Xác định và đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và kết quả hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp trong phạm vi các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu thủy hải sản vùng Đồ
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN NGHIÊN CỨU
ĐẶT VẤN ĐỀ
Toàn cầu hóa thương mại đã thúc đẩy sự gia tăng đáng kể số lượng công ty tham gia vào các hoạt động quốc tế (Chang và Fang, 2015; Chen và ctv., 2016) Điều này cho thấy các doanh nghiệp đang ngày càng mở rộng quy mô hoạt động ra nước ngoài, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và tận dụng cơ hội thị trường ở các địa bàn mới Nhiều nghiên cứu khẳng định xu hướng này đang định hình chiến lược cạnh tranh và hợp tác xuyên biên giới của các tổ chức.
Xuất khẩu được xem là chiến lược quan trọng trong quá trình quốc tế hóa (Sousa và ctv., 2008), mang lại cho doanh nghiệp mức độ linh hoạt cao và đòi hỏi cam kết tài chính, nhân lực và nguồn lực tối thiểu so với các phương thức gia nhập thị trường quốc tế khác Hơn nữa, xuất khẩu cho phép doanh nghiệp tiếp thu kiến thức thị trường thông qua việc cạnh tranh trong các môi trường đa dạng và ít quen thuộc Kiến thức thu được từ xuất khẩu có thể được áp dụng không chỉ ở thị trường nước ngoài mà còn ở thị trường trong nước, giúp doanh nghiệp cạnh tranh và thành công ở cả thị trường nội địa và quốc tế (Chitauro và Khumalo, 2020).
Xuất khẩu mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp và nền kinh tế của một quốc gia, và trong nhiều thập kỷ qua các nhà nghiên cứu đã nỗ lực xác định các biến số ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Tuy nhiên, hiểu biết về chủ đề này vẫn còn hạn chế và các tài liệu về hoạt động xuất khẩu thường cho kết quả không nhất quán, điều này được Sousa và các đồng tác giả chỉ ra.
2008) Trong bối cảnh này, các nhà nghiên cứu đã điều tra tác động của nhiều yếu tố đến hoạt động xuất khẩu (Cadogan và ctv., 2012; Morgan và ctv., 2012)
Các yếu tố bên trong (yếu tố nội bộ) là những yếu tố được các nhà nghiên cứu kiểm tra thường xuyên hơn, vì chúng nằm trong phạm vi kiểm soát của doanh nghiệp Điều này có cơ sở thực tiễn, bởi các yếu tố nội bộ có thể được doanh nghiệp điều chỉnh và quản lý dễ dàng hơn so với các yếu tố bên ngoài.
Do tầm quan trọng của xuất khẩu, nhiều nghiên cứu quốc tế đã nhấn mạnh việc xác định và đánh giá năng lực kinh doanh quốc tế làm cơ sở cho hoạt động xuất khẩu của DN; tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào nền kinh tế tiên tiến và các nước phương Tây nên hiểu biết về mối quan hệ giữa năng lực cạnh tranh và kết quả xuất khẩu ở các nền kinh tế đang phát triển còn hạn chế, đồng thời DN từ các nền kinh tế này phải đối mặt với nhiều thách thức như hạn chế nguồn lực, thiếu kinh nghiệm quốc tế, thiếu kiến thức về tiếp thị và thông tin, hệ thống quản lý phức tạp và các hàng rào thuế quan, phi thuế quan Các bằng chứng cho thấy sự khác biệt giữa nền kinh tế tiên tiến và đang phát triển có ý nghĩa đối với hoạt động xuất khẩu, do đó cần có thêm nghiên cứu và dữ liệu từ bối cảnh đang phát triển Đối với DN Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mạnh mẽ, cạnh tranh diễn ra gay gắt do sự hiện diện của đối thủ nước ngoài có tiềm lực tài chính, công nghệ và quản lý, khiến nâng cao năng lực cạnh tranh trở thành chiến lược sống còn để DN tồn tại và phát triển, đặc biệt với DN xuất khẩu thủy hải sản Việc nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ mang lại lợi ích cho DN mà còn góp phần vào tăng trưởng của ngành và toàn bộ nền kinh tế, giúp DN đạt được lợi nhuận và củng cố vị thế trong môi trường thương mại ngày càng phức tạp.
Thủy hải sản vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) năm 2017, Việt Nam nằm trong top ba quốc gia hàng đầu thế giới về nuôi trồng và sản xuất thủy hải sản, sau Trung Quốc và Ấn Độ Từ năm 2000, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam có sự tăng trưởng đột phá nhờ phát triển mạnh ngành nuôi trồng, đặc biệt là nuôi cá tra và tôm nước lợ (tôm sú và tôm thẻ chân trắng) Sau 12 năm, kim ngạch xuất khẩu thủy sản tăng gấp hơn 4 lần từ mức gần 1,5 tỷ USD năm 2000 lên 7,8 tỷ USD năm 2012.
Trong năm 2015, XK thủy sản gặp khó khăn do giá tôm giảm và đồng USD tăng mạnh so với các tiền tệ khác, làm giảm nhu cầu và tăng áp lực cạnh tranh trên thị trường toàn cầu Dù chịu áp lực, kim ngạch XK thủy sản năm 2016 vẫn đạt 7,05 tỷ USD, tăng 7,3% so với năm 2015 Những biến động này cho thấy ngành thủy sản vẫn có đà tăng trưởng nhưng chịu ảnh hưởng từ biến động tỷ giá và thị trường thế giới.
Dù đối mặt với nhiều thách thức từ thị trường, như tác động của chương trình thanh tra cá da trơn và cảnh báo thẻ vàng của EU đối với hải sản Việt Nam, kim ngạch XK thủy sản Việt Nam năm 2017 đạt trên 8,3 tỷ USD, tăng 18% so với năm 2016 Năm 2018, XK thủy sản toàn quốc đạt trên 8,8 tỷ USD, tăng gần 6% so với năm 2017 Trong 5 năm gần đây, kim ngạch XK thủy sản luôn đứng thứ 4 trong số các mặt hàng XK chủ lực, sau dệt may, da giày và dầu thô.
Thành tựu của ngành thủy sản được thể hiện qua đà tăng nhanh của giá trị xuất khẩu và sản lượng trong giai đoạn 2001-2019 Năm 2019, sản phẩm thủy sản được xuất khẩu sang 158 nước và vùng lãnh thổ, và EU là một trong ba thị trường chính, chiếm 15% thị phần.
