1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÁO cáo cập NHẬT NGÀNH XI MĂNG triển vọng sau đại dịch covid 19

15 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo cập nhật ngành xi măng triển vọng sau đại dịch Covid-19
Tác giả Nguyễn Lý Thanh Lương
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Kim Chi Phó giám đốc phân tích đầu tư
Thể loại Báo cáo cập nhật
Năm xuất bản 2020
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 830,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này đồng nghĩa với việc, tiêu thụ xi măng trên các thị trường hiện t ại sẽ có thể giảm sâu trong năm 2020, đặt áp lực lên khả năng cạnh tranh và duy trì ho ạt động của các doanh ng

Trang 1

BÁO CÁO C ẬP NHẬT

Tháng 04/2020

“Đại dịch Covid-19 đặt ra thách thức lớn đối với ngành xi măng VIệt Nam Không

ch ỉ là sự kiện làm gián đoạn tới các hoạt động của ngành trong một tháng hoặc quý, d ịch Covid-19 còn tác động trực tiếp đến quá trình thoái trào về nhu cầu tiêu

th ụ xi măng đã diễn ra trong nhiều năm

tr ở lại đây Điều này đồng nghĩa với việc, tiêu thụ xi măng trên các thị trường hiện

t ại sẽ có thể giảm sâu trong năm 2020, đặt áp lực lên khả năng cạnh tranh và duy trì ho ạt động của các doanh nghiệp

xi măng Việt Nam trong thời gian tới.”

ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC KÉO

Nguy ễn Lý Thanh Lương

Chuyên viên Phân tích Email: luongnlt@fpts.com.vn

Điện thoại: (8424) – 3773 7070

Ext: 4309

Người phê duyệt báo cáo

Nguy ễn Thị Kim Chi

Phó giám đốc phân tích đầu tư

Trang 2

TIÊ U ĐIỂM NGÀNH XI MĂNG VIỆT NAM

Ho ạt động sản xuất xi măng chưa bị ảnh hưởng trong thời gian diễn biến dịch Covid-19 Trong QI/2020,

sản lượng xi măng sản xuất tăng nhẹ 3% so với cùng kỳ năm 2019 và hoạt động sản xuất tại các nhà máy được duy trì bình thường, kể cả trong thời gian Việt Nam áp dụng biện pháp cách ly toàn xã hội Yếu tố đầu vào cho sản xuất đang có sự thuận lợi nhất định khi các Bộ đã và đang đề xuất thực hiện giảm một số chi phí như than, điện hay thuế khai thác tài nguyên trong năm nay đễ hỗ trợ kinh tế Việt Nam sau đại dịch Covid-19

Ho ạt động xuất khẩu bị gián đoạn do dịch bệnh ảnh hưởng đến nhu cầu tại các thị trường xuất khẩu

Nhu cầu tiêu thụ xi măng tại các thị trường xuất khẩu xi măng chính của Việt Nam như Trung Quốc, Philippines

và Bangladesh giảm từ 15-20% trong quý I/2020 Do tác động của dịch Covid-19, chính phủ tại các nước này

đã có các biện pháp cứng rắn trong thời gian phong tỏa quốc gia, gây ra đình trệ tới nhiều đơn hàng xuất

khẩu của các doanh nghiệp xi măng tới các thị trường tại đây Dự kiến sau đại dịch, nhu cầu xuất khẩu sẽ hồi

phục chậm do áp lực tồn kho cao tại nhiều quốc gia trong khu vực trong giai đoạn đầu năm 2020, dẫn tới tình hình cạnh tranh gia tăng trên thị trường xuất khẩu xi măng trong thời gian tới

Nhu c ầu tiêu thụ trong nước có thể không tăng trưởng trong cả năm 2020 Chúng tôi dự báo nhu cầu xi măng nội địa của Việt Nam năm 2020 đạt 68 triệu tấn, chỉ tương đương mức tiêu thụ năm 2019 Cụ thể, hoạt động xây dựng nhà không để ở (nhà máy, khu công nghiệp, khách sạn, … ), vốn là phân khúc đóng góp mức tăng trưởng cao cho nhu cầu xây dựng trong giai đoạn vừa qua bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những tác động

của dịch Covid-19 do suy giảm về lượng khách du lịch và dòng vốn FDI vào Việt Nam Bên cạnh đó, các phân

đáng kể nào trong khi nhu cầu xây mới tiếp tục có mức tăng trưởng thấp trong giai đoạn nửa cuối năm 2020

Chúng tôi nh ận định tiêu cực với kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp xi măng cho cả năm 2020

Trong đó 2 nhóm doanh nghiệp chịu ảnh hưởng lớn nhất trong năm nay là (1) Nhóm doanh nghiệp có tỷ trọng

xuất khẩu cao trong cơ cấu tiêu thụ và (2) Nhóm doanh nghiệp đang có tình trạng tài chính yếu kém Trong QI/2020, hai nhóm doanh nghiệp này đều có mức sụt giảm từ 5 - 10% về doanh thu so với cùng kỳ năm 2019

