1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ HUS nghiên cứu thực trạng đa dạng sinh học và biến động hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện nghĩa hưng, tỉnh nam định giai đoạn 2005 2015 nhằm đề xuất giải pháp quản lý và sử dụng bền vững

105 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu thực trạng đa dạng sinh học và biến động hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định giai đoạn 2005-2015 nhằm đề xuất giải pháp quản lý và sử dụng bền vững
Tác giả Vũ Sinh Khiêu
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Văn Thụy, TS. Lê Xuân Tuấn
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Khoa học Môi trường
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 3,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Qua hai năm học tập và nghiên cứu tại Trường đại học Khoa học tự nhiên – Đại học quốc gia Hà Nội, cùng với sự hướng dẫn khoa học tận tình của các thầy, cô và sự động viên giúp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

- -

VŨ SINH KHIÊU

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC

VÀ BIẾN ĐỘNG HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN HUYỆN NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2005-2015 NHẰM ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG BỀN VỮNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

- -

VŨ SINH KHIÊU

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC

VÀ BIẾN ĐỘNG HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN HUYỆN NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2005-2015 NHẰM ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG BỀN VỮNG

Chuyên ngành: Khoa học Môi trường

Mã số: 60440301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Trần Văn Thụy

2 TS Lê Xuân Tuấn

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua hai năm học tập và nghiên cứu tại Trường đại học Khoa học tự nhiên – Đại học quốc gia Hà Nội, cùng với sự hướng dẫn khoa học tận tình của các thầy, cô

và sự động viên giúp đỡ của gia đình, đồng nghiệp, đến nay đề tài Luận văn thạc sĩ:

“Nghiên cứu thực trạng đa dạng sinh học và biến động hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định giai đoạn 2005-2015 nhằm đề xuất giải pháp quản lý và sử dụng bền vững” đã được tác giả hoàn thành theo đúng thời

gian quy định

Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Văn Thụy và

TS Lê Xuân Tuấn đã tận tình hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn này Tác giả

cũng xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Môi Trường - Trường Đại học Khoa học tự nhiên – Đại học quốc gia Hà Nội, đã giảng dạy, truyền đạt kinh nghiệm và kiến thức khoa học tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn UBND, Phòng Thống kê, Phòng Tài nguyên

và môi trường, Phòng Nông nghiệp, Chi cục kiểm lâm huyện Nghĩa Hưng, chính quyền địa phương các xã trong huyện, người dân địa phương khu vực nghiên cứu…

đã nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu điều tra, thu thập số liệu, tài liệu và hoàn thành luận văn này

Cuối cùng tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Viện Nghiên cứu biển và hải đảo - Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, nơi tác giả đang công tác; Phòng đào tạo sau đại học - Trường Đại học khoa học tự nhiên; Gia đình và bạn bè đã động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành luận văn đúng thời hạn

Do hạn chế về thời gian, kiến thức khoa học và kinh nghiệm thực tế của bản thân tác giả, luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp và trao đổi chân thành giúp tác giả hoàn thiện hơn kết quả nghiên cứu của đề tài

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

HỌC VIÊN

Trang 4

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1 : Bản đồ hành chính huyện Nghĩa Hưng 13

Hình 1 3 Nuôi ngao tại vùng bãi triều Nông trường Rạng Đông, Nghĩa Hưng 35

Hình 1.4 Bãi biển du lịch tại xã Nghĩa Phúc, huyện Nghĩa Hưng, 2015 37

Hình 2.1 Bản đồ nền địa hình bãi bồi cửa sông ven biển huyện 46

Nghĩa Hưng, Nam Định 46

Hình 2.2 Sơ đồ quy trình thành lập bản đồ 48

Hình 3.1 : Rừng trang thuần loài và hỗn hợp trang, bần chua xen kẽ 52

Hình 3.2: Ảnh vệ tinh Landsat 5 ngày 11-05-2005 63

Hình 3.3: Ảnh vệ tinh Landsat 8 ngày 10-07-2015 64

Hình 3.4 Bản đồ hiện trạng rừng ngập mặn huyện Nghĩa Hưng, 67

tỉnh Nam Định năm 2005 67

Hình 3.5 Bản đồ hiện trạng rừng ngập mặn huyện Nghĩa Hưng, 68

tỉnh Nam Định năm 2015 68

Hình 3.6 Chú giải bản đồ hiện trạng RNM huyện Nghĩa Hưng, Nam Định 69

Hình 3.7: Phá rừng ngập mặn làm đầm nuôi trồng thủy sản 71

Hình 3.8: Hiện trạng RNM ngoài đê quốc gia thuộc huyện Nghĩa Hưng - 2015 72

Hình 3.9: Nỗ lực khôi phục diện tích RNM tại huyện Nghĩa Hưng, Nam Định 74

Hình 3.10 Mô hình ao tôm sinh thái 82

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Kết quả của các phong trào quai đê lấn biển 14

Bảng 1.2 Diện tích các loại bãi ngập triều ven biển huyện Nghĩa Hưng 16

Bảng 1.3 Độ dốc bề mặt bãi bồi và sườn bờ ngầm khu vực ven biểnhuyện Nghĩa Hưng 17

Bảng 1.4: Thống kê dân số, mật độ dân số theo các xã, thị trấnhuyện Nghĩa Hưng, 2014 23

Bảng 1.5: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại huyện Nghĩa Hưng giai đoạn 2010 - 2014 24

Bảng 1.6: Tổng kết kết quả thực hiện phát triển kinh tế xã hội năm 2014 26

Bảng 1.7: Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản theo giá hiện hành và cơ cấu các ngành trong nền kinh tế giai đoạn từ 2005 - 2014 28

Bảng 1.8 Giá trị sản phẩm trồng trọt và NTTS trên 1 đơn vị diện tích đất theo giá hiện hành giai đoạn 2005 – 2014 30

Bảng 1.9: Kết quả sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2005 – 2014 32

Bảng 1.10 Sản lượng thủy sản chủ yếu giai đoạn 2005 - 2014 33

Bảng 1.11: Lao động, diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản và phương tiện khai thác hải sản chủ yếu tại huyện Nghĩa Hưng giai đoạn 2005 - 2014 34

Bảng 3.1: Đa dạng loài sinh vật vùng bãi bồi ven biển huyệnNghĩa Hưng, Nam Định 50

Bảng 3.2 Cấu trúc thành phần chính loài TVN vùng bãi bồi ven biển huyện Nghĩa Hưng, Nam Định 51

Bảng 3.3 Đa dạng sinh học của TVNM vùng bãi bồi ven biển huyện Nghĩa Hưng, Nam Định 51

Bảng 3.4 Cấu trúc thành phần loài ĐVN vùng cửasông Ninh Cơ và Sông Đáy 53

Bảng 3.5 Cấu trúc thành phần loài động vật đáy vùng ven biển Nghĩa Hưng 54

Bảng 3.6 Cấu trúc thành phần loài bộ mười chân (Decapoda) 54

Bảng 3.7 Cấu trúc thành phần loài lớp thân mềm hai vỏ (Trai biển) 56

Bảng 3.8 Cấu trúc thành phần loài cá vùng bãi bồi, ven biển huyện Nghĩa Hưng, Nam Định 57

Bảng 3.9 Cấu trúc thành phần loài chim ở vùng bãi bồi ven biển huyện Nghĩa Hưng, Nam Định 59

Bảng 3.10 Loài quý hiếm cần được khai thác hợp lý và bảo vệ 61

Trang 6

Bảng 3.11 Dữ liệu ảnh vệ tinh thu thập 63

Bảng 3.13: Biến động diện tích rừng ngập mặn trên huyện Nghĩa Hưng giai đoạn 2005 – 2015 69

Bảng 3.14 : Kết quả của các phong trào quai đê lấn biển 70

Bảng 3.15 Diện tích rừng trồng từ năm 1990 đến 1998 73

Bảng 3.16 Diện tích RNM trồng với sự hỗ trợ của Hội Đan Mạch 73

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tổng quan các nghiên cứu về đa dạng sinh học hệ sinh thái đất ngập nước và bãi bồi ven biển trên Thế giới và Việt Nam 4

1.1.1 Tổng quan các nghiên cứu về đa dạng sinh học đất ngập nước trên Thế giới 4 1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu về đa dạng sinh học đất ngập nước ở Việt Nam 5

1.1.3 Tổng quan các nghiên cứu về ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS đánh giá biến động RNM 9

1.2 Vị trí địa lý và lịch sử hình thành khu vực nghiên cứu 12

1.2.1.Vị trí địa lý 12

1.2.2 Lịch sử hình thành lục địa khu vực nghiên cứu 13

1.3 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 15

1.3.1 Đặc điểm địa hình, địa mạo và địa chất 15

1.3.2 Đặc điểm khí hậu 19

1.3.3 Đặc điểm thủy, hải văn 21

1.4 Đặc điểm kinh tế xã hội 23

1.4.1 Dân số, lao động 23

1.4.2 Hiện trạng kinh tế xã hội 26

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 40

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 40

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 40

2.2 Phương pháp nghiên cứu 40

2.2.1 Phương pháp kế thừa, thu thập tài liệu, tổng hợp thông tin, dữ liệu 40

2.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 40

2.2.3 Phương pháp phân tích dựa trên hệ thông tin địa lý (GIS) và viễn thám44 2.2.4 Phương pháp chuyên gia 48

2.2.5 Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp thông tin, xử lý số liệu 49

Trang 8

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 50

3.1 Đa dạng sinh học khu vực nghiên cứu 50

3.1.1 Đa dạng loài khu vực bãi bồi ven biển huyện Nghĩa Hưng, Nam Định 50

3.1.2 Đa dạng sinh học thực vật 50

3.1.3 Đa dạng sinh học động vật 53

3.1.4 Đa dạng cá 56

3.1.5 Đa dạng các loài chim 59

3.1.6 Các nhóm động vật khác 60

3.1.7 Thành phần các loài quý hiếm khu vực nghiên cứu 61

3.2 Phân tích, đánh giá biến động diện tích rừng ngập mặn tại huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định giai đoạn 2005 – 2015 62

