1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Phần IX: HIỂM HỌA CỦA ĐỒNG ĐÔ-LA MỸ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VÀNG (P1) doc

26 291 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 428,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi nắm ñược mấu chốt của toàn bộ vấn ñề nhoang ñường của hệ thống tiền tệ cũng như sự giúp ñỡ vô tư ñến khó tin của Cục dự trữ liên bang Mỹ-chúng ta sẽ thấy rằng tiền tệ là vấn ñề cần p

Trang 2

Phần IX HIỂM HỌA CỦA ðỒNG ðÔ-LA MỸ VÀ

Trang 3

Nếu mọi khoản nợ ngân hàng ñều ñược hoàn trả thì tiết kiệm ngân hàng sẽ không tồn tại nữa và toàn bộ dòng tiền sẽ cạn kiệt Một ý nghĩ thật là khủng khiếp Chúng ta (Cục Dự trữ Liên bang Mỹ) hoàn toàn dựa vào ngân hàng thương mại Mỗi một ñồng dô-la của chúng ta lưu thông, bất luận là hiện kim hay tín dụng, ñều cần phải có người vay mới có thể ñược tạo ra và lưu thông Nếu như ngân hàng thương mại có ñủ nguồn tiền tệ thì nền kinh tế của chúng ta sẽ trở nên phồn vinh; ngược lại, chúng ta sẽ rơi vào suy thoái Chúng ta tuyệt ñối không có một hệ thống tiền tệ mang tính vĩnh viễn Khi nắm ñược mấu chốt của toàn bộ vấn ñề nhoang ñường của hệ thống tiền tệ cũng như sự giúp ñỡ vô tư

ñến khó tin của Cục dự trữ liên bang Mỹ-chúng ta sẽ thấy rằng tiền tệ là vấn ñề cần phải ñược ñiều tra và suy nghĩ, và tầm quan trọng của nó nằm ở chỗ: trừ khi người dân hiểu ñược một cách sâu rộng hệ thống tiền tệ này và áp dụng các biện pháp nhằm chi phối nó,

nếu không, sự văn minh hiện tại của chúng ta cũng sẽ tiêu vong(1)

Robert Hamfeir, Giám ñốc Ngân hàng Attalanta, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ

Nếu căn cứ theo bản chất thì tiền tệ có thể ñược chia ra thành hai loại cơ bản là tiền vay mượn và phi vay mượn Tiền vay mượn chính là hệ thống tiền tệ pháp ñịnh ñang lưu thông chủ yếu ở các quốc gia phát triển hiện nay, thành phần chủ yếu của nó bao gồm các khoản vay mượn “tiền tệ hoá” của chính phủ, các công ty cũng như tư nhân

ðồng ñô-la Mỹ chính là một trường hợp ñiển hình nhất trong số các ñồng tiền vay mượn

Nó ñược tạo ra cùng lúc với quá trình sinh ra nợ nhưng cũng ñồng thời bị triệt tiêu khi nợ ñược hoàn trả Mỗi một ñồng ñô-la Mỹ trong lưu thông ñều có giá trị như một hoá ñơn ghi nợ mà mỗi hoá ñơn ghi nợ như vậy ñều sinh ra lãi hàng ngày và không ngừng tăng lên theo kiểu lãi mẹ ñẻ lãi con Vậy những khoản thu nhập lãi suất lên ñến con số khổng

lồ này thuộc về ai? Câu trả lời là: thuộc về hệ thống ngân hàng ñã tạo ra ñồng ñô-la Mỹ Lợi tức của ñồng ñô-la vay mượn là phần nằm ngoài tổng lượng tiền tệ vốn có, và tất nhiên, nguồn lợi tức này ñòi hỏi ñồng ñô-la vay mượn mới phải ñược tạo ra bên cạnh tổng lượng tiền tệ hiện có, hay nói cách khác, người dân vay tiền càng nhiều thì nguồn tiền cho vay sẽ càng tăng Việc vay mượn và tiền bạc gắn chặt với nhau mà kết quả logic tất yếu của việc này chính là tiền cho vay mãi mãi tăng lên, cho ñến khi áp lực lãi suất