Một số doanh nghiệp đang có tồn kho rất lớn, đi kèm với công nợ tăng vọt và sụt giảm về khả năng tiêu thụ Trong đó, ước tính khoảng 20% số doanh nghiệp trong ngành được chúng tôi đưa vào diện cảnh bảo mất an toàn về tài chính và nhiều doanh nghiệp có khả năng thua lỗ lớn trong năm nay

KHUY ẾN NGHỊ ĐẦU TƯ VÀO NGÀNH

Chúng tôi đưa ra khuyến nghị KHÔNG ĐẦU TƯ đối với cổ phiếu của các doanh nghiệp ngành xi măng trong năm

2020 Mặc dù dịch Covid-19 đang dần được kiểm soát tại Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới, cùng với giá

cổ phiếu của nhiều doanh nghiệp xi măng đã giảm trung bình khoảng 10 – 20% từ đầu năm đến nay, chúng tôi chưa nhận thấy có bất kỳ triển vọng hồi phục nào trong ngắn hạn đối với ngành xi măng Việt Nam, cũng như đặt

kỳ vọng rất thấp vào kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp xi măng trong giai đoạn còn lại của năm 2020

Trang 3

A TRI ỂN VỌNG NGÀNH XI MĂNG VIỆT NAM SAU ĐẠI DỊCH COVID-19 3

I Ho ạt động sản xuất 3

1 Sản xuất xi măng chưa bị ảnh hưởng trong thời gian diễn biến dịch Covid-19 3

2 Một số doanh nghiệp đang gặp khó khăn về nguồn vốn sản xuất trong ngắn hạn 4

3 Nguồn cung từ các nhà máy mới tăng mạnh vào nửa cuối năm 2020 4

II Tình hình xu ất khẩu - Triển vọng từ xuất khẩu xi măng 4

1 Hoạt động xuất khẩu gián đoạn vì ảnh hưởng của Covid-19 đến các thị trường chính 4

2 Nhu cầu xuất khẩu sẽ khó khăn trước áp lực tồn kho tại nhiều quốc gia sau đại dịch 5

3 Chờ đợi cơ hội xuất khẩu sang một số thị trường mới hấp dẫn hơn 5

III Tình hình tiêu th ụ nội địa – Triển vọng từ nhu cầu vật liệu xây dựng trong nước 6

1 Nhiều hoạt động xây dựng trong trong nước bị trì hoãn do ảnh hưởng của dịch bệnh 6

2 Nhu cầu từ thị trường xây dựng trong nước có thể không tăng trưởng trong năm 2020 7

3 Cạnh tranh trên thị trường xi măng trong nước có thể đạt đỉnh trong năm nay 9

IV D ự báo ngành xi măng Việt Nam năm 2020 9

B TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH COVID-19 TỚI KQKD QUÝ I VÀ KẾ HOẠCH NĂM 2020 CỦA MỘT SỐ DOANH NGHI ỆP XI MĂNG VIỆT NAM 10

I Nh ận định chung về các nhóm doanh nghiệp xi măng 10

1 CTCP Xi măng Bỉm Sơn (HNX: BCC) 10

2 CTCP Xi măng và Xây dựng Quảng Ninh (HNX: QNC) 11

3 CTCP Xi măng VICEM Hà Tiên (HSX: HT1) 12

II Khuy ến nghị đầu tư cổ phiếu ngành xi măng 13

Trang 4

A TRI ỂN VỌNG NGÀNH XI MĂNG VIỆT NAM SAU ĐẠI DỊCH COVID-19

Dịch bệnh Covid-19 bùng phát từ thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, với ca bệnh đầu tiên được phát

hiện vào khoảng tháng 11/2019 Tới thời điểm hiện tại (ngày 24/04/2020), dịch bệnh đã kéo dài gần 5 tháng, lan

rộng tới 210 quốc gia và vùng lãnh thổ Dịch Covid-19 gây ra các tác động tiêu cực tới nhiều lĩnh vực sản xuất và kinh doanh, trong đó bao gồm hoạt động sản xuất và tiêu thụ xi măng tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới Trong QI/2020, các doanh nghiệp xi măng Việt Nam ước tính thiệt hại 2,8 nghìn tỷ đồng về doanh thu (-8% YoY)

Dịch bệnh Covid-19 đã tác động trực tiếp tới các thị trường tiêu thụ của Việt Nam như (1) làm gián đoạn hoạt động xuất khẩu sang các thị trường tiêu thụ chính là Trung Quốc, Philippines và Bangladesh, (2) làm chậm tiến

độ các công trình trong nước và gây suy giảm về nhu cầu xây dựng nội địa Theo số liệu của Hiệp hội Xi măng

Việt Nam và Tổng cục Hải quan, so với cùng kỳ năm 2019, sản lượng tiêu thụ toàn ngành trong QI/2020 ước tính

giảm gần 12% YoY, với sản lượng xuất khẩu giảm 15% YoY và tiêu thụ trong nước giảm 11% YoY Tồn kho toàn ngành trong Q1/2020 tăng mạnh lên mức 4,8 triệu tấn, tương đương với khoảng 30 - 45 ngày tiêu thụ

Cơ cấu tiêu thụ xi măng tại Việt Nam S ản lượng tiêu thụ xi măng Việt Nam giai đoạn 2015 – QI/2020