Mỹ 17% và Nhật Bản 17% là thị trường tiêu thụ chủ lực của ngành thủy sản Việt Nam, các thị trường tiềm năng hiện nay gồm Trung Quốc 17% và ASEAN 8%, trong khi khu vực ĐBSCL hình thành và duy trì các công ty quy mô lớn như Tập đoàn thủy sản Minh Phú, Vĩnh Hoàn và Hùng Vương; số lượng nhà máy và công suất cấp đông của các cơ sở chế biến tăng nhanh từ năm 2001–2015, đóng vai trò then chốt cho chuỗi cung ứng và xuất khẩu Năm 2020, bất chấp biến động của kinh tế thế giới trước đại dịch Covid-19, ngành thủy sản Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng nhất định: sản lượng thủy sản cả nước đạt 8,4 triệu tấn, tăng 3% so với 2019; tuy nhiên do biến động giá, thay đổi xu hướng tiêu dùng và đứt gãy chuỗi cung ứng, kim ngạch xuất khẩu thủy hải sản chỉ đạt 8,4 tỷ USD, giảm 1,9% so với năm trước, trong đó thủy sản nuôi (tôm, cá tra) chiếm 62% với 5,2 tỷ USD và thủy sản khai thác 38% với 3,2 tỷ USD (Nguồn: VASEP, 2020).
Thủy sản Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức như dịch bệnh, hạn hán, xâm nhập mặn và ô nhiễm môi trường, gây khó khăn cho sự phát triển của ngành; cùng với đó, rào cản kỹ thuật và rào cản thương mại từ các nước nhập khẩu ngày càng khắt khe nhằm bảo vệ doanh nghiệp và người tiêu dùng nước họ Giá thủy sản nguyên liệu trong nước cao khiến giá xuất khẩu không tương xứng, làm giảm sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Theo Hiệp hội Thủy sản Việt Nam, năm 2019 do chịu ảnh hưởng của thuế chống bán phá giá cao, thẻ vàng IUU đối với hoạt động khai thác và mức giá xuất khẩu trung bình giảm, XK thủy sản Việt Nam đạt gần 8,6 tỷ USD, giảm 2,5% so với năm 2018 Hai sản phẩm nuôi trồng chủ lực là tôm và cá tra lần lượt giảm 7,1% và 8,5%, các mặt hàng hải sản như mực và bạch tuộc cũng giảm, nhưng cá ngừ và một số loại hải sản biển khác vẫn giữ được tăng trưởng, phần nào bù đắp cho mức sụt giảm trong tổng kim ngạch XK thủy sản của cả nước XK thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ và các thị trường quốc tế khác đang chịu áp lực từ biện pháp phòng vệ thương mại và yêu cầu chất lượng ngày càng cao.
EU, Hàn Quốc, Australia và Canada đều giảm trong khi xuất khẩu sang Nhật Bản, Trung Quốc và các thị trường khác nằm trong top 10 thị trường lớn nhất vẫn tăng so với năm trước (VASEP, 2020).
Để phát triển bền vững trên thị trường quốc tế, các DN thủy hải sản đang tập trung nâng cao hoạt động xuất khẩu, nhưng rào cản kỹ thuật từ các nước nhập khẩu ngày càng khắt khe gây khó khăn cho DN Để đạt kết quả tốt trong xuất khẩu, DN cần chiến lược thông minh và dài hạn, đồng thời tìm kiếm thị trường ổn định và phù hợp hơn Trên các thị trường quốc tế cạnh tranh ngày càng gay gắt, sự thành công phụ thuộc vào việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu và triển khai các giải pháp hành động liên quan Để vượt qua rào cản từ bên ngoài, DN cần trang bị nguồn lực nội tại đủ mạnh nhằm thích ứng với biến đổi môi trường và đối phó với các đối thủ trong và ngoài nước Tuy nhiên, hiện vẫn còn ít nghiên cứu đề cập đến các nguồn lực này, đặc biệt trong ngành thủy hải sản vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và Việt Nam.
Qua lược khảo tài liệu, số lượng bài báo và nghiên cứu về NLCT ở Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng còn rất hạn chế, đặc biệt là với các doanh nghiệp xuất khẩu thủy hải sản Ở khu vực ĐBSCL đã công bố hai nghiên cứu về kết quả hoạt động xuất khẩu thủy hải sản của DN (Viet và ctv., 2017; Thanh và ctv., 2018); cả hai đều dùng chung một mô hình nền tảng xem xét các yếu tố bên trong và bên ngoài DN nhưng chưa đi sâu xác định nội hàm của NLCT và chỉ bàn về kết quả xuất khẩu Để phát triển bền vững trên thị trường quốc tế, DN xuất khẩu thủy sản nên chú trọng nâng cao NLCT và kết quả hoạt động xuất khẩu; theo Porter (2008), NLCT giúp DN đứng vững trên thị trường, mở rộng thị phần và tăng lợi nhuận, trong khi Ambrosini và Bowman (2009) cho rằng nâng cao NLCT cho phép DN tạo ra và duy trì lợi nhuận trước áp lực biến đổi nhanh của môi trường Nhận thức được tầm quan trọng của NLCT và kết quả hoạt động xuất khẩu, nghiên cứu này nhằm cung cấp những đánh giá sâu sắc về tác động của các nhân tố lên NLCT và kết quả hoạt động xuất khẩu của các DN xuất khẩu thủy sản vùng ĐBSCL Các DN thủy sản Việt Nam đang và sẽ tiếp tục trải qua quá trình thay đổi mạnh về cơ cấu và tổ chức, thúc đẩy quản trị theo thông lệ quốc tế nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, hướng tới nâng cao NLCT trong bối cảnh hội nhập toàn cầu Vậy việc xây dựng, phát triển NLCT và nâng cao kết quả hoạt động xuất khẩu của DN xuất khẩu thủy hải sản càng trở nên cấp thiết, dù ở thời điểm này nước ta đã tích cực đổi mới và điều chỉnh chính sách quản lý kinh tế và thương mại quốc tế nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh cho nông sản nói chung và thủy sản nói riêng, và đã đạt được những bước phát triển đáng kể.
Xuất phát từ thực tiễn ngành xuất khẩu thủy sản và qua quá trình rà soát tài liệu, hiện chưa có nghiên cứu nào xây dựng thang đo và lượng hóa tác động của các yếu tố lên năng lực cạnh tranh và kết quả hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp thủy hải sản một cách có hệ thống Điều này khiến các nỗ lực tháo gỡ khó khăn của ngành gặp nhiều trở ngại và thiếu cơ sở khoa học vững chắc để ra quyết định cho các bên liên quan Vì vậy, nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy hải sản vùng Đồng Bằng sông Cửu Long là cấp thiết, nhằm giúp các doanh nghiệp nhận dạng, nuôi dưỡng, phát triển và sử dụng năng lực cạnh tranh một cách hiệu quả, thích ứng với sự biến động của môi trường kinh doanh như hiện nay.
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện theo trình tự các bước theo hình 3.1
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu
Trên cơ sở vấn đề nghiên cứu, tác giả xác định mục tiêu nghiên cứu và từ đó dựa vào cơ sở lý thuyết cùng với kết quả của các công trình nghiên cứu trước đó có mối liên hệ để đề xuất mô hình nghiên cứu và thang đo nháp Nhằm đảm bảo giá trị nội dung của thang đo, nghiên cứu được thực hiện thông qua phỏng vấn ý kiến chuyên gia và thảo luận nhóm nhằm khẳng định tính hợp lý và độ tin cậy của thang đo.
