
có chủ mới là bà Lý Thụy Bích Huyền vào ngày 27/3/2020 Cũng trong ngàynày, bà Huyền đã đem toàn lô cổ phần nói trên thế chấp tại Công ty TNHHGPay Network Việt Nam; và đến tháng 11/9/2020, bà tiếp tục thế chấp 100%vốn Công Ty TNHH G-Trees cũng vẫn tại GPay Network Việt Nam Ban đầu,khi mới vừa gia nhập thị trường Việt Nam, Grab chỉ có các dịch vụ cơ bản như:GrabBike, GrabCar, GrabTaxi… Kể từ năm 2017, các dịch vụ mới ra đời nhưmột cách để cạnh tranh các đối thủ Go Viet, Bee… có thể kể đến như Grab đitỉnh, GrabExpress, GrabFood và gần đây là GrabHour
Lịch sử hình thành và phát triển của Grab: Ra đời tại Malaysia với tên khaisinh MyTeksi, Grab đang chứng kiến tốc độ tăng trưởng nhanh chóng mặt tạikhu vực Đông Nam Á, tiếp cận được bảy thị trường tại khu vực này chỉ trongkhoảng thời gian chưa đầy 5 năm Ứng dụng Grab cho phép khách hàng tìmkiếm các taxi sẵn có trong khu vực, kết nối với tài xế và biết trước chi phíchuyến đi Ý tưởng tạo ra Grab thành hình từ năm 2011, khi người sáng lậpAnthony Tan – theo học Trường Kinh doanh Harvard – cùng cộng sự lập nênthương hiệu MyTeksi tại Kuala Lumpur Tháng 6/2012 đánh dấu thời điểmMyTeksi chính thức được ra mắt tại thị trường Malaysia với các “kình địch” làUber và Easy Taxi, thu về thành công ban đầu là 11.000 lượt tải ứng dụng trongngày đầu ra mắt Chỉ một năm sau đó, vào tháng 6/2013, Grab đã lập kỷ lục cứ
8 giây có một lệnh đặt xe, tương đương 10.000 lệnh đặt xe/ngày Tháng Támtrong cùng năm, MyTeksi đổ bộ vào thị trường Philippines dưới tên GrabTaxi.Tháng 10/2013, GrabTaxi có thêm thị trường Singapore và Thái Lan và bốntháng sau đó là thị trường Việt Nam và Indonesia Ngày 28/1/2016, GrabTaxichính thức đổi thương hiệu thành Grab để khẳng định vị trí của hãng tại thịtrường Đông Nam Á Thành công mà Grab có được, theo người đồng sáng lậpHooi Ling Tan, là nhờ am hiểu thị trường địa phương và phát triển các giảipháp không theo khuôn mẫu Grab tập trung vào dịch vụ được phân khúc, khubiệt và phù hợp với từng thị trường Đông Nam Á là một thị trường được phânkhúc rõ rệt, với sự đa dạng về ngôn ngữ, văn hóa và tôn giáo
Ban đầu, nguồn vốn của Grab dựa hoàn toàn vào gia đình người sáng lậpAnthony Tan Vào tháng 4/2014, Grab tiến hành gọi vốn lần đầu tiên với tổngtrị giá hơn 10 triệu USD từ Vertex Ventures Một tháng sau đó, hãng tiến hànhgọi vốn lần thứ hai lên tới 15 triệu USD, chủ yếu từ nhà tài trợ CGV Capital.Tháng 10/2014, Grab gọi vốn lần ba 65 triệu USD từ Tiger Global, VertexVentures, CGV và “ông lớn” trong lĩnh vực lữ hành của Trung Quốc Qunar.Lượng vốn gia tăng tương ứng sức tăng trưởng mạnh mẽ của Grab Và thángBảy vừa qua Grab đã gọi vốn thành công với trị giá 2,5 tỷ USD SoftbankGroup Corp (Nhật Bản) và Didi Chuxing của Trung Quốc (cũng hoạt độngtrong lĩnh vực chia sẻ xe) là hai nhà đầu tư lớn nhất trong vòng gọi vốn mới
Trang 12nhất này với 2 tỷ USD rót vào Grab Với số tiền đầu tư mới này, giá trị củaGrab đã tăng thành 6 tỷ USD, giúp hãng trở thành startup có giá trị lớn nhấtĐông Nam Á Grab - đặt trụ sở tại Singapore - hiện là công ty vận tải lớn nhấtĐông Nam Á với mạng lưới 1,1 triệu tài xế, chiếm 95% thị trường đặt taxi quabên thứ ba Theo kế hoạch, trong thời gian tới, Grab sẽ mở trung tâm liên lạc24/7 cho cả tài xế và khách hàng, thí điểm tại Myanmar Thị trường tiêu điểmcủa Grab hiện nay tiếp tục là khu vực Đông Nam Á, mái nhà của hơn 620 triệudân.
