Vậy các tiêu chí, tham số được sử dụng để kiểm nghiệm, đánh giá về những điều kiện và chất lượng của một đô thị theo hướng sinh thái như thế nào?.. Như vậy thành phố Đông Tân cho thấy cá
Tính cấp thiết
Đô thị hóa là xu thế tất yếu của thế giới và là con đường văn minh của loài người; Việt Nam cũng không thể nằm ngoài diễn biến này khi hiện có 673 đô thị, bao gồm 5 thành phố trực thuộc trung ương, trên 30 thành phố trực thuộc tỉnh, 60 thị xã và trên 500 thị trấn Quá trình này bắt đầu hình thành các chuỗi đô thị ở cấp quốc gia và khu vực, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và cải thiện mức sống của người dân Tuy vậy đô thị hóa cũng gây áp lực lên môi trường và tài nguyên, làm mất cân bằng sinh thái, suy thoái tài nguyên và đẩy lên cao các vấn đề về nhà ở, giao thông và vệ sinh môi trường Vì vậy, con đường giảm thiểu tác động tiêu cực là xây dựng đô thị bền vững và đô thị sinh thái, tối ưu hoá quy hoạch, quản lý nguồn lực và nâng cao chất lượng sống cho cộng đồng.
Gần đây, khái niệm đô thị sinh thái nổi lên ở Việt Nam như một khuôn khổ để nâng cao chất lượng môi trường và điều kiện sống của cư dân thông qua các tiêu chí rõ ràng Xuất phát từ hội thảo quốc tế của Liên Hợp Quốc về Thành phố và sự phát triển bền vững diễn ra tại Rio de Janeiro năm 1992, đô thị sinh thái nhấn mạnh sự đồng bộ giữa phát triển đô thị và tự nhiên Lý thuyết này hướng tới một mô hình phát triển đô thị hài hòa với thiên nhiên, duy trì cân bằng điều kiện sinh thái và đáp ứng các nhu cầu của con người theo hướng bền vững Việc áp dụng đô thị sinh thái giúp cải thiện chất lượng môi trường, tăng cường điều kiện sống và thúc đẩy phát triển bền vững cho thành phố và cộng đồng.
Lý thuyết đô thị sinh thái gợi ý một mô hình đô thị tương lai lý tưởng, nơi sự cân bằng giữa môi trường, kinh tế và xã hội được tối ưu để nâng cao chất lượng sống và sử dụng tài nguyên hiệu quả Để kiểm nghiệm và đánh giá mức độ sinh thái của một đô thị, cần xác định các tiêu chí và tham số phản ánh điều kiện và chất lượng theo hướng xanh – sạch – bền vững Điều này đồng nghĩa với việc xây dựng một bộ chỉ số đô thị sinh thái (indicator system) gồm các chỉ số đo lường mức độ xanh, khả năng thích ứng và hiệu quả quản lý nguồn lực, từ đó cho phép so sánh và định hướng phát triển đô thị theo nguyên lý sinh thái Việc có một hệ thống chỉ số rõ ràng sẽ hỗ trợ quyết định chính sách, giám sát tiến độ và nâng cao chất lượng đô thị theo hướng bền vững.
Hà Nội là trung tâm kinh tế - chính trị của cả nước và là đầu tàu cho làn sóng đô thị hóa với tốc độ diễn ra nhanh Trong thập niên vừa qua, hàng loạt dự án khu đô thị mới được đầu tư xây dựng và đồng bộ đưa vào khai thác cùng với các công trình kiến trúc và hạ tầng kỹ thuật nhằm hình thành các khu ở mới hoàn chỉnh, tạo điều kiện sống thuận lợi và nâng cao chất lượng môi trường cho người dân khu vực đô thị Tuy nhiên, điều kiện và chất lượng môi trường sinh thái tại các khu đô thị này vẫn là một câu hỏi cần có lời giải đáp rõ ràng hơn dưới góc độ quản lý đô thị Việc ứng dụng hệ thống chỉ số đánh giá đơn giản, khách quan và có độ tin cậy cao cho các khu đô thị mới còn hạn chế và chưa có sự so sánh giữa các khu đô thị với nhau Do đó, cần nghiên cứu và triển khai khung đánh giá môi trường đô thị dựa trên các tiêu chí minh bạch, dễ áp dụng để nâng cao hiệu quả quản lý đô thị và thúc đẩy phát triển bền vững ở Hà Nội.