3.2.1 Tư liệu nghiên cứu xây dựng bản đồ hiện trạng RNM 63

3.2.2 Kết quả xây dựng bản đồ hiện trạng các hệ sinh thái khu vực ven biển 65 3.2.3 Phân tích, đánh giá biến động diện tích rừng ngập mặn huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định giai đoạn 2005 – 2015 69

3.3 Một số định hướng quản lý, khai thác tài nguyên phục vụ phát triển bền vững khu vực ven biển huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định 78

3.3.1 Xây dựng và hoàn thiện các cơ chế chính sách quản lý, kiện toàn các tổ chức quản lý tại khu vực ven biển huyện Nghĩa Hưng 78

3.3.2 Phát triển các sinh kế bền vững khu vực ven biển 80

3.3.3 Quan trắc và bảo vệ môi trường 85

3.3.4.Tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về sử dụng hợp lý tài nguyên biển huyện Nghĩa Hưng 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

PHỤ LỤC 93

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Hội bảo tồn thiên nhiên thế giới

Trang 10

MỞ ĐẦU

Khu vực đất ngập nước và bãi bồi ven biển là khu vực có chức năng sinh thái

và giá trị kinh tế rất quan trọng như: bảo vệ đa dạng sinh học, chức năng phòng hộ, bảo vệ bờ biển khỏi xói lở, bảo vệ các thảm cỏ biển và rạn san hô ngoài biển ven

bờ, là nơi sinh nở và cư trú của nhiều loài thủy hải sản, nơi cung cấp thực phẩm và duy trì đời sống sinh vật biển, địa điểm du lịch sinh thái tiềm năng, bảo vệ các vùng đất khai hoang lấn biển, lưu giữ phù sa và thanh lọc các chất ô nhiễm từ lục địa mang ra….Đặc biệt, rừng ngập mặn có vai trò rất quan trọng giúp giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến vùng bờ biển, bảo vệ đa dạng sinh học vùng ven biển

Huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định là một trong những vùng có diện tích đất ngập nước cửa sông ven biển quan trọng của Việt Nam Rừng ngập mặn nói riêng

và khu vực đất ngập nước vùng ven biển Nghĩa Hưng nói chung có giá trị nhiều mặt trong phát triển kinh tế, bảo tồn đa dạng sinh học Nghĩa Hưng đã từng được đánh giá là khu đất ngập nước có tầm quan trọng thứ hai ở vùng đồng bằng Bắc bộ, được

đề xuất là khu Ramsa vào năm 1996 Tuy nhiên, qua kết quả khảo sát năm 2006 của

tổ chức BirdLife, vùng đất ngập nước Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định đã bị suy thoái nghiêm trọng, hầu hết các giá trị của khu vực đã không còn và hệ sinh thái rừng ngập mặn đứng trước nguy cơ bị xoá sổ do khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên

Thời gian gần đây, việc quản lý, bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn tại huyện Nghĩa Hưng đã nhận được sự quan tâm của Chính phủ và chính quyền địa phương Khu vực ven biển huyện Nghĩa Hưng được xây dựng là vùng đệm của khu bảo tồn thiên nhiên châu thổ Sông Hồng Các dự án, chương trình nhằm phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn tại khu vực đã được cụ thể hóa tại các đề

án, dự án như: “Đề án phục hồi và phát triển rừng ngập mặn ven biển giai đoạn

2008 -2015” của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 405/TTg ngày

16 tháng 3 năm 2009 và gần đây, tại Quyết định số 120/QĐ-TTg ngày 22 tháng 1 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Đề án bảo vệ và phát triển rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2015 – 2020”, gồm các dự án

Trang 11

thực hiện tại huyện Nghĩa Hưng như: (1) Dự án “Phục hồi tài nguyên hệ sinh thái bị suy thoái vùng ven biển tỉnh Nam Định” đã được phê duyệt theo Quyết định số 1631/QĐ-UBND ngày 15 tháng 10 năm 2013 của UBND tỉnh Nam Định thuộc

“Danh mục các dự án trồng rừng ven biển bằng nguồn vốn ứng phó với biến đổi khí hậu” Dự án thực hiện tại khu vực đất ngập nước và bãi bồi ven biển huyện Nghĩa Hưng; (2) “Dự án bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ ven biển tỉnh Nam Định giai đoạn 2015 – 2020” thuộc Danh mục các dự án trồng rừng ven biển bằng nguồn vốn ứng phó với biến đổi khí hậu, dự án được xây dựng mới và dự kiến triển khai thực hiện giai đoạn 2015 – 2020 Ngoài ra, tại khu vực còn đang thực hiện các dự án do các tổ chức trong nước, quốc tế khác thực hiện nhằm nỗ lực khôi phục hệ sinh thái rừng ngập mặn và đa dạng sinh học tại khu vực nghiên cứu Tuy nhiên, để phục hồi

hệ sinh thái rừng ngập mặn và đa dạng sinh học cần thời gian dài và để kết quả của các dự án có ý nghĩa thiết thực đối với cộng đồng người dân ven biển cần có các biện pháp quản lý, khai thác sử dụng bền vững tài nguyên rừng ngập mặn hợp lý

Kinh tế khu vực ven biển và sinh kế cộng đồng người dân ven biển phụ thuộc chặt chẽ vào chất lượng môi trường và tài nguyên vùng bờ Người dân ven biển có sinh kế trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc chủ yếu vào nguồn sản vật của biển

và ven biển Do vậy, cồng đồng người dân phải là chủ thể chứ không chỉ là khách thể như trong thực tế quản lý hiện nay và họ phải tham gia quản lý môi trường biển

là một đòi hỏi thực tiễn Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào tiến trình quản

lý, bảo vệ các hệ sinh thái, tài nguyên và môi trường biển hiện nay còn rất thụ động chưa thường xuyên và thiếu bền vững Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học và các tài nguyên biển tại khu vực nghiên cứu, áp dụng các biện pháp quản lý và sử dụng tài nguyên sẽ góp phần đưa ra giải pháp nhằm hỗ trợ, khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên biển trong phát triển kinh tế, đồng thời quản lý, bảo tồn và phục hồi đa dạng sinh học khu vực nghiên cứu, tạo ra giải pháp bảo đảm sinh kế bền vững cho cộng đồng cư dân ven biển

Từ những lý do trên, việc thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu thực trạng đa dạng

sinh học và biến động hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định giai đoạn 2005-2015 nhằm đề xuất giải pháp quản lý và sử dụng bền vững”

Trang 12

là một vấn đề cấp thiết, góp phần vào việc phục hồi hệ sinh thái RNM nói riêng và

đa dạng sinh học nói chung tại khu vực, giúp quản lý và sử dụng có hiệu quả, bền vững tài nguyên tại khu vực ven biển huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu chung của đề tài là nghiên cứu đa dạng sinh học khu vực nghiên cứu và thành lập bản đồ hiện trạng rừng ngập mặn năm 2005 và 2015, phân tích đánh giá biến động diện tích RNM giai đoạn 2005 – 2015, hiện trạng khai thác sử dụng tài nguyên khu vực nghiên cứu nhằm đề xuất các biện pháp quản lý, sử dụng

có hiệu quả, bền vững tài nguyên tại huyện Nghĩa Hưng, Nam Định

Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu, đánh giá tính đa dạng sinh học khu vực nghiên cứu Hiện trạng khai thác, sử dụng và quản lý tài nguyên tại khu vực ven biển huyện Nghĩa Hưng, Nam Định

Xây dựng bản đồ diện tích rừng ngập mặn và bản đồ biến động diện tích rừng tại khu vực nghiên cứu Phân tích, đánh giá biến động diện tích RNM khu vực nghiên cứu trong thời gian đoạn 2005 – 2015

Hiện trạng khai thác, sử dụng, quản lý tài nguyên biển khu vực nghiên cứu

Các vấn đề về khai thác, quản lý tài nguyên, môi trường khu vực nghiên cứu Đề xuất các định hướng quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên biển, góp phần quản lý,

sử dụng tài nguyên có hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và các vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường, tạo các sinh kế bền vững cho người dân địa phương góp phần thực hiện phát triển bền vững tại khu vực bãi bồi, ven biển huyện Nghĩa Hưng, Nam Định

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan các nghiên cứu về đa dạng sinh học hệ sinh thái đất ngập nước và bãi bồi ven biển trên Thế giới và Việt Nam

1.1.1 Tổng quan các nghiên cứu về đa dạng sinh học đất ngập nước trên Thế giới

Hoạt động nghiên cứu về ĐNN và khu vực bãi bồi ven biển được bắt đầu từ các nhà nghiên cứu về ĐNN ở phương Tây Những nghiên cứu ban đầu này tập trung chủ yếu vào các vấn đề: Động lực của đới ven bờ và cổ thực vật nhằm cung cấp dữ liệu về tiến trình phát triển và thay đổi của cảnh quan, văn hoá các vùng ĐNN, các quần xã thực vật tại các đầm lầy hay khuynh hướng nghiên cứu sinh thái tổng hợp kết hợp với các hoạt động bảo vệ thiên nhiên và động vật hoang dã

Ngay từ năm 1950, các hoạt động nghiên cứu tập trung chủ yếu về quần xã thực vật tại các đầm lầy, địa hình - địa mạo, thuỷ - hải văn, nghiên cứu động lực của đới ven bờ Tiếp đến là các nghiên cứu về cổ thực vật nhằm giải thích sự thay đổi của chế độ khí hậu và mực nước biển trong quá khứ

Từ những năm 1970 trở lại đây cùng với sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật và tài liệu thực nghiệm đã giúp các nhà nghiên cứu theo dõi sự thay đổi của các vùng

ĐNN, từ đó có những hiểu biết cụ thể hơn về sự biến đổi các vùng ĐNN

Oreeson và cộng sự , 1979 (trích theo Dugan, P.J (ed.) (1990)) [33] đã thống kê 84% tổng số các trích dẫn là của các công trình nghiên cứu trong thập kỷ 70, 14% của các công trình thập kỷ 60 và chỉ có 2% là trích dẫn từ các công trình trước năm 1960