Ngu ồn: Hiệp hội Xi măng Việt Nam, FPTS tổng hợp

Cho tới thời điểm hiện tại, dịch bệnh đã có dấu hiệu lắng xuống và các hoạt động của ngành xi măng sẽ có thể

sớm ổn định trở lại Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp xi măng Việt Nam đang gặp khó khăn để phục hồi vì ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh trong nửa đầu năm 2020 tới sức khỏe tài chính và hoạt động kinh doanh, đi kèm

với những dấu hiệu suy giảm rõ rệt về nhu cầu tiêu thụ xi măng sau đại dịch

I Ho ạt động sản xuất

1 S ản xuất xi măng chưa bị ảnh hưởng trong thời gian diễn biến dịch Covid-19

S ản lượng sản xuất xi măng theo tháng Dự kiến biến động chi phí đầu vào cho SX xi măng

Ngu ồn: Tổng cục Thống kê, Bộ Tài chính, S&P Global Platts, FPTS tổng hợp

Trong QI/2020, sản lượng sản xuất của các nhà máy đạt 21,4 triệu tấn, tăng nhẹ 3% so với QI/2019 Nguồn cung

xi măng trên thị trường không bị ảnh hưởng do các nhà máy được phép hoạt động bình thường, kể cả trong thời gian Việt Nam áp dụng biện pháp cách ly toàn xã hội Các yếu tố đầu vào cho hoạt động sản xuất cũng có sự thuận lợi nhất định khi các chi phí sản xuất như chi phí than (~30% chi phí sản xuất) từ nguồn nhập khẩu đang

giảm do nhu cầu than giảm tại 3 thị trường tiêu thụ lớn nhất là Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ ảnh hưởng bởi đại dịch Đồng thời, các Bộ, ban ngành Việt Nam đề xuất giảm một số chi phí có liên quan tới ngành xi măng như giá điện

sản xuất, giá than trong nước, thuế tài nguyên trước những ảnh hưởng của dịch Covid-19 tới nền kinh tế Trong

đó, đề xuất giảm 10% giá điện sản xuất đã được chính phủ phê duyệt, áp dụng từ tháng 4 đến hết tháng 6/2020

Xây dựng nhà ở, 31%

Cơ sở hạ tầng, 22%

Xây dựng nhà

không để ở, 12%

Xuất khẩu

35%

Tổng tiêu thụ -12% YoY

0 30 60 90 120

2015 2016 2017 2018 2019 Q1/2019 Q1/2020

Nội địa Xuất khẩu

0

2

4

6

8

10

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

Tháng Năm 2019 Năm 2020

-10,0% -11,3% -10,0%

0,0%

-8,6% -15%

-10%

-5%

0%

Điện Than Đá vôi

đất sét Nhâncông Trung bình

QI/2020 Dự kiến trong năm 2020

Trang 5

2 M ột số doanh nghiệp đang gặp khó khăn về nguồn vốn sản xuất trong ngắn hạn

Mặc dù hoạt động sản xuất không bị gián đoạn bởi dịch Covid-19, nhu cầu tiêu thụ sụt giảm trong giai đoạn đầu năm đang khiến một số doanh nghiệp sản xuất gặp khó khăn để duy trì hoạt động Theo ghi nhận của chúng tôi,

năng thanh toán các khoản chi phí hoạt động đến hạn do sản phẩm tiêu thụ chậm và tình hình tồn kho kéo dài Các doanh nghiệp trên đang nằm trong khoảng 20% số doanh nghiệp trong ngành có tình hình tài chính yếu kém như mức nợ vay cao, thâm hụt về nguồn vốn ngắn hạn hoặc HĐKD thua lỗ trong nhiều năm Trong bối cảnh sản lượng tiêu thụ QI/2020 sụt giảm cùng với công nợ và tồn kho gia tăng làm thâm hụt nguồn vốn SXKD, doanh nghiệp đang xin các biện pháp hỗ trợ từ chính phủ như hoãn nộp thuế, hoãn tiền thuê đất hoặc xin miễn giảm lãi vay, gia hạn nợ từ ngân hàng Tuy nhiên, thời gian phê duyệt các biện pháp hỗ trợ có thể kéo dài, cũng như thủ

tục chứng minh ngành nghề bị ảnh hưởng trực tiếp từ dịch bệnh rất phức tạp Một số doanh nghiệp có thể không

nhận được sự hỗ trợ kịp thời và phát sinh các rủi ro nghiêm trọng về tài chính

3 Ngu ồn cung từ các nhà máy mới tăng mạnh vào nửa cuối năm 2020

Trong 3 quý còn lại của năm 2020, sẽ có 4 nhà máy mới đi vào vận hành với công suất 8 triệu tấn/năm (tương đương với 9% tổng công suất xi măng của Việt Nam hiện tại) gồm: Nhà máy 2 triệu tấn/năm của xi măng Tân

rộng 1,5 triệu tấn/năm của FICO Tây Ninh (Tây Ninh) và nhà máy 2 triệu tấn/năm của xi măng An Phú (Bình Phước) Trong tình hình kém khả quan của ngành xi măng trong năm 2020, lượng công suất tăng thêm đáng kể này có thể dẫn tới tính trạng dư thừa lớn về nguồn cung, đi kèm áp lực cạnh tranh gia tăng giữa các doanh nghiệp (chủ yếu là cạnh tranh về giá) gây trở ngại tới khả năng hồi phục của các doanh nghiệp xi măng sau đại dịch