Xuất phát từ các lý do đã nêu, tác giả lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu xây dựng bộ chỉ thị khu đô thị sinh thái và thử nghiệm đánh giá cho các khu đô thị mới tại Thành phố Hà Nội” nhằm xây dựng một hệ thống chỉ tiêu đánh giá bền vững và sinh thái cho quy hoạch đô thị Nghiên cứu đề cập đến việc xây dựng bộ chỉ thị chuẩn hóa cho khu đô thị sinh thái và tiến hành thử nghiệm đánh giá thực tiễn tại các khu đô thị mới ở Hà Nội, từ đó cung cấp cơ sở dữ liệu và công cụ hỗ trợ quyết định cho công tác quy hoạch và quản lý đô thị thành phố.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn tập trung vào 2 nhiệm vụ chính sau:
- Xây dựng bộ chỉ thị khu đô thị sinh thái và thử nghiệm đánh giá cho các khu đô thị mới tại Thành phố Hà Nội
- Đề xuất một số biện pháp nhằm quản lý các khu đô thị theo hướng sinh thái bền vững.
Cấu trúc Luận văn
Ngoài phần mở đầu , kết luận-kiến nghị và tài liệu than khảo, Luâ ̣n văn đươ ̣c chia làm 3 phần chính
Bài viết trình bày tổng quan tài liệu liên quan, nêu bật các nguồn tin cậy và quan điểm chủ đạo để làm nền cho nghiên cứu; phần Đối tượng và phương pháp nghiên cứu mô tả rõ đối tượng nghiên cứu, tiêu chí lựa chọn mẫu, cũng như phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu được áp dụng Phần Kết quả nghiên cứu và thảo luận trình bày các phát hiện chính, phân tích ý nghĩa của chúng, so sánh với các công trình liên quan và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo Nội dung cơ bản của từng chương được tóm tắt như sau: Chương 1 trình bày tổng quan tài liệu và căn cứ lý thuyết, Chương 2 mô tả đối tượng, phương pháp và quy trình nghiên cứu, và Chương 3 trình bày kết quả, thảo luận và kết luận.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
Đây là phương pháp thu thập thông tin thông qua hỏi đáp giữa người nghiên cứu và người được điều tra Khi bước vào cuộc phỏng vấn, người điều tra đặt câu hỏi dựa trên nội dung của phiếu điều tra dành cho đối tượng khảo sát Các câu trả lời được ghi trực tiếp vào phiếu hoặc ghi chú vào sổ để có thể tái hiện lại trong phiếu và bổ sung thêm thông tin sau khi cuộc phỏng vấn kết thúc.
Phỏng vấn được xác định là phương pháp thu thập thông tin thông qua tác động tâm lý - xã hội trực tiếp giữa người nghiên cứu và người trả lời, phù hợp với mục tiêu của đề tài nghiên cứu Nguồn dữ liệu từ phỏng vấn gồm toàn bộ câu trả lời, quan điểm, thái độ và ý thức của người trả lời, được kết hợp với các ghi nhận của người nghiên cứu để tạo thành căn cứ phân tích Nhiệm vụ của người nghiên cứu là dựa trên cả hai nguồn thông tin này để xác định các câu trả lời và tiến hành ghi chép, sau đó tổng hợp số liệu làm căn cứ đánh giá: cơ cấu lao động, mức thu nhập, tỷ lệ thất nghiệp, mức độ hài lòng của người dân, cũng như những đánh giá xác nhận về điều kiện sống và chất lượng môi trường trong khu vực nghiên cứu Từ đó, có thể đánh giá chất lượng sinh thái của từng khu đô thị được nghiên cứu.