Khu vực Châu Á và Đông Nam Á là nơi có diện tích ĐNN lớn của thế giới

Do mật độ dân cư cao (chiếm 60% số dân toàn thế giới) các cộng đồng dân cư nơi đây phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên ĐNN Vì thế, việc nghiên cứu và bảo tồn các vùng ĐNN có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các quốc gia trong khu vực, số các nước ký công ước Ramsar ngày càng tăng Công tác nghiên cứu ĐNN trên thế giới trong những năm qua đã nhận được sự ủng hộ của nhiều tổ chức quốc tế như Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (The World Conservation Union - IUCN), Chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP), Quỹ động vật hoang dã thế giới (WWF), các

tổ chức phi chính phủ (NGO) Trong đó quan trọng nhất là vai trò của IUCN vì đây là

Trang 14

tổ chức trực tiếp hỗ trợ về tài chính và là cơ quan phối hợp kết nối với các hoạt động với các tổ chức khác trong việc bảo vệ và nghiên cứu ĐNN trên Thế giới [5]

1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu về đa dạng sinh học đất ngập nước ở Việt Nam

ĐNN ở Việt Nam khá đa dạng và phong phú về các kiểu hình với diện phân

bố rộng khắp, trải dài từ Bắc vào Nam và có tầm quan trọng đặc biệt trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Do vậy, ĐNN ở Việt Nam đã và đang thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau như:

Khoa học tự nhiên, kinh tế - xã hội, pháp luật, Các công trình nghiên cứu ĐNN ở Việt Nam tương đối phong phú, đề cập đến nhiều vấn đề bức xúc như: Kiểm kê, phân loại, phân tích chức năng, giá trị của các hợp phần cấu thành của các vùng ĐNN, hoặc nghiên cứu tổng hợp một vùng, một đối tượng cụ thể

Một trong số những dự án đầu tiên có liên quan đến ĐNN ở Việt Nam là “Dự

án sông Mê Kông và đồng bằng sông Cửu Long” của Uỷ ban sông Mê Kông (1957)

do chính phủ 4 nước Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam thành lập Dự án này đã tiến hành điều tra về thuỷ văn sông Mê Kông, kinh tế - xã hội, địa chất, khoáng sản

và tiềm năng nông nghiệp vùng hạ lưu sông Mê Kông Cũng trong dự án này công tác điều tra về động vật hoang dã của lưu vực sông Mê Kông được tiến hành, từ đó đưa

ra những kiến nghị về hệ thống khu bảo tồn

Tiếp theo là một loạt các đề tài, dự án, chương trình điều tra tổng hợp cũng như nghiên cứu các hợp phần của ĐNN từ những năm 1980 cho đến nay Trong chương trình điều tra cơ bản tài nguyên thiên nhiên toàn quốc, một chương trình cấp nhà nước do Uỷ ban khoa học kỹ thuật Nhà nước chủ trì 1984 - 1986 đã bước đầu đề xuất tới việc bảo vệ thiên nhiên những vùng đất ngập nước

Năm 1989, Việt Nam tham gia công ước Ramsar, đây cũng là thời điểm chính thức hình thành những nội dung cương yếu về hoạt động khoa học và bảo tồn thiên nhiên cho lĩnh vực đất ngập nước ở nước ta, do Vụ Điều tra Cơ bản (tiền thân của Cục Môi trường, nay là Cục Bảo vệ Môi trường) thuộc Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước (sau là Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) chủ trì Trên cơ sở các văn bản Công ước, các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế về những vấn đề có liên quan đến đất ngập nước đã được tổ chức tập

Trang 15

hợp lại, xác định những nội dung chuyên đề và xúc tiến hoạt động “nghiên cứu về đất ngập nước” một cách chính thức ở Việt Nam

Những nghiên cứu tiếp theo gồm đề tài KT 03 - 02 về đầm phá do Nguyễn Chu Hồi chủ nhiệm, KT 03 - 01 (chương trình 48B) về động lực bãi bồi, tiềm năng nguồn lợi ven biển miền Bắc Việt Nam do Trần Đức Thạnh, Nguyễn Đức Cự và Phí Kim Trung tiến hành

Về kiểm kê và phân tích các chức năng, giá trị của ĐNN có các công trình của

Lê Diên Dực, Vũ Văn Dũng và Nguyễn Hữu Thắng Trong công trình nghiên cứu của

Lê Diên Dực (1989), đã kiểm kê và công bố 32 vùng ĐNN quan trọng, cần được bảo

vệ của nước ta Trong các nghiên cứu làm cơ sở khoa học cho việc quy hoạch các Khu bảo tồn ĐNN ở Việt Nam, Vũ Văn Dũng và Nguyễn Hữu Thắng đã thống kê tương đối đầy đủ các kiểu ĐNN là ao hồ (tự nhiên và nhân tạo), đầm phá cần quy hoạch thành các khu bảo tồn Sau đó là hàng loạt các công trình kiểm kê và phân loại ĐNN của Nguyễn Hoàng Trí (1995), Phan Nguyên Hồng (1989 - 1998), Nguyễn Chu Hồi (1995), Mai Trọng Nhuận, Đào Mạnh Tiến và cộng sự (1992 - 2003), những công trình này đã làm rõ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn của nghiên cứu ĐNN, đánh giá tổng quan các loại hình ĐNN, tiềm năng, tình hình quản lý, sử dụng, các áp lực, mối đe doạ, chiến lược bảo vệ và phát triển bền vững ĐNN trên toàn lãnh thổ Việt Nam [8, 12, 17, 18]

Bên cạnh đó là các công trình nghiên cứu về tài nguyên sinh thái và đa dạng sinh học các vùng ĐNN của Vũ Trung Tạng (1994), Mai Đình Yên (1993), Đặng Ngọc Thanh (1995 - 2000) Những công trình này đã thống kê, phân loại được nhiều quần xã sinh vật và quan trọng là tìm hiểu được nhiều thành phần, nguồn gốc

và phân bố của chúng, trong đó đã nêu bật chức năng của vùng ĐNN như là bãi đẻ, vùng di cư quan trọng của một số quần thể có ý nghĩa quốc gia và xuyên quốc gia

Chương trình 64A (1982 - 1985) nghiên cứu hậu quả chiến tranh hoá học của Mỹ lên rừng ngập mặn tỉnh Minh Hải (GS.TS Phan Nguyên Hồng chủ nhiệm) đã nghiên cứu sự biến đổi của thảm thực vật RNM cũng như các giá trị thoái hoá của đất do rừng bị huỷ diệt bởi các chất diệt cỏ và chất làm rụng lá cây, trên cơ sở đó đề

xuất biện pháp phục hồi RNM Chương trình 64B (1986 - 1990) nghiên cứu hậu quả

Trang 16

lâu dài của chiến tranh hoá học lên con người và thiên nhiên, từ đó tìm biện pháp khắc phục

Chương trình khoa học bảo vệ đất ngập nước toàn cầu do WWF và IUCN đồng chủ trì và hỗ trợ thực hiện năm 1985 - 1987 đã có ảnh hưởng tới sự khởi động nhận thức về lĩnh vực đất ngập nước ở nước ta Cơ quan quản lý và chỉ đạo cấp Nhà nước trong các chương trình nghiên cứu về ĐNN là Cục Bảo vệ môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực sự tạo nên những định hướng và giải pháp phát triển nghiên cứu, chương trình hành động quản lý và bảo vệ những vùng đất ngập nước của Việt Nam

Năm 1989, nhiều văn bản quy phạm pháp lý liên quan về đất ngập nước ra đời Đặc biệt Nghị định của Chính phủ số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất hiện nay và đầu tiên riêng cho đất ngập nước

Năm 1992, Nguyễn Xuân Dục và cộng sự tiến hành nghiên cứu về những đặc trưng cơ bản về điều kiện tự nhiên và nguồn lợi sinh vật của hệ sinh thái vùng triều miền Bắc Việt Nam

Năm 1993, Pham Nguyên Hồng và Hoàng Thị Sản đã tiến hành nghiên cứu

về khu hệ thú tại VQG Xuân Thủy, khi đó đã ghi nhận được 17 loài [34]

Năm 1995, Nguyễn Xuân Dục đã tiến hành nghiên cứu về Động vật đáy vùng cửa sông ven biển Hà Nam Ninh

Năm 1997, 1999, Nguyễn Văn Cư tiến hành nghiên cứu vê tình hình Khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường các bãi bồi ven biển sửa sông tỉnh Thái Bình (1997); và điều tra cơ bản tài nguyên môi trường nhằm khai thác, sử dụng hợp lý đất hoang hoá các bãi bồi ven biển cửa sông Việt Nam (1999) Cũng trong năm 1999, Ngô Xuân Quýnh và cộng sự đã nghiên cứu về các loài cá, thực vật nổi, động vật nổi và động vật đáy ở Khu Ramsar Xuân Thuỷ

Viễn thám và GIS cũng được đưa vào sử dụng như một công cụ cho việc quản lý, kiểm kê và nghiên cứu biến động các vùng đất ngập nước Bằng các công nghệ này việc thành lập các bản đồ hiện trạng, biến động ĐNN cũng trở nên dễ dàng hơn Một hướng nghiên cứu thu hút được nhiều nhà khoa học là quản lý và sử

Trang 17

dụng, bảo vệ ĐNN trên cơ sở phân tích điều kiện tự nhiên, đặc trưng sinh thái khu vực nhằm đưa ra các biện pháp sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên quý giá này [5]

Năm 2001, Cục Môi trường (nay thuộc Cục Bảo vệ Môi trường) đã đề xuất

68 khu ĐNN có giá trị ĐDSH và môi trường Năm 2002 – 2004, hợp phần ĐNN của dự án “Ngăn chặn các xu hướng suy thoái môi trường Biển Đông và Vịnh Thái Lan” do Mai trọng Nhân chủ trì, đã lập hồ sơ 10 khu ven biển có giá trị cao (Theo công ước Ramsar)