Xác định mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng thang đo và phiếu khảo sát
Nghiên cứu cơ sở lý thuyết
Trong quá trình phát triển công cụ đo lường, cần lấy ý kiến chuyên gia thông qua nghiên cứu định tính để xác định các yếu tố và câu hỏi phù hợp; từ đó điều chỉnh thang đo và phiếu khảo sát sơ bộ dựa trên phản hồi nhận được; tiến hành điều tra sơ bộ và khảo sát thử nghiệm nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của công cụ; cuối cùng, đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng các chỉ số tin cậy và sự nhất quán của các câu hỏi, để đảm bảo công cụ đo lường đáng tin cậy cho nghiên cứu.
(Cronbach’s Alpha) Điều chỉnh thang đo Thiết kế phiếu khảo sát chính thức
Tiến hành thu số liệu chính thức
Sau khi xác định mô hình và thang đo chính, tác giả tiến hành nghiên cứu định lượng thông qua bảng câu hỏi khảo sát chính thức Kết quả khảo sát được mã hóa và xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS Các bước xử lý bao gồm phân tích yếu tố khám phá, đánh giá độ tin cậy thông qua hệ số Cronbach’s Alpha, đồng thời kiểm định sự phù hợp của mô hình nghiên cứu thông qua phân tích hồi quy tuyến tính SEM.
PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN
Trong hầu hết các công trình trước đây, NLCT (năng lực cạnh tranh) của DN được tiếp cận bằng mô hình năm áp lực cạnh tranh của Porter (1980) Mô hình này không chỉ phổ biến trong giảng dạy và nghiên cứu năng lực cạnh tranh doanh nghiệp ở nhiều quốc gia mà còn được áp dụng để phân tích NLCT của các DN Việt Nam, với nhiều bằng chứng cho thấy phù hợp để xem xét NLCT trên nhiều khía cạnh nghiên cứu khác nhau Phần lớn nghiên cứu tập trung vào việc vận dụng mô hình nhằm xác định NLCT và đánh giá khả năng gia nhập ngành cho một DN trong một ngành cụ thể, trong khi một hướng nghiên cứu khác dù ít phổ biến hơn tập trung vào các DN đã hoạt động trong ngành Để phân tích NLCT hay thế mạnh cạnh tranh của các DN này, mô hình năm áp lực cạnh tranh được vận dụng tương tự Vì sự phổ biến của mô hình này, nghiên cứu này chọn Porter năm áp lực cạnh tranh làm nền tảng xây dựng mô hình nghiên cứu, lấy NLCT làm trung tâm để xem xét sự tác động của các áp lực cạnh tranh đến NLCT và cách thức chúng làm thay đổi NLCT như thế nào Nắm bắt NLCT của DN trong lĩnh vực xuất khẩu thủy hải sản tại khu vực ĐBSCL.
Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi chọn khái niệm NLCT phổ biến của Porter để xây dựng mô hình, vì lý thuyết tiếp cận và mô hình năm áp lực cạnh tranh cũng xuất phát từ cùng tác giả Khái niệm NLCT cho rằng năng lực cạnh tranh của DN là khả năng duy trì, mở rộng thị phần và đạt lợi nhuận cao, đồng thời phát triển bền vững Theo Porter, bản chất và sức cạnh tranh của mỗi ngành gồm một bộ năm áp lực cạnh tranh khác nhau, mỗi thành phần có tác động riêng biệt lên sức mạnh cạnh tranh của DN Năng suất lao động được xem là thước đo cơ bản của NLCT, và năng lực cạnh tranh là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và đổi mới các lợi thế cạnh tranh để nâng cao năng suất và chất lượng, từ đó chiếm lĩnh thị phần và tạo nguồn thu cao Cụ thể, năm yếu tố tác động đến NLCT bao gồm: (1) sự cạnh tranh giữa các công ty hiện có; (2) mối đe dọa từ việc một đối thủ mới tham gia thị trường; (3) nguy cơ từ các sản phẩm thay thế xuất hiện; (4) vai trò của khách hàng; (5) vai trò của nhà cung cấp.
Theo lý luận về các phương pháp tiếp cận NLCT, các nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề NLCT của DN căn bản được tiếp cận theo hai quan điểm chính là nguồn lực (RBV) và năng lực (CBV) Quan điểm NLCT theo nguồn lực được xem là nguồn gốc hình thành quan điểm năng lực và cũng là nguồn gốc của sự tồn tại, cạnh tranh và thành công của mọi DN Hsu và Liu (2008) cho rằng cả hai quan điểm đều chia sẻ sự giống nhau trong việc tích hợp các nguồn lực để tạo nên khả năng cạnh tranh trong DN và sau đó tác động vào kết quả hoạt động Tuy nhiên, hai quan điểm này cũng tồn tại khá nhiều sự khác biệt, trong đó có thể nhận thấy sự khác biệt lớn nhất là chuỗi nhân tố tác động đến NLCT cũng như kết quả hoạt động của DN Nếu quan điểm nguồn lực cho rằng những nguồn lực khan hiếm hay tiêu biểu sẽ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh khác nhau giữa các DN, quan điểm năng lực lại cho rằng có nhiều yếu tố trung gian tham gia vào chuỗi ảnh hưởng từ nguồn lực đến kết quả hoạt động, trong đó tài sản và nguồn lực là điểm xuất phát trong chuỗi ảnh hưởng Freiling (2004) cho rằng nguồn lực và tài sản thì không đủ để giải thích kết quả kinh doanh khác nhau giữa các DN Bản thân mỗi DN có đặc thù riêng dẫn đến sự khác biệt về NLCT và kết quả hoạt động.
DN phải có cách thức đảm bảo việc sử dụng nguồn lực phù hợp với định hướng thị trường và cạnh tranh Thuyết năng lực sau khi được phát triển đã lấp đầy khoảng trống giữa nguồn lực và kết quả hoạt động thông qua sự xuất hiện của hai khái niệm năng lực và khả năng, đóng vai trò cầu nối giữa nguồn lực và kết quả Năng lực và khả năng là cách thức mà mỗi DN sử dụng nguồn lực để đạt được kết quả đúng mục tiêu Thuyết năng lực cho thấy sự tiến bộ so với thuyết nguồn lực khi đưa yếu tố cạnh tranh vào chuỗi ảnh hưởng, và bối cảnh cạnh tranh sẽ hình thành NLCT — một thành phần trong nhóm năng lực tác động đến kết quả kinh doanh Theo Freiling (2004), NLCT được chỉ ra trong thuyết năng lực là cầu nối giữa thị trường và DN, cho thấy thuyết này không tách rời DN khỏi sự phát triển chung của thị trường mà luôn đồng hành và thay đổi theo thị trường — cơ sở cho khái niệm thuyết năng lực động.
