Lịch sử hình thành và phát triển công ty cổ phần sữa Vinamilk Vinamilk là tên gọi tắt của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam Vietnam Dairy Products Joint Stock Company một công ty sản xuất,
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VINAMILK
Giới thiệu chung về công ty cổ phần Vinamilk
Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam được thành lập trên cơ sở quyết định số 155/2003QĐ- BCN ngày 01 tháng 10 năm 2003 của Bộ Công nghiệp về việc chuyển
Công ty Sữa Việt Nam đã chuyển đổi từ một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Công nghiệp sang mô hình Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 4103001932 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/11/2003 Trước ngày 1/12/2003, Công ty là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Công nghiệp.
- Tên đầy đủ: Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam
- Trụ sở: 36 - 38 Ngô Đức Kế, Quận 1, Tp HồChí Minh
- Văn phòng giao dịch: 184–186–188 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3, Tp Hồ Chí Minh
- Web site: www.vinamilk.com.vn
- Email: vinamilk@vinamilk.com.vn
Lịch sử hình thành và phát triển công ty cổ phần sữa Vinamilk
Vinamilk là tên gọi tắt của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vietnam Dairy
Công ty Cổ phần Sản xuất và Kinh doanh sữa cùng các sản phẩm từ sữa và thiết bị máy móc liên quan tại Việt Nam là một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực sữa và các sản phẩm từ sữa Theo thống kê của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), công ty đứng thứ 15 trong danh sách các doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam vào năm 2007.
Mã giao dịch trên Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh là VNM Công ty là doanh nghiệp hàng đầu trong ngành công nghiệp chế biến sữa, chiếm tới 75% thị phần sữa tại Việt Nam và có mạng lưới phân phối mạnh mẽ trên toàn quốc.
183 nhà phân phối và gần 94.000 điểm bán hàng phủ đều 64 tỉnh thành, sản phẩm Vinamilk còn được xuất khẩu sang nhiều nước Mỹ, Pháp, Canada, Ba Lan, Đức, khu vực Trung Đông, Đông Nam Á Sau hơn 30 năm ra mắt người tiêu dùng, đến nay
Vinamilk đã xây dựng được 8 nhà máy, 1 xí nghiệp và đang xây dựng thêm 3 nhà máy mới, với sự đa dạng về sản phẩm, Vinamilk hiện có trên 200 mặt hàng sữa tiệt trùng, thanh trùng và các sản phẩm được làm từ sữa.
Thời kỳ Cổ Phần Hóa (2003 -Nay)
2003: Công ty chuyển thành Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Tháng 11) Mã giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán là VNM.
2004: Mua thâu tóm Công ty Cổ phần sữa Sài Gòn Tăng vốn điều lệ của Công ty lên 1,590 tỷ đồng.
Năm 2005 đánh dấu bước mở rộng chiến lược khi công ty mua toàn bộ số cổ phần còn lại của đối tác liên doanh trong Công ty Liên doanh Sữa Bình Định (sau này đổi tên thành Nhà máy Sữa Bình Định) và đồng thời khánh thành Nhà máy Sữa Nghệ An vào ngày 30 tháng 6 năm 2005, với địa chỉ đặt tại Khu Công nghiệp Cửa.
Tại Lò, tỉnh Nghệ An, liên doanh giữa công ty địa phương và SABMiller Asia B.V đã thành lập Công ty TNHH Liên Doanh SABMiller Việt Nam vào tháng 8 năm 2005 Sản phẩm đầu tiên của liên doanh mang thương hiệu Zorok được tung ra thị trường vào đầu giữa năm 2007.
Vinamilk đã niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) vào ngày 19 tháng 01 năm 2006, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quá trình huy động vốn và cổ phần hóa doanh nghiệp Lúc đó, vốn điều lệ của Vinamilk được nắm giữ bởi Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà nước với tỷ lệ 50,01%, cho thấy sự kiểm soát đáng kể của nhà nước đối với công ty.
2007: Mua cổ phần chi phối 55% của Công ty sữa Lam Sơn vào tháng 9 năm
2007, có trụ sở tại Khu công nghiệp Lễ Môn, Tỉnh Thanh Hóa.
2009: Phát triển được 135.000 đại lý phân phối, 9 nhà máy và nhiều trang trại nuôi bò sữa tại Nghệ An, Tuyên Quang
2010 - 2012: Xây dựng nhà máy sữa nước và sữa bột tại Bình Dương với tổng vốn đầu tư là 220 triệu USD.
2011: Đưa vào hoạt động nhà máy sữa Đà Nẵng với vốn đầu tư 30 triệu USD.
Tình hình kinh doanh của công ty cổ ph ầ n Vinamilk trong nh ững năm qua
Trong năm 2008, Vinamilk (VNM) cho thấy nội lực tài chính vững mạnh qua kết quả kinh doanh khả quan Chỉ trong 10 tháng đầu năm 2008, VNM đạt doanh thu 7.076 tỉ đồng và lợi nhuận ròng 1.129 tỉ đồng, tương ứng hoàn thành 86,3% và 99% kế hoạch năm Ở phương diện cổ phiếu, giá trị giao dịch bình quân mỗi ngày của VNM đạt 706.000 USD/ngày (hơn 12 tỉ đồng/ngày), cho thấy mức thanh khoản cao của cổ phiếu Vinamilk trên thị trường.
Cổ phiếu này chiếm 5% tổng giá trị giao dịch trên sàn TP.HCM và là một trong những cổ phiếu niêm yết có tính thanh khoản cao nhất, thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư nhờ khối lượng giao dịch lớn Dù nền kinh tế Việt Nam vẫn đang đối mặt với khó khăn, dự báo chi tiêu cho các mặt hàng tiêu dùng sẽ sụt giảm trong vòng 12 tháng tới.
Một công ty chứng khoán lớn tại TP.HCM cho rằng việc khối ngoại bán cổ phiếu VNM gần đây đã mở ra một cơ hội mua vào hấp dẫn cho nhà đầu tư trong nước Sự bán ròng này được xem như chỉ là phản ứng trước các sự kiện kinh tế ở nước ngoài, còn triển vọng tăng trưởng và các nhận định tích cực về cổ phiếu VNM vẫn không đổi Theo khảo sát với nhiều công ty chứng khoán, trong năm 2009 VNM được dự báo sẽ phát huy ba thế mạnh, qua đó kỳ vọng mang lại đà tăng trưởng cho cổ phiếu này.
Cổ phiếu VNM thể hiện mức tăng trưởng cao và ổn định với mức giá hấp dẫn trên thị trường, là lựa chọn tiềm năng cho nhà đầu tư tìm kiếm sự tăng trưởng bền vững Về khả năng tài chính, Vinamilk có dòng tiền ổn định và khả năng tài trợ vốn tốt, tạo nền tảng vững chắc cho các chiến lược tăng trưởng và mở rộng quy mô kinh doanh.