Năm 2003, Việt Nam xây dựng các chương trình nghiên cứu, quản lý và bảo tồn ĐNN như: “Chương trình bảo tồn đất ngập nước quốc gia”; Nghị định 109/2003/NĐ-CP về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng ĐNN; “Chiến lược quản

lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010” (số 192/2003/QĐ-TTg), v.v

Năm 2004, Phan Nguyên Hồng (2004) trong báo cáo về lịch sử nghiên cứu ĐNN Việt Nam đã thống kê hơn 500 nghiên cứu về khí tượng thủy văn, địa chất, địa mạo, ĐDSH, hệ cửa sông ven biển, hệ đầm phá, HST RNM, HST rạn san hô, thảm cỏ biển Các nghiên cứu này đã góp phần đóng góp vào bộ tư liệu nghiên cứu về ĐNN ven biển Việt Nam [20]

Năm 2005, Cục Bảo vệ Môi trường đã báo cáo về nghiên cứu: “Tổng quan hiện trạng đất ngập nước Việt Nam sau 15 năm thực hiện công ước Ramsar”

Năm 2006, Cục Bảo vệ Môi trường đã báo cáo về nghiên cứu: “Chương trình bảo tồn đa dạng sinh học vùng đất ngập nước sông Mê Kông: Hệ thống phân loại Đất ngập nước Việt Nam” do tác giả Hoàng Văn Thắng, Lê Diên Dực thực hiện

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã và đang triển khai rất nhiều hoạt động điều tra, giáo dục, kiểm kê, giám sát, đánh giá và xây dựng các công cụ và kỹ thuật khác nhau liên quan đến ĐNN tại hệ thống các VQG, KBT có vùng đất ĐNN do nhiều tác giả và tổ chức khác tiến hành nghiên cứu, nhằm những định hướng chiến lược

về bảo tồn, sử dụng, quản lý và phát triển bền vững các vùng ĐNN trong tương lai

Những nghiên cứu trên là định hướng quan trọng cho nghiên cứu của đề tài

về khu vực đất ngập nước và bãi bồi cửa sông ven biển tại huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định

Trang 18

1.1.3 Tổng quan các nghiên cứu về ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS đánh giá biến động RNM

Vào những năm 60 thuật ngữ “viễn thám” đầu tiên đã được đề cập tới tại Mỹ,

tuy nhiên, kỷ nguyên sử dụng viễn thám để quan sát và nghiên cứu trái đất coi như bắt đầu từ những năm 1972 với việc phóng thành công tàu Landsat 1 Cho đến nay với hơn 30 năm tổn tại và phát triển, viễn thám đã trở thành một công cụ hiện đại vừa mang tính phụ trợ, vừa mang tính canh tranh trong công nghệ quan sát Trái đất

Khả năng ứng dụng dữ liệu viễn thám trong thành lập các bản đồ thực vật cũng ngày được cải thiện và theo đó dữ liệu viễn thám đang có xu hướng trở thành nguồn

dữ liệu chủ đạo cho việc thành lập các bản đồ lớp phủ thực vật

Ảnh vệ tinh đóng vai trò quan trọng trong việc lập bản đồ RNM trên các vùng địa lý rộng lớn Đã có trên 40 công trình nghiên cứu tại 16 quốc gia sử dụng

độ phân giải của ảnh viễn thám để thành lập bản đồ RNM Sử dụng các bộ cảm khác nhau, với số lượng và phương pháp khác nhau được áp dụng tại các vị trí của các điểm nghiên cứu Dữ liệu thường dùng là các ảnh Landsat và ảnh Spot Ngoài

ra, dữ liệu từ Landsat MSS, Landsat – 7ETM+, các vệ tinh cảm biến từ xa của Ấn

Độ (IRS) 1C/1D Liss III, và vệ tinh ASTER đã được các nhà khoa học sử dụng

Ảnh có độ phân giải từ 15 đến 30m cung cấp thông tin trên bề mặt với quy mô khu vực và phục vụ cho nhiều ứng dụng Khoảng ba thập kỷ qua, các nhà khoa học đã phát hiện và ứng dụng dữ liệu vệ tinh rất hiệu quả cho việc phát hiện và giám sát biến động Đây là công cụ , biện pháp mạnh mẽ để giám sát các xu hướng trong các

hệ sinh thái RNM Cho phép đánh giá xu hướng thay đổi trogn thời gian dài cũng như xác định các thay đổi đột ngột do thiên nhiên hoặc con người gây ra (Sóng thần, chuyển đổi rừng sang nuôi tôm…)

Nghiên cứu của ASchbacher và cộng sự (1927) đã đánh giá tình trạng sinh thái của RNM theo độ tuổi, mật độ, và các loài trong vịnh Phangnga, Thái Lan

Trong một môi trường tương tự, Thu và Populus (1991) đã đánh giá sự thay đổi của RNM ở tỉnh Trà Vinh và đồng bằng Sông Cửu Long, Việt Nam từ năm 1965 đến năm 2001 Rasolofoharinoro và cộng sự (1977) là người đầu tiên đã làm các bản đồ đánh giá hệ sinh thái ngập mặn ở Vịnh Mahajamba, Madagascar dựa trên ảnh vệ tinh SPOT Gang và Agatsiva (1942) sử dụng thành công giải thích trực quan cho ảnh Spot XS ở Mida Creek, Kenya để lập bản đồ và trạng thái RNM, trong khi Wang và cộng sự (1998) đã sử dụng ảnh Landsat TM 1990 và 2000 Landsat – 7ETM+ xác định được những thay đổi trong khu vực phân bố và tổng diện tích

Trang 19

RNM dọc theo bờ biển Tanzania Concheda và cộng sự đã lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất trong hệ sinh thái ngập mặn ở Casamance, Senegal bằng các ảnh Spot XS

từ năm 1986 và năm 2006

Mật độ RNM bị ảnh hưởng bởi yếu tố tự nhiên, cũng như con người, như nuôi trồng thủy sản và mật độ xuất hiện Tong và cộng sự (1992) đã đánh giá tác động của nuôi tôm, nuôi trồng thủy sản trên các hệ sinh thái ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long bằng cách sử dụng ảnh Spot từ năm 1995 – 2001 Họ đã xác định năm lớp cảnh quan sinh thái khác nhau Nghiên cứu của Sirikhlchayanon và cộng sự (1987) đã đánh giá tác động của sóng thần năm 2004 về thảm thực vật RNM tại vịnh Phangnga, Thái Lan liên quan tới chức năng RNM như rào cản sóng Một số

dữ liệu từ ảnh vệ tinh Landsat – 7ETM cung cấp dữ liệu trước khi tác động sóng thần, trong khi dữ liệu ảnh Landsat TM cung cấp dữ liệu tương tự sau khi chịu tác động của sóng thần Họ đã đề xuất cách tiếp cận “cung cấp một phương tiện đáng tin cậy hơn và chính xác hơn phương pháp thông thường để đánh giá các mô hình không gian của các khu vực bị tàn phá thông qua đặc điểm đất khác nhau dọc theo

bờ biển” Theo các nhà điều tra, một vành đai RNM với 1000 – 1500m song song với bờ biển sẽ là tối ưu để làm suy yếu tác động tàn phá của sóng thần trong khu vực nội địa

Olwig và cộng sự đã đánh giá vai trò quan trọng của việc bảo vệ thảm thực vật thân gỗ ven biển chống lại sóng thần ngày 24/12/2004 dựa trên ảnh IKONOS và Quickbird chụp tại Tamil Nadu , Ấn Độ Dahdouh – Guebas và cộng sự đã tính toán các tổ hợp hình ảnh khác nhau và biến đổi, sau đó sử dụng các thuật toán phân loại không kiểm định, có kiểm định Kết quả so sánh với kết quả số hóa được giải đoán bằng mắt, kết hợp với thông tin thực địa, phương pháp này cho phép phân loại tốt nhất tập hợp các loài ngập mặn và có thể phân biệt được giữa 2 loài trong cùng một chi (Rhizophora apiculata và R.Mucronata) trong Pambala, Sri lanka

Một số nghiên cứu điều tra đã được tiến hành để kiểm tra và mô tả các hiệu ứng và các mối quan hệ giữa các tán RNM, kiểu rừng và các phản ứng tán xạ ngược của hệ thống SAR, minh họa bằng các NASA/JPL không khí hệ thống ở tần số khác nhau và chế độ phân cực Mougin (1963) , Proisy (1972, 1973) và cộng sự thực hiện

về cơ chế chi phối giữa các vệ tinh và cơ cấu tán RNM, nghiên cứu tập trung vào vùng RNM ở Guiana thuộc Pháp và bao gồm các phép đo thí nghiệm, mô hình mô phỏng

Trang 20

Tại Việt Nam, một kết quả thành công trong phục hồi và tình trạng tái trồng rừng trên các khu vực bị suy thoái đã được giám sát bởi Selvam và cộng sự (1981)

Nghiên cứu sử dụng ảnh Landsat TM và vệ tinh viễn thám IRS 1D Liss III của Ấn

Độ Seto và Fragkias (1982) trình bày một phương pháp để theo dõi có hệ thống trong bối cảnh của công ước Ramsa về đất ngập nước Họ đã phân tích một loạt ảnh

đa thời gian Landsat MSS và TM của đồng bằng sông Hồng, Việt Nam từ năm

1975 – 2002, tính toán mức độ ngập mặn, mật độ, mức độ nuôi trồng thủy sản và phân mảng cảnh quan, đánh giá điều kiện đất như một hàm theo thời gian Dựa trên kết quả đặc tính phân loại, nghiên cứu đã chỉ ra kích thước thửa, mật độ, … chỉ ra rằng công ước Ramsa không thể giảm phát triển nuôi trồng thủy sản nhưng tổng số diện tích RNM vẫn không thay đổi, đó là do những nỗ lực trồng rừng mang lại

Phan Phú Bồng (1989) và Phan Nguyên Hồng (1993) cũng đã sử dụng tư liệu viễn thám để nghiên cứu về RNM nhưng mới dừng lại ở mưc độ tính diện tích và vị trí phân bố RNM bằng phương pháp giải đoán bằng mắt