Trên cơ sở này, nghiên cứu tiếp cận khái niệm NLCT từ quan điểm thuyết năng lực (Competence-based View – CBV) vì tính bền vững và khả năng tác động tới kết quả hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp, đặc biệt đối với ngành thủy hải sản khi thị trường thay đổi nhanh và cạnh tranh ngày càng gay gắt Ở Việt Nam, ngành thủy hải sản có đặc thù là cạnh tranh mạnh trên thị trường quốc tế, biến đổi nhanh của môi trường kinh doanh và các yêu cầu thị trường ngày càng khắt khe hơn, hướng tới khai thác đồng thời bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên Trong bối cảnh này, tiếp cận NLCT theo CBV trở nên hợp lý vì cho phép NLCT được nghiên cứu trong một môi trường động hoặc liên tục biến đổi Theo quan điểm năng lực, nghiên cứu tập trung vào khả năng sử dụng, kết hợp tài sản và nguồn lực nhằm đạt được tăng trưởng và hiệu quả tổng thể của tổ chức Lý thuyết CBV được phát triển bởi nhiều nghiên cứu, nổi bật nhất là của Sanchez và Heene (1996, 2004) Lý thuyết này cho rằng năng lực là khả năng duy trì, triển khai và phối hợp các nguồn lực và khả năng theo cách giúp công ty đạt được mục tiêu; hay nói cách khác, năng lực của công ty sẽ quyết định sự thành công của công ty đó Lý thuyết CBV giả định: năng lực là khả năng duy trì, triển khai và phối hợp các nguồn lực và khả năng theo cách giúp công ty đạt được mục tiêu.
(1) Công ty thành công chính là mức độ đạt được và thỏa mãn liên tục những mục tiêu của công ty;
(2) Công ty thành công - f(các nguồn lực, các khả năng, quá trình quản trị, chiến lược phù hợp,…)
Hình 3.2: Năng lực cạnh tranh tiếp cận thông qua các thực thể trong quan điểm năng lực (CBV)
Các năng lực Đạt mục tiêu chiến lược DN
Các chiến lược phù hợp Bối cảnh cạnh tranh
Trong mô hình của hình 3.2, các thực thể được hiểu là tài sản của doanh nghiệp, bao gồm cả tài sản hữu hình và vô hình có thể mang lại lợi ích cho công ty Nguồn lực là những tài sản mà DN có thể tiếp cận và sử dụng trong quá trình triển khai và phát triển sản phẩm để tạo ra giá trị cho khách hàng và thị trường Khả năng được hiểu là cách mà doanh nghiệp tận dụng, kết nối và phối hợp các tài sản và nguồn lực để triển khai hoạt động, thích ứng với thay đổi và tối ưu hoá quá trình sản xuất, từ đó gia tăng giá trị và cạnh tranh trên thị trường.
Doanh nghiệp có thể tích hợp xây dựng và cấu trúc nguồn lực, đồng thời phát triển năng lực vừa tạo ra khả năng mới vừa tác động làm thay đổi năng lực hiện có Các chiến lược phù hợp tập trung vào quy trình quản lý và triển khai nguồn lực cùng với năng lực để tối ưu phân bổ và phân phối giá trị Bối cảnh cạnh tranh—bao gồm đặc thù ngành và môi trường cạnh tranh—sẽ quyết định loại nguồn lực và mức độ tác động tới năng lực của doanh nghiệp Đạt được mục tiêu chiến lược là kết quả cuối cùng của mọi hoạt động kinh doanh và là thước đo hiệu quả của doanh nghiệp.
Các nghiên cứu liên quan đến thuyết năng lực coi năng lực là nguồn lực vô hình đặc biệt của doanh nghiệp (Barney, 1991; Grant, 1991; Teece và cộng sự, 1997); theo quan điểm competency and dynamic capabilities-based view, học thuyết này là sự phát triển của thuyết phụ thuộc nguồn lực và kế thừa tư tưởng về vai trò quyết định của nguồn lực trong việc hình thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Bốn yếu tố vô hình được xem là đáp ứng tiêu chí VRIN, gồm (1) năng lực marketing, (2) năng lực sáng tạo, (3) định hướng kinh doanh, và (4) định hướng học hỏi Tổng hợp từ các nghiên cứu cho thấy năng lực của DN được cấu thành bởi nhiều yếu tố thành phần và có thể khái quát thành 4 nhân tố như bảng 3.1, mỗi nhân tố đo lường năng lực cũng được cụ thể thông qua các đo lường tương ứng.
Năng lực sáng tạo biểu thị khả năng của doanh nghiệp đề xuất các quy trình sản xuất mới, sản phẩm mới hoặc những ý tưởng sáng tạo nhằm tăng lợi thế cạnh tranh, đồng thời là công cụ để doanh nghiệp đổi mới và đạt được cải tiến, khẳng định mong muốn vượt qua những thói quen cũ không còn phù hợp để theo đuổi các ý tưởng kinh doanh sáng tạo đáp ứng yêu cầu cạnh tranh (Damanpour, 1991; Hult và ctv., 2004; Menguc và Auh, 2006) Năng lực này có thể xuất phát từ sự thích ứng với sự thay đổi của môi trường nội tại cũng như bên ngoài hoặc là động lực tiên phong dẫn đầu thị trường; khi môi trường kinh doanh biến động, doanh nghiệp cần phát triển năng lực sáng tạo để duy trì lợi thế cạnh tranh và nâng cao kết quả kinh doanh (Hult và ctv., 2004; Porter, 1990) Định hướng học hỏi được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm vì nó thể hiện các hoạt động của tổ chức nhằm tạo ra tri thức và ứng dụng chúng vào sản xuất kinh doanh để tăng cường lợi thế cạnh tranh (Sinkula và ctv., 1997) Định hướng kinh doanh được xem là một dạng năng lực động cơ cơ bản của doanh nghiệp, giúp tăng tính chủ động và quyết tâm theo đuổi mục tiêu, sẵn sàng chấp nhận rủi ro và từ đó kích thích quá trình tạo ra và sử dụng tri thức cho hoạt động kinh doanh (Zahra và ctv., 1999) Quá trình này luôn gắn liền với học hỏi và từ bỏ những tri thức không còn phù hợp nhằm nâng cao khả năng phản ứng với sự biến đổi của thị trường và tạo nên lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Năng lực marketing là một dạng năng lực động giúp doanh nghiệp đạt mục tiêu kinh doanh Khi năng lực marketing được nâng cao, các chương trình marketing sẽ hiệu quả hơn nhờ phản ứng nhanh nhạy với nhu cầu khách hàng, sự cạnh tranh từ đối thủ và biến động của môi trường vĩ mô, đồng thời tạo lập mối quan hệ chất lượng với đối tác kinh doanh Năng lực này cho phép doanh nghiệp nắm bắt những thay đổi của thị trường và từ đó điều chỉnh sản phẩm, dịch vụ cho phù hợp để đáp ứng kịp thời các biến động.