Bước vào năm 2019 là sự tăng trưởng vượt bậc: trong vòng bảy năm, dịch vụgọi xe dựa trên thiết bị di động của Grab đã tăng trưởng theo cấp số nhân tại 8quốc gia trong khu vực Đông Nam Á Năm 2018 là cột mốc quan trọng củacông ty khi họ mua lại toàn bộ mảng dịch vụ này tại khu vực Đông Nam Á củađối thủ cạnh tranh Uber Hiện tại, Grab đã trở thành công ty “decacorn” (startup
có giá trị vượt quá 10 tỷ USD) với mức định giá gần 14 tỷ USD, sau khi nhậnđược 1.46 tỷ USD cho vòng tài trợ Series H đang diễn ra từ Vision Fund củaSoftBank vào tháng 3 năm nay Được quảng cáo là mô hình siêu ứng dụng,Grab đã lấn sân sang nhiều lĩnh vực dịch vụ tiêu dùng khác như dịch vụ đặtphòng khách sạn, platform video theo yêu cầu, mua vé, đặt hàng thực phẩm,mua sắm tạp hóa Ngoài ra, Grab còn cung cấp các dịch vụ tài chính Mô hìnhnày được cho là đã được các tập đoàn đa quốc gia Trung Quốc tiên phong thựchiện, như Alipay và WeChat của Tencent Hiện tại, Grab là một trong nhữngcông ty đi đầu trong mô hình này Công ty thu về doanh số hơn 1 tỷ USD vàonăm 2018 và hy vọng sẽ tăng gấp đôi vào năm 2019 Vào tháng 1/2016,GrabTaxi được đổi tên thành Grab, các nhà đồng sáng lập cho rằng sự thay đổithương hiệu này là muốn phản ánh tất cả ngành nghề mà công ty này sẽ hoạtđộng Hãy cùng xem qua các ngành công nghiệp mà hai nhà đồng sáng lậpnhắm tới
Cung cấp dịch vụ cho các công ty Fintech: Là một phần của mảng dịch vụ tàichính, vào tháng 1/2016, Grab đã ra mắt dịch vụ thanh toán di động dựa trên mã
QR, GrabPay Dịch vụ này hiện đã đưa vào hoạt động tại 6 quốc gia trong khuvực Đông Nam Á: Singapore, Indonesia, Philippines, Malaysia, Thái Lan vàViệt Nam Dịch vụ thanh toán này, ngoài việc chấp nhận thanh toán cho cácchuyến đi của Grab, còn có thể dùng để thanh toán khi mua hàng tại cửa hàng,giao đồ ăn và chuyển tiền Cuối cùng, GrabPay mở rộng các dịch vụ tài chínhtheo hướng cung cấp tính năng 'Trả sau', dịch vụ thanh toán trả sau và trả góptại Singapore Dịch vụ này cho phép khách hàng thanh toán các dịch vụ củaGrab vào cuối tháng mà không phải trả thêm chi phí
Dùng bữa với Grab : Vào tháng 5/2018, Grab chính thức ra mắt dịch vụ giaohàng thực phẩm, GrabFood, như một phần trong chiến lược trở thành siêu ứngdụng thường nhật Công ty đặt mục tiêu chiếm vị trí thống lĩnh thị trường giaohàng thực phẩm ở Đông Nam Á, dự kiến tới năm 2020, mảng dịch vụ này sẽ đạtmốc 13 tỷ USD, tăng thêm gấp 6 lần Hai nhà đồng sáng lập đã thúc đẩy mạnh
Trang 13mẽ dịch vụ GrabFood sau khi tiếp quản các hoạt động tại Đông Nam Á củaUberEats.