+ Thứ ba, tiềm năng tăng trưởng của VNM còn dựa vào một số yếu tố quan trọng là thị phần, giá trị vốn hoá và mạng lưới phân phối
Những thuận lợi kể trên tạo nền tảng cho triển vọng lạc quan về tăng trưởng của VNM trong thời gian tới Dự báo tỉ suất lợi nhuận gộp trên doanh thu của VNM sẽ tăng từ 27% năm 2007 lên 33% vào năm 2008 và tiếp tục duy trì ở mức này trong năm 2009 Các động lực chính giúp nâng cao tỉ suất lợi nhuận gồm giảm giá vốn, tăng giá bán, và tăng hiệu quả kinh doanh nhờ quy mô sản xuất mở rộng (giá thành đơn vị thấp hơn) cùng với sự tái cơ cấu sản phẩm.
Tỉ suất lợi nhuận từ hoạt động được dự đoán sẽ tăng đáng kể từ 9% năm 2006 lên 19% năm 2009, chủ yếu dựa vào tăng tỉ suất lợi nhuận gộp và giảm tỉ lệ chi phí bán hàng trên doanh thu (chỉ đạt 11% trong 6 tháng đầu năm 2008) Đến năm 2010, mặc dù còn nhiều khó khăn, với nỗ lực của công ty và sự tin tưởng của người tiêu dùng, công ty đã đạt được kết quả cao nhất từ trước đến nay.
Về doanh thu & lợi nhuận
Tổng doanh thu đạt 16.081 tỷ đồng, tăng 49% so với kỳ trước; trong đó doanh thu nội địa tăng 50% và doanh thu xuất khẩu tăng 40%, với doanh thu xuất khẩu đóng góp 10% vào tổng doanh thu.
Lợi nhuận trước thuếđạt 4.251 tỷđồng, tăng 56% so với cùng kỳnăm 2009 Thu nhập cơ bản trên 1 cổ phiếu (EPS) đạt 10.251đồng/cp, tăng 51.4% so với 2009
Các chỉ tiêu về doanh số và lợi nhuận của ĐHĐCĐ đặt ra đầu năm Công ty đều vượt, cụ thểnhư sau:
Tổng tài sản đạt 10.773 tỷđồng, tăng 27% so với 2009
Tổng nguồn vốn chủ sở hữu đạt 7.964 tỷđồng, tăng 23 % so với 2009
Tài sản và nguồn vốn tăng chủ yếu là do lợi nhuận tạo ra từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Các kế t qu ả đạ t đượ c
Đến cuối năm 2010, Vinamilk đã phủ rộng hệ thống phân phối với khoảng 140.000 điểm bán lẻ Trong năm này, Vinamilk tiến hành cải tổ cấu trúc hệ thống phân phối theo hướng chuẩn hóa kênh truyền thống, xem đây như xương sống của mạng lưới phân phối và nền tảng cho đà tăng trưởng trong những năm tiếp theo.
Trong năm 2010, Vinamilk ra mắt 20 sản phẩm mới, mở rộng danh mục với sữa chua ăn lợi khuẩn bổ sung Probiotics, nước uống Artiso, trà xanh hương chanh, nước táo, nước cam, trà bí đao, sữa tiệt trùng bổ sung vi chất và các loại bột dinh dưỡng Những sản phẩm này thể hiện sự đa dạng hóa danh mục và cam kết cung cấp các giải pháp dinh dưỡng chất lượng cho người tiêu dùng Việt Nam.
Đầu tư tài sản cốđịnh: trong năm Công ty đã giải ngân 1.680 tỷđồng, đạt 98% kế hoạch
Các dự án lớn đã khởi động như nhà máy sữa Mega Bình Dương, nhà máy Sữa bột Dielac 2 và nhà máy sữa Ðà Nẵng
Trong năm 2010, công ty đã đầu tư vào dự án nhà máy sữa bột Miraka tại New Zealand với giá trị góp vốn tương đương 8,5 triệu USD và chiếm 19,3% vốn điều lệ của Công ty Miraka.
Công ty cũng đã nhận chuyển nhượng toàn bộ vốn của Công ty TNHH F&N
(Việt Nam) tại Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore (VSIP) Mục đích để lấy đất cho dựán nhà máy sữa Dielac 2 với công suất 54.000 tấn/năm.
Nhà máy cà phê Sài Gòn đã hoàn tất việc nhượng bán cho Công ty Cổ phần Trung Nguyên, nhằm tập trung nguồn lực và chiến lược phát triển vào ngành sữa.
Trong năm 2010, Vinamilk đã hoàn tất việc mua lại toàn bộ phần vốn của các cổ đông khác tại Công ty Sữa Lam Sơn và chuyển công ty này thành Công ty TNHH một thành viên Sữa Lam Sơn.
Nhà máy nước giải khát đi vào hoạt động từ tháng 6/2010 và nhanh chóng tung ra thị trường các loại nước giải khát có lợi cho sức khỏe, như trà xanh, trà sâm bí đao, trà artiso và các loại nước ép trái cây Các sản phẩm này thể hiện cam kết cung cấp nước uống bổ dưỡng cho người tiêu dùng và mở rộng danh mục đồ uống lành mạnh trên thị trường.
Khai trương trụ sở mới của Vinamilk tại Phú MỹHưng vào tháng 12/2010.
Các danh hiệu đạt được: Vinamilk đã đạt được các danh hiệu đáng chú ý sau:
Top 200 doanh nghiệp tốt nhất châu Á
Top 5 doanh nghiệp tư nhất lớn nhất Việt Nam 2010
1 trong 50 Thương Hiệu Quốc Gia (BộCông Thương)
Top 10 Thương hiệu nổi tiếng nhất khu vực Superbrands
Hàng Việt Nam chất lượng cao năm 2010 (Báo Sài Gòn Tiếp Thị)
Thương hiệu mạnh Việt Nam năm 2010 (Thời báo Kinh tế Việt Nam)
Thương hiệu nổi tiếng Việt Nam năm 2010 (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam)
1 trong 15 thương hiệu được nhận giải “Tự hào thương hiệu Việt” (Báo Ðại đoàn kết)
Top 50 DN nộp thuế cao nhất năm 2010 (Tổng cục thuế)
Thương hiệu chứng khoán uy tín năm 2010 (Hiệp hội kinh doanh chứng khoán)
1 trong 20 doanh nghiệp niêm yết tiêu biểu trên cả2 sàn HồChí Minh và Hà Nội (Trung tâm Thông tin Tín dụng của Ngân hàng Nhà nước (CIC)).
Điể m m ạnh, điể m y ế u v ề ho ạt độ ng kinh doanh
Danh mục sản phẩm đa dạng và mạnh, mạng lưới phân phối và bán hàng rộng khắp.
Vinamilk tiêu thụ hơn một nửa sản lượng sữa tươi nguyên liệu được sản xuất trong nước, cho thấy vị thế chi phối đáng kể trên thị trường sữa tươi nguyên liệu Với tỷ lệ tiêu thụ cao này, công ty có khả năng tác động đến giá sữa tươi nguyên liệu và định hình diễn biến giá cả trên toàn chuỗi cung ứng sữa tại Việt Nam, ảnh hưởng đến các nhà cung cấp và sự cạnh tranh trong ngành.
Xây dựng quan hệ bền vững với các nhà cung cấp để đảm bảo nguồn sữa đáng tin cậy cho toàn chuỗi cung ứng Kinh nghiệm quản lý hiệu quả được thể hiện qua kết quả hoạt động kinh doanh bền vững và sự đầu tư vào thiết bị, công nghệ sản xuất đạt chuẩn quốc tế, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu suất vận hành.
Với bề dày lịch sử và sự hiện diện lâu dài trên thị trường Việt Nam, Vinamilk có khả năng xác định xu hướng và thị hiếu tiêu dùng, từ đó tập trung nguồn lực phát triển những sản phẩm đáp ứng đúng nhu cầu thị trường Sự thấu hiểu sâu sắc và nỗ lực đổi mới của hãng được thể hiện qua dòng sản phẩm Vinamilk Kid, một trong những sữa dành cho trẻ em từ 6 đến 12 tuổi bán chạy nhất tại Việt Nam Năm 2007, Vinamilk Kid ghi nhận thành công khi chinh phục khách hàng ở phân khúc trẻ em và khẳng định chiến lược định vị sản phẩm dựa trên đặc tính người tiêu dùng.
Chủ động về nguyên liệu và không ngừng học hỏi kinh nghiệm cùng áp dụng kỹ thuật nuôi bò sữa tiên tiến, công ty đang triển khai các dự án trực tiếp chăn nuôi bò sữa và đồng thời hỗ trợ nông dân nuôi bò sữa Bên cạnh đó, công ty đã thực hiện dự án nuôi bò sữa tại New Zealand — quốc gia xuất khẩu sữa nguyên liệu và sữa thành phẩm nhiều nhất vào thị trường Việt Nam — nhằm đảm bảo nguồn cung ổn định và chất lượng cao cho người tiêu dùng.
Vinamilk đầu tư mạnh vào hình ảnh và uy tín thương hiệu thông qua các hoạt động xã hội thiết thực như chương trình học bổng, hỗ trợ người nghèo, cứu trợ bão lũ và nuôi dưỡng Mẹ Việt Nam Anh Hùng Những sáng kiến này tăng cường nhận diện tích cực của doanh nghiệp trước người tiêu dùng và xây dựng niềm tin, sự trung thành của khách hàng, từ đó mang lại sự ổn định và tăng trưởng doanh thu cho công ty.
1.4.2 Điể m y ế u: Điểm mạnh của Vinamilk là có những thương hiệu mạnh, những sản phẩm tốt với chất lượng rất cao nhưng năng lực marketing thì lại yếu, không tương xứng với sức mạnh to lớn của hệ thống sản phẩm và lực lượng sản xuất rất hùng hậu Marketing chưa xây dựng được một chiến lược truyền thông và những thông điệp hiệu quảđể quảng bá đến người tiêu dùng về những điểm mạnh và ưu thế của các thương hiệu và sản phẩm của Vinamilk Nói về sản phẩm sữa tươi thì tỷ trọng sữa tươi của các sản phẩm Vinamilk rất cao, ít nhất từ70% đến 99% sữa tươi so với các đối thủ chỉ có khoảng 10% sữa tươi nhưng Vinamilk lại chưa hềcó một thông điệp nào mạnh mẽđể khẳng định ưu thế đó đến người tiêu dùng Chủ động trong nguồn nguyên liệu, giá thu mua sữa cao hơn, hệ thống xe đông lạnh vận chuyển tốt, dây chuyền chế biến hiện đại là một lợi thế vượt trội của Vinamilk nhưng tất cả thế mạnh hơn hẳn này lại không được chuyển tải đến người tiêu dùng Hoạt động Marketing của công ty chủ yếu tập trung ở miền Nam, trong khi Miền Bắc lại chưa được công ty đầu tư mạnh cho các hoạt động Marketing, điều này có thể dẫn đến việc công Vinamilk mất dần thị trường vào tay các đối thủ cạnh tranh của mình như Dutch Lady, Abbott…30% doanh thu của công ty là từ xuất khẩu, thị trường chính là Iraq, Campuchia và một số nước khác Tình hình bất ổn ởIraq có thể khiến doanh thu từhàng xuất khẩu sang thị trường này suy giảm.
PHÂN TÍCH HIỆ N TR Ạ NG MARKETING T ẠI CÔNG TY CP VINAMILK
Môi trường vĩ mô của công ty Vinamilk
2.1.1 Môi trường pháp luật, chính trị
Việt Nam có môi trường chính trị ổn định, nhà nước chú trọng đến công bằng
XH, trong SX-KD giữa các Dn tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả các DN có thể yên tâm SX
Thuế đánh vào sữa nhập khẩu ở mức cao làm tăng giá sữa nhập khẩu, từ đó tạo điều kiện cho ngành sản xuất sữa trong nước phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng nội Việc hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu mở cửa cho các doanh nghiệp sản xuất và chế biến sữa tiếp cận với công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại, giúp cải thiện chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất Tất cả những yếu tố này góp phần xây dựng chuỗi giá trị sữa bền vững và thúc đẩy tăng trưởng ngành sữa trong nước.
Thực tế cho thấy ở các nước phát triển, trẻ em sớm được tiếp cận các sản phẩm sữa có hàm lượng dinh dưỡng đầy đủ và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí khoa học đã thúc đẩy sự phát triển toàn diện về cân nặng, chiều cao và trí não, từ đó hình thành nguồn lao động có chất lượng cao cho nền kinh tế Việt Nam cũng không phải ngoại lệ; chủ trương của Nhà nước là đảm bảo cho người dân quyền được hưởng những lợi ích tự nhiên ấy Dù đất nước ta không phải là lợi thế cạnh tranh lớn về sản xuất và chế biến sữa với quy mô lớn, nhưng các ưu tiên của Đảng và Nhà nước vẫn dành cho lĩnh vực này thông qua việc thành lập các ban ngành, hệ thống cơ quan và ban hành các chính sách, văn bản hướng dẫn để hỗ trợ phát triển cho các doanh nghiệp Đối với Vinamilk nói riêng, Nhà nước có các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc bảo đảm nguồn cung nguyên liệu đầu vào, có cơ sở hạ tầng, đội ngũ chuyên gia, tín dụng, hỗ trợ thị trường và quảng bá hình ảnh thương hiệu Vinamilk.
Trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng phát triển, mức thu nhập của người dân được cải thiện, đời sống được nâng cao và chất lượng cuộc sống tăng lên Điều này khiến người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt là các sản phẩm sữa và chế phẩm từ sữa, đòi hỏi nguồn gốc rõ ràng và quy trình sản xuất đảm bảo.
Nhờ mức sống người dân tăng cao, chi tiêu cho các sản phẩm sữa trong các hộ gia đình ngày càng tăng, tạo điều kiện cho ngành sữa Việt Nam phát triển Tuy nhiên, những năm gần đây, lạm phát tăng cao buộc người dân phải cắt giảm chi tiêu, đặc biệt ở vùng nông thôn, khiến tiêu dùng sữa giảm và đặt ra thách thức cho ngành sữa.
Hiện nay tốc độ đô thị hóa ở Việt Nam diễn ra nhanh và kéo theo sự thay đổi đáng kể trong phân bổ dân số Sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ làm thay đổi kết cấu dân số và phân bổ lao động giữa các vùng Theo thống kê, hơn 50% lực lượng lao động đang làm nông nghiệp, cho thấy khoảng cách giữa khu vực nông thôn và đô thị vẫn tồn tại nhưng có thể được rút ngắn Thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng, vượt ngưỡng 1.000 USD/người/năm, cho thấy mức sống của người dân Việt Nam đang được cải thiện dần.
Trong bối cảnh cuộc sống hiện đại, nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng đa dạng và phong phú, đòi hỏi các doanh nghiệp sữa không ngừng đổi mới để đáp ứng Việc nắm bắt và đáp ứng hiệu quả những nhu cầu này mở ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp sữa như Vianmilk, giúp mở rộng thị trường, gia tăng doanh thu và nâng cao vị thế thương hiệu Để tận dụng xu thế này, Vianmilk cần tập trung vào chất lượng sản phẩm, đổi mới công nghệ và hiểu sâu sự kỳ vọng của người tiêu dùng, từ đó tạo ra danh mục sản phẩm phù hợp và chiến lược marketing hiệu quả trên thị trường sữa.
2.1.5 Môi trường văn hóa Đối với Việt Nam, thói quen sử dụng các sản phẩm đồ ngọt cũng như các sản phẩm đóng hộp hay các sản liên quan đến sữa Điều này cũng là dễ hiểu vì điều kiện tình hình nền kinh tế của Việt Nam đang còn nhiều khó khăn và vừa thoát ra khỏi danh sách các nước nghèo nhất trên thế giới (2008), đại bộ phận người dân có mức sống dưới mức trung bình, khả năng tiếp cận với các sản phâm này là gần như rất ít Vì vậy thói quen này chỉ một phận nhỏ người dân thành thị, có mức sống tương đối mới bắt đầu hình thành thói quen sử dụng các sản phẩm liên quan đến sữa Đây là một trong những tác động ảnh hưởng thay đổi từ thành quả của công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập phát triển Nhân thức, thu nhập, lối sống, tư duy của người dân cũng thay đổi Sự tiếp cận các nguồn thông tin trở nên dễdàng, qua loa đài, báo chí, tivi, tranh ảnh, băng rôn… khiến con người càng cảm thấy có nhu cầu ngày càng cao đối với việc chăm sóc và thoả mãn các nhu cầu về thể chất
Sữa và các sản phẩm như phô mai, cà phê và nước ép mang lại nhiều lợi ích và đã trở thành thói quen sử dụng hàng ngày của nhiều người Khi một thương hiệu có uy tín chất lượng như Vinamilk gắn với sản phẩm, niềm tin đó dễ chuyển hóa thành sự trung thành của khách hàng Người Việt thường chọn những gì mình cảm thấy yên tâm tin tưởng và ít khi thay đổi, vì vậy việc duy trì chất lượng và uy tín của sản phẩm sữa và các mặt hàng liên quan ảnh hưởng trực tiếp tới sự yêu thích và lựa chọn của người tiêu dùng.
Người Việt có đặc điểm thể chất là cân nặng và chiều cao trung bình ở mức thấp so với thế giới, đồng thời có xu hướng muốn chứng tỏ bản thân và thu hút sự chú ý của người khác Do đó, Vinamilk tập trung quảng bá phong cách sống khỏe mạnh, phát triển toàn diện cả về thể chất và trí tuệ, nhằm xây dựng con người năng động, sáng tạo và hình thành một hình mẫu lý tưởng Kết quả, hiệu quả quảng cáo đạt được rất lớn.
Ở quan điểm của người Á Đông, việc tôn vinh hình ảnh quốc gia thông qua thương hiệu mạnh đứng trước các dòng sản phẩm nước ngoài—kể cả khi có các chính sách bảo hộ của nhà nước—có ý nghĩa rõ ràng đối với người tiêu dùng Việc coi trọng thương hiệu quốc gia giúp tăng nhận thức về chất lượng và độ tin cậy của hàng nội địa, đồng thời củng cố niềm tự hào dân tộc và ảnh hưởng đến quyết định mua sắm giữa hàng trong nước và hàng nhập khẩu.
2.1.6 Môi trường khoa học- công nghệ
Cho đến nay, Công ty Cổ phần Sữa Vinamilk vẫn là doanh nghiệp dẫn đầu ngành công nghiệp chế biến sữa tại Việt Nam Ban lãnh đạo Vinamilk luôn đề cao khoa học và công nghệ, căn cứ vào nguồn vốn, nhu cầu thị trường và cơ cấu sản phẩm để đầu tư chuyển đổi công nghệ kịp thời Vinamilk đã triển khai ba đợt đánh giá trình độ công nghệ của sản xuất nhằm nhận diện điểm xuất phát ở từng thời kỳ và so sánh trình độ công nghệ của công ty với chuẩn mực công nghệ trên thế giới Sau mỗi đợt đánh giá, Vinamilk điều chỉnh hoạt động đầu tư chuyển đổi công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất và duy trì vị thế dẫn đầu.