Những đo lường được trình bày và phân tích trong bảng 3.1 đã được nghiên cứu và áp dụng trên các doanh nghiệp nói chung, nhưng hiện vẫn chưa có sự kiểm chứng hay phân tích thực nghiệm trong lĩnh vực xuất khẩu thuộc ngành thủy hải sản Việc áp dụng các đo lường này cung cấp cái nhìn tổng quan về tiềm năng định lượng và tính khả thi cho các DN nói chung, tuy vậy để đảm bảo độ chính xác và tính thực tiễn trong ngành thủy sản xuất khẩu, cần có các nghiên cứu thực nghiệm trên các doanh nghiệp xuất khẩu thủy hải sản.
Bảng 3.1: Đo lường các nhóm năng lực theo thuyết CBV
Nhóm đo lường các năng lực Nguồn
- Luôn nhấn mạnh đến nghiên cứu và phát triển
- Đã đưa ra nhiều sản phẩm và dịch vụ mới trong ba năm vừa qua
- Thay đổi sản phẩm/dịch vụ mới luôn đem lại kết quả tốt đẹp
Hult và ctv., (2004) Định hướng học hỏi
- Xem việc học hỏi là chìa khóa giúp cho công ty tồn tại và phát triển
- Xem việc học hỏi của nhân viên là đầu tư của công ty chứ không phải là chi phí
- Luôn động viên, khuyến khích ứng dụng kiến thức và ý tưởng mới vào công việc
Celuch và ctv., (2002); Menguc và Auh (2006); Nguyen và Barrett (2006); Nguyen và ctv., (2006); Nguyen và Barrett
+ Thường xuyên tiếp xúc với khách hàng để hiểu biết nhu cầu của họ về sản phẩm/dịch vụ mới
+ Hiểu biết rất rõ về nhu cầu khách hàng của mình
+ Thường xuyên sử dụng nghiên cứu thị trường để thu thập thông tin về khách hàng
+ Các phòng chức năng thường xuyên chia sẽ và thảo luận với nhau về nhu cầu khách hàng
+ Phản ứng nhanh nhạy với những gì quan trọng xảy đến cho khách hàng
+ Nhanh chóng thực hiện các kế hoạch liên quan đến khách hàng
+ Điều chỉnh ngay các hoạt động phục vụ khách hàng nếu chúng không đem lại hiệu quả
+ Phản ứng nhanh chóng với những thay đổi (nhu cầu, sở thích) của khách hàng
- Phản ứng với đối thủ cạnh tranh
+ Thường xuyên thu thập thông tin về đối thủ cạnh tranh
+ Thông tin về đối thủ cạnh tranh luôn được trao đổi và thảo luận bởi các phòng chức năng
+ Thường xuyên phân tích các thông tin về đối thủ cạnh tranh
+ Thông tin về đối thủ cạnh tranh luôn được xem xét kỹ lưỡng khi ra quyết định kinh doanh
+ Hiểu biết rõ ràng về điểm mạnh và yếu của đối thủ cạnh tranh
+ Hiểu biết rõ ràng về sản phẩm/dịch vụ của đối thủ cạnh tranh
+ Phản ứng nhanh nhạy với những thay đổi quan trọng của đối thủ cạnh tranh
+ Nhanh chóng thực hiện các kế hoạch liên quan đến đối thủ cạnh tranh
+ Luôn điều chỉnh các hoạt động liên quan đến đối thủ cạnh tranh khi chúng không có hiệu quả
- Thích ứng với môi trường vĩ mô
+ Thường xuyên thu thập thông tin về môi trường vĩ mô (luật pháp, thuế, biến động kinh tế, vv)
+ Thường xuyên phân tích các thông tin về môi trường vĩ mô
+ Thông tin về môi trường vĩ mô luôn được trao đổi và thảo luận bởi các phòng chức năng
+ Thông tin về môi trường vĩ mô luôn được xem xét kỹ lưỡng khi ra quyết định kinh doanh
+ Phản ứng nhanh nhạy với những thay đổi quan trọng của môi trường vĩ mô
+ Nhanh chóng thực hiện các kế hoạch kinh doanh liên quan đến sự thay đổi môi trường vĩ mô
+ Luôn điều chỉnh các hoạt động kinh doanh liên quan đến sự thay đổi môi trường vĩ mô
Yeniyurt và ctv (2005); Cyert và March (1992)
+ Đã thiết lập được mối quan hệ tốt với khách hàng
+ Đã thiết lập được mối quan hệ tốt với các đại lý phân phối
+ Đã thiết lập được mối quan hệ tốt với nhà cung
+ Đã thiết lập được mối quan hệ tốt với các cấp chính quyền
Nguyen Thi Mai Trang và ctv., (2004); Nguyen Thi Mai Trang và ctv., (2007) Định hướng kinh doanh
+ Luôn kiên định trong tấn công đối thủ cạnh tranh
+ Luôn đưa ra sản phẩm/dịch vụ mới trước đối thủ cạnh tranh
+ Luôn đứng ở vị trí tấn công đối thủ cạnh tranh
Covin và Slevin (1991); Narver và Slater (1990); Keh và ctv.,
+ Thích tham gia các dự án kinh doanh nhiều rủi ro nhưng có cơ hội thu lợi nhuận cao
Covin và Slevin (1991); Keh và ctv., (2007)
+ Chấp nhận những thử thách của thị trường để đạt được mục tiêu kinh doanh
+ Luôn mạo hiểm để tận dụng được những cơ hội kinh doanh
NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
Trong Chương 2, tổng hợp lý thuyết nghiên cứu về năng lực cạnh tranh (NLCT) cho thấy các yếu tố ảnh hưởng tới NLCT và kết quả hoạt động của các DN xuất khẩu thủy sản khác nhau và đa dạng Luận án này tập trung vào các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của DN xuất khẩu thủy sản và các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động xuất khẩu, trong đó NLCT giữ vai trò trung gian của DN xuất khẩu thủy sản vùng ĐBSCL trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và nền kinh tế gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 Lĩnh vực thủy sản cần có những yêu cầu nâng cao NLCT của DN Do vậy, để tránh nhận định chủ quan, nghiên cứu được thảo luận với các chuyên gia am hiểu lĩnh vực thủy sản và các nhà quản trị đang trực tiếp làm việc tại các DN.