Trang 4

của món nợ ấy vượt quá sự phát triển của nền kinh tế và dẫn ñến sự sụp ñổ của toàn bộ hệ thống Tiền tệ hoá dịch vụ vay mượn là một trong những nhân tố gây bất ổn nghiêm trọng nhất trong nền kinh tế hiện ñại và nó thông qua dự chi tương lai ñể thoả mãn nhu cầu hiện tại Câu nói của người Trung Quốc xưa ñại loại “thu không bù chi” chính là muốn ñề cập ñến ý này

lồ rơi vào túi tư nhân Nhìn từ góc ñộ này, thuộc tính của ñồng nhân dân tệ có vẻ gần hơn với vàng bạc ðồng thời, do không có vàng bạc làm chỗ dựa nhưng lại có thuộc tính cơ bản của ñồng tiền pháp ñịnh, ñồng nhân dân tệ cần phải dựa vào sức cưỡng chế của chính phủ mới có thể ñảm bảo giá trị tiền tệ

Trang 5

Sự hiểu biết về chế ñộ tiền tệ pháp ñịnh của phương Tây, ñặc biệt là bản chất của ñồng ñô-la Mỹ, là tiền ñề cần thiết cho sự cải cách tương lai của ñồng Nhân dân tệ

1 Hệ thống dự trữ cục bộ - Nơi khởi nguồn của nạn lạm phát tiền tệ

Ngân hàng (hiện ñại) vốn dĩ là không công bằng và chứa ñựng nhiều tội ác Các nhà tài phiệt ngân hàng có cả trái ñất Họ tước ñoạt tất cả mọi thứ của con người, chỉ ñể lại cho

họ quyền tích luỹ và lưu giữ tiền tệ Nhưng, nếu như quyền tích luỹ và lưu giữ tiền tệ lại

bị tước ñoạt nốt thì mọi vận may của sự giàu có ñều sẽ không tồn tại Nếu không có những quyền này, thế giới hạnh phúc và tốt ñẹp hơn Nhưng nếu vẫn cam tâm tiếp tục làm nô lệ cho các nhà ngân hàng và chấp nhận chi trả những khoản phí cho sự nô dịch của họ thì các bạn cứ việc tích luỹ và lưu giữ tiền bạc

J Stamp - người giàu thứ hai nước Anh

Dần dần, các nhà ngân hàng “thông minh” nhận ra một ñiều rằng, thông thường có rất ít người gửi vàng yêu cầu ñem “chứng chỉ ngân hàng” ñổi thành vàng, và khi nhìn thấy vàng nằm bất ñộng trong kho như vậy, nhà ngân hàng không khỏi cảm thấy ngứa ngáy,

và câu hỏi khiến họ băn khoăn là làm thế nào ñể “ñánh thức” nguồn vốn ñang ngủ yên này?

Thêm vào ñó, trong xã hội luôn có một số người cần sử dụng tiền, vậy là các nhà ngân

Trang 6

Khi người vay tiền ñến ngân hàng, các nhà ngân hàng ñã dùng nhiều biện pháp như phát hành thêm hoá ñơn hay “tín phiếu ngân hàng” ñể kiếm lời Chỉ cần không phát hành thêm quá nhiều “tín phiếu ngân hàng”, ngân hàng sẽ không tạo ra sự hoài nghi của người gửi Kinh nghiệm của các nhà ngân hàng ñã cho thấy rằng, nếu số “chứng chỉ ngân hàng” ñược phát hành thêm gấp 10 lần thì ngân hàng sẽ an toàn Do mức lãi suất từ việc cho vay này ñược coi như thứ tiền của bất ngờ không dưng mà có, càng nhiều càng tốt nên các nhà ngân hàng bắt ñầu hiện diện khắp nơi ñể lôi kéo khách hàng ñến gửi tiền cho họ,