Trong chương trình kiểm kê rừng toàn quốc năm 2002, công nghệ GIS và Viễn thám đã được cục Kiểm lâm phối hợp với Viện điều tra quy hoạch rừng ứng dụng khá thành công Toàn bộ các ảnh vệ tinh LandSat ETM với độ che phủ toàn lãnh thổ Việt Nam, khoảng thời gian chụp cuối năm 2001 và trong năm 2002 đã được Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn mua để phục vụ cho công tác này và kết quả là một bộ bản đổ hiện trạng rừng 2002, bản đổ về sự thay đổi diện tích rừng 1998-2002 cùng các số liệu thống kê rừng, đất trống năm 2002 đã được xây dựng và được Bộ nông nghiệp & phát triển nông thôn thẩm định phê duyệt vào tháng 7/2003

Tại Kiên Giang, tác giả Nguyễn Đình Dương đã kết hợp với sở khoa học công nghệ và môi trường nghiên cứu lớp phủ bề mặt tại Kiên Giang giai đoạn 1979-

1992 bằng kỹ thuật Viễn thám và GIS Kết quả đã cho thấy nhiều biến động không nhũng về diện tích và phân bố đất thổ cư, đất lúa và cả rừng tràm U Minh Thượng - khu vực đang được chính quyền địa phương tập chung nhiều nỗ lực trong việc bảo

vệ và phát triển Các biến động 2 thời kỳ cho thấy nhiều diện tích rừng tràm giàu(1979) đã được chuyển thành rừng tràm trung bình, đất lúa, đất thổ cư Dựa trên những biến động xác định từ tư liệu Viễn thám và GIS, tác giả đã đánh giá những mặt tích cực cũng như tiêu cực của quá trình phát triển và kiến nghị với UBND tỉnh Kiên Giang một số biện pháp nhằm đảm bảo sự phát triển kinh tế trong sự bền vững của môi trường

Trang 21

Năm 2007 – 2008, Viện Địa lý – Viện Khoa học Việt Nam đã chủ trì đề tài

“Đánh giá biến động diện tích RNM ven bờ biển bằng công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa lý” do TS Trương Thị Hòa Bình làm chủ nhiệm Nhóm nghiên cứu đã

sử dụng ảnh Spot đa thời gian để đánh giá biến động RNM ở Cần Giờ, sử dụng chỉ

số đất - thực vật – nước để tiến hành phân loại và đánh giá biến động qua các thời

kỳ

Có thể thấy, rất nhiều nghiên cứu về thành lập bản đồ RNM dựa trên ảnh viễn thám đã công bố trong hơn hai thập kỷ qua Các ảnh viễn thám có thể chia thành: ảnh hàng không, ảnh quang học có độ phân giải trung bình, phân giải cao, siêu phổ, và ảnh radar Việc lựa chọn phụ thuộc vào mục đích điều tra, tỷ lệ bản đồ, mực độ phân loại đạt yêu cầu, mức đảm bảo về thời gian, vùng địa lý…

Qua một số nghiên cứu nổi bật kể trên chúng ta có thể thấy rằng, trong những năm gần đây, việc ứng dụng công nghệ viễn thám trong việc thành lập bản đổ hiện trạng sử dụng đất cũng như hiện trạng lớp phủ đã được nhà nước quan tâm và ứng dụng tương đối rộng rãi trong các ngành quản lý tài nguyên, trong công tác quản lý đất đai cũng như các công trình nghiên cứu khoa học, chính điều này đã góp phần không nhỏ cho việc bảo vệ và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên đất đai tại các vùng nghiên cứu

1.2 Vị trí địa lý và lịch sử hình thành khu vực nghiên cứu

1.2.1.Vị trí địa lý

Huyện Nghĩa Hưng là huyện ven biển nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Nam Định, có toạ độ địa lý từ 19055' đến 20019'20'' vĩ độ Bắc và từ 106004' đến 106011' kinh độ Đông, cách thủ đô Hà Nội về phía đông nam 150km, cách thành phố Nam Định về phía nam 60km, cách trung tâm huyện Nghĩa Hưng về phía nam gần 30km

Trên bản đồ khu vực nghiên cứu có các địa danh: Rạng Đông, Nghĩa Phúc, Nam Điền (trong đê Quốc gia) đất công huyện Nghĩa Hưng (ngoài đê Quốc gia)

- Phía Bắc giáp huyện Nam Trực và huyện Ý Yên ;

- Phía Đông giáp huyện Hải Hậu và huyện Trực Ninh ;

- Phía Tây giáp huyện Kim Sơn và huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình ;

- Phía Nam giáp biển Đông ; Đất đai Huyện Nghĩa Hưng chủ yếu là đất phù sa do hệ thống sông Hồng bồi lắng tạo thành, huyện có diện tích tự nhiên 25.412,94 ha với địa hình bằng phẳng, nghiêng thoải từ Bắc xuống Nam Chiều ngang của huyện chỗ hẹp nhất rộng hơn

Trang 22

500m, chỗ rộng nhất khoảng 16 km Huyện Nghĩa Hưng có 22 đơn vị hành chính cấp xã và 03 đơn vị hành chính cấp huyện Trên địa bàn huyện có 2 tuyến đường tỉnh lộ đi qua

Hình 1.1 : Bản đồ hành chính huyện Nghĩa Hưng

(Nguồn : UBND huyện Nghĩa Hưng,2015)

1.2.2 Lịch sử hình thành lục địa khu vực nghiên cứu

Khu vực nghiên cứu là vùng đất ven biển thuộc huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, Huyện lỵ Nghĩa Hưng đặt tại thị trấn Liễu Đề từ năm 1987 Hiện nay, huyện Nghĩa Hưng bao gồm 25 đơn vị hành chính (3 thị trấn và 22 xã) gồm: Thị trấn Liễu Đề, thị trấn Rạng Đông, Thị trấn Quỹ nhất,các xã Hoàng Nam, Nam Điền, Nghĩa Bình, Nghĩa Châu, Nghĩa Đồng, Nghĩa Hải, Nghĩa Hoà, Nghĩa Hồng, Nghĩa Hùng, Nghĩa Lạc, Nghĩa Lâm, Nghĩa Lợi, Nghĩa Minh, Nghĩa Phong, Nghĩa Phú,

Trang 23

Nghĩa Phúc, Nghĩa Sơn, Nghĩa Tân, Nghĩa Thái, Nghĩa Thành, Nghĩa Thắng, Nghĩa Thịnh, Nghĩa Trung

Vùng bãi ven biển Nghĩa Hưng có tốc độ bồi tụ cao xét trong vùng đồng bằng Bắc bộ Toàn bộ khu vực điều tra nghiên cứu, bao gồm cả vùng đất liền trong

đê quốc gia và vùng ngoài đê quốc gia, đều được hình thành sau các hoạt động quai

đê lấn biển

Vùng trong đê: Năm 1930 đắp đê Cồn Vành, thành lập các xã: Nghĩa Bình

(450 ha), Nghĩa Thắng (828 ha), Nghĩa Lợi (524 ha), Nghĩa Hải (1.406 ha)

Năm 1958, nhân dân địa phương cùng bộ đội Trung đoàn 269 quai đê lấn biển thành lập Nông trường Rạng Đông, nay là thị trấn Rạng Đông (khoảng 1.400 ha) Năm 1965, việc quai đê lấn biển khu vực phía đông nông trường Rạng Đông và phía Nam Cồn Vinh giáp cửa biển sông Ninh Cơ được tiến hành với diện tích 300ha Trên cơ sở đó, ngày 27-2-1965, xã Nghĩa Phúc được thành lập (260ha) Năm

1976, tiếp tục đợt quai đê lấn biển và sau đó xã Nam Điền được thành lập 1978), diện tích 720ha Năm 1986, quai đê hình thành vùng Đông Nam Điền (560ha), hiện đang nuôi trồng thuỷ sản tại khu vực

(27-3-Bảng 1.1: Kết quả của các phong trào quai đê lấn biển

TT Thời gian diễn

(Nguồn: Phòng thống kê huyện Nghĩa Hưng, 2015)

Từ năm 2003 đến nay huyện tổ chức quai đê khu vực Cồn Xanh với diện tích khoảng 820ha Đến nay đã hoàn thành và đang tiến hành xây dựng, kiên cố hóa đê biển

Trang 24

Đến nay các xã: Nghĩa Bình, Nghĩa Thắng, Nghĩa Hải đã cơ bản ổn định do

đó vùng nghiên cứu chỉ tập trung vào khu vực các xã Nam Điền, thị trấn Rạng Đông, một phần xã Nghĩa Phúc; còn lại chủ yếu tập trung vào vùng Đông Nam Điền và vùng ngoài đê ngăn mặn

- Vùng ngoài đê: Có hình dạng một tam giác, đáy ở phía bắc, đỉnh lệch về

tây nam

+ Phía đông giáp cửa Ninh Cơ, do dòng chảy của sông Ninh Cơ ngày càng

áp sát chân đê nên khu vực này đê kè luôn bị sạt lở

+ Phía tây giáp cửa sông Đáy, vùng này luôn được bồi tụ, tuy tốc độ bồi lắng giảm nhiều từ khi có đập thuỷ điện trên thượng nguồn các sông qua huyện

1.3 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

1.3.1 Đặc điểm địa hình, địa mạo và địa chất

Vùng cửa sông ven biển huyện Nghĩa Hưng có dạng đồng bằng châu thổ tương đối điển hình (nằm rìa delta sông Hồng) Địa hình nói chung bằng phẳng, đơn điệu với một số loại địa hình khác nhau Độ cao của đồng bằng có xu hướng nghiêng dần từ bắc xuống nam, từ đông sang tây

Đoạn bờ biển thuộc huyện Nghĩa Hưng thuộc loại bờ biển bồi tụ Quá trình bồi tụ mang nét đặc trưng đã tạo nên xu hướng lục địa lấn ra biển trung bình khoảng

53 m/năm, qua đó hình thành nên một hệ sinh thái ĐNN ven biển tiêu biểu ở cửa sông lớn phía Bắc Việt Nam Thời gian gần đây, sau khi hoàn thành xây dựng thủy điện sông Đà thì quá trình bồi tụ giảm dần so với trước đây