DN xuất khẩu thủy hải sản vùng ĐBSCL, nhằm: (1) Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT và tác động của các nhân tố đến kế quả hoạt động xuất khẩu của DN xuất khẩu thủy hải sản như thế nào, (2) Khám phá và xây dựng thang đo cho các thành phần của mô hình nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu này là để khám phá, điều chỉnh và bổ sung mô hình nghiên cứu đề xuất, xây dựng thang đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT và kết quả hoạt động xuất khẩu, ứng dụng cho một lĩnh vực đặc thù là các
DN xuất khẩu thủy hải sản vùng ĐBSCL - Việt Nam
Thảo luận nhóm chuyên gia được xem là công cụ thích hợp cho các chương trình nghiên cứu này, bởi nhóm gồm những người am hiểu hoạt động kinh doanh và nắm vững cả lý thuyết cạnh tranh lẫn NLCT Các nhà quản trị DN xuất khẩu thủy sản và các nhà nghiên cứu đang làm việc tại vùng ĐBSCL được mời tham dự để kết hợp kiến thức lý thuyết với thực tiễn hoạt động kinh doanh tại các DN xuất khẩu thủy sản Cách thức tiến hành là thảo luận trực tiếp hoặc gián tiếp giữa tác giả với lãnh đạo các DN xuất khẩu thủy hải sản vùng ĐBSCL vào tháng 03-04 năm 2019, theo trình tự đặt câu hỏi và làm rõ bằng phỏng vấn sâu, với câu hỏi mở dựa trên lý thuyết của từng thành phần Trong nghiên cứu này, 27 chuyên gia (phụ lục 1 và 3) tham gia thảo luận nhằm xem xét và phát hiện mới về mô hình nghiên cứu và thang đo của các thành phần trong mô hình nghiên cứu Cuộc thảo luận được thực hiện nhằm làm sáng tỏ các vấn đề cụ thể sau:
- Khái niệm năng lực cạnh tranh của donh nghiệp xuất khẩu thủy hải sản
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của donh nghiệp xuất khẩu thủy hải sản
- Tác động của NLCT đến kết quả hoạt động xuất khẩu của DN xuất khẩu thủy hải sản vùng ĐBSCL
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động xuất khẩu thủy hải sản
- Khám phá các tiêu chí đo lường NLCT và kết quả hoạt động xuất khẩu của DN
3.3.3 Kết quả nghiên cứu định tính
Theo cách tiếp cận trên, nghiên cứu đã tiến hành thực hiện nghiên cứu định tính trên nhóm 27 chuyên gia Kết quả nghiên cứu được trình bày trong bảng (3.2)
Kết quả bảng 3.2 cho thấy phần lớn các chuyên gia cho rằng NLCT của các DN xuất khẩu thủy hải sản ở vùng ĐBSCL vẫn ở mức tương đối thấp và chịu tác động bởi nhiều yếu tố nội tại lẫn yếu tố bên ngoài Các yếu tố này gồm quản trị, nguồn lực, công nghệ, chuỗi cung ứng và biến động thị trường, cùng các chính sách liên quan Các chuyên gia cũng nhấn mạnh vai trò của đạo đức và trách nhiệm xã hội như một động lực quan trọng để nâng cao NLCT và tăng cường cạnh tranh bền vững cho DN trên thị trường trong nước và quốc tế.
Bảng 3.2: Tổng quan về NLCT của các DN xuất khẩu thủy hải sản
TT Vấn đề nghiên cứu Kết quả nghiên cứu
NLCT, hay năng lực cạnh tranh, là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn; đồng thời đây là yếu tố cho thấy doanh nghiệp có thể chiếm lĩnh thị trường và bán sản phẩm hiệu quả hơn đối thủ.
2 Phạm vi áp dụng Toàn ngành thủy hải sản và có thể giới hạn xem xét trong lĩnh vực xuất khẩu thủy hải sản
3 Nhận định NLCT của DN xuất khẩu thủy hải sản vùng ĐBSCL
- Còn yếu nhiều mặt: Sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, pháp luật nước ngoài, thiếu tầm nhìn dài hạn
Nguồn nguyên liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sự ổn định của chuỗi cung ứng: khi nguồn dư thừa, chi phí lưu kho tăng và nguy cơ lãng phí nguyên liệu; khi thiếu hụt, hoạt động sản xuất bị gián đoạn và khả năng đáp ứng đơn hàng bị hạn chế Trong thực tế, một số cơ sở vẫn không tuân thủ tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm, trong khi trình độ và năng lực của các cơ sở nuôi còn hạn chế, khiến chất lượng nguyên liệu đầu vào biến động và khó kiểm soát.
- Nguồn vốn gặp khó khăn
- Đầu tư đánh bắt xa bờ còn hạn chế
- Cơ sở hạ tầng không đáp ứng kịp
- Chủ động tìm kiếm thị trường còn yếu
- Kỹ năng đánh giá thị trường trong nước và nước ngoài không cao
- Ứng dụng công nghệ của một số doanh nghiệp chưa ưu tiên
- Gặp khó khăn về chất lượng, rào cản kỹ thuật của các nước phát triển
4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
- Bên ngoài: Nhân tố sản xuất, các điều kiện về cầu, chiến lược, cấu trúc và đối thủ cạnh tranh của
DN, các ngành công nghiệp hỗ trợ có liên quan, vai trò của chính phủ và chính quyền địa phương
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, các yếu tố then chốt cho sự thành công của doanh nghiệp bao gồm năng lực Marketing mạnh mẽ, định hướng kinh doanh chiến lược, năng lực sáng tạo và khả năng tổ chức dịch vụ chuyên nghiệp; danh tiếng doanh nghiệp được xây dựng từ chất lượng sản phẩm và uy tín với khách hàng; đội ngũ nhân lực có trình độ và kỹ năng cao giúp tối ưu vận hành và tăng năng suất; kiểm soát hiệu quả nguyên liệu được thực hiện bài bản để giảm lãng phí và chi phí; và việc áp dụng công nghệ tiên tiến được đẩy mạnh để nâng cao hiệu quả sản xuất, quản trị và trải nghiệm khách hàng.
- Nhu cầu của thị trường, khách hàng, các đòi hỏi và điều kiện nhập khẩu của nước nhập khẩu
- Thiếu kiểm soát chất lượng nguồn nguyên liệu, thiếu chủ động nguồn nguyên liệu, bị ép giá nguyên liệu
- Quy mô, vốn và công nghệ của các DN trong nước cũng như ngoài nước
- Cạnh tranh từ nhóm sản phẩm thay thế
5 Đạo đức và trách nhiệm xã hội đối với năng lực cạnh tranh của donh nghiệp
- Phải được xem là một nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
- Đang là xu thế lớn mạnh trên thế giới, trở thành một yêu cầu “mềm” đối với các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập
Các nước nhập khẩu ngày càng chú trọng đánh giá nghiêm ngặt quy trình sản xuất và chế biến để đảm bảo tuân thủ chuẩn mực đạo đức và bảo vệ môi trường Việc tuân thủ các yếu tố này không chỉ nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm xã hội của chuỗi cung ứng mà còn tăng uy tín và sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế Do đó, doanh nghiệp cần đầu tư vào quản lý chất lượng, tối ưu hóa quy trình sản xuất và giám sát môi trường xuyên suốt từ nguồn nguyên liệu đến sản phẩm cuối cùng.