và ñể thu hút người gửi, thay vì thu lệ phí gửi vàng như trước ñây, họ bắt ñầu chi trả lãi suất cho người gửi

họ muốn Còn ở trường hợp thứ hai, khách hàng tạm thời mất quyền sở hữu ñối với lượng vàng ñã gửi vào tiết kiệm, và nhà ngân hàng sử dụng khoản tiền này ñể quay vòng cho vay Ngay sau khi ngân hàng thu hồi khoản ñầu tư từ nguồn vàng này, khách hàng lưu gửi mới có thể khôi phục lại quyền sở hữu vốn có của mình

Trong loại hình dịch vụ thứ nhất, “tín phiếu ngân hàng” tương ứng là dự trữ toàn ngạch; còn trong loại hình dịch vụ thứ hai, “tín phiếu ngân hàng” tương ứng là “giấy nợ + sự hứa hẹn” Các tín phiếu ngân hàng này ñược phát hành với số lượng nhiều hơn lượng vàng thực tế của ngân hàng và ñó ñược coi là một hình thức dự trữ cục bộ Ngay từ khi phát hành ra, loại tín phiếu ngân hàng theo kiểu “giấy nợ + sự hứa hẹn” như thế này luôn ẩn chứa nguy cơ rủi ro ñồng thời dễ gây ra nạn lạm phát tiền tệ ðặc tính này ñã cho thấy một ñiều rằng, tín phiếu ngân hàng này hoàn toàn không phù hợp với vai trò giao dịch

Trang 7

hàng hoá và dịch vụ trong xã hội ñồng thời không thể hiện ñược chức năng thước ño cơ bản của hoạt ñộng kinh tế

Một tính chất ñặc trưng của hệ thống dự trữ vàng cục bộ chính là sự mơ hồ về giới hạn của hai loại sản phẩm và dịch vụ ngân hàng Các nhà ngân hàng ñã tiến hành “tiêu chuẩn hoá” trong việc thiết kế tín phiếu ngân hàng, khiến cho người bình thường rất khó phân biệt ñược sự khác biệt về bản chất của hai loại chứng chỉ ngân hàng này Vì vậy, hàng trăm năm nay, các ngân hàng Anglo-Saxons ñã bị liên ñới trong nhiều vụ kiện tụng Trong khi khách hàng phẫn nộ phản ñối các nhà ngân hàng tự ý ñem vàng bạc của họ cho vay lãi thì các nhà ngân hàng lại tuyên bố rằng, họ có quyền sử dụng số tiền của khách hàng mà không cần phải giải thích cho khách hàng biết mục ñích sử dụng, miễn sao khi rút tiền, khách hàng không phải than phiền gì Một trong những vụ án nổi tiếng nhất chính là vụ Foley kiện Ngân hàng Hill mà phán quyết của quan toà ñược thể hiện như sau:

Khi ñược gửi vào ngân hàng thì tiền không còn thuộc về khách hàng nữa; lúc này, tiền ñã thuộc về ngân hàng Ngân hàng có nghĩa vụ hoàn trả lại tiền cho khách hàng khi có yêu cầu Và như vậy, ngân hàng có toàn quyền sử dụng số tiền ñó mà không có nghĩa vụ phải trả lời khách hàng về việc số tiền này có nguy cơ gì không, có bị dùng vào việc ñầu cơ gây hại hay không Ngân hàng chỉ có nghĩa vụ bảo quản nguyên vẹn số tiền của tiền khách hàng theo sự ràng buộc của hợp ñồng(2)

Theo pháp luật, phán quyết này của quan toà nước Anh ñược coi như một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử tiền tệ theo ñó, tiền bạc của khách hàng gửi vào ngân hàng không còn ñược luật pháp bảo hộ ðiều này ñã xâm phạm quyền tài sản của công dân một cách nghiêm trọng Sau việc này, ngân hàng Anglo-Saxons hoàn toàn từ chối thừa nhận tính hợp pháp của dịch vụ “ửy thác quản lý tiền gửi”, và việc dự trữ toàn ngạch ñã mất ñi tính hợp pháp, mọi khoản tiền gửi của dân chúng ñều có thể bị ngân hàng sử dụng vào việc ñầu tư - một hình thức ñầu tư mạo hiểm