2.2.2 Phương pháp đánh giá nhanh môi trường có sự tham gia của cộng đồng Đánh giá nhanh môi trường có sự tham gia của cộng đồng (Participatory Enviromental Rapid Appraisal hay PERA) là hệ phương pháp thu thập kinh nghiệm sâu, hệ thống nhưng bán chính thức, thực hiện trong cộng đồng nhằm khai thác thông tin về hiện trạng môi trường dựa vào tri thức của cộng đồng kết hợp với kiểm tra thực địa Kỹ thuật của đánh giá nhanh môi trường có sự tham gia của cộng đồng đã được sử dụng trong quá trình thực hiện trong luận văn là:
Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
Phương pháp thu thập thông tin từ các tài liệu và công trình nghiên cứu liên quan đến khu vực nghiên cứu được thiết kế nhằm đảm bảo dữ liệu đầy đủ và đáng tin cậy cho quá trình đánh giá Tài liệu thu thập được xử lý và đưa lên bảng biểu, đồ thị, sau đó phân tích và phân loại để làm sáng tỏ các yếu tố và mối quan hệ trong khu vực nghiên cứu Nhờ đó, có thể xác định những vấn đề cần đánh giá và xác định các hướng nghiên cứu tiếp theo.
Phương pháp phỏng vấn bán chính thức –Semistructural interview (SSI):
Phỏng vấn bán chính thức SSI là một hình thức trò chuyện thân mật với cộng đồng dân cư đô thị, nhằm lắng nghe quan điểm từ nhiều đối tượng khác nhau như người dân bình thường, lãnh đạo địa phương, cá nhân, nhóm người và cả gia đình Người được phỏng vấn có thể gặp tình huống tình cờ trong cuộc sống hàng ngày hoặc được mời hẹn trước để sắp xếp thời gian tham gia, giúp SSI thu thập những góc nhìn và thông tin hữu ích về cuộc sống đô thị một cách tự nhiên.
Phỏng vấn bán chính thức khác phỏng vấn chính thức ở không khí cởi mở và thân mật giữa nhóm đánh giá và người được phỏng vấn Các câu hỏi được đặt ra linh hoạt, tùy thuộc vào câu chuyện và diễn biến của cuộc trò chuyện, nhằm để người được phỏng vấn thể hiện bản thân mà không cần suy nghĩ và hoạch định trước câu trả lời Trong phỏng vấn bán chính thức, nhóm đánh giá chỉ liệt kê các vấn đề cần đánh giá để hướng cuộc trò chuyện tới nội dung cần khai thác.
Trong quá trình làm luận văn, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn bán chính thức với cơ quan quản lý trực tiếp hai khu đô thị Văn Quán và Linh Đàm và lắng nghe ý kiến của người dân sống tại các khu đô thị này Các cuộc phỏng vấn đã thu được một số kết quả phục vụ cho luận văn, giúp làm rõ thực trạng quản lý đô thị, chất lượng dịch vụ và mức độ hài lòng của cư dân đối với hạ tầng, tiện ích và môi trường sống tại Văn Quán và Linh Đàm.
Quan sát thực tế là phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp về đối tượng nghiên cứu bằng cách tiếp cận trực tiếp và ghi chép lại các yếu tố liên quan đến mục tiêu nghiên cứu Phương pháp này cho phép phát hiện vấn đề, kiểm tra và hiệu chỉnh các thông tin đã thu được qua phỏng vấn và từ tài liệu thứ cấp Trong quá trình đi thực địa, quan sát giúp hình thành nhận định sơ bộ về quy mô, hiện trạng môi trường và các điều kiện môi trường, sinh thái giữa các đô thị trên địa bàn Hà Nội, từ đó cung cấp cơ sở phân tích và so sánh hiệu quả hơn.
