Liệu rằng doanh nghiệp đó có được kỳ vọng là sẽ phát triển trong tương lai hay xuống dốc… Nhằm đưa ra một cái nhìn khái quát, toàn diện về tình hình tài chính của doanh nghiệp cụ thể là
Trang 1Lời mở đầu
Trong thời đại ngày nay, khi nền kinh tế đang mở cửa, ngày càng nhiều hoạt động siên ra trong các lĩnh vực ngân hang, tài chính… Thị trường tài chính ở Việt Nam vẫn còn hết sức mới mẻ, chưa phát huy hết hiệu quả hoạt động của mình Do đó, việc đầu tư vào các lĩnh vực tài chính chứa đựng nhiều nhạy cảm, rủi ro, đòi hỏi các nhà đầu tư phải cân nhắc, tính toán hết sức kỹ lưỡng Một trong những điều không thể thiếu đối với bất kỳ một nhà đầu tư nào trước khi ra quyết định đầu tư đó là phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp Liệu rằng doanh nghiệp đó có được kỳ vọng là sẽ phát triển trong tương lai hay xuống dốc…
Nhằm đưa ra một cái nhìn khái quát, toàn diện về tình hình tài chính của doanh nghiệp (cụ thể là Công ty cổ phần Kinh Đô) để giúp các nhà đàu tư nắm bắt được xu hướng hoạt động, khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai, dưới đây, nhóm em làm báo cáo “Phân tích báo cáo tài chính công ty cổ phần Kinh Đô”
Trang 2I Tổng quan về ngành bánh kẹo.
1 Tổng quan.
Tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định của ngành công nghiệp bánh kẹo đang thu hút đầu tư mạnh của các doanh nghiệp nước ngoài với lợi thế vốn và công nghệ Điều này sẽ nâng cao sự cạnh tranh trong ngành, từ đó thúc đẩy sự phát triển chung của ngành Theo đánh giá của BMI, Việt Nam đang là một trong những thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất tại châu Á (chỉ sau Ấn Độ) trong lĩnh vực thực phẩm
Ngành bánh kẹo tiếp tục giữ tỷ trọng lớn (40,43%) với vai trò dẫn dắt sự phát triển chung của ngành công nghiệp thực phẩm Theo Bộ Công Thương, mục tiêu tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2011-2015 là 13,21%, giai đoạn 2016-2020 là 14,87% và giai đoạn 2021-2025 là 12,44%
Ngành bánh kẹo luôn là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định tại Việt Nam Vai trò ngành sản xuất bánh kẹo ngày càng được khẳng định khi giữ tỷ trọng lớn trong ngành công nghệ thực phẩm (tăng từ 20% lên 40% trong gần 10 năm trở lại đây) Trong nhóm sản phẩm bánh kẹo thì bánh kẹo ngọt chiếm tỉ trọng một nửa thị trường,
kế đó là socola (44%)
Hiện nay Việt Nam có khoảng 30 doanh nghiệp sản xuất có quy mô lớn, khoảng 1.000
cơ sở sản xuất nhỏ và một số công ty nhập khẩu bánh kẹo nước ngoài
Các doanh nghiệp nội địa đang chiếm lĩnh thị trường, trong đó, các doanh nghiệp lớn (Tập đoàn Kinh Đô, Cty CP Bánh kẹo Hải Hà, Cty CP Bibica) chiếm 42%, doanh nghiệp khác 38% Hàng nhập khẩu chỉ chiếm 20%
Doanh thu ngành bánh kẹo dự báo sẽ đạt khoảng 40 nghìn tỉ vào năm 2018 với sản lượng ước hơn 200 ngàn tấn