Trang 8

Trong chiến dịch Waterloo năm 1815, vì nắm được kết cục bại trận sớm hơn 24 giờ so với cơ quan tình báo Anh nên dịng họ Rothschild đã kiểm sốt được thị trường cơng trái Anh quốc, khống chế luơn quyền phát hành tiền tệ của đế quốc Anh Sau đĩ khơng lâu, gia tộc này lại tiếp tục khống chế việc phát hành tiền tệ của các quốc gia khác như Pháp,

Áo, Phổ, Ý để từ đĩ nắm giữ quyền định giá thị trường vàng thế giới trong suốt gần 200 năm Mạng lưới ngân hàng do Rothschild, Schiff, Warburg và các nhà ngân hàng người

Do Thái xây dựng tại các quốc gia trên thực tế đã tạo nên hệ thống tiền tệ quốc tế và trung tâm thanh tốn thế giới sớm nhất trong lịch sử Chỉ bằng cách gia nhập vào mạng lưới kết tốn của họ thì các ngân hàng khác mới cĩ thể lưu hành ngân phiếu xuyên quốc

gia Từng bước một, các nhà tài phiệt ngân hàng đã hình thành nên một cartel (tập đồn

lũng đoạn) trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Các nguyên tắc do họ đặt ra đã trở thành

“thơng lệ quốc tế” của ngành tài chính thế giới hiện nay

Cartel là lực lượng thúc đẩy quan trọng nhất của hệ thống dự trữ cục bộ, đồng thời cũng

là đơn vị được hưởng lợi nhiều nhất Trong khi đạt đến một quy mơ tương đối, lực lượng này tất yếu phải ủng hộ, thậm chí là trực tiếp thiết lập nên những quy tắc chính trị cũng như quy tắc luật pháp nhằm đảm bảo quyền lợi của mình

Một ounce vàng bạc cĩ giá trị tương đương với số tiền giấy đối ứng Cho dù mọi khoản

nợ vốn cĩ của hệ thống ngân hàng cĩ bị hồn trả hết thì trên thị trường vẫn lưu thơng đồng đơ la vàng bạc, và kinh tế vẫn cĩ thể phát triển bình thường giống như trước khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ được thành lập vào năm 1913

Trang 9

Từ năm 1913 ñến nay, ñồng ñô-la “xấu” trên thị trường của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ ñã dần dần loại bỏ ñồng ñô-la “tốt” (ñược bảo ñảm bằng vàng) của hệ thống dự trữ toàn ngạch Vì muốn tạo ra một chế ñộ dự trữ cục bộ nhằm lũng ñoạn thế giới tài chính hiện hành ñồng thời hất cẳng chính phủ ra khỏi lĩnh vực phát hành tiền tệ, các nhà ngân hàng quốc tế ñã huy ñộng mọi kỹ năng có thể, ñể rồi cuối cùng ñã loại bỏ thành công ñồng ñô-

la bạc vào thập niên 60 của thế kỷ 20, ñồng thời cắt ñứt ñược mối liên hệ cuối cùng giữa vàng và ñồng ñô-la vào năm 1971 Từ ñây, chế ñộ dự trữ cục bộ ñã hoàn thành sứ mệnh lũng ñoạn của mình

2 ðồng ñô-la vay mượn ñược “biến hoá” như thế nào?