- Người tiêu dùng cuối cùng cũng sử dụng yếu tố này như một tiêu chí quan trọng trong việc lựa chọn sản phẩm
6 Năng lực cạnh tranh ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh
Mối quan hệ giữa NLCT và kết quả hoạt động kinh doanh là tỉ lệ thuận, nhưng khi tập trung xem xét hoạt động xuất khẩu thì kết quả hoạt động xuất khẩu mới cho thấy mức độ hiệu quả chính xác hơn kết quả hoạt động kinh doanh; vì vậy nên xem xét mối quan hệ giữa NLCT và kết quả hoạt động xuất khẩu thay vì chỉ dựa vào kết quả hoạt động kinh doanh.
7 Kết quả xuất khẩu đo lường kết quả kinh doanh
- Nên sử dụng kết quả xuất khẩu để đo lường kết quả hoạt động kinh doanh đối với doanh nghiệp xuất khẩu thủy hải sản
Thị trường tiêu thụ thủy hải sản đang phát triển mạnh nhờ động lực từ xuất khẩu Vì vậy, cần tận dụng kết quả xuất khẩu để đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy hải sản Việc theo dõi doanh thu xuất khẩu, tốc độ tăng trưởng và thị phần xuất khẩu giúp đánh giá đúng hiệu suất kinh doanh và định hướng chiến lược phát triển ngành thủy sản.
Đối với doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản chuyên về lĩnh vực xuất khẩu, kết quả hoạt động xuất khẩu là thước đo chính mức độ hiệu quả của hoạt động kinh doanh Điều này phản ánh khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, hiệu quả quản lý chu trình xuất khẩu, chất lượng sản phẩm và mức lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp.
8 Năng lực cạnh tranh ảnh hưởng thế nào đến kết quả xuất khẩu
Trong lĩnh vực xuất khẩu thủy sản, nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh (NLCT) khá mạnh đã phát triển vượt bậc và vươn lên trở thành những tập đoàn mạnh của ngành thủy sản trong nước Sự tăng trưởng ấn tượng này không chỉ mở rộng quy mô và kim ngạch xuất khẩu mà còn nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường toàn cầu, đóng góp vào chuỗi giá trị của ngành và thúc đẩy nền kinh tế quốc gia.
9 Các nhân tố ảnh hưởng kết quả hoạt động xuất khẩu
Năng lực cạnh tranh, Thương hiệu của doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh phù hợp, tầm nhìn chiến lược của ban quản lý, quy mô và vị thế của
DN trên thị trường, DN càng sở hữu nhiều thế mạnh càng tăng kết quả hoạt động xuất khẩu
Nguồn: Nghiên cứu định tính 27 chuyên gia, 2019
Mọi chuyên gia đều đồng thuận rằng NLCT tác động mạnh tới kết quả kinh doanh Tuy nhiên, nhiều quan điểm cho rằng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, kết quả kinh doanh có thể được đánh giá bằng hiệu quả hoạt động xuất khẩu Theo quan điểm này, kết quả hoạt động xuất khẩu được coi là thước đo chính xác để lượng hóa hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong bối cảnh này.
Nghiên cứu định tính do nhóm chuyên gia thực hiện cung cấp cơ sở vững chắc để hình thành thang đo lường cho yếu tố NLCT và các vấn đề liên quan, được trình bày trong bảng 3.3 Kết quả này cho phép xác định các thành phần quan trọng của NLCT và cung cấp tiêu chí đánh giá rõ ràng, từ đó nâng cao độ tin cậy và khả năng áp dụng của thang đo trong các nghiên cứu và thực tiễn liên quan.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Dữ liệu thứ cấp được sử dụng trong nghiên cứu này được lấy từ các nguồn như niên giám thống kê quốc gia, Bộ Thủy sản Việt Nam, các tổ chức và hiệp hội thủy sản Việt Nam, các báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Kế hoạch và Đầu tư, nhằm đảm bảo tính đầy đủ, đáng tin cậy và phù hợp với mục tiêu phân tích.
Cục Thống kê các tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) phối hợp với các đơn vị tỉnh và địa phương liên quan để thu thập, xử lý và tổng hợp dữ liệu phục vụ các nội dung nghiên cứu Đồng thời, cơ quan này thu thập thông tin từ các website, báo và tạp chí liên quan đến nội dung nghiên cứu, bao gồm các nhận định đánh giá của chuyên gia và các đề án nghiên cứu trước đây.
Thông qua phương pháp khảo sát trực tiếp và gián tiếp, nghiên cứu nhắm tới các đối tượng là cấp quản lý (giám đốc hoặc phó giám đốc, trưởng phòng kinh doanh) tại các doanh nghiệp xuất khẩu thủy hải sản ở đồng bằng sông Cửu Long Vì mục tiêu là phân tích mối quan hệ giữa năng lực cạnh tranh và kết quả hoạt động xuất khẩu, mẫu khảo sát gồm các DN có hoạt động xuất khẩu và được xác định từ danh sách các DN đáp ứng điều kiện xuất khẩu tại các thị trường như EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Brazil Ngoài việc cung cấp thông tin liên quan đến doanh nghiệp và hoạt động xuất khẩu, các đối tượng khảo sát còn chia sẻ quan điểm về các vấn đề liên quan nhằm đo lường các khái niệm trong mô hình nghiên cứu đề xuất Các tiêu chí đánh giá được xây dựng dựa trên thang đo Likert 5 mức độ, từ 1 là rất không đồng ý đến 5 là rất đồng ý.
Đối tượng khảo sát là các quản lý doanh nghiệp nên khả năng tiếp cận thấp, vì vậy nghiên cứu vận dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất theo kiểu hạn mức Phương pháp này cho phép đạt cỡ mẫu như mong đợi đồng thời vẫn đảm bảo độ tin cậy bằng cách phân bổ các nhóm mẫu theo cơ cấu vùng địa giới; sự biến động dữ liệu giữa các doanh nghiệp thuộc cùng một tỉnh thành không lớn Tuy nhiên do đối tượng khảo sát là doanh nghiệp nên việc tiếp cận gặp nhiều khó khăn; sau khi phân tầng theo tỉnh thành, nghiên cứu tiến hành chọn mẫu thuận tiện Theo lý thuyết, phương pháp chọn mẫu hạn mức không đảm bảo độ tin cậy cao bằng chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, nhưng nhờ khó khăn tiếp cận nên lựa chọn này giúp rút ngắn thời gian và chi phí thu thập mẫu.