2 Triển vọng ngành bánh kẹo.
Theo báo cáo của BMI, doanh thu ngành bánh kẹo Việt Nam năm 2014 tăng trưởng 10,65% so với năm 2013, đạt doanh thu 27 nghìn tỉ đồng Trong dài hạn, ngành bánh kẹo tiếp tục được nhận định có tiềm năng phát triển mạnh nhờ các yếu tố như cơ cấu dân số trẻ, nhận thức về sức khỏe ngày càng nâng cao, cùng với nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực bánh kẹo tại Việt Nam Mới đây, tập đoàn Kinh Đô vừa công bố khoản đầu
tư của Mondelez International vào mảng kinh doanh bánh kẹo của mình, với giá trị đến 7.846 tỷ đồng, tương đương 370 triệu USD, ứng với 80% cổ phần mảng kinh doanh bánh
Trang 3kẹo (toàn bộ dự án được định giá khoảng 9.800 tỷ) Đây được xem là khoản đầu tư lớn nhất trong lịch sử ngành bánh kẹo Việt Nam
Dân số quy mô lớn (hơn 90 triệu dân) và cơ cấu dân số trẻ, đang độ tuổi trưởng thành, Việt Nam thực sự là thị trường hấp dẫn cho ngành thực phẩm và đồ uống nói chung và ngành bánh kẹo nói riêng Theo thống kê của BMI, mức tiêu thụ bánh kẹo bình quân đầu người ở Việt Nam năm 2013 là 1,89kg, vẫn thấp hơn so với mức trung bình thế giới là 2,8kg/người/năm
3 Thương hiệu dần rơi vào tay đối tác ngoại.
Năm 2015, thương hiệu bánh kẹo lớn nhất Việt Nam, Kinh Đô sẽ thuộc về nhà đầu tư nước ngoài Trong khi đó, thương hiệu Bibica vẫn đang trong thế giằng co giữa doanh nghiệp trong nước và phía đối tác Lotte
Một thực tế thị trường bánh kẹo tiềm năng đang đang dần rơi vào tay đối tác ngoại Trên thị trường bánh kẹo nhập khẩu cũng đã tràn ngập Sự phát triển mạnh mẻ của chuổi
hệ thống cửa hàng tiện lợi cũng kéo theo hang loạt thương hiệu bánh kẹo vào thị trường việt Nam Bánh kẹo nhập khẩu thông qua kênh phân phối hiện đại đang ngày càng có lợi thế trong việc tiếp cận người tiêu dùng
Tại các siêu thị như Lotte, Giant, BigC, Citimart hiện bánh kẹo ngoại đang phủ đầy các kệ Citimart sau khi bắt tay với đối tác Nhật thì tại tất cả 27 siêu thị của hệ thống này đều có gian hàng bày bán bánh kẹo đến từ Nhật mang tên Top Value Tương tự, tại hệ thống siêu thị Lotte có nhiều quầy hàng bánh kẹo của các nhãn hiệu đến từ Hàn Quốc
Tại các chợ truyền thống, cửa hang tạp hóa, bánh kẹo nội phân khúc thấp hơn cũng bị cạnh ranh bởi hàng nhập khẩu từ Trung Quốc Tại các chợ, bánh kẹo và mứt Trung Quốc nhập về khá nhiều trong dịp Tết và cuối năm
Theo các chuyên gia, nguyên nhân khiến ngành bánh kẹo Việt ngày càng rơi rụng là do yếu về đầu tư công nghệ, mẫu mã sản phẩm không bắt kịp nhu cầu của người dân Nhiều sản phẩm bánh kẹo Việt Nam luôn đi sau nhu cầu thị trường Chẳng hạn, trong khi xu hướng tiêu dùng là hướng tới sức khỏe, sản phẩm sạch, ít đường, ít béo thì hầu hết các nhà sản xuất bánh kẹo trong nước vẫn luôn giữ công thức bột đường từ 10 năm trước”
II Tổng quan về công ty cổ phần Kinh Đô
Trang 41 Lịch sử hình thành và phát triển.