Ngân hàng New York của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ miêu tả ñồng ñô-la như thế này,

“ñồng ñô-la không thể hoán ñổi thành vàng hay bất cứ tài sản nào khác của Bộ tài chính

Nó không mang ý nghĩa thực tế mà chỉ có tác dụng ghi nợ Ngân hàng chỉ tạo ra tiền tệ khi ñược người ñi vay cam kết hoàn các khoản vay của ngân hàng Ngân hàng thông qua

“tiền tệ hoá” các khoản nợ thương mại và tư nhân ñể tạo ra tiền tệ”

Sự giải thích của Ngân hàng Chicago thuộc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ là: “Ở Mỹ, bất luận tiền giấy hay là tài khoản ngân hàng ñều không có ñủ giá trị nội tại như một loại hàng hoá ðồng ñô-la Mỹ chẳng qua chỉ là một tờ giấy Còn tài khoản ngân hàng cũng chỉ là những con số ước lượng ghi trên giấy Tiền kim loại tuy có một giá trị nội tại nhất ñịnh, nhưng lại thường thấp hơn nhiều so với mệnh giá của chúng

Vậy rốt cuộc, ñiều gì ñã khiến cho những công cụ tiền tệ như ngân phiếu, tiền giấy, tiền ñúc kim loại ñược người ta tiếp nhận theo ñúng mệnh giá của chúng trong việc hoàn nợ cũng như các công dụng thanh toán khác? Câu trả lời là lòng tin của con người Người ta tin rằng bất cứ lúc nào, họ có thể dùng những loại tiền tệ này ñể hoán ñổi thành tài sản khác Một phần nguyên do trong vấn ñề này là chính phủ ñã sử dụng pháp luật ñể ban hành các quy ñịnh nên các loại tiền pháp ñịnh bắt buộc phải ñược tiếp nhận”(3)

Trang 10

Nói cách khác, việc tiền tệ hoá dịch vụ cho vay ñã tạo ra ñồng ñô-la, còn mệnh giá của ñồng ñô-la lại phải do một ngoại lực tác ñộng cưỡng chế Vậy làm thế nào mà dịch vụ cho vay nợ lại biến thành ñô-la ñược? Nếu muốn hiểu rõ quá trình này, chúng ta cần dùng ñến kính hiển vi ñể quan sát tỉ mỉ cơ chế vận hành hệ thống tiền tệ của Mỹ

Các ñộc giả không có chuyên môn về tài chính có lẽ cần phải ñọc kỹ nội dung dưới ñây mới có thể hiểu ñược quy trình tạo ra tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hệ thống ngân hàng ðây là một bí mật thương mại quan trọng nhất của ngành tài chính phương Tây

Do chính phủ Mỹ không có quyền phát hành tiền tệ mà chỉ có quyền phát hành công trái, sau ñó ñem công trái nộp cho Cục Dự trữ Liên bang làm vật thế chấp ñể có thể phát hành tiền tệ thông qua Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hệ thống ngân hàng thương mại mà ngọn nguồn của ñồng ñô-la Mỹ nằm ở công trái

Bước thứ nhất, Quốc hội phê chuẩn quy mô phát hành công trái, Bộ tài chính sẽ thiết kế công trái thành nhiều loại khác nhau, trong ñó loại có kỳ hạn một năm thì gọi là T-bills (Treasury Bills), loại có kỳ hạn từ 2 ñến 10 năm thì gọi là T-Notes, còn loại có kỳ hạn 30 năm gọi là T-bonds Những công trái này có mức lãi suất khác nhau và thời hạn khác nhau, ñược tiến hành phát mãi công khai trên thị trường Cuối cùng, Bộ tài chính sẽ ñem toàn bộ số công trái không phát mãi ñược trong giao dịch chuyển qua Cục Dự trữ Liên bang, và Cục Dự trữ Liên bang sẽ thu vào toàn bộ Trên sổ sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, những công trái này sẽ ñược ghi vào mục “Tài sản chứng khoán” (Securities Asset)

Do chính phủ Mỹ dùng tiền thu thuế trong tương lai làm thế chấp công trái nên công trái của nước này ñược coi là “tài sản ñáng tin cậy nhất” trên thế giới Ngay sau khi thu ñược khoản tài sản này, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ có thể sử dụng nó ñể tạo ra một dạng tiền nợ (Liability) ñược gọi là “chi phiếu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ” ðây là bước ñi quan trọng