Mua sắm đồ tạp hóa với Grab: Nối tiếp thành công của GrabFood, vào tháng7/2018, dịch vụ giao hàng tạp hóa Grab Fresh lập tức được ra mắt trên cơ sởhợp tác với HappyFresh, nhà cung ứng dịch vụ giao hàng tạp hóa có trụ sở đặttại Indonesia Tương tự như việc giao thức ăn, các tài xế đối tác của Grab cũng
có thể lựa chọn giao hàng tạp hóa giữa các chuyến chở khách Thông qua GrabFres, có rất nhiều mặt hàng để người tiêu dùng có thể lựa chọn Tại thời điểm ramắt, công ty cho biết sẽ cung ứng hơn 20,000 mặt hàng tạp hóa
2.2: Sản Phẩm dịch vụ của công ty:
Grab là ứng dụng đặt xe tiện lợi được yêu chuộng nhất Đông Nam Á với mụcđích mang đến cho người dùng các dịch vụ vận chuyển nhanh chóng, bằng cách kếtnối hơn 10 triệu hành khách với 185.000 tài xế trong khắp khu vực Ứng dụng củaGrab cung cấp 5 loại hình dịch vụ vận chuyển bao gồm taxi, xe hơi riêng, xe ôm vàgiao hàng trên khắp Singapore, Malaysia, Thailand, Philippines, Việt Nam vàIndonesia Đối với chiến lược Marketing của Grab về sản phẩm, Grab đã sử dụngchiến lược đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ của mình.Sảnphẩm dịch vụ Grab rất đa dạng: từ GrabTaxi, GrabBike, GrabCar, GrabExpress vàgần đây là GrabShare hiện đã có mặt tại Việt Nam Sản phẩm của Grab đã đượcchứng nhận chất lượng ISO 9001:2015 Thương hiệu Grab luôn phát triển sảnphẩm của mình để đạt được chất lượng tốt nhất, bám sát vào nhu cầu và mongmuốn của khách hàng GrabExpress (dịch vụ giao hàng) là sản phẩm của Grab màUber không có.Grab thường đặt khách hàng làm trung tâm trong quá trình pháttriển dịch vụ của mình Grab luôn cố gắng phát triển sản phẩm qua việc lắng nghekhách hàng của mình Ứng dụng Grab cho phép người sử dụng trên nền tảng điệnthoại di động, bạn có thể sử dụng ứng dụng để đặt xe, nhập điểm đón và điểm đến,sao đó ứng dụng sẽ tự động hiện phí cước Tiếp đến Grab sẻ liên kết với những tài
xế gần nhất khu vực của bạn Tiếp đến bạn chỉ cần việc đặt xe và đợi tài xế đếnđón Grab sẽ giúp kết nối các tài xế đang đang có nhu cầu kiếm thêm thu nhập vớikhách hàng có nhu cầu đi lại hoặc nhu cầu thiết yếu đồ hàng hoặc đồ ăn để thuậnlợi cho cả 2 bên
Các dịch vụ nổi tiếng của Grab như:
GrabCar: Dịch vụ đặt xe hơi riêng, giúp khách hàng di chuyển tiện lợi,thoải mái với giá cước biết trước Khách hàng có thể tùy chọn GrabCar 4 chỗhoặc GrabCar 7 chỗ tùy theo nhu cầu đi lại
GrabShare: Dịch vụ đi chung xe GrabShare cho phép khách hàng chia sẻ chuyến xe với hành khách khác có cùng hướng đi, tiết kiệm chi phí lên đến 30% so với dịch vụ GrabCar thông thường
GrabBike: Dịch vụ đặt xe máy, giúp khách hàng di chuyển nhanh chóng và an toàn Hiện GrabBike còn có dịch vụ GrabBike Premium – đặt
xe máy cao cấp với nhiều dòng xe cao cấp
Trang 14GrabTaxi: Dịch vụ đặt xe Taxi (4 hoặc 7 chỗ tùy theo nhu cầu),
giá cước GrabTaxi được tính theo đồng hồ trên xe
GrabExpress:: Dịch vụ giao hàng bằng xe máy của Grab
GrabExpress có mặt tại Hà Nội và Tp.HCM, giúp khách hàng giao nhận hàng
dễ dàng và thuận tiện
Ngoài ra Grab còn cung cấp đa dạng các dịch vụ thanh toán như là: Tiền mặt, GrabPay: Phương thức thanh toán chuyến đi bằng thẻ Credit hoặc Debit Quốc tế Khách hàng chỉ cần nhập thông tin thẻ 1 lần duy nhất, thoải mái đi lại với nhiều ưu đãi hấp dẫn GrabPay Credits: Phương thức nạp thêm phí vào tài khoản trên ứng dụng Grab (tương tự hình thức nạp thẻ điện thoại), giúp tối ưu hóa việc thanh toán cho các khách hàng chưa có thẻ tín dụng và không cần dùng tiền mặt Grab luôn không ngừng nghiên cứu và mang tới các dịch vụ mớiđáp ứng nhu cầu của khách hàng Hiện tại, các dịch vụ như Grabfood – giao đồ
ăn online hay GrabExpress – dịch vụ giao hàng toàn quốc cũng nhận được sự ủng hộ và ưa thích từ đông đảo người dân Việt Nam, chứng minh được tầm ảnhhưởng của thương hiệu này
Nhờ có dịch vụ Grab mà người dân được kết nối với nhau qua các ứng dụng
có lợi cả đôi bên, giữa những tài xế có thể kiếm thêm thu nhập trang trải cho cuộc sống và người dùng dịch vụ cũng cảm thấy hài lòng với nhu cầu của mình Bất cứ thứ gì bạn cần, chỉ cần gọi Grab!