2.2.3 Phương pháp phân tích đa tiêu chí [6] Để đánh giá một sự vật, hiện tượng hay hệ thống người ta thường chọn những điểm đặc trưng, đại diện cho sự vật hiện tượng đó làm cơ sở để đánh giá
Những đặc trưng đại diện cho đối tượng cần đánh giá, nhạy cảm với biến đổi và phản ánh bản chất của sự vật, hiện tượng hoặc hệ thống được xem xét Những đặc trưng này được gọi là tiêu chí đánh giá, là nguồn thông tin cho biết các quá trình đang diễn ra bên trong sự vật hoặc hiện tượng đó Tiêu chí chỉ trở thành thước đo khi được lượng hóa thành các phép đo khách quan và có thể được xác định một cách nhanh chóng và đơn giản.
Chỉ thị có thể là một chỉ thị đơn hoặc là một chỉ thị phức hợp, tùy thuộc vào việc chỉ thị ấy được xác định từ một hay nhiều tiêu chí thành phần Các chỉ thị này được tổng hợp thành một hoặc một số bộ chỉ thị, và mỗi bộ chỉ thị gồm một số nhóm chỉ thị (tức là các tập con của các chỉ số) [20].
Nội dung cơ bản của phương pháp phân tích đa tiêu chí là sử dụng một hệ thống tiêu chí phù hợp để đánh giá đối tượng nghiên cứu Phương pháp này bắt đầu bằng việc xác định và thiết kế tập hợp tiêu chí phản ánh các khía cạnh quan trọng của đối tượng, sau đó gán trọng số cho từng tiêu chí và thu thập dữ liệu liên quan từ các nguồn tin cậy Dữ liệu được tổng hợp thông qua một cơ chế đánh giá hoặc thang đo nhằm xếp hạng, phân loại hoặc đưa ra quyết định dựa trên tổng hợp nhiều yếu tố Nhờ đó, phân tích đa tiêu chí giúp đánh giá toàn diện và khách quan hơn so với các phương pháp đánh giá đơn lẻ, đồng thời dễ dàng áp dụng trong nghiên cứu, quản lý và ra quyết định dựa trên bằng chứng.
Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá đô thị sinh thái là bước căn bản để phản ánh bức tranh toàn cảnh của đô thị Vì mỗi tiêu chí có mức độ quan trọng khác nhau nên việc phân biệt trọng số là rất cần thiết Để phản ánh tầm quan trọng, mỗi tiêu chí được gán một giá trị trọng số từ 0 đến 100, dựa trên bình chọn của các chuyên gia và đặc điểm của đô thị sinh thái Tổng giá trị của các tiêu chí có tính trọng số phải bằng 100, như vậy số điểm tối đa phân bổ cho một tiêu chí chính bằng trọng số của nó.
Nội dung ở bước 1 đóng vai trò then chốt trong việc đánh giá tính khả thi của quá trình nghiên cứu và ảnh hưởng trực tiếp đến ý nghĩa của toàn bộ kết quả Việc làm rõ các yếu tố liên quan đến tính khả thi ở bước đầu giúp đảm bảo mục tiêu nghiên cứu được thực hiện đúng trình tự, tăng cường độ tin cậy và tính hữu ích của kết quả cuối cùng Do đó, phần mô tả bước 1 cần nêu rõ phạm vi, nguồn dữ liệu, phương pháp thu thập và tiêu chí đánh giá sự khả thi để tối ưu hóa hiệu quả nghiên cứu và khả năng áp dụng của kết quả.