Cỡ mẫu của nghiên cứu được xác định tương đối lớn vì mô hình có 48 biến Theo nguyên tắc cỡ mẫu tối thiểu cho phân tích nhân tố, cỡ mẫu phải bằng hoặc lớn hơn 5 lần số biến, tức tối thiểu ≥ 5×48 = 240, được đề cập trong các công trình của Hoàng và Chu (2008) và Hair et al (2010) Để đảm bảo việc xử lý số liệu thuận lợi và tính ổn định của kết quả, nghiên cứu đã xác định cỡ mẫu là 300 quan sát.
Trong 300 quan sát được thực hiện theo phương pháp hạn mức, dữ liệu phân tích vẫn đảm bảo độ tin cậy cao Theo thống kê của VASEP tính đến đầu năm, các số liệu cho thấy tính nhất quán và độ tin cậy của dữ liệu được duy trì.
Năm 2019, cả nước có gần 800 doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn chế biến và xuất khẩu thủy hải sản, trong đó khoảng 400 doanh nghiệp thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) (VASEP, 2019; Cục Quản lý chất lượng Nông lâm thủy sản, 2021) Kích thước mẫu thu được gần với tổng thể nghiên cứu nên độ tin cậy của dữ liệu phân tích được đảm bảo.
Phương pháp chọn mẫu hạn mức theo tỷ lệ phân bổ trên tiêu thức phân tầng được xác định dựa trên bảng 5.1a (Chương 5), trong đó tỉnh thành tham gia được xác định theo bảng này nhằm đảm bảo đại diện cho từng khu vực và ngành nghề Tiêu chí lựa chọn các doanh nghiệp tham gia mẫu là những DN nằm trong danh sách đủ điều kiện chế biến và xuất khẩu thủy hải sản như đã nêu trên, đảm bảo các DN được khảo sát đáp ứng chuẩn chế biến và xuất khẩu thủy sản Việc áp dụng phân tầng và phân bổ hạn mức theo bảng 5.1a giúp tối ưu hóa thu thập dữ liệu và nâng cao độ tin cậy của kết quả.
- Thiết kế bảng câu hỏi
Bảng câu hỏi được xây dựng nhằm đánh giá tình hình chung và hoạt động chế biến, tiêu thụ của các doanh nghiệp thủy sản vùng ĐBSCL, đồng thời xác định biến nghiên cứu chính và thông tin của DN Nội dung bảng câu hỏi được chia thành ba phần: tình hình chung về hoạt động chế biến và tiêu thụ, biến nghiên cứu và thông tin của DN Quá trình thiết kế bảng câu hỏi trải qua ba bước: (1) thực hiện nghiên cứu định tính từ các chuyên gia để xác định các biến của mô hình; (2) thiết kế bảng câu hỏi và tiến hành điều tra thử để kiểm tra thang đo của các biến và tính thực tiễn của thông tin được thiết kế; (3) điều chỉnh bảng câu hỏi và tiến hành khảo sát.
Đối tượng khảo sát là lãnh đạo của các DN xuất khẩu thủy hải sản ở vùng ĐBSCL, đủ tiêu chuẩn chế biến và xuất khẩu theo danh sách do Cục quản lý chất lượng NLTS cung cấp Những lãnh đạo này nắm vững mọi khía cạnh của hoạt động kinh doanh và chịu trách nhiệm về kết quả của DN mình quản lý, do đó họ là nhóm có thể cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết cho nghiên cứu, giúp đánh giá thực trạng và xu hướng của ngành xuất khẩu thủy sản tại ĐBSCL.
Phương pháp và thời gian khảo sát được thiết kế để đạt tỷ lệ hồi đáp cao thông qua mối quan hệ cá nhân và sự hỗ trợ của các giảng viên đồng nghiệp đang công tác tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Cần Thơ, cùng với sự giúp đỡ từ một số giảng viên khoa Kinh tế, trường Đại học Cần Thơ, đã kết nối và liên hệ trước với đối tượng điều tra để gửi phiếu khảo sát trước khi trao đổi và thu hồi Ngoài ra, các học viên, sinh viên làm việc tại các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản vùng ĐBSCL cũng tham gia gửi và thu hồi phiếu khảo sát Trước khi tiến hành điều tra, các điều tra viên được hướng dẫn và giải thích rõ mục đích, yêu cầu và các hướng dẫn cần thiết nhằm đảm bảo kết quả thu được khách quan và có độ tin cậy Sau đó, các điều tra viên sẽ đến tận nơi để gửi và thu hồi phiếu khảo sát.
Phương pháp điều tra bằng cách gửi và nhận phiếu khảo sát đến lãnh đạo các DN xuất khẩu thủy hải sản vùng ĐBSCL
Quá trình điều tra nghiên cứu chính thức được thực hiện từ 03/2019 đến 12/2019 Trong tổng số 314 phiếu khảo sát được phát ra, đã thu về 300 phiếu trả lời, tương ứng với tỷ lệ hồi đáp 95,59% Trong số 300 phiếu thu về, 5 phiếu bị loại do người trả lời để trống, nên 295 phiếu hợp lệ được sử dụng làm dữ liệu cho nghiên cứu Mức hồi đáp cao nhờ có mối quan hệ quen biết và gọi điện trước, sau đó đến trực tiếp phát phiếu và thu phiếu khảo sát.
3.4.2 Phương pháp phân tích số liệu
Để làm rõ thực trạng năng lực cạnh tranh và kết quả hoạt động xuất khẩu của DN xuất khẩu thủy hải sản, nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phân tích tần số nhằm khái quát bức tranh chung của vấn đề Để xác định và đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT và kết quả hoạt động xuất khẩu, nghiên cứu áp dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM Để thực hiện mô hình này, nghiên cứu sử dụng một số phương pháp phân tích phù hợp với SEM và các kỹ thuật kiểm định liên quan.
3.4.2.1 Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha Độ tin cậy của thang đo được đánh giá qua hệ số Cronbach’s Alpha Việc đánh giá độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s Alpha trước khi phân tích nhân tố EFA để loại các biến không phù hợp vì các biến rác này có thể tạo ra các yếu tố giả (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2009) Hệ số Cronbach’s Alpha là một phép kiểm định thống kê về mức độ chặt chẽ của các mục hỏi trong thang đo tương quan với nhau Công thức tính hệ số Cronbach’s Alpha theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008) là: α = Nρ/[1+ρ(N-1)]
Trong nghiên cứu, ρ là hệ số tương quan trung bình giữa các mục hỏi Nguyễn Đình Thọ (2013) chỉ ra rằng Cronbach’s Alpha đo lường độ tin cậy của thang đo chỉ khi thang đo có tối thiểu ba biến quan sát trở lên và không thể ước lượng độ tin cậy cho từng biến quan sát riêng lẻ Hệ số Cronbach’s Alpha có giá trị nằm trong khoảng [0, 1] Về lý thuyết, giá trị càng cao càng cho thấy thang đo có độ tin cậy lớn, nhưng thực tế điều này không hoàn toàn đúng và cần cân nhắc thêm các yếu tố khác khi đánh giá độ tin cậy của thang đo.