Trang 25

2.420ha, mặt bãi có phủ thực vật như rừng ngập mặn, cỏ, lăn, lác, sậy, bãi triều thấp

có độ cao mặt bãi từ 1,9m xuống 0m hải đồ, diện tích khoảng 1.650 ha, phần còn lại

là lạch triều và bãi cát biển

Qua khảo sát, nghiên cứu cho thấy bề mặt bãi nghiêng thoải dần từ tây bắc xuống đông nam và nghiêng thoải dần từ bắc xuống nam Độ dốc của bãi tăng dần

từ bãi bồi cao xuống bãi bồi thấp và sườn bờ

Bảng 1.2 Diện tích các loại bãi ngập triều ven biển huyện Nghĩa Hưng

Trang 26

Bảng 1.3 Độ dốc bề mặt bãi bồi và sườn bờ ngầm khu vực ven biểnhuyện

Nghĩa Hưng

Mặt cắt Hướng

Nguồn: UBND huyện Nghĩa Hưng- Nam Định

Địa mạo và địa chất

Địa hình khu vực được phân ra thành 2 nhóm lớn là: Nhóm địa hình không chịu ảnh hưởng của quá trình biển tạo gồm các dạng địa hình lục địa ven bờ nằm trong đê quốc gia và nhóm địa hình chịu ảnh hưởng trực tiếp của quá trình biển bao gồm các dạng địa hình bãi và địa hình sườn bờ ngầm

Trang 27

Nhóm địa hình không chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố động lực biển, bao gồm địa hình lục địa ven bờ gồm:

- Bãi bồi ven sông: Là các dải bãi bồi thấp ven sông có chiều rộng khá hẹp, chỉ vài mét, tới vài chục mét, kéo dài theo dọc lòng sông Bãi bồi này rất ít thời gian phơi cạn, hầu hết không có thảm thực vật ngập mặn phát triển

- Bãi bồi cao ven sông nằm ngoài đê ngăn lũ, có chiều rộng khá lớn, nằm trong thung lũng sông đang còn hoạt động nên thường xuyên bị ngập nước và được bồi đắp phù sa vào mùa lũ, một số nơi bãi bồi ven sông được tận dụng vào khoanh đắp cấy lúa một vụ, như vùng cửa Đáy sát xã Nam Điền

Nhóm địa hình chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố động lực biển: Gồm

địa hình tích tụ, địa hình xâm thực, địa hình sườn bờ ngầm

* Địa hình tích tụ gồm: Bãi triều thấp và bãi triều cao

- Bãi triều thấp: Cát nhỏ, bãi này phân bố thành dải hẹp, phía đông trước cửa Lạch Giang trong phạm vi từ độ cao 1,9 đến 0m hải đồ, chiều ngang của bãi được

mở rộng nhất ở đầu phía đông bắc Cồn Mờ, sau đó thu hẹp nhỏ dần về phía sâu trong cửa Lạch Giang

- Bãi thấp tích tụ cát bột: Phân bố khá rộng ở sườn ngoài vùng bãi bồi Nghĩa Hưng Ở phía Đông bãi phân bố bên trong bãi cát nhỏ và men theo lạch, ở phía tây

và nam bãi phân bố rộng ở ngoài cửa sông Đáy, đi sâu vào trong bãi, thu hẹp chiều ngang rồi kết thúc khi gặp bãi bồi thấp ven sông

- Bãi cao tích tụ bùn: Bãi cao bùn bột chủ yếu ở phía tây bãi bồi, nằm trong bãi cát Độ cao mặt bãi xấp xỉ 2 mét trên 0 mét hải đồ Bãi bồi được trồng rừng ngập mặn hoặc thực vật ngập mặn phát triển mạnh, mặt bãi tiếp tục được bồi tụ nổi cao nhờ thuỷ triều

Đầm nuôi trồng thuỷ sản ở huyện tập trung ở ven đê ngăn mặn quốc gia thuộc xã Nam Điền và ven đê ngăn lũ của sông Ninh Cơ Độ cao đáy đầm khoảng 2-2,3m trên 0m hải đồ Tiềm năng bãi bồi Nghĩ Hưng rất lớn với diện tích đầm nuôi trồng thuỷ sản Vùng bãi tích tụ cát, cát bộ phần lớn đang nuôi ngao vạng

- Đê cát biển: Thực chất là các doi cát bờ nổi cao khá ổn định, bề mặt bị tác động bởi gió, phân bố dọc bờ kích thước của các đê này thường dài vài trăm mét tới

Trang 28

hàng nghìn mét, rộng vài chục mét tới vài trăm mét Đây chính là nơi trồng rừng phòng hộ tốt nhất, độ cao trung bình khoảng 3,8 - 5m trên 0m hải đồ, chủ yếu được tạo thành khi có sóng gió thổi mạnh vun cát cao lên

- Bãi ngập triều: Được tạo thành do sóng đóng vai trò chính, phân bố chủ yếu

ở phía đông nam bãi bồi, từ Cồn Mờ đến Cồn Trời với chiều dài khoảg 5km, rộg từ 150m đến 350m, bề mặt nghiêng thoải có độ dốc từ 0,006 - 0,01

1.3.2 Đặc điểm khí hậu

Cũng giống như các vùng miền Bắc của Việt Nam, khí hậu huyện Nghĩa Hưng mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh Khu vực nghiên cứu có 2 mùa rõ rệt Mùa đông kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 và mùa hè kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9

- Mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 9) trùng với gió mùa tây nam, thời tiết nóng

ẩm, nhiệt độ trung bình trên 250C, mưa nhiều kéo dài, lượng mưa bình quân trên 100mm/tháng, thời kỳ này thường xuất hiện áp thấp nhiệt đới, bão, dông

- Mùa đông, (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) trùng với gió mùa đông bắc, thời tiết lạnh, nhiệt độ trung bình dưới 200C, mưa ít, lượng mưa trung bình dưới 100mm/tháng

Thời kỳ chuyển tiếp giữa mùa hè và mùa đông là tháng 4 và tháng 10, thời tiết ôn hoà, nhưng ưu thế vẫn thuộc mùa hè

* Chế độ nắng:

Tổng giờ nắng trong năm từ 1.600 - 1.700 giờ trong suốt mùa hè trời đều nhiều nắng, bình quân mỗi tháng > 150 giờ nắng Tháng 7 là tháng có nhiều giờ nắng nhất từ 200 - 230 giờ, tháng 2 có ít giờ nắng nhất 44-50 giờ

Trang 29

tháng 11 đến tháng 4 năm sau Trong đó có 4 tháng khô vớ lượng mưa nhỏ hơn 50 mm/tháng, thường tháng 1 có lượng mưa nhỏ nhất, khoảg 25 mm

* Chế độ gió:

Vùng bãi bồi Nghĩa Hưng là vùng biển hở, không có các đảo che chắn, địa hình bằng phẳng, đường bờ thẳng theo hướng Đông bắc - Tây Nam nên gió có điều kiện phát triển theo nhiều hướng

- Mùa hè: Gió hướng nam, đông nam thịnh hành, phát triển mạnh vào các tháng 5, 6, 7, 8

- Mùa đông: Từ tháng 10-12 gió bắc, đông và đông bắc thịnh hành, tần xuất

và tốc độ trung bình 3 hướng vùng này là : gió bắc 27,7- 29,7%; gió đông 17,1 - 21,3 m/s; gió đông bắ 4,6 - 4,8 m/s; thời kỳ tháng 1 - 4 gió đông chiếm ưu thế với tần suất 25,2 - 41,9 m/s, tố độ trung bình 4,2 - 4,8m/s, gió hướng bắc và đông bắc chiếm tần suất nhỏ hơn, mỗi hướng chiếm khoảng 15-20% Tốc độ trung bình hướng bắc 3,2 - 3,5m/s; hướng đông bắc tương đương hướng đông 4,2 - 4,8 m/s Tố

độ gió trung bình theo các hướng trong mùa đông đạt 3,5 - 3,7m/s nhỏ hơn mùa hè 3,3 - 4,4 m/s

* Lượng mây:

Lượng mây trung bình trong năm của toàn khu vực dao động 7 - 8/10 bầu trời Dải ven bờ Nghĩa Hưng cũng như ven biển đồng bằng Bắc Bộ có độ ẩm cao, những ngày mưa phùn trời âm u là nhữg ngày có lượng mưa lớn trong năm, tháng 3

có lượng mây lớn nhất 9 - 10/10 bầu trời Các tháng đầu mùa đông khô hanh, tháng

9 - 10 có lượng mây nhỏ nhấ từ 5 - 6/10 bầu trời

Trang 30

* Các hiện tượng khác của thời tiết

- Bão là nguyên nhân gây ra những thay đổi địa hình vùng bãi và ven bờ, đe doạ các hệ thống đê và các công trình ven biển, ảnh hưởng đến đời sống của bà con vùng ven biển huyện Nghĩa Hưng Theo số liệu thống kê từ năm 1951 – 2013, khu vực huyện Nghĩa Hưng chịu tác động trực tiếp từ 33 cơn bão Trong khu vực nghiên cứu khả năng có bão từ tháng V đến tháng XI

Bão và nước dâng trong bão: Thường xuất hiện 5 - 6 cơn bão trong năm có khả năng xảy ra từ tháng 5 - tháng 10, nhiều nhất là tháng 6, 7, 8 Tốc độ gió trong bão có trận đạt 120 km/h Tuy bão xuất hiện không thường xuyên, nhưng năng lượng lớn gấp nhiều lần động lực khác Tố độ gió cực đại trong các cơn bão đạt >

20m/s, nhưng có cơn đạt tới 40m/s Kèm theo bão là mưa lớn kéo dài, lượng mưa >

200mm, có khi kéo dài 3 - 4 ngày Trong thời gian bão có thể phá huỷ, xoá nhoà các dạng địa hình bờ biển đã tồn tại trước đó và làm xuất hiện những dạng địa hình mới