Bước 2: Xác định nội dung nghiên cứu và thu thập tài liệu, số liệu cho các tiêu chí đánh giá; từ đó tổng hợp thành nguyên liệu phục vụ cho việc phân tích và đánh giá các khía cạnh của đô thị sinh thái Việc xác định nội dung một cách rõ ràng giúp xác định phạm vi và mục tiêu nghiên cứu, đồng thời đảm bảo nguồn liệu đáng tin cậy và cập nhật Dữ liệu và tài liệu được chọn lọc kỹ lưỡng để đáp ứng các tiêu chí, sau đó được tổng hợp thành cơ sở phân tích, hỗ trợ quá trình so sánh, nhận diện vấn đề và đề xuất giải pháp cho sự phát triển đô thị sinh thái bền vững.
Bước 3: Xác định tiêu chuẩn đánh giá từng tiêu chí và cho điểm
Các bước thực hiện luận văn
Phân tích hệ thống là bước căn bản nhằm xác định các nhóm mục tiêu khác nhau mà một đô thị sinh thái cần đạt được, từ đó đánh giá những vấn đề môi trường chủ yếu và cách phân bổ các nhóm mục tiêu để xác định tiêu chí cho từng nhóm Quá trình này đòi hỏi tổng hợp thông tin và phân tích các yếu tố môi trường, xã hội và kinh tế liên quan, nhằm đảm bảo các tiêu chí được xây dựng phù hợp và có thể đo lường được cho mỗi nhóm mục tiêu Để thực hiện bước này, cần nghiên cứu và tham khảo tài liệu trong nước và ngoài nước về khu đô thị sinh thái và các tiêu chí mà một khu đô thị cần đạt được.
Trên cơ sở các mục tiêu cần đạt được, bài viết mô tả quy trình lựa chọn và hoàn thiện các tiêu chí cho đô thị sinh thái, được phân bổ theo các mảng kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trường, vật chất, năng lượng và thông tin; đồng thời nhận diện và phân loại các tiêu chí định tính và định lượng để đảm bảo đánh giá toàn diện và khách quan quá trình phát triển đô thị.
Định lượng các tiêu chí để xác định những người giám sát tin cậy cho quá trình đánh giá được thực hiện bằng các phương pháp đã nêu trong luận văn Quá trình này tập trung vào xây dựng và đo lường các tiêu chí một cách định lượng, từ đó lựa chọn các giám sát viên có độ tin cậy cao và đảm bảo tính khách quan của kết quả đánh giá.
- Tập hợp các chị thị đồng thời miêu tả chúng sẽ cho ta Bộ chị thị về một khu đô thị sinh thái cần xây dựng
Bộ chỉ thị khu đô thị sinh thái vừa được xây dựng đã được đưa vào thử nghiệm và đánh giá cho khu đô thị mới Linh Đàm và Văn Quán Những kết quả từ đợt thẩm định cho thấy các tiêu chí đánh giá và nội dung nghiên cứu có thể được hệ thống hóa lại thành các bước thực hiện của luận văn, như được thể hiện trong hình 03.
Hình 03: Các bước thực hiện luận văn
Phân tích hệ thống xác định tiêu chí về ĐTST theo các mảng kinh tế, văn hóa-xã hội, môi trường, vâ ̣t chất, năng lượng, thông tin
Xây dựng các tiêu chí
Bộ chỉ thị khu Đô thị Sinh thái Lượng hóa các tiêu chí
Khu đô thị Linh Đàm Khu đô thị Văn Quán
Tiêu chí định tính Tiêu chí định lượng
Phân tích hệ thống xác định tiêu chí về ĐTST theo các mảng kinh tế, văn hóa-xã hội, môi trường, vâ ̣t chất, năng lượng, thông tin
Xây dựng các tiêu chí
Bộ chỉ thị khu Đô thị Sinh thái Lượng hóa các tiêu chí
Khu đô thị Linh Đàm Khu đô thị Văn Quán Tiêu chí định tính Tiêu chí định lượng
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thử nghiệm đánh giá cho các Khu đô thị mới tại Thành phố Hà Nội
a) Khu đô thị Linh Đàm:
Xét theo tính chất và điều kiện khu vực nghiên cứu, các đặc trưng về tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường là tương đồng và đồng nhất; do đó, cùng với hạn chế về thời gian và kinh phí, đề tài tiến hành điều tra ở quy mô mẫu nhằm miêu tả đặc điểm của tổng thể chung thay vì phản ánh toàn diện toàn khu vực Đề tài phát phiếu phỏng vấn cho 300 hộ, tương đương 1.478 nhân khẩu được điều tra, từ tổng số 2.871 hộ ở khu Bán đảo và khu Bắc Linh Đàm, và 300 phiếu này được phân bổ đều cho các khu.