Trang 15Chương 3: Xây dựng các hoạt động Marketing dịch vụ công ty Grab:3.1 Phân tích môi trường vĩ mô:
Môi trường vĩ mô là các yếu tố nằm bên ngoài Doanh nghiệp, tổ chức, nó gâyảnh hưởng đến môi trường kinh doanh và hoạt động Marketing của mỗi Doanh
nghiệp, môi trường vĩ mô chính là các yếu tố về thể chế, mặt lực lượng,
… nằm bên ngoài tổ chức và những yếu tố này khiến nhà quản lý doanh nghiệp khókiểm soát được Và đương nhiên những yếu tố môi trường vĩ mô đó có ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động của Doanh nghiệp và kết quả hoạt động của một công ty, tổ chức Môi trường vi mô ảnh hưởng rất nhiều đến sự thành công của hoạt động kinh doanh Tất cả các kế hoạch, chiến lược và mục tiêu Marketing được thực hiện thông qua các thành phần thuộc môi trường vi mô Do đó, bộ phận điều hành của doanh nghiệp nơi thực hiện thực tế các ý tưởng, suy nghĩ và khái niệm được thực hiện và dựatrên diễn biến và tình trạng của các thành phần thuộc môi trường vi mô Để phân tích môi trường vĩ mô đối với công ty Grab thì cần chia ra các lĩnh vực yêu cầu:
Tổng dân số và tỷ lệ bao nhiêu % dân số tiêu dùng sản phẩm sữa thường
xuyên, phân loại theo khu vực thành thị nông thôn để biết đối tượng khách
hàng của doanh nghiệp, từ đó có sự thiết kế hệ thống phân phối hoàn hảo
+ Yếu tố dân số: Dân số của VN vào ngày 18/9/2018 là 96.986.309 người theo
số liệu mới nhất từ liên hợp quốc, chiếm 1.27% dân số thế giới, mật độ dân số là 312người/km2 và 34.07% dân số sống ở thành thị, cơ hội có quy mô dân số lớn, dân sốtập trung nhiều ở thành thị và có xu hướng gia tăng, quy mô thị trường những người
sử dụng dịch vụ ngày càng mở rộng
Môi trường các yếu tố chính trị bao gồm: luật pháp hiện hành của quốc giacác chính sách và cơ chế của nhà nước đối với ngành nghề kinh doanh Các nhàquản trị doanh nghiệp phải lưu ý tới các yếu tố trên nhằm tiên đoán những thayđổi hay biến động về chính trị quốc gia, khu vực và chính trị thế giới để cónhững quyết định đúng đắn trong hoạt động kinh doanh Việc ổn định chính trị
sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động các doanh nghiệp, các rủi ro do môitrường chính trị tạo ra thường là rất lớn dẫn đến phá sản cho doanh nghiệp Khithay đổi bộ máy nhân sự trong chính phủ có thể dẫn đến những thay đổi đáng kể
về chính sách về kinh tế, như chính phủ có thể quốc hữu hóa doanh nghiệp theochủ trương, tịch thu tài sản, ngăn cấm dịch chuyển ngoại tệ hoặc can thiệp
+ Yếu tố chính trị pháp luật: Các quy định của pháp luật cho Grab tại ViệtNam còn lỏng và hạn chế hơn nhiều so với các nước khác Vd: Tại Mỹ, nơi Uber khởinghiệp, có bang cũng cấm, có bang cho phép hoạt động Song một số bang , khi cónguy cơ bị siết chặt quản lý, Uber lại dừng hoặc thu hẹp hoạt động Tương tự như vậy,tại một số quốc gia khác, Uber cũng tự rút ra vì nếu tiếp tục hoạt động họ sẽ phải đốidiện với mức phạt lớn hơn thu nhập Chẳng hạn, tại Canada, khi bang Quebec vừathông qua đạo luật, toàn bộ lái xe Uber phải trải qua sát hạch về lý lịch, tiền sử, nănglực lái xe, trải qua 35 tiếng đồng hồ tập huấn như lái xe taxi, Uber tuyên bố rút ra TạiAustralia, bắt buộc toàn bộ
Trang 16tài xế phải đăng ký mã số thuế, đóng thuế cho cơ quan quản lý, thậm chí phảinộp 1 USD cho mỗi chuyến xe để đưa vào quỹ tài trợ cho DN taxi truyền thống.