Công ty Cổ phần Kinh Đô tiền thân là Công ty TNHH Xây dựng và Chế biến thực phẩm Kinh Đô, được thành lập năm 1993 theo Quyết định số 216 GP-UB ngày 27/02/1993 của Chủ tịch UBND Tp Hồ Chí Minh và Giấy phép Kinh doanh số 048307 do Trọng tài Kinh tế Tp Hồ Chí Minh cấp ngày 02/03/1993 Những ngày đầu thành lập, Công ty chỉ là một xưởng sản xuất nhỏ diện tích khoảng 100m2 tại Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, với 70 công nhân và vốn đầu tư 1,4 tỉ đồng, chuyên sản xuất và kinh doanh bánh snack - một sản phẩm mới đối với người tiêu dùng trong nước.Đến năm 1994, sau hơn một năm kinh doanh thành công với sản phẩm bánh snack, Công ty tăng vốn điều lệ lên 14 tỷ đồng và nhập dây chuyền sản xuất snack trị giá 750.000 USD từ Nhật Thành công của bánh snack Kinh Đô với giá rẻ, mùi vị đặc trưng phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng trong nước đã trở thành bước đệm quan trọng cho sự phát triển không ngừng của Công ty Kinh Đô sau này
Năm 1999, Công ty nâng vốn điều lệ lên 40 tỷ đồng, đồng thời thành lập trung tâm thương mại Savico - Kinh Đô tại Quận 1, đánh dấu một bước phát triển mới của Kinh Đô sang các lĩnh vực kinh doanh khác ngoài bánh kẹo Cũng trong năm 1999, Công ty khai trương hệ thống bakery đầu tiên, mở đầu cho một chuỗi hệ thống của hàng bánh kẹo Kinh
Đô từ Bắc vào Nam sau này
Sau 23 năm hoạt động và phát triển, quy mô vốn và quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh không ngừng tăng trưởng đến năm 2011 trở thành doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo hàng đầu ở Việt Nam và niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Các sự kiện cụ thể.
Năm 1994, công ty tăng vốn điều lệ lên 14 tỷ đồng và nhập dây chuyền sản xuất snack trị giá 750.000 USD từ Nhật
Năm 1999, công ty tăng vốn điều lệ lên 40 tỷ đồng, thành lập TTTM Savico - Kinh
Đô tại Quận 1, đánh dấu một bước phát triển mới của Kinh Đô sang các lĩnh vực kinh doanh khác ngoài bánh kẹo
Năm 2000, công ty tăng vốn điều lệ lên 51 tỷ đồng
Tháng 9/2002, CTCP Kinh Đô được thành lập với vốn điều lệ 150 tỷ đồng
Năm 2003, Công ty Cổ phần Kinh Đô nhập dây chuyền sản xuất chocolate trị giá 1 triệu USD và tăng vốn điều lệ lên 200 tỷ đồng
Tháng 8 năm 2005, Công ty phát hành thêm 5.000.000 cổ phiếu và nâng vốn điều
lệ lên 250 tỷ đồng
Tháng 5/2006, Công ty phát hành thưởng 4.999.980 cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu nâng tổng vốn điều lệ lên 299.999.800.000 đồng
Tháng 6/2007, Công ty phát hành thưởng 5.999.685 cổ phiếu cho cổ đông hiện hữunâng tổng vốn điều lệ lên 359.996.650.000 đồng
Tháng 11/2007, Công ty thực hiện chào bán ra công chúng 11.000.000 cổ phiếu nâng tổng vốn điều lệ lên 469.996.650.000 đồng
Tháng 10/2008, Công ty phát hành 10.115.211 cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu nâng vốn điều lệ lên 571.148.760.000 đồng
Trang 5 Tháng 03 - 04 năm 2010, Công ty phát hành 22.431.383 cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu và 1.682.450 cổ phiếu cho cán bộ công nhân viên nâng vốn điều lệ lên 812.287.090.000 đồng
Tháng 6/2010, Công ty phát hành 20.047.879 cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu nâng vốn điều lệ lên 1.012.765.880.000 đồng
Theo Nghị quyết ĐHĐCĐ thường niên được tổ chức vào ngày 08/05/2010 của Công ty Cổ phần Kinh đô và Nghị quyết ĐHĐCĐ thường niên được tổ chức vào ngày 07/05/2010 của Công ty cổ phần Thực phẩm Kinh Đô Miền Bắc và Công ty
cổ phần KIDO, Công ty phát hành 18.242.682 cổ phiếu để hoán đổi cổ phiếu NKD
và KIDO
Ngày 27/5/2014, Công ty Phát hành riêng lẻ cổ phiếu nâng vốn điều lệ lên 2.141.282.700.000 đồng
Ngày 11/9/2014, VĐL nâng lên 2.566.533.970.000 đồng
Ngày 01/10/2015, Công ty đổi tên thành CTCP Tập đoàn KiDo
2 Ngành nghề kinh doanh chính.
- Chế biến nông sản thực phẩm
- Sản xuất bánh kẹo, nước uống tinh khiết và nước ép trái cây
- Mua bán nông sản thực phẩm, công nghệ phẩm, vải sợi, hàng may mặc, giày dép, túi xách, đồng hồ, mắt kính, mỹ phẩm, kim khí điện máy, điện lạnh, thủ công mỹ nghệ, dụng cụ học tập và giảng dạy, văn phòng phẩm, vật tư ngành ảnh, rau quả tươi
- Dịch vụ thương mại
- Đại lý mua bán, ký gửi hàng hóa
- Dịch vụ quảng cáo
3 Thị trường tiêu thụ chính.
Sản phẩm của doanh nghiệp chủ yếu là tiêu thụ nội địa (là doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo hang đầu Việt Nam) Riêng tại Tp.HCM doanh nghiệp có một hệ thống tiêu thụ thông qua các siêu thị và các Bakery chiếm khoảng 15% doanh thu toàn công ty Sản phẩm của Kinh Đô đã có mặt trên 30 quốc gia: Mỹ, Canada, Mexico, Nhật, Đài Loan… Doanh thu xuất khẩu chiếm khoảng 10% tổng doanh thu của công ty
4 Vị thế của công ty.
Hiện nay tập đoàn Kinh Đô là nhà sản xuất bánh kẹo hàng đầu tại Việt Nam với thị phần khoảng 28% vào năm 2013 Kinh Đô hiện cũng đang sở hữu một trong những thương hiệu nổi tiếng nhất Sau 23 năm hình thành và phát triển, đến nay thương hiệu Kinh Đô được hầu hết người tiêu dung từ thành thị đến nông thôn, từ miền Nam ra miền Bắc biết đến Sản phẩm bánh kẹo Kinh Đô được người tiêu dung Việt Nam bầu chọn là Hàng Việt Nam chất lượng cao trong nhiều năm liền Lợi thế nổi bật của công ty so với những doanh nghiệp khác trong cùng ngành là:
Sản phẩm của Kinh Đô da dạng, nắm bắt tâm lý người tiêu dung, giá cả hợp lý
Công nghệ sản xuất của Kinh Đô có sự đột phá về chất lượng, được cải tiến, thay đổi mẫu mã thường xuyên với ít nhất trên 40 sản phẩm mới mỗi năm Một điểm
Trang 6khác biệt của Kinh Đô so với các doanh nghiệp khác là ngoài công nghệ hiện đại, công ty rất chú trọng vào kỹ thuật chế biến sản phẩm, nhất là công thức pha chế phụ gia, nhờ đó mà các loại bánh kẹo của Kinh Đô có mùi vị hấp dẫn và riêng biệt Đây chính là một lợi thế cạnh tranh lớn của Kinh Đô, ngay cả đối với những đối thủ trong ngành bánh kẹo có công nghệ tương đương
III Phân tích tình hình tài chính công ty Kinh Đô.
3 Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh.
3.1 Phân tích tình hình biến động của giá vốn, chi phí bán hàng và chi phí quản lý.
3.1.1 Phân tích tình hình biến động của giá vốn hàng bán.
Phân tích tình hình biến động của giá vốn hàng bán cho ta thấy được
ĐVT: tỷ đồng.
Chỉ tiêu 2014 2013 2012 Chênh lệch 14-13 Chênh lệch 13-12 Giá vốn hàng bán 2806.83 2584.49 2416.75 8.603% 6.940%
Giá vốn/Doanh thu 56.673% 56.670% 56.390% 0.003% 0.280% CPBH/Doanh thu thuần 24.524% 21.861% 22.376% 2.663% -0.515% CPQL/Doanh thu thuần 8.431% 8.683% 8.003% -0.252% 0.680%
Xét năm 12-13: Nhìn trên bảng biểu ta thấy từ năm 2005 đến 2006 lượng giá vốn hàng bán và doanh thu thuần đều tăng Năm 2012, giá vốn hàng bán chiếm 56.39% doanh thu thuần, còn năm 2013 giá vốn hàng bán chiếm 56.67% doanh thu thuần, tăng khoảng 0.28%
Bên cạnh đó ta cũng thấy tốc độ tăng của giá vốn hàng bán là 6.94% tăng cao hơn tốc độ tăng của doanh thu là 6.412% Nhìn chung, lượng tăng này là không đáng kể và nguyên nhân chính là do khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho tăng cao và giá nguyên vật liệu đầu vào tăng nhẹ
Có thể thấy qua 2 năm, giá vốn hàng bán của doanh nghiệp tuy có tăng song lượng tăng là không đáng kể và không ảnh hưởng nhiều đến tốc độ phát triển của doanh nghiệp Điều này là nhờ vào nỗ lực trong việc chống làm phát của doanh nghiệp Ngoải ra với những mối quan hệ tốt với các nhà cung cấp mà tỉ lệ giá vốn hàng bán trên doanh thu của công ty tương đối ổn định Điều này góp phần không nhỏ vào việc tối đa hóa lợi nhuận của công ty
Xét năm 13-14: Giá vốn hàng bán tăng rõ rệt (gần 1.5%) Theo công ty Kinh Đô, nguyên nhân chủ yếu cho việc này là việc gia tăng các yếu tố nội địa như chi phí nhân
Trang 7công, chi phí điện nước và tổng chi phí sản xuất Tuy nhiên điều này cũng không làm ảnh hưởng quá nhiều đến giá thành, vì vậy doanh thu của công ty vẫn tăng trưởng khá tốt Mặc
dù giá vốn hàng bán tăng, nhưng tỷ lệ giá vốn hàng bán trên doanh thu lại giảm đi đáng kể (từ 0.28% vào năm 2012-2013 xuống chỉ còn 0.003%) Điều này chứng tỏ công ty đã có những nỗ lực rất lớn để giảm thiểu chi phí và tăng khả năng sinh lợi lên cho công ty
3.1.2 Chi phí bán hàng.
Giai đoạn 2012-2013 chi phí bán hàng của doanh nghiệp có tăng, tuy nhiên tốc độ tăng này không bằng tốc độ tăng của doanh thu Cụ thể là tốc đô tăng của chi phí bán hàng là 3.962%, còn tốc độ tăng doanh thu là 6.412% Chính vì vậy năm 2012, chi phí bán hàng chiếm 22.376 doanh thu, còn năm 2006 chi phí bán hàng của doanh nghiệp chiếm 21.861% Tuy nhiên chi phí bán hàng và marketing trong năm 2013 lại tăng 4% so với năm 2012 Điều này chủ yếu là do chi phí đột biến của các hoạt động nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày thành lập công ty
Giai đoạn 2013-2014 chi phí bán hàng của doanh nghiệp tăng vọt, tăng gần 2.5 lần tốc
độ tăng doanh thu Tuy nhiên chênh lệch giữa tỷ lệ chi phí bán hàng và doanh thu vẫn không đáng kể Công ty vẫn kiểm soát tương đối tốt về chi phí trong thời kỳ kinh tế suy thoái như hiện nay Chi phí bán hàng và marketing tăng 21.8% so với năm ngoái nguyên nhân chủ yếu đến từ việc tăng chi phí cho cơ sở hạ tầng và cho các hoạt động khuyến mãi bán hàng để tăng doanh số cho các mặt hàng chủ lực Mặc dù chi phí quảng cáo được kiểm soát tốt và cắt giảm nhưng vẫn không đủ bù đắp cho việc tăng 2 chi phí trên Nhìn chung, chi phí bán hàng vẫn biến động trong giới hạn cho phép, không gây ảnh hưởng quá nhiều tới giá thành và doanh thu
3.1.3 Chi phí quản lý doanh nghiệp.
Chi phí quản lý doanh nghiệp của Kinh Đô năm 2013 cũng tăng và cụ thể là tăng gần 15.5% so với năm 2012 Đây là mức tăng khá cao, chi phí quản lý doanh nghiệp năm 2012 chiếm 8.003% doanh thu, còn năm 2013 thì chiếm 8.683% Mức tăng này chủ yếu là vì các khoản nợ phải thu của công ty tăng lên, cũng như các chi phí cho việc tái cấu trúc cơ cấu ban lãnh đạo và tái cấu trúc thương hiệu
Đến năm 2014, tuy chi phí quản lý doanh nghiệp vẫn tăng lên và tăng nhanh hơn tốc
độ tăng trưởng doanh thu, nhưng tỷ lệ chi phí quản lý trên doanh thu lại giảm xuống Chi phí này tăng lên chủ yếu là vì chính sách tăng lương cơ bản cho nhân công trong công ty Nhưng không vì thế mà giá thành sản phẩm tăng lên hay lợi nhuận ít đi Công ty đã quản
lý khá tốt dòng tiền của mình cho chi phí này
Nhìn chung qua 3 năm, giá vốn hàng bán cũng như chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty tăng Song những mức tăng này đều không cao dồng thời khá hợp lý Công ty kinh đô đã quản lý khá tốt các chi phí này và nên tiếp tục duy trì phát huy nhằm tăng cao lợi nhuận cho công ty
3.2 Phân tích hiệu quả sử dụng chi phí.
Trang 8Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng chi phí mang lại bao nhiêu đồng doanh thu Phân tích hiệu quả sử dụng chi phí chúng ta sẽ thấy được quá trình quản lí chi phí của doanh nghiệp có hiệu quả không Từ đó rút ra nguyên nhân tại sao
Tình hình thực tế của doanh nghiệp qua 3 năm:
Hiệu suất sử dụng chi phí 2.96602 3.12838 2.97951
Theo bảng trên ta thấy, hiệu suất sử dụng chi phí của doanh nghiệp năm 2012 là 2.98% tức là cứ 1 dồng chi phí mang lại 2.98 đồng doanh thu, còn năm 2013 là 3.1% tức là cứ 1 đồng chi phí mang lại 3.1 đồng doanh thu.Việc gia tăng này đến từ hiệu quả marketing của doanh nghiệp Với việc tăng chi phí bán hàng và marketing, công ty đã có thể quảng bá rộng rãi hơn sản phẩm của mình, thu hút được người tiêu dùng Ngoài ra, 1 nguyên nhân nữa là công ty đã giảm đi đáng kể chi phí tài chính (từ 190 tỷ năm 2012 xuống còn 73 tỷ năm 2013) (điều này đến từ chi phí lãi vay trung bình đã giảm từ 8% 2012 xuống còn 6% trong 2013) Nhìn chung, hiệu quả sử dụng chi phí của doanh nghiệp như trên là khá ổn Trong năm 2014, hiệu quả sử dụng chi phí của doanh nghiệp lại giảm đi, 1 đồng chi phí chỉ tạo ra được 2.97 đồng doanh thu Tuy nhiên điều này không phải chính yếu vì công
ty quản lý chi phí không tốt (chi phí không hề tăng quá nhiều, ngược lại chi phí tài chính còn được giảm thiểu chỉ còn 26 tỷ tỏng năm 2014) Nguyên nhân của việc này lại đến từ nhu cầu tiêu dùng của người dân Dù thu nhập cơ bản đã tăng nhưng vẫn còn thấp, cộng với của cải hình thành không nhiều, sự tăng trưởng thực tế vẫn không có, điều này đã tác động tiêu cực đến tâm lý tiêu dùng của người dân
Nếu không đánh giá tới việc nhu cầu của người dân làm ảnh hưởng đến doanh thu của công ty mà chỉ xét về yếu tố quản lý chi phí, thì doanh nghiệp đã thực hiện rất tốt trong khâu này Với tình hình lạm phát hiện nay, việc công ty có thể xoay sở được một giá nguyên vật liệu đầu vào tương đối ổn định qua nhiều năm đã là một việc rất tốt Đặc biệt, công ty cũng đã có những nỗ lực nhằm làm giảm chi phí như: công ty thực hiện kiểm soát chi phí bằng việc kiểm soát quá trình sản xuất Quy trình sản xuất của Kinh
Đô được thiết lập cụ thể chặt chẽ và đồng bộ, bảo đảm thực hiện công viện đúng ở mọi khâu ngay từ ban đầu để ngăn ngừa phát sinh các sai sót và hỏng hóc Hàng tháng bộ phận kế toán quản trị và giá thành lập báo cáo kiểm soát chi phí sản xuất, báo cáo này được chuyển qua nhiều cấp khác nhau từ kế toán trưởng giám đốc tài chính và tổng giám đóc điều hành Vì vậy với việc thực hiện các nỗ lực này, chúng ta có thể tin rằng hiệu suất sử dụng chi phí của doanh nghiệp sẽ tăng cao hơn khi tình hình kinh tế khả quan hơn
3.3 Phân tích ảnh hưởng của hoạt động tài chính đến tổng lợi nhuận.
Trang 9Chỉ tiêu 2014 2013 2012 Doanh thu từ hoạt động tài chính 144.327 113.135 133.282
Lợi nhuận hoạt động tài chính 138.874 83.01 37.312
Lợi nhuận hoạt động từ HĐSXKD 631.822 622.935 510.25
Lợi nhuận thuần từ HĐSXKD và hoạt
Ngoài hoạt động kinh doanh chính theo chức năng, công ty còn có những hoạt động tài chính với chi phí và thu nhập có liên quan Việc phân tích này sẽ giúp cho ta đánh giá được sự ảnh hưởng của chúng vào tổng lợi nhuận của doanh nghiệp Dựa vào bảng phân tích, chúng ta có thể thấy doanh thu từ hoạt động tài chính của công ty tăng đều qua các năm Đặc biệt trong khi năm 2012, công ty phải chịu lỗ từ hoạt động tài chính 57 tỷ đồng thì công ty dần có lãi và có lãi rất cao 138.874 tỷ đồng trong năm 2014 Điều này chứng tỏ công ty đã có một kế hoạch đầu tư cũng như quản lí chi phí tài chính rất toosrt để đem lại một khoản lợi nhuận lớn cho mình