+ 85 phiếu điều tra/848 hộ từ CT3-CT5 khu Bắc Linh Đàm
+ 18 phiếu điều tra/176 căn Biệt thự từ BT1-BT5 khu Bắc Linh Đàm
+ 176 phiếu điều tra/1.650 hộ từ Nơ1-Nơ10 khu Bán đảo Linh Đàm
Trong khu Bán đảo Linh Đàm, 21 phiếu điều tra được cấp cho 197 căn biệt thự từ BT1-BT5; tại khu đô thị Văn Quán, đề tài tiến hành phát phiếu phỏng vấn xã hội học với quy mô 250 hộ trên tổng 2.362 hộ, được phân bổ đều cho các khu cụ thể.
+ 130 phiếu/1.184 hộ từ CT1A-CT8B
+ 110 phiếu/1.054 hộ từ TT1-TT16
+ 10 phiếu / 124 hộ từ BT1- BT8
Các hộ được chọn là các hộ mang tính đại diện cho khu vực nghiên cứu
3.2.2 Đánh giá cho các Khu đô mới thị trên địa bàn Hà Nội 3.2.2.1 Khu đô thị Linh Đàm
Nhóm 1: Đánh giá về sự hình thành và mức độ phát triển kinh tế-xã hội 3.2.2.1.1 Vị trí bền vững của KĐT
Cơ sở hình thành và xây dựng Khu đô thị Linh Đàm
Căn cứ Quyết định số 992/QĐ-UB ngày 25 tháng 5 năm 1994 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1:2000 khu dịch vụ tổng hợp và nhà ở hồ Linh Đàm.
- Căn cứ Quyết định giao đất số 304/TTg ngày 08 tháng 06 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ
- Nghị định số 91/CP ngày 17 tháng 8 năm 1994 của Chính phủ, ban hành Điều lệ quản lý quy hoạch đô thi ̣
Căn cứ quyết định số 04/2000/QĐ-UB ngày 13/9/1999 của UBND Thành phố Hà Nội về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết khu dịch vụ tổng hợp và nhà ở Hồ Linh Đàm, tỉ lệ 1:5000.
- Căn cứ quyết định số 05/2000/QĐ-UB ngày 19/01/2000 của UBND Thành phố
Hà Nội ban hành điều lệ quản lý xây dựng theo quy hoạch chi tiết khu dịch vụ tổng hợp nhà ở Hồ Linh Đàm, với tỷ lệ 1/500 và phạm vi khu đất 160,09 ha, tại địa bàn xã Đại Kim và xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì Điều lệ này nhằm hướng dẫn cấp phép xây dựng, quản lý tuân thủ thiết kế và đảm bảo sự đồng bộ, an toàn, bền vững cho khu vực phát triển đô thị Hồ Linh Đàm Việc ban hành sẽ hình thành cơ chế thực thi quy hoạch, cải thiện hạ tầng, tiện ích và chất lượng sống cho cư dân tương lai của khu dịch vụ tổng hợp – nhà ở Hồ Linh Đàm.