Hiện nay, có thể khẳng định lĩnh vực chế biến sữa Việt Nam nói chung và Vinamilk nói riêng đã đạt trình độ tiên tiến, hiện đại của thế giới về công nghệ lẫn trang thiết bị, nhờ đầu tư đồng bộ vào dây chuyền sản xuất hiện đại, hệ thống quản lý chất lượng nghiêm ngặt và quy trình tối ưu hóa năng suất Sự tiến bộ được thể hiện qua nhiều ví dụ tiêu biểu cho thấy ngành sữa Việt Nam đang nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế trên thị trường toàn cầu, đồng thời củng cố uy tín của Vinamilk như một doanh nghiệp dẫn đầu trong đổi mới công nghệ và nâng cấp cơ sở vật chất Các ví dụ này sẽ được trình bày ngay sau đây để minh họa cho sự chuyển đổi mạnh mẽ của ngành.
- Đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất sữa bột sấy phun từcông nghệ “gõ” sang công nghệ“thổi khí”.
- Công nghệ và thiết bị thu mua sữa tươi của nông dân, đảm bảo thu mua hết lượng sữa bò, thúc đẩy ngành chăn nuôi bò sữa trong nước
- Công nghệ tiệt trùng nhanh nhiệt độcao để sản xuất sữa tươi tiệt trùng;
- Đầu tư và đổi mới công nghệ sản xuất vỏ lon 2 mảnh
- Đổi mới công nghệ chiết lon sữa bột, nhằm ổn định chất lượng sản phẩm, nâng cao thời gian bảo quan và đảm bảo vệsinh an toàn thực phẩm,…
2.1.6 Môi trường tựnhiên Ảnh hưởng của nhiệt độđối với bò sữa: nhiệt độảnh hưởngđến tập tính, khảnăng thu nhận và tiêu hóa thức ăn, sự tăngtrưởng, sinh sản và sản xuất sữa của bò sữa
Nhiệt độ và độ ẩm ảnh hưởng tới nguồn thức ăn và điềukiện thời tiết thay đổi là tác nhân gây bệnh cho bò sữa
Nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình lên men của sữa chua, quyết định thời gian lên men và chất lượng cuối cùng của sản phẩm Đồng thời, điều kiện môi trường như nhiệt độ, độ ẩm và vệ sinh cũng tác động đến việc bảo quản nguyên liệu sữa thô và các sản phẩm từ sữa bò, nhằm duy trì độ tươi ngon, đảm bảo an toàn thực phẩm và kéo dài thời hạn sử dụng.
2.1.7 Môi trường toàn cầu hoá
Việt Nam gia nhập WTO và cam kết mở cửa thị trường cho các doanh nghiệp nước ngoài, nhằm tăng cường hội nhập và tạo ra cơ hội kinh doanh rộng mở Tuy nhiên, từ nhiều năm trước đến nay nhiều ngành kinh tế trong nước vẫn được bảo hộ bởi Nhà nước, khiến sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu ở nhiều khía cạnh như chất lượng sản phẩm, giá cả, sự đa dạng chủng loại, quy mô phân phối, dịch vụ chăm sóc khách hàng và khả năng tiếp cận nguồn vốn.
Môi trường vi mô
Thị trường sữa Việt Nam hiện nay đa dạng về chủng loại và chất lượng sản phẩm Với dân số trên 80 triệu người và mức tiêu thụ sữa trên đầu người còn ở mức thấp, Việt Nam được xem là thị trường tiềm năng và hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước Cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường sữa Việt Nam đang là mối quan tâm hàng đầu của các công ty chế biến sữa, khi các doanh nghiệp đang tích cực mở rộng mạng lưới sản xuất và phân phối Trong những năm gần đây, tiêu thụ sữa tại Việt Nam đã tăng mạnh, cho thấy nhu cầu tiêu dùng sữa ngày càng tăng và cơ hội tăng trưởng lớn cho ngành.
Sau đây là một số yếu tốvi mô của môi trường tác động đến Công ty sữa Vinamilk:
Cuộc chiến giành thị phần và duy trì tăng trưởng để bắt kịp tốc độ tăng trưởng của ngành là đặc trưng nổi bật của thị trường sữa Trong giai đoạn 2005-2009, tốc độ tăng trưởng của VINAMILK và Dutch Lady tương đương với mức tăng trưởng của ngành, trung bình khoảng 20% mỗi năm Thị phần của các hãng sữa có sự thay đổi nhưng không đáng kể, cho thấy thị trường vẫn duy trì sự cân bằng giữa các thương hiệu chủ đạo.
Trong mảng sữa bột, thị phần Abbott dao động quanh mức 23% trong giai đoạn 2004-2008, Mead Johnson duy trì ở khoảng 15%, còn Vinamilk cho thấy sự vươn lên với thị phần tăng từ 11,2% năm 2004 lên 17% trong những năm tiếp theo.
Ngành sữa tại Việt Nam đang có tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định, mở ra nhiều cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp trong nước Để xác định và củng cố vị thế cạnh tranh trên thị trường, các công ty sữa cần triển khai một loạt chiến lược đa dạng, từ tối ưu hóa chuỗi cung ứng và nâng cao chất lượng sản phẩm đến xây dựng thương hiệu và phân bổ nguồn lực hiệu quả Việc định vị và thực thi các chiến lược cạnh tranh phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp nắm bắt xu hướng tiêu dùng và tăng cường sự khác biệt trên ngành sữa Việt Nam.
Abbott định vị sản phẩm sữa nhãn hiệu GAIN ban đầu với thông điệp “tăng cường IQ cho trẻ”, nhưng gần đây chuyển sang định vị “sữa bột số 1 Việt Nam” nhằm tránh lặp lại thuật ngữ tăng cường IQ được nhiều hãng sữa sử dụng; trong khi Vinamilk từng tự tin với định vị “chất lượng quốc tế”, cho thấy công ty này xuất khẩu sữa sang hơn 10 nước trên thế giới, thời gian gần đây Vinamilk cũng dần chuyển sang định vị sản phẩm sữa dành riêng cho nhu cầu trẻ em Việt Nam.
Các công ty đã tiến hành nâng cấp một loạt các sản phẩm của mình Hiện nay, người tiêu dùng các sản phẩm sữa ở Việt Nam có xu hướng đánh đồng giá cả cao với chất lượng tốt hơn và nhiều thành phần dinh dưỡng hơn Vì thế, các công ty đã nâng cấp các sản phẩm của mình như Friso lên Friso Gold của Dutch Lady, Dumex nâng cấp thành Dumex Gold của Dumex, Dielac lên Dielac Alpha có sữa non colostrum của VINAMILK
Không những bán sản phẩm, các công ty sữa đều tập trung phát triển dịch vụ hậu mãi Phổ biến nhất là lập các câu lạc bộ, cũng như trung tâm tư vấn sức khoẻ miễn phí như Enfa A+ của Mead Johnson, Anlene của Fonterra, Calcimex của Dutch Lady, Gain
Advance IQ của Abbott…, để tư vấn dinh dưỡng thường xuyên cho khách hàng của mình, kết hợp với tư vấn vềtiêu dùng sản phẩm
2.2.2 Áp lực từnhà cung cấp
2.2.2.1 Sức mạnh mặc cả của nhà cung cấp nguyên liệu sữa trong nước hạn chế
Xét về quy mô ngành chăn nuôi bò sữa, 95% số bò sữa được nuôi tại hộ gia đình, trong khi chỉ 5% được nuôi tại các trại chuyên biệt có quy mô từ 100-200 con trở lên Sự phân bổ này cho thấy nông hộ gia đình chiếm ưu thế lớn về hình thức nuôi bò sữa, còn các trại quy mô lớn đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nâng cao năng suất, chất lượng và đáp ứng nhu cầu thị trường.
Ở Việt Nam, tình trạng nuôi bò sữa tự phát dẫn tới thiếu ổn định về số lượng và chất lượng sữa, làm giảm khả năng thương lượng của các nhà cung cấp trong nước Thiếu kinh nghiệm quản lý, quy mô trang trại nhỏ và tỷ lệ rối loạn sinh sản cùng mắc bệnh ở bò sữa vẫn ở mức cao khiến người nông dân nuôi bò sữa gặp nhiều bất lợi Vì vậy, các công ty sữa trong nước nắm thế chủ động trong việc thương lượng giá thu mua sữa, ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng và giá sữa trên thị trường.
2.2.2.2 Phụ thuộc nhiều vào diễn biến giá cả nguồn nguyên liệu nước ngoài
Do trên 70% nguyên liệu đầu vào là sữa bột nhập khẩu, giá sữa bột thế giới sẽ tạo áp lực lên ngành sản xuất sữa ở Việt Nam Trong thời gian tới, giá sữa bột có xu hướng tăng, dù nguồn cung từ các nước xuất khẩu chủ yếu cho Việt Nam như New Zealand và Australia dự báo sẽ tăng nhẹ Nhu cầu nhập khẩu từ các nước châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, đang tăng lên.
Kiểm soát các hợp đồng mua sữa bột, đảm bảo cả số lượng và chất lượng, là yếu tố then chốt để tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành Tuy nhiên, với diễn biến giá sữa ngày càng khó dự báo, các nhà sản xuất trong nước vẫn ở thế bị động khi ứng phó với sự biến động của giá nguyên liệu nhập khẩu.
2.2.3.1 Các khách hàng cuối cùng, có khả năng gây áp lực lớn cho các công ty về chất lƣợng của sản phẩm
Hiện nay thị trường sữa rất đa dạng và các sản phẩm sữa có thể thay thế cho nhau, nên giá cả không phải là yếu tố được người tiêu dùng đặt lên hàng đầu khi lựa chọn sản phẩm sữa Các công ty cạnh tranh trước hết bằng chất lượng, sự đa dạng của danh mục sản phẩm và sức mạnh thương hiệu, sau đó mới đến cạnh tranh về giá cả.
2.2.3.2 Các khách hàng trực tiếp
Là các đại lý phân phối nhỏ lẻ, các trung tâm dinh dưỡng…có khả năng tác động đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng.
Trong nước, các công ty sữa cạnh tranh gay gắt với các đại lý độc quyền của các hãng sữa nước ngoài để giành các điểm phân phối chiến lược, chủ yếu thông qua chiết khấu và hoa hồng dành cho đại lý bán lẻ Những điểm phân phối như trung tâm dinh dưỡng, bệnh viện và nhà thuốc có thể nắm giữ sức mạnh đáng kể, bởi họ có thể tác động đến quyết định mua sắm của người tiêu dùng cuối bằng cách tư vấn và giới thiệu sản phẩm sữa.
2.2.4 Áp lực từ sản phẩm thay thế
Trong ngành sữa nước, số lượng sản phẩm mới rất ít do đặc thù của sữa là một nguồn dinh dưỡng thiết yếu Tuy nhiên, cạnh tranh giữa các sản phẩm cùng ngành về thị phần vẫn diễn ra gay gắt Ví dụ, sữa đậu nành và các đồ uống từ ngũ cốc, cacao có thể chiếm một phần thị phần của sữa nước, từ đó ảnh hưởng đến vị thế trên thị trường.
2.2.5 Áp lực từ những đối thủ mới Đặc điểm ngành sữa là tăng trưởng ổn định, lợi nhuận cao, thị phần đã tương đối ổn định Để gia nhập ngành đòi hỏi các công ty mới phải có tiềm lực vốn lớn để vượt qua các hàng rào gia nhập như:
Hi ệ n tr ạ ng Marketing trong th ờ i gian qua c ủ a Vinamilk
Môi trường ngành là những yếu tố nằm bên ngoài doanh nghiệp ở tầm vi mô mà nhà quản trị không kiểm soát được nhưng lại ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp Phân tích môi trường ngành giúp nhận diện rủi ro và khám phá cơ hội mà công ty đối mặt, từ đó cung cấp căn cứ cho xây dựng các chiến lược marketing hiệu quả nhằm xử lý các vấn đề phát sinh và tối ưu hóa hiệu suất kinh doanh.
Hiện nay, Vinamilk mở rộng được 135.000 điểm bán hàng trên toàn quốc
Doanh thu nội địa chiếm 90% doanh thu công ty và là thị trường chính trong chiến lược phát triển kinh doanh của công ty.
Doanh thu xuất khẩu chiếm 10% doanh thu công ty Thị trường xuất khẩu chính của công ty là: các nước khu vực Trung Đông, Campuchia, Phillipines và Úc.
Tốc độ tăng trưởng của ngành: nhu cầu của người tiêu dùng về sản phẩm sữa ngày càng tăng, mức tăng trưởng bình quân mỗi năm của ngành đạt 15.2%
Cơ cấu cạnh tranh ngành sữa Việt Nam hiện nay cho thấy Vinamilk và Dutch Lady là hai công ty sản xuất sữa lớn nhất, nắm giữ gần 60% thị phần nội địa Sữa ngoại nhập từ các hãng như Mead Johnson ngày càng có mặt rộng rãi, gia tăng cạnh tranh về chất lượng, giá cả và mẫu mã để thu hút người tiêu dùng.
Johnson, Abbott, Nestlé chiếm khoảng 20% thị phần, chủ yếu ở các sản phẩm sữa bột; còn lại khoảng 19% thị phần thuộc về hơn 20 công ty sữa quy mô nhỏ như Nutifood, Hanoi Milk, Ba Vì.
Phân khúc sữa bột đang cạnh tranh khốc liệt giữa các sản phẩm nội địa và nhập khẩu Trên thị trường sữa bột, các loại sữa nhập khẩu chiếm khoảng 65% thị phần, trong khi Vinamilk và Dutch Lady hiện nắm giữ thị phần lần lượt là 16% và 20%.
Hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất sữa trong nước đang chịu áp lực cạnh tranh ngày càng tăng do việc giảm thuế nhập khẩu sữa theo chính sách cắt giảm thuế quan của Việt Nam nhằm thực hiện cam kết CEPT/AFTA và WTO Việc giảm thuế sữa nhập khẩu làm tăng nguồn cung và thách thức đối với ngành sữa nội địa, đòi hỏi các doanh nghiệp trong nước tối ưu hóa chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng cường hiệu quả marketing để bảo vệ thị phần tại thị trường Việt Nam.
- Rào cản về công nghệ, vốn đầu tư: chi phí đầu tư ban đầu của ngành sữa rất cao cho máy móc, thiết bị, công nghệ…
- Ràng buộc với người lao động
- Ràng buộc với chính phủ, các tổ chức liên quan
- Sản phẩm thay thế với chất lượng, thị hiếu, giá cả cạnh tranh
Nhà nước đang triển khai các chính sách khuyến khích mở rộng các trang trại nuôi bò sữa và tăng cường đầu tư cho công nghệ chế biến sữa Đồng thời, các biện pháp hỗ trợ nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới nhằm nâng cao hiệu suất và chất lượng sản phẩm Mục tiêu là thay thế dần các nguyên liệu đầu vào nhập khẩu để nâng cao tự chủ nguồn cung và giảm phụ thuộc nước ngoài cho ngành chế biến sữa Việt Nam.
2.3.2 Chiến lƣợc sản phẩm Đểđạt được những thành công, thời gian qua Vinamilk đã linh hoạt điều chỉnh và sử dụng 1 cách hiệu quả các chính sách Marking áp dụng cho sản phẩm nhằm thực hiện mục tiêu đưa sản phẩm đạt chất lượng cao hơn, nâng cao hiệu quả sử dụng, hiệu quả dinh dưỡng mà Vinamilk mang lại cho người sử dụng, nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường sữa tại Việt Nam Các chính sách đó là:
Vinamilk đã thực hiện chính sách về mẫu mã và bao bì nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về thiết kế và chất lượng; để làm điều này, hãng đã bỏ ra 10% tổng chi phí đầu tư cho bao bì sản phẩm Nhờ bao bì đẹp mắt, an toàn cho sản phẩm và tiện dụng, doanh số của Vinamilk trong thời gian vừa qua đã được tăng lên đáng kể.
Chính sách đa nhãn hiệu, đa dạng hóa dòng sản phẩm
Vinamilk sở hữu danh mục sản phẩm đa dạng, nổi bật với hai sản phẩm chủ lực là sữa nước và sữa bột Bên cạnh đó, hãng còn cung cấp các sản phẩm có giá trị gia tăng như sữa đặc, sữa chua ăn và sữa chua uống, kem và phô mai, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng và ẩm thực của người tiêu dùng ở nhiều độ tuổi và thị trường.
Công ty sản xuất đa dạng chủng loại sản phẩm, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng đa dạng của khách hàng và mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường Danh mục sản phẩm phong phú cũng giúp phân tán rủi ro cho hoạt động kinh doanh, mang lại sự ổn định cho doanh thu trước những biến động của thị trường.
Các dòng sản phẩm của Vinamilk:
Sữa đặc: chiếm 34% doanh thu
Trong cơ cấu doanh thu nội địa của Vinamilk, sữa đặc là sản phẩm chiếm tỷ trọng cao nhất Năm 2007, mặt hàng này ghi nhận mức tăng trưởng 38% và nắm giữ 79% thị phần Mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2004-2007 đạt 22,7%.
Sữa tươi ( hay sữa nước): chiếm 26% doanh thu
Trong năm 2007, sữa tươi ghi nhận mức tăng trưởng 18%, chiếm khoảng 26% tổng doanh thu của công ty và là dòng sản phẩm có đóng góp thứ hai trong cơ cấu doanh thu; sữa tươi Vinamilk nắm giữ 35% thị phần và được xem là dòng sản phẩm đa dạng với nhiều nhãn hiệu Tuy nhiên, Vinamilk đã nhường lại vị trí dẫn đầu trên phân khúc thị trường này cho Dutch Lady do đối thủ có mối quan hệ công chúng mạnh mẽ và chiến lược marketing hiệu quả hơn Bình quân giai đoạn 2004-2007 đạt tốc độ tăng trưởng 31%.
Sữa bột và ngũ cốc ăn liền: chiếm 24% doanh thu
Năm 2007, sữa bột chiếm 24% doanh thu của Vinamilk Vinamilk là một trong ba công ty dẫn đầu thị trường sữa bột tại Việt Nam, cùng với Abbott và Dutch Lady, và nắm 14% thị phần Doanh thu từ sữa bột phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu.
Sữa chua: chiếm 10% doanh thu
Vinamilk chiếm thị phần đáng kể trong ngành sữa chua với 26% thị phần của sữa chua uống và 96% thị phần của sữa chua ăn; năm 2007, dòng sản phẩm sữa chua Vinamilk đạt mức tăng trưởng 10% so với năm 2006, và giai đoạn 2004–2007 ghi nhận mức tăng trưởng bình quân lên tới 26,2% mỗi năm.
Sản phẩm khác: chiếm 6% doanh thu
Chính sách chất lƣợng sản phẩm
Nguyên liệu sữa luôn là mối quan tâm hàng đầu của các công ty sữa, bởi nguồn sữa hiện nay chủ yếu nhập khẩu với giá cao và dễ bị đứt quãng cung ứng Để khắc phục, nhiều chiến lược đã được triển khai, nổi bật là kiểm soát chất lượng sữa tươi bằng ký lại hợp đồng có điều khoản bắt buộc và tuyệt đối không nhận sữa từ người vắt sữa thuê Bên cạnh đó, các công ty liên doanh phối hợp xây dựng trung tâm huấn luyện kỹ thuật nuôi bò sữa tại các tỉnh nhằm chủ động nguồn nguyên liệu cho các nhà máy, đảm bảo sản xuất ổn định và lâu dài Lãnh đạo Vinamilk cũng đặt mục tiêu phát triển nguồn nguyên liệu nội địa và giảm dần nhập khẩu nguyên liệu sữa, nhờ đó đã giải quyết căn bản vấn đề nguồn sữa đầu vào.
Chính sách đổi mới, nâng cao công nghệ sản xuất sản phẩm
Vinamilk đã không ngừng đổi mới công nghệ, nâng cao công tác quản lý và chất lượng sản phẩm
Nghiên cứu hàng vi mua hàng và mức độ hài lòng của khách hàng đố i v ớ i s ả n ph ẩ m s ữ a
Khảo sát mẫu gồm 50 khách hàng đã sử dụng sữa Vinamilk nhằm phân tích hành vi mua hàng và mức độ hài lòng về sản phẩm, từ đó rút ra các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua Kết quả cho thấy chất lượng sản phẩm, hương vị, giá cả cạnh tranh, bao bì và sự tin tưởng vào thương hiệu là các yếu tố then chốt ảnh hưởng hành vi mua hàng của người tiêu dùng sữa Vinamilk Trên cơ sở những phát hiện này, đề xuất các giải pháp marketing như tăng cường quảng bá giá trị cốt lõi của Vinamilk, cải tiến chất lượng sản phẩm và mở rộng các dịch vụ giá trị gia tăng để nâng cao trải nghiệm khách hàng Các biện pháp này nhằm nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng, kích thích mua hàng lặp lại và củng cố thị phần trên thị trường sữa Việt Nam.
Thiết kế bảng câu hỏi với cấu trúc sau:
- Câu hỏi về nhân khẩu
Sử dụng phần mềm SPSS xửlý dữ liệu từ kết quả khảo sát.
Qua khảo sát và phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS, chúng tôi công bố một số biểu đồ mô tả hành vi của khách hàng và mức độ hài lòng khi sử dụng sữa Vinamilk Các biểu đồ cho thấy xu hướng mua hàng, tần suất sử dụng và mức độ hài lòng theo từng dòng sản phẩm sữa Vinamilk, đồng thời làm nổi bật các yếu tố ảnh hưởng như chất lượng, hương vị và giá thành Kết quả cho thấy khách hàng đánh giá cao chất lượng sản phẩm và mức độ hài lòng ở mức ổn định, với một số nhóm khách hàng tiềm năng cần được chăm sóc đặc biệt Dữ liệu được thu thập từ khảo sát và phân tích bằng SPSS, nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan cho chiến lược tiếp thị và cải thiện trải nghiệm người dùng đối với sữa Vinamilk.
Biểu đồ 1: Đánh giá mức độ thường xuyên sử dụng sữa Vinamilk?
Mức độ sử dụng sữa thường xuyên chỉ chiếm 26%, thỉnh thoảng là 42% cho đối tượng là nhân viên văn phòng là 56% và 24% đối tượng là bà nội trợ
Biểu đồ 2: Chi phí khách hàng bỏ ra mua sữa uống cho 1 lần:
Đối tượng phỏng vấn chủ yếu là công nhân viên và bà nội trợ, cho thấy mục đích mua sữa uống cho bữa sáng hoặc như thức ăn bổ sung Kết quả cho thấy 44% người tiêu dùng chi từ 20.000 đến 100.000 VND cho sữa, trong khi 36% chi dưới 20.000 VND.
Biểu đồ 3 : Thể hiện kênh phân phối được khách hàng lựa chọn :
Qua khảo sát thì khách hàng mua ở siêu thị chiếm 46%, mua tại chợ là 32%, còn lại là 22% khách hàng mua ở tạp hoá
Sau đây là một số kết quả khảo sát mức độ hài lòng của khách hàng về chất lượng sản phẩm, bao bì, giá cả, mùi vị sữa…
Biểu đồ 4: Đánh giá về nội dung quyết định chọn mua sữa liên quan đến chất lượng :
Theo biểu đồ, 44% khách hàng không có ý kiến về chất lượng sữa Vinamilk, cho thấy phần lớn khách hàng đang ở trạng thái trung lập về chất lượng sản phẩm Đây là dấu hiệu quan trọng để Vinamilk tập trung cải thiện chất lượng sữa và trải nghiệm người dùng nhằm chuyển đổi sự trung lập thành hài lòng thực sự, từ đó tăng sức cạnh tranh trên thị trường sữa Việt Nam.
Biểu đồ 5: Đánh giá về nội dung Quyết định mua sắmliên quan đến màu sắc :
Quyết định chọn mua sữa liên quan đến màu sắc khách hàng cho là không quan trọng chiếm 30%
Biểu đồ 6: Đánh giá về nội dung Quyết định mua sắm liên quan đến mùi vị :
Qua biểu đồ ta thấy được khách hàng khá quan tâm đến mùi vị của sữa, dẫn đến
Vinamilk luôn tạo ra những loại sữa với những mùi vị đậc trưng nên sữa của Vinamilk luôn được khách hàng ưa chuộm
Biểu đồ 7: Đánh giá về nội dung quyết định chọn mua sắm liên quan đến giá cả:
Biểu đồ 8: Đánh giá về nội dung quyết định chọn mua sữa liên quan đến mẫu mã :
Biểu đồ 14: Đánh giá về nội dung Quyết định chọn mua sữa liên quan đến khuyến mãi :
Hình thành ma trậ n SWOT
Để tối ưu chiến lược cạnh tranh, bài viết tập trung phân tích SWOT nhằm đánh giá sâu các điểm mạnh và điểm yếu của công ty ở các yếu tố mạng lưới, sản phẩm và thương hiệu; từ những điểm mạnh này, doanh nghiệp có thể tận dụng tối đa cơ hội trên thị trường, đồng thời nhận diện và khắc phục các mặt yếu kém để vượt qua các thách thức từ môi trường bên ngoài.
+ Thương hiệu mạnh, thị phần lớn
+ Mạng lưới phân phối rộng khắp (64 tỉnh thành)
+ Danh mục sản phẩm đa dạng và mạnh
+ Dây chuyền sản xuất tiên tiến
+ Ban lãnh đạo có năng lực quản lý tốt
+ Quan hệ bền vững với các đối tác.
+ Đội ngũ tiếp thị và nghiên cứu sản phẩm giàu kinh nghiệm ĐIỂM YÉU
+ Chủ yếu tập trung sản phẩm vào thị trường trong nước
+ Hoạt động Marketing của công ty chủ yếu tập trung ở miền Nam
+ Các chính sách ưu đãi của chính phủ về ngành sữa (phê duyệt 2000 tỷ cho các dự án phát triển ngành sữa đến
+ Nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định
(vinamilk cũng chủ động đầu tư, xây dựng các nguồn đầu tư, xây dựng các nguồn nguyên liệu phục vụ nhu cầu của doanh nghiệp)
+ Gia nhập WTO: mở rộng thị trường, kinh doanh, học hỏi kinh nghiệm
+ Nền kinh tế không ổn định (lạm phát, khủng hoảng kinh tế )
+ Gia nhập WTO: xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh
+ Tình hình chính trị trên thế giới còn nhiều bất ổn.