Có một số quốc gia cấm hoàn toàn như: Bungary , Hungary, Nhật, Đài Loan(Trung Quốc), Đức Grab cũng như được 1 số lợi thế nhất định so với các doanhnghiệp kinh doanh taxi về điều kiện kinh doanh
Môi trường kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp, các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến doanh nghiệp là lãi suất ngânhàng, cán cân thanh toán, chính sách tài chính tiền tệ, tỷ lệ lạm phát nền kinh
tế ,chính sách thuế, tỷ giá ngoại hối và tỷ lệ thất nghiệp, giá trị tổng sản phẩmquốc nội GDP…Các yếu tố kinh tế nói trên sẽ trở thành cơ hội cho một sốdoanh nghiệp cũng có thể là những thách thức đối với các doanh nghiệp
+ Yếu tố kinh tế: Theo số liệu công bố của TCTK, tăng trưởng kinh tế Việt Nam Quý 2/2018 đạt mức 6, 79% Khu vực dịch vụ tăng trưởng tích cực ở mức 6, 9% (yoy)trong hai quý đầu năm, mức tăng cao nhất kể từ năm 2012 Theo số liệu từ Tổng cục
Du lịch, lượng khách quốc tế tới Việt Nam trong 6 tháng đầu năm đạt 7, 9 triệu lượt khách GDP đầu người là 2385$ Cơ hội đem đến thu nhập của người dân cũng như sốtiền chi dùng cho các sản phẩm dịch vụ ngày càng tăng, thách thức đến người dân về chi phí lao động ngày càng tăng
Môi trường văn hoá xã hội của doanh nghiệp là các yếu tố văn hoá xã hội
đang diễn ra trong khu vực mà doanh nghiệp hoạt động, có ảnh hưởng tới kết quả hoạt động doanh nghiệp Nhà quản trị phải biết nắm vững cả hai khuynh hướng trên để có giải pháp thâm nhập sản phẩm của nhà sản xuất một cách
thích hợp vào từng loại thị trường có nền văn hoá khác nhau, văn hóa vùng
miền thường được các doanh nghiệp nghiên cứu kỹ trước khi tung sản phẩm Nhìn chung văn hoá xã hội ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp qua các mặt sau: Văn hoá hình thành nên thói quen tiêu dùng
của các nhóm dân cư, từ đó hình thành nên thói quen tiêu dùng, sở thích, cách
cư xử của khách hàng trên thị trường Ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển nền văn hoá bên trong của doanh nghiệp
+ Yếu tố văn hóa-xã hội: Người Việt Nam ít sử dụng phương tiện giao thông công cộng, vẫn ưa chuộng sử dụng phương tiện giao thông cá nhân đặc biệt là xe máy Năm
2016, thống kê đã ghi nhận con số có hơn 45 triệu môtô, xe máy tại Việt Nam Hiện, 85%dân số Việt Nam đang sử dụng xe máy như là phương tiện đi lại cũng như để mưu sinh mỗi ngày Theo điều tra xác định tỷ lệ các loại xe trong một dòng xe thì có tới 85, 8% xe
là xe máy, 12, 3% là ô tô Số lượng tài xế xe máy dày đặc cũng như tâm lý ưa chuộng xe máy tạo điều kiện thuận lợi cho Grab triển khai các loại hình như grabbike hoặc mới đây
là grabcar
Kỹ thuật – công nghệ như là một bộ phận của môi trường kinh doanh bên ngoài tác động tác động đến hoạt động doanh nghiệp qua hai mặt: Thứ nhất, công nghệ
từ bên ngoài tác động đến doanh nghiệp thông qua công nghệ bên trong Nếu
doanh nghiệp không theo kịp bằng cách áp dụng công nghệ mới của xã hội thì cácsản phẩm mình làm ra sẽ nhanh chóng lạc hậu, không thể bán được cho người tiêudùng Thứ hai, công nghệ làm xuất hiện các đối thủ cạnh