3.4 Phân tích ảnh hưởng của hoạt động khác đến tổng lợi nhuận.
Lợi nhuận thuần từ HĐSXKD 631.82 622.94 510.25
Lợi nhuận thuần từ HĐSXKD và
Trong năm 2013, thu nhập khác của doanh nghiệp tăng lên chủ yếu là đến từ việc doanh nghiệp bán phế liệu và sự tăng lên trong thu nhập của các hoạt động khác Tuy thu nhập có tăng, nhưng chi phí phát sinh liên quan đến thu nhập này lại quá lớn, đặc biệt là
có sự xuất hiện của chi phí cho dự án Hiệp Bình Phước nên công ty vẫn phải chịu lỗ từ các hoạt động khác này, làm cho tổng lợi nhuận của doanh nghiệp bị kéo xuống
Trong năm 2014, nhờ thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất (31.88 tỷ) và các chi phí liên quan tới thanh lý tài sản, chi phí cho các hoạt động khác giảm xuống đáng kể
đã mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, giúp tổng lợi nhuận doanh nghiệp có được tăng lên được một phần
4 Phân tích khả năng sinh lời.
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào mục tiêu cuối cùng cũng sẽ là lợi nhuận Lợi nhuận là một chỉ tiêu tài chính tổng hợp phản ánh hiệu quả của toàn bộ quá trình đầu tư, sản xuất,
Trang 10tiêu thụ và những giải pháp kỹ thuật, quản lý kinh tế tại doanh nghiệp Vì vậy, lợi nhuận là chỉ tiêu tài chính mà bất kỳ một đối tượng nào muốn đặt quan hệ với doanh nghiệp cũng đều quan tâm
4.1 Chỉ số lợi nhuận hoạt động.
Hệ số lãi ròng hay còn gọi là suất sinh lời của doanh thu gọi tắt là ROS (Return on Sales), thể hiện một đồng doanh thu có khả năng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng Chỉ tiêu này được tính bằng công thức:
Chỉ số lợi nhuận hoạt động = Lợi nhuận thuần HĐKD/Doanh thu thuần
14/13 Lợi nhuận thuần hoạt động 622.935 631.822 1.43%
Chỉ số lợi nhuận hoạt động 0.1366 0.1276 -0.90%
Năm 2013, chỉ số này của công ty là 0.1366 có nghĩa là cứ 1 đồng doanh thu thuần sẽ đem lại 0.1366 đồng lợi nhuận Năm 2014, chỉ số này lại giảm xuống còn 0.1276, chứng
tỏ khả năng sinh lời của doanh nghiêp đang giảm xuống, 1 đồng doanh thu chỉ tạo ra 0.1276 đồng lợi nhuận Doanh thu tăng, lợi nhuận cũng tăng, nhưng chi phí cũng tăng,tốc
độ doanh thu tăng không bằng tốc độ tăng cúa chi phí, điều này dẫn đến ROS của doanh nghiệp giảm Doanh nghiệp đang có dấu hiệu chững lại trong việc tăng trưởng (ddiefu này cũng đang diễn ra tương tự với các doanh nghiệp dẫn đầu ngành khác, cụ thể là công
ty Vinamilk) Đòi hỏi doanh nghiệp phải có chính sách mới để cải thiên doanh thu Giảm chi phí nhằm nâng cao lợi nhuận cho công ty
4.2 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA).
Tỷ suất sinh lời của tài sản là công cụ đo lường cơ bản tính hiệu quả của việc sắp xếp, phân phối và quản lý các nguồn lực của công ty, nó cho biết một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lãi ròng
Ta có công thức: ROA = Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản
Tỉ suất lợi nhuận/Doanh thu 10.845% 10.805% 0.040%
Tỉ suất lợi nhuận/Tổng tài
Từ bảng phân tích ta thấy năm 2014 tỉ suất lợi nhuận trên tổng tài sản cứ 100 đồng đầu tư vào tài sản thì mang lại 6.82 đồng lợi nhuận So với năm 2013 thì tỉ lệ này giảm 0.91% Nguyên nhân là do doanh nghiệp đã quản lý chưa tốt vòng quay tài sản khiến cho hệ số