Trang 11

trong quá trình “biến không thành có” Tuy nhiên, loại chi phiếu này của Cục Dự trữ Liên bang chẳng có bất cứ loại tiền nào có thể ñảm bảo

ðây là một bước ñược thiết kế hết sức tinh vi dưới sự nguỵ trang khéo léo Sự tồn tại của loại chi phiếu này khiến cho chính phủ càng dễ khống chế cán cân cung cầu khi phát mãi công trái Cục Dự trữ Liên bang Mỹ thu lãi từ khoản tiền cho chính phủ vay, còn chính phủ thì nhận tiền một cách hợp pháp mà không ñể lộ ra dấu vết trong việc ấn hành một lượng lớn tiền giấy Rõ ràng, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ ñã tay không mà bắt ñược giặc, mọi con số trong sổ sách kế toán hoàn toàn cân ñối, tài sản công trái cân bằng với số nợ Toàn bộ hệ thống ngân hàng ñược bao bọc một cách khéo léo trong lớp vỏ nguỵ trang này

Chính bước ñi ñơn giản mà tối quan trọng này ñã tạo nên sự mất công bằng lớn nhất trên thế giới Số tiền ñóng thuế trong tương lai của người dân ñã ñược chính phủ thế chấp cho ngân hàng tư nhân với mục ñích vay ñô-la Và cũng bởi phải vay của ngân hàng tư nhân, nên chính phủ phải chịu một mức lãi suất lớn Sự bất công ấy thể hiện ở chỗ:

Thứ nhất, không nên ñem khoản tiền ñóng thuế trong tương lai của người dân ñi thế chấp, bởi khoản tiền ñó vẫn còn chưa ñược kiếm ra trên thực tế ðiều ñó cũng có nghĩa rằng, việc thế chấp cả tương lai tất yếu sẽ khiến cho sức mua của tiền tệ trở nên giảm giá trị, từ ñó phương hại ñến vấn ñề tích luỹ của người dân

Thứ hai, thuế thu ñược trong tương lai của dân càng không nên thế chấp cho ngân hàng trung ương tư hữu Việc các nhà tài phiệt ngân hàng hầu như không phải bỏ tiền ra mà bỗng dưng lại ñược hứa hẹn bảo ñảm bằng tiền nộp thuế trong tương lai của người dân quả là một chiến thuật “tay không bắt giặc” ñiển hình

Thứ ba, vì mắc nợ ngân hàng với khoản lợi tức khổng lồ nên chính phủ buộc phải dựa vào nguồn ñóng thuế của người dân Như vậy, ñiều này cuối cùng lại trở thành gánh nặng của người dân Người dân không chỉ bị thế chấp tương lai của mình một cách vô thức mà còn phải ñóng thuế thật nhanh ñể chính phủ còn có tiền trả lãi cho ngân hàng

Trang 12

trung ương tư hữu Lượng phát hành ñồng ñô-la Mỹ càng lớn thì mọi thứ thuế má càng

ñè nặng lên vai người dân, và cái vòng luẩn quẩn ấy cứ tồn tại ñời ñời kiếp kiếp

Bước thứ hai, ngay sau khi chính phủ liên bang nhận ñược “chi phiếu của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ“ cùng với chữ ký và con dấu ñóng phía sau, tấm chi phiếu thần kỳ này lại ñược gửi vào ngân hàng của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và biến thành khoản “tiết kiệm chính phủ“ (Governmen Deposits) và hiện diện trên tài khoản của chính phủ ở Cục Dự trữ Liên bang Mỹ