- Các văn bản quy định hiện hành trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Việc hình thành khu đô thị là sự cụ thể hóa chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, đồng thời thực hiện chiến lược phát triển đô thị quốc gia và phối hợp với quy hoạch chuyên ngành Bên cạnh đó, áp dụng các tiêu chí quy hoạch để tạo dựng một khu đô thị hoàn chỉnh, đồng bộ và phù hợp với quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Việc xây dựng khu đô thị tuân thủ nghiêm ngặt pháp luật về bảo vệ môi trường và các quy định của lĩnh vực xây dựng, phù hợp với quy chuẩn xây dựng Việt Nam do Bộ Xây dựng ban hành trên cơ sở quan điểm kỹ thuật Nhờ đó khu đô thị tận dụng hiệu quả các lợi thế về kinh tế, cơ sở hạ tầng đô thị, dân số, khí hậu và cảnh quan, đồng thời phù hợp với xu hướng phát triển đô thị hiện đại.
Vị trí của khu đô thị không nằm trong phạm vi môi trường có nguy cơ bị ô nhiễm, (do chất độc hoá học, phóng xạ, dịch bệnh truyền nhiễm ) Không nằm trong phạm vi ảnh hưởng đến các công trình quốc phòng , khu quân sự, khu vực bảo vệ di tích, thắng cảnh…Như vâ ̣y đánh giá về vị trí bền vững của Khu đô thị được xếp vào loại tốt
Khu đô thị Linh Đàm có quy mô 184,09 ha và là nơi sinh sống của khoảng 4.200 hộ gia đình, gồm 3.150 căn hộ chung cư cao tầng và 373 căn biệt thự Dân số ước tính khoảng 25.128 người, với mật độ dân số 13.656 người/km2, gấp 7 lần mật độ dân số của Thành phố Hà Nội năm 2009 (1.926 người/km2) Nhờ quy mô và mật độ dân số lớn, KĐT Linh Đàm nằm trong nhóm khu đô thị có quy mô và mật độ dân số cao trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
3.2.2.1.3 Kinh tế Khu đô thị – a) GDP danh nghĩa bình quân đầu người Đề tài tiến hành phỏng vấn điều tra 300 hộ gia đình trong khu vực nghiên cứu, tương ứng với 1.478 người dân Kết quả điều tra cơ cấu lao động trong khu đô thị được thể hiện ở biểu đồ 02 cho thấy số người ở độ tuổi lao động là 927 người, chiếm 62,7% dân số, được căn cứ theo các quy định của Bộ Luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994 và các điều khoản liên quan.
Theo Luật bảo hiểm xã hội và Điều 6 của Luật lao động, tuổi lao động được quy định như sau: nam từ 15 đến 60 tuổi, nữ từ 15 đến 55 tuổi Số người chưa tới tuổi lao động được xác định dựa trên các tiêu chí và số liệu dân số hiện hành do các văn bản này quy định.
442 người chiếm 29,9 % và số người ngoài độ tuổi lao động là 109 người chiếm
Trong khu vực đô thị được nghiên cứu, số người ở độ tuổi lao động cao, gấp 8,5 lần so với số người ngoài độ tuổi lao động và gấp 2 lần số người chưa tới tuổi lao động, cho thấy lực lượng lao động ở khu vực này đóng vai trò quan trọng cho tăng trưởng kinh tế Số người trong độ tuổi lao động của khu đô thị cao là điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, thu nhập trung bình một hộ trong khu vực là 19.045.000 đồng/tháng, và GDP danh nghĩa bình quân đầu người đạt 2.227 USD/năm, gấp 2,1 lần thu nhập bình quân đầu người khu vực Hà Nội tính đến thời điểm năm 2009 là 1.064 USD/năm [5]
Nguồn dữ liệu: tổng hợp từ phiếu điều tra của đề tài Tại khu vực nghiên cứu, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp cho thấy đại bộ phận người dân là công nhân và viên chức; bên cạnh đó còn có một bộ phận tham gia kinh doanh buôn bán nhỏ lẻ và làm nghề tự do, tạo nên cơ cấu lao động đa dạng ở địa phương.