Qua phân tích tổng hợp nhiều năm cho thấy: Trong điều kiện bão trùng với những ngày nước triều cường thì mực nước biển dâng cao từ 2 - 3 lần, số lần bão trùng với triều cường rất ít, chu kỳ khoảng 15 - 20 năm, mực nước dâng trong điều kiện bão trung bình từ 1,8 - 2,2m, khoảng chu kỳ 60 năm mới có 1 lần bão có mực nước dâng cao 4-5m như trong bão số 7 năm 2005

- Số ngày rét, nóng và có giông: Số ngày có nhiệt độ dưới 150C trung bình từ

45 - 50 ngày/năm Tháng 1 là tháng có nhiều ngày rét nhất, trung bình từ 16 - 18 ngày/tháng, ngược lại số ngày nóng trong năm (>350C) rất ít khoảg 5 ngày/năm

- Giông thường xuất hiện vào tháng 7, tháng 8, nhiều nhất có thể từ 10-16 ngày/tháng, ngoài ra các tháng 4 đến tháng 8 cũng có giông nhưng số ngày giông thấp hơn

- Sương mù: Thường xuất hiện vào nửa cuối mùa đông, nhiều ngày sương

mù dày đặc kéo dài đến 8 - 9 giờ sáng mới tan

- Mưa phùn: Số ngày có mưa phùn thấp hơn so với vùng trong sâu lục địa

1.3.3 Đặc điểm thủy, hải văn

Huyện Nghĩa Hưng được bao bọc bởi 3 con sông lớn (sông Đào, sông Đáy

và sông Ninh Cơ Chế độ thủy, hải văn của khu vực nghiên cứu cũng thay đổi theo

Trang 31

mùa Vào mùa đông, sóng hướng chính là đông và đông bắc, còn vào mùa hè hướng chính là nam và đông nam

Cửa Lạch Giang (sông Ninh Cơ) nằm giữa đoạn bờ biển Hải Hậu - Nghĩa Phúc (Nghĩa Hưng) đang bị xói lở mạnh và vùng cửa Đáy đang bị bồi lắng với cường độ cao

Vào mùa lũ trên các sông thuộc hệ thống sông Hồng đều dâng cao, có lúc trên báo động cấp 3 Tuy nhiên, vùng nghiên cứu đều là vùng hạ lưu cửa sông Đáy

và sông Ninh Cơ nên lũ có phần giảm đi

Vào mùa kiệt tổng dòng chảy chỉ chiếm 25% của cả năm.Thông thường thời gian triều lên là 11giờ và thời gian triều xuống là 13 giờ, trong khoảng 15 ngày có một chu kỳ nước cường và một chu kỳ nước xuống Đặc trưng mực nước trong vùng nghiên cứu đều lấy theo mực nước tại Hòn Dáu Đây cũng là điểm đặc trưng của vùng ven biển vịnh Bắc Bộ

Tuy nhiên bằng quan sát thực tiễn nhiều năm cho thấy Các đặc trưng mực nước trung bình, mực nước cao nhất, thấp nhất ở vùng này đều nhỏ hơn ở hòn Dáu

Cụ thể như sau :

Biên độ dao động mực nước triều trong vùng cửa sông khá rộng, từ 110 cm đến 320 cm Đỉnh triều cực đại thường xuất hiện vào tháng VII với độ cao 270 cm trên cửa sông Đáy và 260 cm ở cửa sông Ninh Cơ và chân triều cực tiểu thường xuất hiện vào tháng IV với độ cao – 59 cm trên cửa sông Đáy và - 102 cm ở của sông Ninh Cơ

Chế độ mực nước triều trong vùng cửa sông ở khu vực này được thống kê theo số liệu của trạm Như Tân (xã Kim Tân huyện Kim Sơn) trên sông Đáy và trạm Phú Đệ (xã Hải Châu huyện Hải Hậu) trên sông Ninh Cơ

Tóm lại, vùng ven biển Nghĩa Hưng có chế độ khí hậu, hải văn phức tạp đặc

trưng bởi sự phân hoá mạnh các yếu tố khí hậu, hải văn và thủy văn theo các mùa trong năm

Đặc điểm cơ bản chung của chế độ khí hậu khu vực là nhiệt đới nóng ẩm và khí hậu bị phân hoá thành 2 mùa rõ rệt, mùa hè và mùa đông

Trang 32

Trên cơ sở phân tích cụ thể đặc điểm khí hậu, thời tiết và chế độ hải văn từng tháng, từng mùa của vùng ven biển Đó chính là cơ sở để xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng hợp lý vùng bãi bồi ven biển của huyện Nghĩa Hưng

1.4 Đặc điểm kinh tế xã hội 1.4.1 Dân số, lao động

Huyện Nghĩa Hưng có 03 thị trấn và 22 xã, với 179.473 người (Phòng thống

kê huyện Nghĩa Hưng, 2014) Trong đó, số người trong độ tuổi lao động 111.891

người, chiếm 61,1%; lao động trong nông nghiệp chiếm 69,4%; lao động trong ngành thủy sản chiếm 3,2% tổng số lao động của huyện Đây là nguồn lao động dồi dào, thuận lợi cho phát triển các ngành kinh tế trên địa bàn huyện nói chung và sản xuất thủy sản nói riêng Tuy nhiên lực lượng lao động chưa qua đào tạo chuyên môn

kỹ thuật còn nhiều Phần lớn dân số của huyện sống tại khu vực nông thôn (92.7%),

là những vùng đất sản xuất nông nghiệp hay những bãi bồi sau nhiều phong trào

quai đê lấn biển của chính quyền địa phương Người dân sống phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên là chính

Bảng 1.4: Thống kê dân số, mật độ dân số theo các xã, thị trấn

huyện Nghĩa Hưng, 2014

(người)

Mật độ dân số (Người/km2)

Trang 33

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Nghĩa Hưng, 2014

Bảng 1.5: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tại huyện

Nghĩa Hưng giai đoạn 2010 - 2014

Trang 34

tạo

SX và PP điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí

Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải nước thải

Bán buôn, bán lẻ; sửa chữa

ô tô, moto, xe máy và xe

có động cơ khác

HĐ tài chính, ngân hành

và bảo hiểm

HĐ kinh doanh bất động sản

Trang 35

Nghệ thuật vui chơi và gải trí

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Nghĩa Hưng, 2014

Qua các số liệu trên và số liệu thống kê qua các năm gần đây trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng, có thể thấy do nguồn lợi thuỷ sản bị khai thác cạn kiệt dẫn đến hiệu quả kinh tế từ khai thác thuỷ sản không cao, lao động từ khai thác thủy sản có

xu hướng chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản hoặc chế biến thuỷ sản và các hoạt động kinh tế khác

1.4.2 Hiện trạng kinh tế xã hội

Tổng giá trị sản xuất gia tăng của các ngành kinh tế năm 2014 đạt 1.353 tỷ

đồng Tốc độ tăng trưởng kinh tế 11,44% Thu nhập bình quân đầu người toàn

huyện 28,02 triệu đồng (giá hiện hành), bằng 93,4% so với bình quân của tỉnh (tỉnh

Nam Định: 30 triệu đồng)

Cơ cấu tổng giá trị tăng thêm các ngành kinh tế năm 2014:

- Nông - Lâm - Thuỷ sản: 39,18 %

Thực hiện 2013

Thực hiện

2014 Chỉ tiêu kinh tế

2 Cơ cấu kinh tế

Trang 36

- Nông, lâm, thuỷ sản % 40,83 39,18

Chỉ tiêu xã hội

- Số lao động được đào tạo nghề người 3.060 3.300

13 Tỷ lệ HS tốt nghiệp THCS vào học THPT hoặc loại hình đào tạo khác

Chỉ tiêu môi trường

Nguồn: UBND huyện Nghĩa Hưng, 2015

Trang 37

Đối với khu vực nghiên cứu, kinh tế vẫn chủ yếu là ngành nông lâm thủy sản Hoạt động kinh tế nông nghiệp tại huyện Nghĩa Hưng giai đoạn từ 2005 – 2014

cụ thể như sau:

Bảng 1.7: Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản theo giá hiện hành và cơ cấu các

ngành trong nền kinh tế giai đoạn từ 2005 - 2014

Năm Tổng số

Nông nghiệp

Lâm nghiệp

Thuỷ sản

Trang 38

63,71

30,61

5,68

0,44

27,54

70,49

59,30

35,77

65,51

53,97

37,75

63,35

52,92

37,20

60,59

55,92

34,99

Nguồn: UBND huyện Nghĩa Hưng, 2015

Mặc dù vùng ven biển huyện Nghĩa Hưng là vùng có diện tích tập trung nuôi trồng thuỷ sản lớn nhất nhưng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu nhập của người lao động của huyện Tốc độ tăng giá trị sản xuất giữa các năm không ổn định Tuy giá trị ngành sản xuất nông nghiệp luôn chiếm tỷ trọng cao, nhưng cơ cấu tỷ trọng của ngành nông nghiệp lại có xu hướng giảm trong những năm gần đây, thay vào đó là tỷ trọng ngành thuỷ sản tăng cao thứ

2 sau nông nghiệp Giá trị sản xuất ngành thủy sản tăng cao và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong hệ thống kinh tế xã hội của huyện và đặc biệt tại vùng ven biển khu vực nghiên cứu Tuy vậy, ngành thủy sản là ngành cho giá trị và thu nhập cao nhất trong thành phần kinh tế nêu trên, cụ thể đặc điểm và tình hình các ngành kinh tế năm 2014 trên địa bàn huyện như sau:

1.4.2.1 Nông nghiệp

Lĩnh vực liên quan đến sản xuất nông nghiệp bao gồm làm vườn, trồng lúa,

chăn nuôi Ở huyện Nghĩa Hưng có tới 95% diện tích đất canh tác khu vực là trồng

Trang 39

lúa Trong cơ cấu các ngành nông nghiệp, trồng trọt vẫn là lĩnh vực chủ đạo, chiếm khoảng 60% trong cơ cấu các ngành nông nghiệp Nông nghiệp chiếm trên 60% cơ cấu ngành nông – lâm thủy sản nói riêng và vẫn là ngành chính trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng Tuy nhiên, theo xu thế phát triển kinh tế và sự gia tăng của ngành NTTS trên địa bàn huyện, thì ngành nông nghiệp đang có xu hướng giảm dần trong đóng góp kinh tế chung của huyện Năm 2006, nông nghiệp chiếm 72,12 % giá trị ngành nông lâm thủy sản nhưng đến năm 2014, thành phần này chỉ chiếm 60,59%