II Tình hình xu ất khẩu - Triển vọng từ xuất khẩu xi măng

1 Ho ạt động xuất khẩu gián đoạn vì ảnh hưởng của Covid-19 đến các thị trường chính

Xu ất khẩu xi măng Việt Nam 2019 - QI/2020 Thị phần xuất khẩu của các DN xi măng VN

Nguồn: Hiệp hội Xi măng Việt Nam, FPTS tổng hợp

Thị trường xuất khẩu Việt Nam phụ thuộc vào 3 thị trường xuất khẩu xi măng chính (đóng góp tới 74% sản lượng

xuất khẩu) gồm: Trung Quốc (49%), Philippines (15%) và Bangladesh (10%) Các thị trường này đều bị gián đoạn dài ngày trong Q1 và Q2/2020 do dịch Covid-19, trong đó: Trung Quốc phong tỏa diện rộng trên cả nước trong tháng 2, Philippines phong tỏa trong tháng 3 (kéo dài sang tháng 4) và Bangladesh phong tỏa trong tháng 4 Mặc

dù lưu thông hàng hóa qua đường biển (tuyến đường vận chuyển chính của xi măng xuất khẩu) được phép hoạt động bình thường, các biện pháp cứng rắn của chính phủ tại các quốc gia này trong giai đoạn phong tỏa như (1) nghiêm cấm đi lại trừ các mục đích thiết yếu (2) tạm dừng các hoạt động xây dựng, sản xuất (3) tăng cường rà soát y tế tại các khu vực giao thương như cảng biển đã gây đình trệ với nhiều đơn hàng xuất khẩu

Dự kiến các thị trường xuất khẩu chính sẽ hồi phục chậm sau đại dịch Theo ghi nhận của tập đoàn logistic và

hậu cần quốc tế Agility, hoạt động xuất khẩu hàng hóa đến các quốc gia và khu vực có lệnh phong tỏa mất khoảng

từ 1 – 2 tuần sau khi lệnh phong tỏa được gỡ bỏ để có thể trở lại mức hoạt động bình thường Tuy nhiên, theo đánh giá của Hiệp hội Xi măng thế giới, thị trường tại Philippines hay Bangladesh có thể mất ít nhất 1 tháng hoặc lâu hơn để hồi phục do các nước này kiểm soát dịch bệnh kém hiệu quả sẽ khiến nền kinh tế tái khởi động chậm

Hiện hoạt động xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc đã trở lại nhịp độ bình thường sau gần 2 tháng bị trì hoãn

-22% -18%

-41%

+13%

-50%

0%

50%

100%

-1,0

0,0

1,0

2,0

Trung Quốc Philippines Bangladesh TT khác

2T2019 2T2020 Giảm so với cùng kỳ % Thay đổi

Khối VICEM 16%

Khối tư nhân và địa phương, 46%

Khối FDI 38%

Trang 6

2 Nhu c ầu xuất khẩu sẽ khó khăn trước áp lực tồn kho tại nhiều quốc gia sau đại dịch

S ản lượng và giá xi măng xuất khẩu của top các quốc gia xuất khẩu xi măng trên thế giới

Ngu ồn: Global Cement, Tổng cục Hải Quan, UN Comtrade, FPTS tổng hợp

Tiêu thụ xi măng nội địa giai đoạn đầu năm 2020 tại các quốc gia trên thế giới gặp nhiều khó khăn vì ảnh hưởng

bởi dịch Covid-19 Đặc biệt, tiêu thụ nội địa trong QI/2020 tại các nước xuất khẩu xi măng lớn có sự sụt giảm

tính sản lượng tồn kho của một số doanh nghiệp tại các quốc gia này đã lên tới 3- 5 tuần tiêu thụ, gây áp lực cạnh tranh giảm giá bán trên thị trường xuất khẩu để giải phóng lượng xi măng tồn kho Do đó, cạnh tranh tại các thị trường xuất khẩu xi măng trong khu vực đang trở nên gay gắt, cùng với mặt bằng giá xuất khẩu nhìn chung cũng

đã giảm đáng kể so với năm ngoái và tiến sát mức giá của các doanh nghiệp Việt Nam, gây áp lực lớn đến triển

vọng xuất khẩu của ngành xi măng Việt Nam trong ngắn hạn

3 Ch ờ đợi cơ hội xuất khẩu sang một số thị trường mới hấp dẫn hơn

Th ị trường Ấn Độ

Đầu tư công Ấn Độ giai đoạn 2015 – 2020F S ản lượng tiêu thụ xi măng Ấn Độ 2015 – 2020F

Ngu ồn: Bộ Tài chính Ấn Độ, IBEF, FPTS ước tính

Thị trường Ấn Độ có 1,3 tỷ dân, đứng thứ hai thế giới về sản lượng tiêu thụ xi măng với 328 triệu tấn xi măng tiêu

thụ năm 2019 (8% tiêu thụ xi măng của thế giới), nhưng tiêu thụ xi măng trên đầu người chỉ mới đạt 195kg, thấp hơn đến 60% so với mức tiêu thụ trung bình của các nước đang phát triển (500kg/người) theo cơ quan Năng lượng Ấn Độ đề cập Mặc dù nước này đang gặp khó khăn để chống lại sự lan rộng của dịch Covid-19, thị trường

xi măng tại đây vẫn đang trong trạng thái sức khỏe tốt khi nhận được hỗ trợ từ gói chính sách đầu tư cơ sở hạ

tầng lớn nhất từ trước đến nay, trong kế hoạch thúc đẩy tăng trưởng kinh tế sau đại dịch Covid-19 Tổng gói đầu

tư là 1.390 tỷ USD trong 5 năm (280 tỷ USD hàng năm), gấp 2,8 lần so với mức chi tiêu hạ tầng hiện tại của Ấn

Độ, đi kèm với sản lượng xi măng hàng năm sử dụng cho xây dựng cơ sở hạ tầng sẽ tăng gấp rưỡi (+40 triệu

tấn/năm) cho tới năm 2025 Mức giá xuất khẩu của xi măng Việt Nam tại thị trường Ấn Độ hiện ở mức 61 USD/tấn (là giá FOB, đã bao gồm chi phí vận chuyển đường biển), thấp hơn tới 8% so với giá xi măng nội địa tại Ấn Độ (66 USD/tấn) Trong năm 2019, Ấn Độ mới chỉ nhập khẩu 3,8 triệu tấn xi măng (0,8% sản lượng tiêu thụ) nhưng con số này có thể đóng góp xấp xỉ 11% sản lượng xuất khẩu xi măng của Việt Nam, cho thấy tiềm năng phát triển

của thị trường xuất khẩu này trong thời gian sắp tới

Tổng xuất khẩu -15% YoY

0

20

40

60

80

100

2015 2016 2017 2018 2019 2019Q1 2020Q1

Trung Quốc Indonesia Thái Lan

Việt Nam Thổ Nhĩ Kỳ

38,3 39,1 42 38,6

Việt Nam Thái Lan Trung Quốc Thổ Nhĩ Kỳ

USD/tấn Giá FOB Q1/2019 Giá FOB Q1/2020

7,0 8,5 9,2 10,2 10,0

20,0

0

5

10

15

20

25

2015 2016 2017 2018 2019 2020E

257 269 272 296 315

358

0 100 200 300 400

2015 2016 2017 2018 2019 2020F

Trang 7

Th ị trường Mỹ

Đầu tư công Mỹ giai đoạn 2015 – 2020F S ản lượng tiêu thụ xi măng Mỹ 2015 – 2020F

Ngu ồn: Văn phòng Ngân sách Quốc hội Hoa Kỳ, FPTS ước tính

Tới thời điểm hiện tại, Mỹ đang là quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi dịch bệnh Covid-19, cũng như là quốc gia có những chính sách và các gói cứu trợ kinh tế sau đại dịch lớn nhất đang được áp dụng và xem xét Một trong những chính sách đang chờ phê duyệt có tác động lớn đến hoạt động xây dựng và tiêu thụ xi măng tại quốc gia này bao gồm (1) Gói chi tiêu thứ 4 của chính phủ Mỹ trị giá 2.000 tỷ USD cho cơ sở hạ tầng để đối phó với tác động của dịch bệnh Covid-19 và (2) Đạo luật hành động Sửa chữa hệ thống giao thông mặt đất Mỹ (F.A.S.T Act) mới trị giá 288 tỷ USD, trong đó đề xuất tăng ngân sách cho việc xây dựng cầu đường thêm 27% từ mức

226 tỷ USD của các năm trước Chính phủ Mỹ đang chờ phê duyệt 2 gói chi tiêu lớn này, tuy nhiên sẽ có thể chưa hoàn thành được trong năm 2020 Mức giá xuất khẩu của xi măng Việt Nam tại thị trường Mỹ hiện ở mức

122 USD/tấn (là giá FOB, đã bao gồm chi phí vận chuyển đường biển), thấp hơn 6% so với giá xi măng nội địa

tại Mỹ (130 USD/tấn) Trong năm 2019, Mỹ nhập khẩu 16,5 triệu tấn xi măng (16% sản lượng tiêu thụ của Mỹ), trong đó 26% sản lượng đến từ Trung Quốc và 11% đến từ thị trường Việt Nam

III Tình hình tiêu th ụ nội địa – Triển vọng từ nhu cầu vật liệu xây dựng trong nước

1 Nhi ều hoạt động xây dựng trong trong nước bị trì hoãn do ảnh hưởng của dịch bệnh

*Đây là chỉ số thể hiện mức độ lạc quan của các doanh nghiệp xây dựng = % Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo xu hướng sản xuất tốt hơn - % Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo xu hướng sản xuất khó khăn hơn Giá trị âm lớn thể hiện nhận định kém lạc quan của các doanh nghiệp về KQKD trong các quý tới

Nguồn: Tổng cục Thống kê, FPTS tổng hợp

Theo khảo sát của Hiệp hội vật liệu xây dựng Việt Nam trong các tháng đầu năm 2020, doanh thu của các nhà phân phối, đại lý bán vật liệu tại các thị trường xây dựng chính là Hà Nội và TP.HCM phần lớn đều có nhu cầu

sụt giảm khoảng 15 - 20% so với cùng kỳ Nguyên nhân là do sự trì hoãn của nhiều công trình xây dựng dự tính

khởi công sau dịp Tết Nguyên đán, đã chọn dời lịch sang thời điểm khác trong năm do lo ngại về thời gian hoàn thành cũng như chi phí xây dựng tăng cao trong thời điểm dịch Covid-19 bùng phát Đồng thời, các quy định trong tháng 4 về việc dừng các hoạt động kinh doanh không thiết yếu (bao gồm kinh doanh vật liệu xây dựng), tạm

dừng hoạt động thi công xây dựng và hạn chế đi lại trong thời gian cách ly toàn xã hội trong gần 1 tháng cũng ảnh hưởng lớn tới nhu cầu vật liệu xây dựng trên cả nước Theo khảo sát của Tổng cục Thống kê mức độ lạc quan về KQKD (thể hiện qua chỉ số cân bằng xu hướng ngành) trong QI/2020, các doanh nghiệp xây dựng đang

nhận định khá tiêu cực về nhu cầu xây dựng trong các quý tới Theo đó, dựa trên các hợp đồng xây dựng đang

và sắp triển khai, nhiều nhà thầu thi công nhận định rằng tốc độ xây dựng sẽ diễn ra chậm trong các quý còn lại

của năm, với lý do liên quan đến những lo ngại về tình trạng nợ đọng với các khách hàng bất động sản , thiếu hụt nhân công do lệnh hạn chế đi lại ở một số địa phương và các dự án mới trì hoãn trong năm nay

447 448,3 440,5 452 469,5

563,4

0

200

400

600

2015 2016 2017 2018 2019E 2020F

92,15 95,15 97,16 98,48 102 112,2

0 30 60 90 120

2015 2016 2017 2018 2019 2020F

-22%

-6%

-29%

-30%

-20%

-10%

0%

QI/2018 QIII/2018 QI/2019 QII/2019 QIII/2019 QIV/2019 QI/2020 QII/2020

Chỉ số cân bằng về tình hình sản xuất kinh doanh ngành xây dựng*

Trang 8

2 Nhu c ầu từ thị trường xây dựng trong nước có thể không tăng trưởng trong năm 2020

Ho ạt động xây dựng nhà không để ở (12% tiêu thụ ngành xi măng) đóng băng sau đại dịch

Là phân khúc đóng góp tăng trưởng cao nhất cho hoạt động xây dựng trong nước (tăng trưởng trung bình 10,6% giai đoạn 2015 -2019), hai phân khúc chính của thị trường xây dựng nhà không để ở là phân khúc xây dựng cơ

sở lưu trú, khách sạn và phân khúc xây dựng công nghiệp đang có những diễn biến tiêu cực trong nửa đầu năm nay dưới tác động của dịch Covid-19 Nếu những ảnh hưởng từ dịch bệnh kéo dài, thị trường này sẽ có mức

giảm sâu trong nhiều năm trở lại đây, ảnh hưởng đến một kênh tiêu thụ quan trọng của ngành xi măng

Công su ất lấp đầy trung bình phòng khách sạn 3-5 sao (Ngu ồn: Hiệp hội Du lịch Việt Nam, CBRE, FPTS tổng hợp)

Trong QI/2020, hoạt động của các khách sạn và cơ sở lưu trú trên

cả nước chịu ảnh hưởng mạnh từ dịch Covid-19, với công suất lấp đầy phòng khách sạn tại các thành phố lớn giảm từ 30 đến 50% so

với cuối năm 2019 Trong năm nay, nếu lượng khách du lịch đến

Việt Nam giảm từ 70 - 80% theo kịch bản của Tổng cục Du lịch, nhiều doanh nghiệp trong ngành này có thể phải ngừng hoặc thu

hẹp hoạt động, ảnh hưởng tiêu cực tới nhu cầu xây mới các khách

sạn, cơ sở lưu trú trên cả nước

S ố lượng phòng khách sạn xây mới tại Hà Nội và TPHCM (Ngu ồn: JLL Việt Nam, FPTS tổng hợp)

trong năm 2020 sẽ có mức giảm sâu do (1) Hoạt động du lịch sụt

giảm trong năm nay sẽ khiến nhiều cơ sở lưu trú lớn phải sang nhượng, dẫn đến các hoạt động mua lại các cơ sở lưu trú sẵn có

diễn ra nhiều hơn thay vì xây thêm dự án mới, (2) Từ trước khi đại

dịch Covid-19 bùng phát, nguồn cung khách sạn tại nhiều địa điểm

du lịch như Đà Nẵng, Nha Trang đã trong tình trạng dư thừa nghiêm

trọng (với công suất phòng trong năm có thời điểm chỉ đạt ~20%) Lượng khách sạn và cơ sở lưu trú quá lớn đã dẫn tới việc thắt chặt

hoặc dừng cấp phép xây mới các khách sạn tại các thành phố lớn như Đà Nẵng, Quy Nhơn, Hà Nội và TPHCM

Tình hình thu hút v ốn FDI của Việt Nam giai đoạn 2016 – QI/2020 (Ngu ồn: Cục Đầu tư Nước ngoài, FPTS tổng hợp)

nhà máy cũng chịu ảnh hưởng đáng kể bởi dịch

Covid-19 Ảnh hưởng của dịch bệnh tới nền kinh tế của các

quốc gia dẫn đầu vốn đầu tư FDI như Hàn Quốc, Trung

Quốc và Nhật Bản khiến dòng vốn đổ vào công nghiệp

Việt Nam trong năm 2020 suy giảm Nếu kéo dài, đại

dịch Covid-19 có thể để lại tác động tâm lý lên dòng vốn đầu tư, làm trì hoãn nhiều dự án FDI đang thực hiện cũng như gây cản trở tới việc triển khai các dự án FDI

mới bởi lệnh hạn chế đi lại giữa các quốc gia

Tình hình các d ự án FDI lớn dự kiến xây dựng trong năm nay

Ngu ồn: Cục Đầu tư Nước ngoài, FPTS tổng hợp

9,0% 10,8% 9,1%

6,3%

-6,6%

-10%

-5%

0%

5%

10%

15%

20%

-10

-5

0

5

10

15

20

Đăng ký Thực hiện Vốn thực hiện (%YoY)

73%

43%

69%

47%

8%

24%

0%

20%

40%

60%

80%

Hà Nội Đà Nẵng TPHCM

2019 Q1/2020

910

530

1480 1180

Hà Nội

TPHCM

Phòng khách sạn

Trang 9

Ho ạt động xây dựng cơ sở hạ tầng (22% tiêu thụ ngành xi măng) chưa có đột biến từ đầu tư công

T ổng vốn đầu tư được thực hiện từ ngân sách nhà nước

chính sách tài khóa quan trọng cho năm 2020 để kích thích kinh tế sau đại dịch Covid-19, đầu tư công trong

Giá trị giải ngân đầu tư từ ngân sách nhà nước QI/2020 đạt 61 nghìn tỷ đồng, tăng 5,0% so với cùng kỳ (mức tăng

chỉ cao hơn 1,4% so với cùng kỳ năm 2019) Nguyên nhân vẫn đến từ chậm triển khai đầu tư công do vướng

mắc về pháp lý xung quanh các quy định của Luật đầu tư công, chồng chéo về các quy định trong các bộ Luật khác nhau trong khâu giải phóng mặt bằng, phê duyệt dự án,…

Ngu ồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, FPTS tổng hợp

Trước nhu cầu cần thiết để đẩy nhanh giải ngân đầu tư công nhằm phát triển kinh tế sau đại dịch, chính phủ có đưa ra một số thay đổi về chính sách, chủ yếu tập trung vào việc chuyển đổi hình thức đầu tư của một số dự án

lớn từ PPP (đầu tư hợp tác công - tư) sang hình thức đầu tư công bằng 100% ngân sách nhà nước (cắt bớt được

một phần công đoạn tìm kiếm nhà đầu tư tư nhân) Hiện có 8 dự án hạ tầng lớn thuộc nhóm dự án đường cao

tốc Bắc – Nam đã được chuyển đổi sang sử dụng hoàn toàn vốn nhà nước, với giá trị chuyển đổi khoảng 74.000

tỷ đồng, ~16% ngân sách đầu tư công trong năm 2020 Tuy nhiên, quá trình thay đổi này không giải quyết được vướng mắc chính về quy định pháp lý để đẩy nhanh các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng quy mô lớn, gây ra

sự chậm trễ của nhiều dự án đầu tư công trọng điểm (xem bảng dưới) Chúng tôi cho rằng kỳ vọng vào sự đột

biến của đầu tư công và phân khúc xây dựng cơ sở hạ tầng trong thời điểm hiện tại là chưa khả thi, ít nhất là trong giai đoạn 2020 – 2021 Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn nhận định đây là phân khúc tiêu thụ đáng chú ý cho ngành

xi măng trong trung hạn khi các yếu tố về dịch bệnh và tăng trưởng kinh tế giảm tốc sẽ là động lực cho các thay đổi lớn trong chính sách kích thích đầu tư công từ chính phủ trong thời gian tới

Danh sách các d ự án xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư công trọng điểm đang chậm tiến độ thực hiện

Ngu ồn: Bộ Xây Dựng, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, FPTS tổng hợp

Ho ạt động xây dựng nhà ở (31% tiêu thụ ngành xi măng) tiếp tục giảm sút về tăng trưởng

Tình hình c ấp phép dự án xây dựng TPHCM Chỉ tiêu diện tích nhà ở toàn quốc 2015-2020