Số người làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp ở khu vực này rất thấp, chỉ có 12 người trong số 927 người ở độ tuổi lao động làm nghề nông, chiếm 1,3%; do đó tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của khu đô thị là 98,7% Trong tổng số 927 người ở độ tuổi lao động, có 27 người chưa có việc làm, tỷ lệ thất nghiệp của khu đô thị là 2,9% Mức thất nghiệp này thấp hơn nhiều so với tỷ lệ thất nghiệp của Hà Nội năm 2010 là 4,43% [27].
Nhóm 2: Chỉ thị về sự phát triển ha ̣ tầng kỹ thuâ ̣t và ha ̣ tầng xã hô ̣i 3.2.2.1.4 Giao thông a) Tỉ lệ đất giao thông khu đô thị
Biểu đồ 01: Cơ cấu lao đô ̣ng - KĐT Linh Đàm
Giao thông đô thị là một thành phần cực kỳ quan trọng trong khu đô thị, ảnh hưởng trực tiếp đến nhịp sống và sự phát triển bền vững của khu vực Mạng lưới giao thông đô thị quyết định hướng phát triển, đồng thời định hình cơ cấu sử dụng đất đai và mối quan hệ giữa các bộ phận chức năng với nhau, như khu vực dân cư, thương mại và dịch vụ Việc xây dựng và vận hành hệ thống giao thông hiệu quả giúp tăng cường liên kết giữa các khu vực, tối ưu hóa quy hoạch đô thị và nâng cao chất lượng sống cho cộng đồng Do đó, quy hoạch và cải thiện giao thông đô thị là yếu tố then chốt cho sự phát triển đô thị toàn diện.
Nghiên cư ́ u đề xuất một số biện pháp nhằm quản lý đô thị theo hướng sinh thái bền vững
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề tài đi đến một số kết luận sau:
1 Về khái niệm đô thị sinh thái tuy còn nhiều quan niệm khác nhau, nhưng tựu chung lại ĐTST được xem là nơi cư trú của con người do 3 hê ̣ thống con là xã hô ̣i, kinh tế, môi trường cấu thành, kết cấu hợp lý, công năng hiê ̣u quả cao , quan hê ̣ hài hòa , đươ ̣c thành lâ ̣p theo nguyên lý sinh thái Trong quá trình tồn tại và phát triển của nó không làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, không làm suy thoái môi trường, không gây tác động xấu đến sức khỏe cộng đồng và tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người sống, sinh hoạt và làm việc
2 Trên cơ sở phân tích các khía cạnh, đặc trưng cần có của một đô thị sinh thái, luận văn đã xây dựng bộ chị thị cho khu đô thị sinh thái bao gồm 14 chỉ thị đơn phân thành 4 nhóm chính được lượng hóa từ 27 tiêu chí cơ bản
3 Việc ứng dụng kết quả nghiên cứu xây dựng bộ chỉ thị khu đô thị sinh thái vào đánh giá cho khu đô thị mới Linh Đàm và Văn Quán đã được đề tài thực hiện dựa vào các số liệu, thông tin điều tra thực tế Kết quả mức sinh thái của hai khu đô thị như sau:
- Khu đô thị Linh đàm đạt 68,2/100 điểm tương đương 68,2%
+ Xếp loại Đô thị sinh thái mức bền vững (theo thang phân loại của đề tài)
- Khu đô thị Văn quán đạt 60,6/100 điểm tương đương 60,6%
+ Xếp loại Đô thị sinh thái mức ổn định (theo thang phân loại của đề tài)
4 Từ kết quả điều tra, nghiên cứu và phân tích đề tài đưa ra một số biện pháp nhằm quản lý đô thị theo hướng sinh thái bền vững Để đạt được mục tiêu này cần có sự nỗ lực, hợp tác chặt chẽ từ phía các nhà quản lý, các nhà khoa khọc,…cùng các tổ chức đoàn thể, cá nhân và cộng đồng Trong đó những biện pháp về mặt quản lý cần được sử dụng như biện pháp tiên phong, quyết định sự thành công đối với công tác nâng cao mức sinh thái của các khu đô thị.