Bước thứ ba, ngay khi chính phủ bắt ñầu tiêu tiền, các chi phiếu chính phủ sẽ tạo nên ñợt sóng tiền tệ thứ nhất vỗ vào nền kinh tế Các công ty và cá nhân nhận những chi phiếu này sẽ ñua nhau ñem gửi chúng vào tài khoản của họ tại ngân hàng thương mại và số phiếu ñó sẽ trở thành khoản tiết kiệm ngân hàng thương mại (Commercial Bank Deposits) Lúc này, chúng thể hiện vai trò kép của mình Một mặt, chúng là tiền ký gửi vào ngân hàng, và bởi vì những khoản tiền này thuộc quyền sở hữu của người gửi nên sớm muộn cũng phải trả lại cho họ Nhưng mặt khác, những chi phiếu này lại cấu thành

“vốn” của ngân hàng nên ngân hàng có thể sử dụng ñể cho vay Tất cả mọi thứ trên sổ sách kế toán ñều vẫn cân bằng Thế nhưng, ngân hàng thương mại lại dựa vào công cụ hữu hiệu là nguồn dự trữ cục bộ ñể bắt ñầu công việc “sáng tạo” ra tiền tệ

Bước thứ tư, trên sổ sách của ngân hàng, tiền tiết kiệm tại ngân hàng thương mại ñược tái phân loại thành “dự trữ ngân hàng” (Bank Reserves) Lúc này, từ tài sản thông thường của ngân hàng, loại tiết kiệm này ñã trở thành nguồn tiền dự trữ có khả năng tạo ra ñồng tiền mới Theo hệ thống dự trữ cục bộ, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ cho phép ngân hàng thương mại ñược trích 10% tiền ký gửi làm Quỹ dự trữ (thông thường, ngân hàng Mỹ chỉ giữ lại một khoản hiện kim tương ñương 1- 2% tổng số tiền ký gửi, một khoản ngân phiếu tương ñương 8- 9% tổng kim ngạch tiết kiệm trong kho tiền tệ của mình ñể làm Quỹ dự trữ và cho vay 90% khoản tiết kiệm còn lại)

Như vậy, 90% khoản tiết kiệm này sẽ ñược các ngân hàng sử dụng ñể phát hành tín dụng

Trang 13

Tuy nhiên, có một vấn ñề phát sinh là, ngay sau khi 90% số tiền ký gửi này ñược sử dụng

ñể cho người khác vay, nếu người gửi muốn rút tiền thì phải làm thế nào?

Thực ra, khi việc cho vay xảy ra, số tiền cho vay này không còn là những khoản tiền gửi ban ñầu mà ñã trở thành một khoản tiền mới ñược sinh ra từ quá trình “biến không thành có” Số tiền mới này khiến cho tổng số tiền mà ngân hàng nắm giữ lập tức tăng lên 90%

so với tiền cũ ðiểm khác biệt so với tiền cũ nằm ở chỗ, tiền mới có thể ñem lại nguồn lợi tức cho ngân hàng ðây chính là làn sóng tiền tệ thứ hai xô vào nền kinh tế Ngay khi làn sóng tiền tệ thứ hai kéo ngược về ngân hàng thương mại thì tiền mới lại sinh ra nhiều ñợt sóng tiếp sau nữa với hạn ngạch giảm dần

Tuy nhiên, ñại ña số công trái phát hành thêm hoàn toàn không ñược trực tiếp nhập vào

hệ thống ngân hàng mà ñược các ngân hàng trung ương nước ngoài, các tổ chức phi tài chính của Mỹ hoặc các cá nhân mua vào Trong tình huống này, do người mua trả bằng ñồng ñô-la thực của mình nên ñô-la mới hoàn toàn không ñược tạo ra Chỉ khi nào Cục

Dự trữ Liên bang và bộ máy ngân hàng của Mỹ mua công trái thì ñồng ñô-la mới ñược sản sinh ra ðây chính là nguyên nhân ñể nước Mỹ có thể tạm thời khống chế nạn lạm phát tiền tệ Nhưng số công trái ñược nắm giữ bởi các ngân hàng nước ngoài sớm muộn

gì cũng sẽ ñến lúc ñáo hạn Thêm vào ñó, lãi suất cũng cần phải ñược hoàn trả nửa năm

Ngày đăng: 23/03/2014, 07:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w