Ngu ồn: Sở Xây dựng TPHCM, Bộ Xây dựng, FPTS tổng hợp

83

69

27

0

25

50

75

100

Được chấp thuận

đầu tư Được cấp phép xây dựng Số dự án hoàn thành

2017 2018 2019 QI/2020

4,7%

0% 2% 4% 6%

0 1.000 2.000 3.000

96,8 99,9

103,1

106,8

112,1

7,8%

3,2% 3,2% 3,6%

5,0%

0%

2%

4%

6%

8%

10%

12%

85

90

95

100

105

110

115

QI/2016 QI/2017 QI/2018 QI/2019 QI/2020

Giá trị vốn thực hiện Tăng trưởng (%YoY)

Trang 10

Triển vọng phân khúc vật liệu xây dựng nhà ở trong năm 2020 tiếp tục chịu tác động kép từ việc siết chặt quản lý

cấp phép xây dựng nhà ở trong thời gian gần đây, cùng với việc tâm lý mua nhà sụt giảm trong thời điểm dịch Covid-19 bùng phát Trong ngắn hạn, các hoạt động xây mới các căn hộ trong thời gian tới sẽ bị ảnh hưởng vì

sự chậm trễ trong tiến độ xây dựng tại các dự án hiện tại và sự thiếu hụt về nguồn cung từ các dự án bất động

sản mới Đối với cả năm 2020, xây dựng nhà ở cả nước bị giới hạn bởi chỉ tiêu tăng trưởng diện tích nhà ở của

Bộ Xây dựng, với con số tiếp tục suy giảm chỉ còn 3% (so với mức tăng trung bình 4% giai đoạn 2016 – 2019) Cùng với đó, từ năm 2020, Thông tư 22/2019/TT-NHNN và Luật Kiến trúc năm 2019 bắt đầu có hiệu lực với các

nội dung chính về giới hạn cho vay mua nhà ở cá nhân, cho vay đầu tư bất động sản và siết chặt quy định cấp

giấy phép xây nhà ở tại đô thị kéo theo nhu cầu nhà ở trong năm sẽ tăng trưởng rất thấp Về trung và dài hạn, thị trường xây dựng nhà ở có thể khởi sắc hơn nhờ những thay đổi lớn về quy hoạch nhà ở kể từ sau năm 2020, khi các thành phố lớn triển khai xây dựng lại kế hoạch phát triển đô thị cho các giai đoạn tiếp theo

3 C ạnh tranh trên thị trường xi măng trong nước có thể đạt đỉnh trong năm nay

Tình hình t ồn kho và giá bán trung bình cả nước trong quý I hàng năm

Trước tình hình tiêu thụ kém cả về nội địa và xuất

khẩu, ngành xi măng đang phải chịu áp lực từ mức

tồn kho cao nhất trong nhiều năm, đặc biệt khi thị trường sụt giảm bất ngờ trong tháng 2 và tháng 3

Tồn kho tính tời cuối QI/2020 đạt 4,8 triệu tấn, tương đương khoảng 30 – 45 ngày tiêu thụ (trong khi xi măng chỉ có thể sử dụng trong vòng 60 ngày từ lúc

xuất xưởng) Do đó, áp lực bán hàng dẫn tới cạnh tranh giá gay gắt giữa các doanh nghiệp trong ngành

Nguồn: Hiệp hội Xi măng Việt Nam, Sở Xây dựng các tỉnh thành phố

Theo ghi nhận của chúng tôi từ một số đại lý vật liệu xây dựng ở các thành phố lớn như Hà Nội và TPHCM, mặc

dù mức giá xi măng niêm yết tại các khu vực này chưa có sự biến động đáng kể trong QI/2020, mức chiết khấu cao lên tới 15 – 20% đã được áp dụng cho một số nhà phân phối (so với chỉ 5-10% cùng kỳ năm ngoái) Trong tháng 4, tồn kho xi măng vẫn tiếp tục tăng lên theo báo cáo của Sở Công thương tại các tỉnh thành phố Bước sang quý II và quý III, chúng tôi nhận định đây là hai mùa xây dựng cao điểm nhất trong năm và cũng là lúc áp

lực cạnh tranh thị phần giữa các doanh nghiệp trở nên gay gắt Với hầu hết những yếu tố tiêu cực như sự kiện

về dịch bệnh, nhu cầu tiêu thụ bão hòa trên các thị trường và tồn kho ở mức cao trong nhiều năm, áp lực cạnh tranh trên thị trường xi măng các quý tới có thể đạt đỉnh trong chu kỳ hiện tại của ngành, giúp định hình lại thị

phần các doanh nghiệp trong nước Chúng tôi cho rằng thị trường sắp tới sẽ có sự đào thải đối với một số doanh nghiệp nhất định, tái cấu trúc lại cung cầu xi măng theo hướng tích cực hơn cho các giai đoạn phát triển tiếp theo

IV D ự báo ngành xi măng Việt Nam năm 2020

Giá bán trung bình trong nước (đơn vị: đồng/tấn)

Nguồn: FPTS ước tính

2,1

3,3 4,0

1,7 1,5

4,8

1150 1200 1250 1300 1350 1400

0

1

2

3

4

5

QI/2015 QI/2016 QI/2017 QI/2018 QI/2019 QI/2020

Tồn kho (trái) Giá bán trung bình (phải)

Ngày đăng: 15/12/2022, 10:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w