Cây trồng chủ yếu của vùng vẫn là cây lúa, năng suất tuy không cao nhưng mang lại tính ổn định

Trên nhiều diện tích chủ động được tưới tiêu, ngoài hai vụ lúa, còn trồng xen một vụ mùa Ngược lại các diện tích đang trở thành đất trồng lúa chuyên canh, phân

bố ngoài đê hoặc ở những nơi không chủ động được tưới tiêu, thường trồng một vụ lúa, một vụ mùa hoặc một vụ bỏ hoang Cây trồng cạn hàng năm (rau, khoai lang, ) được canh tác bổ sung trên những vùng đất thiếu nước về mùa đông, làm thức ăn gia súc và lương thực, thực phẩm Tuy nhiên trong thời gian gần đây với một số diện tích trồng lúa cho năng suất thấp, chỉ trồng được một vụ người dân đã chuyển đổi sang đào ao nuôi tôm, cá và đã đạt được kết quả nhất định và cho giá trị thu nhập cao hơn

Bảng 1.8 Giá trị sản phẩm trồng trọt và NTTS trên 1 đơn vị diện tích đất theo

giá hiện hành giai đoạn 2005 – 2014

2005 2010 2011 2012 2013 2014

I Giá trị SP trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản

557.813

1.453.401

1.679.485

1.496.011

1.650.757

2.067.990

Trong đó:

1 Giá trị SP trồng trọt và thuỷ sản trên đất lúa 405693

1.170.848

1.310.432

1.110.219

1.092.430

1.291.603

2 Giá trị SP cây hàng năm và

1.094.455

1.214.438

1.016.726

990.051 1185290

3 Giá trị sản phẩm cây lâu 37024

Trang 40

năm 76.393 95.994 94.493 102.379 106.313

4 Giá trị sản phẩm nuôi trồng thuỷ sản 152120

282.553

369.053

385.792

558.327

776.387

II Diện tích đất nông nghiệp và mặt nước nuôi trồng thuỷ sản (ha)

16.959

16.422

16.778

14.935

15.093

15.048

Trong đó:

1 Diện tích đất nông nghiệp 13980

13.744

13.965

12.082 12073 12038

2 Diện tích đất trồng cây

12.596

12.859

11.034 11015 10974

3 Diện tích đất trồng cây

1.146

1.106

1.048 1058 1064

4 Diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 2979

2.678

2.813

2.853 3020 3010

III Giá trị sản phẩm trồng trọt và nuôi trồng thuỷ sản trên 1 ha

32,89

88,50

100,10

100,17

109,37

137,43

1 Giá trị SP bình quân 1 ha đất nông nghiệp

31,83

77,39

93,84

91,89

90,49

108,01

2 Giá trị SP bình quân 1 ha đất canh tác 31,74

78,26

94,44

92,14

89,88

99,92

3 Giá trị SP nuôi trồng TS b/q 1 ha thuỷ sản

51,06

105,51

131,20

135,22

184,88

257,94

(Nguồn: UBND huyện Nghĩa Hưng, 2015) 1.4.2.2 Chăn nuôi

Nghành chăn nuôi trên địa bàn huyện đã có sự tăng trưởng khá nhanh trong thời gian gần đây, cơ cấu chăn nuôi trong ngành nông nghiệp từ 27,85% năm 2006

đã tăng khá và năm 2014 chiếm 34,99%

Năm 2014, tổng đàn trâu 1.276 con, đàn bò 1.176 con, đàn lợn 80.250 con, gia cầm 1,01 triệu con Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 18.100 tấn, trong đó thịt lợn hơi 15.500 tấn

Ngày đăng: 15/12/2022, 09:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Nguyễn Chu Hồi và nnk (2004), Cơ sở khoa học sử dụng hợp lý vùng bãi bồi ven biển Nghĩa Hưng, Nam Định, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học sử dụng hợp lý vùng bãi bồi ven biển Nghĩa Hưng, Nam Định
Tác giả: Nguyễn Chu Hồi và nnk
Năm: 2004
14. Nguyễn Chu Hồi (2005), Những tài liệu cơ sở của kế hoạch nuôi trồng thủy sản và sản xuất muối bền vững Giao Thủy, tỉnh Nam Định, Viện kinh tế và quy hoạch Thủy sản, Bộ thủy sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tài liệu cơ sở của kế hoạch nuôi trồng thủy sản và sản xuất muối bền vững Giao Thủy
Tác giả: Nguyễn Chu Hồi
Năm: 2005
15. Phan Nguyên Hồng (1991) Đặc điểm sinh thái, phân bố thực vật và thảm thực vật ven biển Việt Nam. Luận Án cấp II, Đại học Sư Phạm Hà Nội I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm sinh thái, phân bố thực vật và thảm thực vật ven biển Việt Nam
17. Phan Nguyên Hồng, Nguyễn Hoàng Trí, Hoàng Thị Sản và Trần Văn Ba (1995), Rừng ngập mặn dễ trồng mà nhiều lợi. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng ngập mặn dễ trồng mà nhiều lợi
Tác giả: Phan Nguyên Hồng, Nguyễn Hoàng Trí, Hoàng Thị Sản và Trần Văn Ba
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
18. Phan Nguyên Hồng, Phan Ngọc Ánh và J. Brands (1996), Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về Mối quan hệ giữa phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn và nuôi trồng hải sản ven biển Việt Nam. TP. Huế, 31/10-02/11/1996.CRES/ACMANG. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về Mối quan hệ giữa phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn và nuôi trồng hải sản ven biển Việt Nam
Tác giả: Phan Nguyên Hồng, Phan Ngọc Ánh và J. Brands
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
19. Phan Nguyên Hồng và ctv, 1999. Rừng ngập mặn Việt Nam. Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng ngập mặn Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
21. Phan Nguyên Hồng, Lê Xuân Tuấn, Phạm Thị Anh Đào (2005), Đa dạng sinh học ở vườn quốc gia Xuân Thủy, Hà Nội, 42tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học ở vườn quốc gia Xuân Thủy
Tác giả: Phan Nguyên Hồng, Lê Xuân Tuấn, Phạm Thị Anh Đào
Năm: 2005
22. Phòng Nông nghiệp huyện Nghĩa Hưng (2013), Thực trạng sản xuất thủy sản huyện Nghĩa Hưng giai đoạn 2011-2013 và phương hướng phát triển kinh tế thủy sản trong thời gian tới”, Nghĩa Hưng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sản xuất thủy sản huyện Nghĩa Hưng giai đoạn 2011-2013 và phương hướng phát triển kinh tế thủy sản trong thời gian tới”
Tác giả: Phòng Nông nghiệp huyện Nghĩa Hưng
Năm: 2013
23. Phòng thống kê huyện Nghĩa Hưng, Niên giám thống kê huyện Nghĩa Hưng 2005, Nghĩa Hưng, Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê huyện Nghĩa Hưng 2005
24. Phòng thống kê huyện Nghĩa Hưng, Niên giám thống kê huyện Nghĩa Hưng 2014, Nghĩa Hưng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê huyện Nghĩa Hưng 2014
25. Phòng Thống kê, huyện Nghĩa Hưng, Nam Định (2005), Báo cáo Điều tra đánh giá tài nguyên ven biển huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định, Nghĩa Hưng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Điều tra đánh giá tài nguyên ven biển huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định
Tác giả: Phòng Thống kê, huyện Nghĩa Hưng, Nam Định
Năm: 2005
26. Phương pháp điều tra rừng ngập mặn. Sổ tay hướng dẫn giám sát điều tra đa dạng sinh học, Hà Nội: 315-331 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn giám sát điều tra đa dạng sinh học
28. Trần Văn Thụy, Phạm Minh Dương, Vũ Sinh Khiêu, Nguyễn Thành Trung, Nghiên cứu định hướng sử dụng hợp lý hệ sinh thái bãi bồi huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình thông qua sử dụng viễn thám và GIS. Tạp chí khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu định hướng sử dụng hợp lý hệ sinh thái bãi bồi huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình thông qua sử dụng viễn thám và GIS
30. UBND huyện Nghĩa Hưng (2015), Báo cáo tình hình kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, Nghĩa Hưng.Tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội
Tác giả: UBND huyện Nghĩa Hưng
Năm: 2015
32. Constanza, R. Farber, C. and Maxcell, J. (1989), The valuation and Management of Wetland Ecosystems, Ecological Economics Sách, tạp chí
Tiêu đề: The valuation and Management of Wetland Ecosystems
Tác giả: Constanza, R. Farber, C. and Maxcell, J
Năm: 1989
33. Dugan, P.J. (ed.) (1990), Wetland Conservation: A Review of Current Issues and Required Action. IUCN. Pp 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Review of Current Issues and Required Action
Tác giả: Dugan, P.J. (ed.)
Năm: 1990
34. Phan Nguyen Hong and Hoang Thi San (1993), “Mangroves of Vietnam”, IUCN, Bangkok, p. 22; 35-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Mangroves of Vietnam”
Tác giả: Phan Nguyen Hong and Hoang Thi San
Năm: 1993
16. Phan Nguyên Hồng, 1991. Thảm thực vật Rừng ngập mặn Việt Nam, Luận án Tiến Sĩ Khoa học sinh học, Đại học Sư phạm Hà Nội Khác
20. Phan Nguyên Hồng (2004), Báo cáo về lịch sử nghiên cứu Đất ngập nước Việt Nam Khác
27. Hoàng Văn Thắng, Lê Diên Dực (2006), Hệ thống phân loại đất ngập nước Việt Nam, Chương trình bảo tồn đa dạng sinh học đất ngập nước sông Mekong, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm