ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN PHAN NGỌC ANH NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ HIỆN TƯỢNG THIÊN TAI TỚI SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ SINH KẾ CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TẠI H
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
TỔNG QUAN VỀ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về sản xuất nông nghiệp, được áp dụng tùy thuộc vào mục tiêu quản lý của từng quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc đặc điểm địa lý Mỗi khu vực có cách hiểu riêng nhằm phù hợp với chiến lược phát triển, tiêu chí đo lường và nguồn lực sẵn có Việc xác định định nghĩa phù hợp giúp xây dựng chính sách và định hướng đầu tư cho nông nghiệp, cũng như đánh giá hiệu quả hoạt động dựa trên các chỉ tiêu quản lý và địa lý cụ thể Tổng thể, sự đa dạng về khái niệm cho thấy cần cách tiếp cận linh hoạt khi so sánh dữ liệu giữa các vùng và quốc gia.
Theo Vũ Đình Thắng, nông nghiệp được hiểu theo nghĩa hẹp là chỉ bao gồm ngành trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ trong nông nghiệp, trong khi nghĩa rộng mở ra cả lĩnh vực lâm nghiệp và thủy sản [21] Theo Bộ NN&PTNT, quy định SXNN ở xã theo nghĩa rộng gồm các tiểu ngành: nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), lâm nghiệp, thủy sản và diêm nghiệp [2].
Nông nghiệp có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, đóng góp 22,1% GDP năm 2008, gần 30% giá trị xuất khẩu và trên 60% lực lƣợng lao động
Nông nghiệp Việt Nam duy trì tăng trưởng cao và ổn định qua nhiều năm, đạt được những thành tựu to lớn bất chấp những thiệt hại nặng nề do thiên tai.
Sau 30 năm đổi mới (1986 - 2016), Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong nông nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất lương thực Sản lượng lương thực Việt Nam không những đủ cho nhu cầu trong nước mà còn có khối lượng lớn cho xuất khẩu Bình quân lương thực đầu người tăng từ 445 kg năm 2000 lên 501 kg năm 2008 Từ một nước thiếu lương thực trong một thời gian dài Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới Hiện nay, bốn cây lương thực chính của Việt Nam đó là lúa, ngô, sắn, khoai [51]
Việt Nam là một nước nông nghiệp với 75% dân số sống bằng nông nghiệp và 70% diện tích đất ở khu vực nông thôn, tuy nhiên cuộc sống người dân vẫn chịu nhiều ràng buộc bởi điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Sản xuất nông nghiệp hiện nay vẫn chủ yếu dựa trên hộ cá thể, quy mô nhỏ và trình độ khoa học kỹ thuật còn chưa cao, đặt ra thách thức nghiêm trọng trước tác động của biến đổi khí hậu.
Nông nghiệp Việt Nam hiện phụ thuộc đáng kể vào thời tiết và biến đổi khí hậu Sự thay đổi của thời tiết tác động rất lớn đến SXNN, đặc biệt là trồng trọt, làm giảm năng suất và hiệu quả sản xuất Do đó, cần đẩy mạnh các biện pháp thích ứng với khí hậu, ứng dụng công nghệ nông nghiệp hiện đại và quản trị rủi ro thời tiết để duy trì năng suất ổn định cho SXNN ở Việt Nam.
Ngành trồng trọt chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nông nghiệp và đóng vai trò then chốt đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, với sản xuất lương thực như lúa, ngô và rau màu là những yếu tố chủ đạo của ngành Việt Nam đã đạt được an ninh lương thực ở phạm vi quốc gia, đảm bảo nguồn cung thực phẩm cho toàn dân Tuy nhiên, việc đảm bảo an ninh lương thực ở cấp hộ gia đình vẫn đang là một thách thức lớn, đặc biệt ở vùng miền núi phía Bắc.
Tại huyện Mai Sơn, cây trồng chủ lực đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp đó là cây ngô.
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT SINH KẾ
Theo BộPháttriểnquốctếAnh(DFID)năm1999, sinhkế đƣợc định nghĩa là:“Sinhkếbaogồmcáckhảnăng,cáctàisản(baogồmcảcácnguồnlựcvậtchất,xãhội)vàc áchoạtđộngcầnthiếtđểkiếmsống” [33]
Sinh kế bền vững là khái niệm mô tả một hệ thống sinh kế có thể giải quyết các căng thẳng và biến động, có khả năng phục hồi, duy trì và tăng cường nguồn lực hiện tại và tương lai mà không gây hại cho cơ sở tài nguyên thiên nhiên Các tiêu chí của sinh kế bền vững bao gồm an toàn lương thực, cải thiện điều kiện môi trường tự nhiên, cải thiện điều kiện môi trường của cộng đồng-xã hội, cải thiện điều kiện vật chất và bảo vệ nguồn lực cũng như bảo đảm an toàn cho hệ sinh thái và các cơ sở liên quan.
1.2.2 Khung sinh kế bền vững (SLF)
SLF, short for Sustainable Livelihoods Framework, or Khung Sinh kế Bền vững in Vietnamese, was developed by the UK’s Department for International Development (DFID) in 2001 It identifies the key factors that shape and influence people’s livelihoods, showing how assets—human, natural, financial, social, and physical—interact with institutions, policies, and external conditions to determine livelihood outcomes By mapping these components, the framework explains why some communities are more resilient and able to sustain their livelihoods, while others remain vulnerable This holistic approach supports planning and interventions aimed at poverty reduction, resilience building, and sustainable development.
Khung phân tích sinh kế gồm năm thành phần cơ bản: nguồn vốn (tài sản) mà người dân có thể huy động; tiến trình thay đổi cấu trúc của sinh kế để thích nghi với điều kiện mới; ngữ cảnh thay đổi bên ngoài tác động đến khả năng thích nghi; chiến lược sinh kế được thiết kế nhằm tối ưu hóa nguồn lực và cơ hội sống còn; và kết quả của chiến lược sinh kế đó, bao gồm mức thu nhập, rủi ro và chất lượng cuộc sống Tương tác giữa các yếu tố này hình thành khả năng chống chịu, phục hồi và phát triển lâu dài cho hộ gia đình và cộng đồng.
Nguồn vốn hay tài sản sinh kế là tổng hợp toàn bộ năng lực vật chất và phi vật chất mà con người có thể huy động để duy trì và phát triển sinh kế của mình Nguồn vốn sinh kế được chia thành 5 loại chính: vốn con người (kiến thức, kỹ năng, sức khỏe); vốn xã hội (mạng lưới quan hệ, sự hỗ trợ từ cộng đồng); vốn tài chính (tiền mặt, thu nhập, tiết kiệm, khả năng tiếp cận tín dụng); vốn vật chất (công cụ, máy móc, nhà ở, cơ sở hạ tầng); và vốn tự nhiên (đất đai, nước, tài nguyên thiên nhiên và môi trường) Việc nhận diện và quản lý đầy đủ 5 loại vốn này giúp người dân duy trì ổn định và nâng cao sinh kế trước rủi ro và biến động.
Vốn nhân lực là tổng hợp các khả năng, kỹ năng, kiến thức làm việc và sức khỏe cần thiết để con người có thể theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau Nhờ vốn nhân lực, họ có thể triển khai các hoạt động nghề nghiệp phù hợp nhằm đạt được kết quả sinh kế và các mục tiêu sinh kế mà bản thân đề ra.
- Vốn tài chính: Vốn tài chính là các nguồn tài chính mà người ta sử dụng nhằm đạt đƣợc các mục tiêu trong sinh kế
Vốn tự nhiên là nguồn lực gồm đất đai, nước và các hệ sinh thái mà con người có thể tiếp cận để phục vụ cho sản xuất và sinh kế Đây là nền tảng của nhiều hoạt động kinh tế và đời sống hàng ngày, từ nông nghiệp và công nghiệp đến cung cấp nước sạch và đa dạng nguồn thực phẩm Quản lý vốn tự nhiên một cách bền vững giúp duy trì năng suất, giảm thiểu rủi ro thiếu tài nguyên và bảo vệ môi trường cho các thế hệ tương lai Nhận diện và đo lường giá trị của vốn tự nhiên cho phép các doanh nghiệp và cộng đồng ra quyết định đầu tư hiệu quả và tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và các thách thức phát triển.
- Vốn vật chất: Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản và hàng hóa vật chất nhằm hỗ trợ việc thực hiện các hoạt động sinh kế Nguồn vốn vật chất thể hiện ở cả cấp cơ sở cộng đồng hay cấp hộ gia đình
- Vốn xã hội: Nó nằm trong các mối quan hệ xã hội (hoặc các nguồn lực xã hội) chính thể và phi chính thể mà qua đó người dân có thể tạo ra cơ hội và thu được lợi ích trong quá trình thực thi sinh kế
Khung SLF là một công cụ giúp hiểu về sinh kế, mục đích áp dụng khung sinh kế bao gồm:
- Mục đích chung nhất của khung SLF là giảm nghèo;
- Hiểu rõ hơn về tất cả các khía cạnh của vấn đề nghèo;
- Giúp định ra các ƣu tiên hành động;
- Giúp tìm ra chiến lƣợc sinh kế phù hợp;
- Sử dụng khung sinh kế bền vững trong quá trình đánh giá tính tác động của thiên tai
Chỉ dựa vào một loại vốn cũng có thể không đủ để tạo sinh kế bền vững Để phát triển bền vững, mức độ quan trọng của từng loại vốn sẽ khác nhau, phù hợp với từng thời điểm và điều kiện của cộng đồng địa phương, đặc biệt là các hộ nghèo Các loại vốn gồm vốn con người, vốn tài chính, vốn tự nhiên, vốn xã hội và vốn vật chất đóng vai trò khác nhau tùy hoàn cảnh, vì vậy cần ưu tiên sự cân bằng và đa dạng hóa vốn để tăng khả năng tự chủ và thích ứng Chiến lược phát triển nên nhắm tới xác định và huy động tối đa các loại vốn phù hợp với từng thời điểm, nhằm tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng địa phương và cải thiện cuộc sống của hộ nghèo.
Hình 1: Khung sinh kế bền vững 1.2.3 Cơ sở nguồn lực sinh kế của cộng đồng dân cƣ huyện Mai Sơn
Dựa trên thuyết sinh kế DFID và kết quả điều tra thực địa tại khu vực nghiên cứu, những nguồn vốn sinh kế của người dân tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La được trình bày trong bảng dưới đây Bảng phân tích chi tiết các kênh vốn, mức độ tiếp cận và tác động của chúng đến khả năng thích ứng và thu nhập của hộ gia đình Các kết quả cho thấy sự đa dạng của nguồn vốn và vai trò của chúng trong việc duy trì sinh kế trước các rủi ro và biến động khí hậu ở địa phương.
Bảng1.Bảng tóm lược thành phần quan trọng nhất trong vốn sinh kế của người dân tại huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La
Nguồn vốn Thành phần quan trọng nhất
- Kinh nghiệm về thiên tai của các hộ dân;
Chính sách và Thể chế, tiến trình (cấu trúc Chính phủ, khu vực tƣ nhân, luật pháp,chín h sách…)
Ngữ cảnh dễ bị tổn thương;X u hướng mùa vụ, các tác động, từ bên ngoài
Xã hội, Tự nhiên; Tài chính
- Không dựa trên tài nguyên,
Kết quả/mục tiêu của sinh kế:
- Cảithiện an toàn lương thực
- Sử dụng tài nguyên bền vững hơn
Nhân lực - Trình độ sản xuất nông nghiệp của các hộ dân;
- Tổ chức, lực lượng ứng phó thiên tai tại địa phương
- Tiền dự trữ trong các hộ gia đình;
- Tiền huy động từ các tổ chức tín dụng;
- Tiền huy động từ người thân quen
Xã hội - Quan hệ trong trao đổi, mua bán hàng hóa;
- Tập quán và văn hoá địa phương
- Khả năng tiếp cận và cập nhật thông tin của người dân
- Đất canh tác, sản xuất;
- Giống cây trồng, vật nuôi
- Diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản
- Tài sản hộ gia đình
TỔNG QUAN VỀ THIÊN TAI VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Luật Phòng chống Thiên tai được Quốc hội thông qua năm 2013 quy định thiên tai là hiện tượng tự nhiên bất thường có thể gây thiệt hại về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế - xã hội Thiên tai bao gồm các hiện tượng như bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác.
Thiên tai là tập hợp các hiện tượng tự nhiên nguy hiểm như bão, lũ lụt, hạn hán, núi lửa phun trào, sóng thần, vòi rồng (lốc xoáy), trượt lở đất và cháy rừng Những hiện tượng này gây thiệt hại về người và tài sản cho cộng đồng và các hệ sinh thái, làm gián đoạn đời sống, hạ tầng và để lại tác động lâu dài đến môi trường.
Trong luận văn này, thiên tai khí tượng thủy văn được hiểu là các hiện tượng thiên nhiên có nguồn gốc từ khí tượng và thủy văn, điển hình là bão, lốc, lũ lụt và hạn hán, được phân tích để làm rõ cơ chế hình thành, các đặc điểm nhận diện và tác động tới môi trường, kinh tế và đời sống người dân Bão và lốc gây tổn thất, còn lũ lụt và hạn hán ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn nước, sản xuất nông nghiệp, hệ sinh thái và cơ sở hạ tầng Nghiên cứu tập trung vào dữ liệu khí tượng thủy văn, phương pháp dự báo và hệ thống cảnh báo sớm nhằm tăng cường khả năng dự báo, ứng phó và quản lý rủi ro thiên tai Kết quả và khuyến nghị từ bài viết hướng tới thúc đẩy biện pháp thích ứng và giảm nhẹ thiệt hại cho cộng đồng và khu vực chịu ảnh hưởng.
Việt Nam được xem là một trong những nước chịu tác động nặng nề nhất của thiên tai và biến đổi khí hậu Các hiện tượng thiên tai phổ biến tại Việt Nam bao gồm bão, lũ, lụt, lũ quét và hạn hán, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân, hoạt động kinh tế và cơ sở hạ tầng.
Theo số liệu của Cục quản lý Đê điều và Phòng chống lụt bão từ năm 1996-
Vào năm 2008, Việt Nam đối mặt với nhiều loại thiên tai như bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, úng ngập và hạn hán, cùng các dạng thiên tai khác Những sự kiện này đã khiến hơn 9.600 người chết hoặc mất tích và gây thiệt hại về tài sản ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP mỗi năm Mức độ tác động của thiên tai ở Việt Nam ngày càng tăng về quy mô và chu kỳ lặp lại, đi kèm với những đột biến khó lường.
Thiên tai xảy ra khắp nước ta, nhưng về số lượng, tần suất, cường độ và mức độ tác hại của từng loại lại khác nhau theo vùng miền Các dữ liệu cho thấy sự đa dạng này thể hiện rõ ở từng khu vực, vừa ảnh hưởng tới đời sống và kinh tế, vừa đòi hỏi các biện pháp ứng phó phù hợp với đặc trưng địa phương [12].
Bảng 2 Các dạng thiên tai tại các khu vực địa lý và vùng kinh tế khác nhau
Các khu vực địa lý và vùng kinh tế Đông Bắc và Tây Bắc
Cao nguyên Đông Bắc Nam
Khu vực kinh tế biển
Ký hiệu: Đặc biệt nghiêm trọng (****), Nghiêm trọng (***), Trung bình (**), Nhẹ (*), Không ảnh hưởng (-)
Theo số liệu tại bảng 2, thì vùng Tây Bắc, trong đó có huyện Mai Sơn thuộc tỉnh Sơn La chịu tác động nghiêm trọng của bão, lũ, hạn hán
1.3.2 Khái quát về BĐKH tại Việt Nam
Theo IPCC (2007), biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự thay đổi về mức trung bình và biên động của các đặc tính của hệ thống này, và kéo dài trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc lâu hơn Biến đổi khí hậu có thể bắt nguồn từ các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu, hoặc từ các tác động bên ngoài, hoặc từ ảnh hưởng thường xuyên của con người làm thay đổi thành phần khí quyển hoặc sử dụng đất.
Biến đổi khí hậu thể hiện qua hai biểu hiện chính: sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng cao Nguyên nhân chủ yếu là phát thải quá mức các khí gây hiệu ứng nhà kính vào khí quyển từ các hoạt động kinh tế - xã hội của con người.
Những công trình nghiên cứu về các yếu tố và hiện tượng khí hậu cực trị tại Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, do Manto và cộng sự thực hiện đã làm rõ vai trò của biến đổi khí hậu đối với tần suất và cường độ của các sự kiện thời tiết cực đoan Các nghiên cứu phân tích mối liên hệ giữa khí hậu và các hiện tượng như mưa lớn, lũ lụt, hạn hán, bão và lốc xoáy, đồng thời đánh giá tác động lên nông nghiệp, hạ tầng và đời sống người dân ở Việt Nam và khu vực Kết quả cho thấy xu hướng gia tăng của các hiện tượng khí hậu cực trị và đề xuất các biện pháp thích ứng, quản lý rủi ro và củng cố khả năng dự báo nhằm giảm thiểu thiệt hại Những phát hiện này cung cấp dữ liệu và khuyến nghị hữu ích cho nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu và cộng đồng địa phương để nâng cao khả năng ứng phó và phát triển bền vững ở Việt Nam và Đông Nam Á.
2001 [36] đã xem xét xu thế giáng thủy ngày cực đại từ năm 1961 đến năm 1998 cho khu vực Đông Nam Á và Nam Thái Bình Dương, cho thấy số ngày mưa (ngày có lượng mưa từ 2 mm trở lên) nhìn chung giảm đáng kể ở Đông Nam Á Phân tích số liệu giáng thủy ngày ở các nước khu vực Đông Nam Á trong thời kỳ 1950–2000 của Endo và cộng sự [34] cho thấy số ngày ẩm ướt (ngày có giáng thủy trên 1 mm) có xu thế giảm ở hầu hết các nước này, trong khi cường độ giáng thủy trung bình của những ngày ẩm ướt lại có xu thế tăng lên Tại Việt Nam, mưa lớn tăng lên ở phía Nam nhưng lại giảm ở phía Bắc Số ngày khô liên tiếp cực đại năm có xu thế giảm ở những khu vực bị ảnh hưởng bởi giáng thủy trong thời kỳ gió mùa mùa đông.
Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, đã nêu lên một số điểm nhƣ sau về biểu hiện của BĐKH [4]:
Trong 50 năm qua (1958–2007), nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam đã tăng khoảng 0,5–0,7°C Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè, và mức tăng ở các vùng khí hậu phía Bắc diễn ra mạnh hơn so với các vùng phía Nam.
- Tốc độ dâng lên của mực nước biển trung bình ở Việt Nam hiện nay là khoảng 3mm/năm (giai đoạn 1993-2008);
Lượng mưa tại mỗi địa điểm cho thấy xu hướng biến đổi của lượng mưa trung bình năm trong 9 thập kỷ (1911–2000) không rõ rệt theo từng thời kỳ và giữa các vùng khác nhau; có những giai đoạn tăng lên và cũng có những giai đoạn giảm xuống.
Trong hai thập kỷ qua, số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam đã giảm rõ rệt, nhưng các biểu hiện dị thường của thời tiết vẫn xuất hiện Gần đây nhất là một đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày, diễn ra trong hai tháng 1 và 2 của năm gần đây, cho thấy sự biến động phức tạp của khí hậu Việt Nam.
Biến đổi khí hậu thực sự khiến thiên tai trở nên dữ dội và bất thường hơn, đặc biệt là bão, lũ lụt và hạn hán Cường độ và tần suất của các hiện tượng thời tiết cực đoan đang tăng lên đáng kể, gây thiệt hại lớn cho người dân và nền kinh tế, đồng thời đặt áp lực lên hệ sinh thái Để ứng phó hiệu quả, cần nhận diện rõ mối liên hệ giữa biến đổi khí hậu và thiên tai, tăng cường quản lý rủi ro và hệ thống cảnh báo sớm, cũng như xây dựng cơ sở hạ tầng và cộng đồng có khả năng thích ứng cao Việc nâng cao nhận thức và hành động trên nhiều cấp độ sẽ giúp giảm nhẹ thiệt hại và bảo vệ sinh mạng, tài sản và sự phát triển bền vững.
- Bão có cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn
Phân tích số ngày nắng nóng trong từng thời kỳ trên lãnh thổ Việt Nam, Nguyễn Đức Ngữ (2009) [14] cho rằng, số ngày nắng nóng trong thập kỉ 1991 –
Ở Việt Nam, nhiệt độ trung bình đã tăng lên so với các thập kỷ trước, đặc biệt ở Trung Bộ và Nam Bộ Nghiên cứu của Nguyễn Viết Lành phân tích các trung tâm khí áp có ảnh hưởng đến khu vực nhằm giải thích sự tăng nhiệt tại một số trạm đặc trưng trong thời kỳ 1961–2000, từ đó làm rõ cơ chế biến động nhiệt do hệ thống thời tiết và biến đổi khí hậu mang lại.
Lịch sử nghiên cứu
Ảnh hưởng của thiên tai và biến đổi khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp và sinh kế nông dân đã trở thành đối tượng nghiên cứu hấp dẫn của nhiều tổ chức khoa học, các sở, ban ngành Các công trình điều tra cơ bản và nghiên cứu chuyên đề về biến đổi khí hậu và nông nghiệp ngày càng phong phú, thể hiện rõ qua sự đa dạng của các đề tài và kết quả mang tính ứng dụng cao Những nghiên cứu này góp phần đánh giá rủi ro, dự báo biến động và đề xuất biện pháp thích ứng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và tính bền vững của hệ thống sản xuất nông nghiệp.
Báocáo đánhgiá lần 4vềbiến đổikhíhậu:Gắn thích ứngbiến đổikhíhậuvớiquảnlýrủirothiêntai,nghiêncứuđiểnhìnhởVịêtNam của
Nguyễn Hữu Ninh và Oxfam Việt Nam (2007) đã phân tích ảnh hưởng của tần suất hạn hán tới sinh kế của cộng đồng tại những khu vực thường xuyên chịu hạn hán ở tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam Nghiên cứu cho thấy cách cộng đồng cảm nhận hạn hán và biến đổi khí hậu, đồng thời đề cập vai trò của chính quyền địa phương và các tổ chức phi chính phủ trong việc đối phó với thảm họa thiên nhiên, đặc biệt là hạn hán.
Đề tài này tiến hành đánh giá tổn thương và khả năng thích nghi của hộ gia đình trước thiên tai và biến đổi khí hậu tại khu vực quận Bình Thủy và huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ, nhằm làm rõ mức độ tác động lên đời sống gia đình và tiềm năng phục hồi Nghiên cứu cho thấy thiên tai và biến đổi khí hậu làm tăng thiệt hại kinh tế và ảnh hưởng tới sinh kế của hộ gia đình, đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thích nghi như thu nhập, tiếp cận nguồn lực và sự hỗ trợ của cộng đồng Các kết quả chính đề xuất các biện pháp tăng cường khả năng chống chịu, nâng cao khả năng thích nghi và giảm nhẹ rủi ro cho hộ gia đình ở Bình Thủy và Vĩnh Thạnh, phù hợp với bối cảnh địa phương.
Vùng điều tra không chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai và biến động thời tiết so với nhiều vùng khác, nhưng dấu hiệu bất thường của thời tiết là có thật Những biến động này có ảnh hưởng nhất định đến đời sống và sản xuất của người dân, và mức độ tác động lại khác nhau giữa các vùng.
Đối với vùng đã thành đô thị, người dân có nhận thức về biến đổi khí hậu được nâng cao và chủ động ứng phó với thời tiết bất thường, do đó mức độ tổn thương cũng ít hơn.
Ở vùng ven đô, nhận thức về thiên tai ở mức vừa phải và mức độ chủ động đối phó với các hiện tượng thời tiết bất thường vẫn ở mức một phần; Tổn thương chủ yếu nhắm tới trẻ em, người già, người khuyết tật và người nghèo, do đó cần tăng cường giáo dục cộng đồng, chuẩn bị và các biện pháp bảo vệ để giảm thiểu rủi ro cho các nhóm dễ bị tổn thương này.
Ở các vùng sâu, đời sống vẫn mang tính thuần nông và còn nhiều thách thức về tiếp cận thông tin Thông tin về khí hậu và thiên tai rất ít hoặc không kịp thời, khiến cộng đồng dễ bị ảnh hưởng bất ngờ Người dân ở khu vực này thường bị động và thiếu thấu đáo các chuẩn bị cần thiết để ứng phó với các biến đổi khí hậu và rủi ro thiên tai Cần tăng cường thông tin thời tiết đáng tin cậy, xây dựng kế hoạch ứng phó và đầu tư vào năng lực cộng đồng để nâng cao khả năng thích ứng và bảo vệ cuộc sống người dân vùng sâu.
Nghiên cứu "Đánh giá ảnh hưởng của sự biến đổi của một số yếu tố khí tượng đến năng suất một số cây trồng khi nhiệt độ tăng lên 1°C" do Viện Khoa học thực hiện nhằm định lượng mối quan hệ giữa biến đổi thời tiết và năng suất cây trồng ở mức tăng nhiệt 1°C Nghiên cứu xem xét tác động của các yếu tố khí tượng chủ chốt như nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm và bức xạ mặt trời lên năng suất của một số cây trồng, từ đó xác định mức độ nhạy cảm và các cơ chế điều tiết liên quan Từ kết quả phân tích, nghiên cứu dự kiến đưa ra các khuyến nghị về kỹ thuật canh tác, lựa chọn giống và biện pháp quản lý nông nghiệp để thích ứng với biến đổi khí hậu và tối ưu hóa năng suất trong điều kiện nhiệt độ tăng thêm 1°C.
Khí tƣợng Nông Lâm nghiệp Tây nguyên Dựa vào Kịch bản BĐKH cho Việt Nam
(2009) và các kết quả phân tíchnghiên cứu đã có kết luận nhƣ sau [49]:
Trong bối cảnh tăng CO2, năng suất các cây trồng có những biến đổi đáng kể: chè và cà phê cho năng suất cao hơn nhưng chất lượng sản phẩm giảm; ngô và mía tăng năng suất ở thân cây và hàm lượng đường; lúa có năng suất toàn cây cao nhờ tăng quang hợp, nhưng năng suất hạt thấp do nhiệt độ cao làm giảm tỷ lệ thu hoạch, đồng thời lúa cho nhiều rơm rạ hơn hạt; các cây lấy củ như khoai lang và mì cũng tăng năng suất khi nhiệt độ tăng, vì tỷ lệ rễ/thân tăng lên theo mức CO2.
Từ đó đề ra biện pháp thích ứng trong nông nghiệp nhƣ:
Xây dựng cơ cấu cây trồng hợp lý và bền vững, đổi mới kỹ thuật canh tác và củng cố hệ thống thủy lợi để tăng năng suất và thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) Đồng thời tăng cường tuyên truyền thông tin và nâng cao nhận thức của cán bộ và người dân về BĐKH và các biện pháp ứng phó, nhằm nâng cao khả năng thích nghi và giảm thiểu rủi ro cho sản xuất nông nghiệp.
Báo cáo Dự án nghiên cứu BĐKH do CARE thực hiện năm 2011 với tiêu đề Tác động, khả năng ứng phó và một số vấn đề về chính sách, tập trung vào nghiên cứu trường hợp đồng bào các dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc, nhằm đánh giá BĐKH ở ba khía cạnh: tác động lên sinh kế và đời sống, khả năng ứng phó của cộng đồng trước những biến đổi khí hậu và những vấn đề chính sách cần xem xét Dựa trên phân tích trường hợp này, báo cáo đã đưa ra một số kết quả đáng chú ý [6], làm rõ mức độ ảnh hưởng, đề xuất các chiến lược thích ứng và đề xuất cải cách cơ chế chính sách nhằm tăng cường khả năng chống chịu cho các dân tộc thiểu số ở vùng núi phía Bắc.
- Xu thế BĐKH ở một số các trạm ở miền núi phía Bắc thông qua xu thế biến đổi nhiệt độ và lƣợng mƣa;
Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) đối với hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và sinh kế của một số xã ở miền núi phía Bắc được thực hiện thông qua phân tích các hiện tượng thiên tai điển hình như lũ lụt, hạn hán và rét hại Nghiên cứu cho thấy BĐKH làm gia tăng rủi ro và sự biến động trong sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, điều kiện nuôi dưỡng và thu nhập của hộ dân, từ đó tác động trực tiếp đến đời sống và an toàn sinh kế ở khu vực này Trên cơ sở đó, đề xuất các biện pháp thích ứng như điều chỉnh cơ cấu cây trồng, tăng cường hệ thống tưới tiêu, bảo vệ và chăm sóc đàn gia súc, đồng thời đa dạng hóa nguồn thu nhập để giảm thiểu rủi ro do thiên tai và biến đổi khí hậu gây ra.
- Đƣa ra một số giải pháp ứng phó với BĐKH cho cộng đồng và đề xuất chính sách hỗ trợ cộng đồng dân cƣ ở miền núi phía Bắc
Hiện nay Việt Nam có rất nhiều nghiên cứu đánh giá tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu (BĐKH) đối với sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, nghiên cứu về tác động của thiên tai lên sản xuất ngô và sinh kế của cộng đồng dân cư ở khu vực miền núi lại rất ít Đề tài này được thực hiện nhằm bổ sung cho các nghiên cứu hiện có bằng cách tập trung phân tích ảnh hưởng của thiên tai lên sản xuất ngô và đời sống người dân vùng núi, từ đó đóng góp vào cơ sở khoa học và cung cấp thông tin phục vụ xây dựng các chiến lược thích ứng và giảm nhẹ rủi ro cho nông dân miền núi.
ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Vị trí địa lý - Đặc điểm địa hình
Mai Sơn là một huyện miền núi của tỉnh Sơn La, cách trung tâm tỉnh 30 km về phía bắc, là trung tâm công nghiệp và là huyện trọng điểm kinh tế của tỉnh, nằm trong cụm tam giác kinh tế Sơn La - Mai Sơn - Mường La Tọa độ địa lý của huyện nằm ở vĩ độ Bắc từ 20°52′30″ đến 21°20′50″ và kinh độ Đông từ 103°41′30″.
Vị trí địa lý của khu vực: Phía bắc giáp huyện Mường La và thành phố Sơn La; phía đông giáp huyện Yên Châu và Bắc Yên; phía tây giáp Sông Mã và Thuận Châu; phía nam giáp Sông Mã và Xiềng Khọ - tỉnh Hủa Phăn, Lào, với biên giới dài khoảng 6,4 km Địa hình bị chia cắt mạnh và phức tạp, gồm núi đá cao xen lẫn đồi núi, thung lũng, lòng chảo và cao nguyên Độ cao trung bình so với mực nước biển khoảng 800–850 m, với hai hệ thống núi chính gồm dãy phía đông chạy theo hướng tây-bắc – đông nam và dãy phía tây chạy theo hướng tây-bắc – tây nam, tạo nên nhiều tiểu vùng có ưu thế khác nhau và cho phép phát triển nền kinh tế đa dạng Khu vực còn có nhiều núi cao, dốc, bị chia cắt mạnh bởi các con sông và dãy núi cao; độ cao trung bình của khu vực này từ 1.000–1.200 m, phân bố ở phía đông bắc và tây nam của huyện, bao gồm các xã Tà Hộc, Chiềng Chăn, Phiêng Pằn, Nà Ớt, Phiêng Cằm, Chiềng Nơi Khu vực đồi núi trung bình có độ cao tương đối, tạo nên cảnh quan đa dạng và tiềm năng phát triển kinh tế – xã hội của huyện.
Với độ cao 500–700 m so với mặt nước biển, khu vực này xen kẽ giữa phiêng bãi và lòng chảo, rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và xây dựng các khu công nghiệp; phân bố chủ yếu dọc trục quốc lộ 6 qua các xã Cò Nòi, thị trấn Hát Lót và các xã Hát Lót, Chiềng Mung, Nà Bó, Chiềng Sung, phù hợp cho sự phát triển kinh tế và hạ tầng Huyện lỵ thuộc thị trấn Hát Lót Từ Hà Nội đến huyện lỵ có hai tuyến đường chính: quốc lộ 6 (trước là đường 41) dài khoảng 270 km, đi qua các huyện Yên Châu, Mộc Châu, Vân Hồ; đường 113A (đường 13) đi qua Bắc Yên, Phù Yên lên tỉnh Yên Bái, về Hà Nội với tổng chiều dài khoảng 370 km.
Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 143.247 ha, trong đó: Đất nông nghiệp 93.687,01 ha, chiếm 65,40%; đất lâm nghiệp 56.379,6 ha, chiếm 39,36%; đất phi nông nghiệp 5.367,65 ha, chiếm 3,75% so với tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Đƣợc phân bố nhƣ sau: Đất chƣa sử dụng 44.192,34 ha, chiếm 30,85% so với tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện, bao gồm đất đồi núi chƣa sử dụng và núi đá không có rừng cây
Tài nguyên đất của huyện Mai Sơn có các loại chính sau: Đất Feralit mùn đỏ vàng trên đá biến chất (FH j ) bao gồm hầu hết ở vùng đồi núi, có màu vàng đỏ Loại đất này thích hợp cho việc trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày, chiếm tỷ lệ 43,50%, lớn nhất trong tổng quỹ đất Đất nâu đỏ trên đá vôi (F v ) có diện tích khoảng 26.442 ha, chiếm 18,50% tổng quỹ đất Đất vàng đỏ trên đá sét (F s ) có diện tích khoảng 30.564 ha, chiếm 21,40% tổng quỹ đất Đất Feralit mùn vàng trên đá cát (FH q ) có diện tích khoảng 1.998 ha, chiếm 5,60% tổng quỹ đất Đất phù sa ngòi suối (P ' ) phân bố chủ yếu ven các suối Nậm Pàn, Nậm Quét, Nậm Lẹ… rất thích hợp cho việc trồng lúa, hoa màu và các loại cây ăn quả; có diện tích khoảng 2.541 ha, chiếm 1,80% tổng quỹ đất Đất dốc tụ (L d ) phân bố chủ yếu ở các phiêng bãi bằng phẳng, thích hợp cho việc trồng cây ăn quả, cây công nghiệp… có diện tích khoảng 9.526 ha, chiếm 6,67% tổng quỹ đất Hầu hết các loại đất trọng huyện có độ dày tầng đất trung bình đến khá, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng Các chất dinh dƣỡng trong đất, nhƣ đạm, lân, kali, canxi, magiê… có hàm lƣợng trung bình
Đất đai phần lớn nằm trên độ dốc lớn và thảm thực vật che phủ thấp, khiến rủi ro rửa trôi và xói mòn làm mất dinh dưỡng đất ngày càng cao Do đó, cần chú trọng áp dụng các biện pháp bảo vệ đất như tăng cường che phủ thực vật, phủ đất bằng lớp hữu cơ, và thiết kế quản lý nước nhằm hạn chế rửa trôi và xói mòn Những biện pháp này giúp bảo vệ dinh dưỡng đất, duy trì độ phì nhiêu và nâng cao năng suất nông nghiệp trong vùng đất dốc.
Hình 2 Bản đồ hành chính huyện Mai Sơn Điều kiện Khí hậu
Miền núi Tây Bắc mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa với các yếu tố thời tiết chính sau: nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 21 °C, mùa nóng kéo dài từ tháng 4 đến tháng 8 và mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau; số giờ nắng trung bình khoảng 1.940 giờ mỗi năm, tập trung từ tháng 3 đến tháng 10; lượng mưa cao tập trung từ tháng 5 đến tháng 9, độ ẩm trung bình khoảng 80,5% và tổng lượng mưa bình quân khoảng 1.410 mm mỗi năm; điều kiện thủy văn ở khu vực chịu ảnh hưởng mạnh bởi sự phân bổ lượng mưa theo mùa.
Ngoài sông Đà chảy qua huyện Mai Sơn với chiều dài khoảng 24 km, nơi đây còn có hệ thống suối thuộc lưu vực sông Đà và sông Mã như Nậm Pàn, Nậm Khiêng, Nậm Pó, Ta Vắt, Suối Quét, Huổi Hạm, Nậm Mua, Căm và nhiều suối nhỏ khác có tổng chiều dài khoảng 250 km Đập dâng trên các con suối được xây dựng để cung cấp nước tưới cho cây trồng Nước sinh hoạt chủ yếu từ hệ thống cấp nước tự chảy và nước ngầm Nước sông, nước suối nói chung là nguồn nước chính dùng cho sản xuất và sinh hoạt của người dân từ xưa đến nay.
Sông, suối, hồ là nguồn cung cấp nước cho đời sống, sản xuất nhưng cũng tiềm ẩn những hiểm họa lũ lụt
Khoáng sản của huyện Mai Sơn chủ yếu ở quy mô nhỏ, phân tán và trữ lượng không lớn, còn nhiều bất tiện về điều kiện khai thác và vị trí xa đường giao thông; đáng chú ý có mỏ vàng sa khoáng ở các xã Chiềng Lương, Chiềng Chung, Chiềng Dong, Chiềng Ve và một số điểm nhỏ khác, cùng mỏ đồng ở Chiềng Chung và mỏ quặng sắt ở Phiêng Pằn Nguồn đá vôi và đất sét phân bố rộng, điều kiện khai thác thuận lợi để sản xuất vật liệu xây dựng, với mỏ đá vôi tại Chiềng Mung, Nà Pát, Nà Bó, Hát Lót, Cò Nòi; đất sét ở Chiềng Chung, Mường Chanh có đặc tính đặc biệt, rất thích hợp cho sản xuất đồ gốm Ngoài ra, còn có hơn 1.000 núi đá có thể khai thác làm nguyên liệu xây dựng, làm đường giao thông và làm nguyên liệu xi măng.
Diện tích rừng nguyên sinh lên tới 53.650 ha, rừng tái sinh 12.000 ha, và rừng trồng 2.729 ha, với độ che phủ rừng đạt 39,4% Trong khu vực có nhiều loài thực vật quý hiếm như nghiến, lát, đinh hương; các loại tre, trúc và các loại cây dược liệu như đẳng sâm, sa nhân, hương nhu, cửu cẩu, hoàng tinh Các loài động vật quý hiếm như hươu, nai, hổ, gấu, khỉ; và các loại chim công, trĩ, vẹt, hoạ mi, khướu cũng được ghi nhận.
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Mai Sơn có nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, trong đó ngành trồng trọt tập trung ở lúa, ngô, sắn và rau màu; chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô nhỏ Tuy nhiên, hoạt động sản xuất nông nghiệp ở huyện vẫn còn mang tính nhỏ lẻ, lạc hậu và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên Trong những năm gần đây, kinh tế Mai Sơn có mức tăng trưởng khá, bình quân đạt mức tăng trưởng ổn định Để tận dụng lợi thế và nâng cao năng suất, cần đẩy mạnh liên kết chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ vào sản xuất và mở rộng quy mô chế biến nông sản nhằm tăng giá trị sản phẩm và tính bền vững của nông nghiệp địa phương.
GDP, thời kỳ 1996 - 2000 tăng 9,15%/ năm, thời kỳ 2001 – 2005 đạt 11,6%/năm, thời kỳ 2006 - 2010 đạt 14,2%
Vào năm 2010, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 14,6%, GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành là 12,4 triệu đồng (khoảng 650 USD) Cơ cấu kinh tế của huyện đã có bước chuyển dịch đáng kể: tỷ trọng các ngành Công nghiệp, Xây dựng và Thương mại - Dịch vụ tăng lên, trong khi tỷ trọng ngành Nông nghiệp giảm dần.
Nông lâm nghiệp, thuỷ sản ghi nhận mức tăng trưởng GDP bình quân lần lượt 6,37%/năm (1996-2000), 5,24%/năm (2001-2005) và 3,32%/năm (2006-2010) Mặc dù các mức tăng này khá cao, chúng vẫn thấp hơn tốc độ tăng trưởng bình quân của nền kinh tế tỉnh, khiến tỷ trọng của ngành giảm từ 71,5% năm 1995 xuống 60,96% năm 2000, 50,8% năm 2005 và 39,6% năm 2010 Dù vậy, giá trị tuyệt đối của ngành vẫn tăng liên tục qua các giai đoạn.
Trong giai đoạn 1996-2000, công nghiệp và xây dựng tăng trưởng chậm, với mức tăng khoảng 9-10% mỗi năm Đến giai đoạn 2001-2010, ngành này có bước phát triển mạnh, với tốc độ tăng trưởng luôn ở mức cao Nhờ đó, tỷ trọng đóng góp của ngành vào GDP đã tăng từ 9,49% năm 2000 lên 15,8% trong những năm tiếp theo.
(năm 2005), và 22,1% năm 2010 Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001 -
- Dịch vụ: Trong suốt giai đoạn 1996 - 2010, ngành dịch vụ luôn tăng trưởng mạnh Tỷ trọng GDP của ngành dịch vụ tăng từ 18,75% (năm 1995) lên 33,4% (năm
2005), và 38,3% năm 2010 Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001 - 2005 đạt
Diện tích các loại cây trồng chính của huyện được phân bổ như sau: Lúa 6.240 ha, phân bố rải rác ở khắp các xã nhưng tập trung ở Mường Bằng, Mường Bon, Chiềng Mung, Chiềng Kheo, Chiềng Chăn, Chiềng Ban, Chiềng Mai, Chiềng Chung và Mường Chanh; Ngô 20.7300 ha phát triển mạnh ở hầu khắp các xã, nhưng tập trung ở Chiềng Sung, Chiềng Chăn, Hát Lót, Cò Nòi, Mường Chanh, Phiêng Pằn, Chiềng Dong, Chiềng Kheo, Chiềng Ve; Sắn 2.000 ha tập trung ở Chiềng Ve, Chiềng Kheo, Chiềng Dong, Nà Ớt, Mường Bon, Chiềng Mung; Cà phê trên 2.100 ha tập trung ở các xã Chiềng Ban, Chiềng Mai, Chiềng Chung và dọc Quốc lộ 6 Chè.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này đƣợc thực hiện trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Mai Sơn, huyện miền núi ở phía Bắc tỉnh Sơn La, có điều kiện tự nhiên phức tạp và đời sống người dân phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp Gần đây, khu vực này thường xuyên đối mặt với lũ lụt và hạn hán, gây nhiều khó khăn cho cuộc sống và sinh kế của cộng đồng Các nghiên cứu về tác động của thiên tai đối với Mai Sơn còn rất ít, đặc biệt là ảnh hưởng lên sản xuất nông nghiệp Trong khi phần lớn hộ dân ở Mai Sơn hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và phụ thuộc nhiều vào yếu tố tự nhiên, nên rủi ro thiên tai ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và đời sống của họ.
Khoảng thời gian nghiên cứu được chọn từ năm 1961 đến 2010, vì đây là khung thời gian đủ dài để nhận diện biến đổi khí hậu Việc phân tích trong phạm vi này cho phép nắm bắt xu hướng nhiệt độ và các biến động khí hậu khác một cách toàn diện, đồng thời cung cấp dữ liệu đáng tin cậy làm nền cho các phân tích khoa học và ứng dụng dự báo biến đổi khí hậu.
Trong gần 50 năm qua, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam tăng khoảng 0,7°C, mực nước biển dâng khoảng 20 cm Các hiện tượng El Niño và La Niña ngày càng tác động mạnh đến Việt Nam Biến đổi khí hậu khiến thiên tai như bão, lũ và hạn hán trở nên dữ dội hơn Theo các kịch bản dự báo, nhiệt độ trung bình tại Việt Nam có thể tăng lên khoảng 3°C và mực nước biển có thể dâng tới 1 mét vào năm 2100.
Trong hai thập kỷ qua, số đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến Việt Nam đã giảm rõ rệt, trong khi bão có cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn và quỹ đạo bão có dấu hiệu dịch chuyển dần về phía nam, khiến mùa bão kết thúc muộn hơn Mực nước biển dâng lên do biến đổi khí hậu đang làm tăng rủi ro ngập lụt ven biển, tác động đến đời sống người dân, sản xuất nông nghiệp và hoạt động kinh tế khu vực ven biển Nếu mực nước biển dâng lên, các hệ sinh thái ven biển và cơ sở hạ tầng dễ bị tổn thương hơn, đòi hỏi các biện pháp thích ứng và quản lý rủi ro hiệu quả.
1 mét mực nước biển dâng có thể làm ngập khoảng 40 nghìn km² đồng bằng ven biển Việt Nam mỗi năm, trong đó 90% diện tích ở đồng bằng sông Cửu Long bị ngập gần như hoàn toàn (Bộ TNMT, 2003) Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (2007), Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu và nước biển dâng, với vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Mê Công chịu ngập nặng nhất Nếu mực nước biển dâng 1 mét, khoảng 10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp và thiệt hại cho GDP khoảng 10%; ở mức dâng 3 mét, khoảng 25% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp và thiệt hại cho GDP lên tới 25% Hậu quả của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam là nghiêm trọng và là một nguy cơ hiện hữu đối với mục tiêu xóa đói giảm nghèo, thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước.
Thời gian thực hiện nghiên cứu:Luận văn này đƣợc thực hiện từ tháng 07/2015 đến tháng 09/2016
Tóm tại, nội dung nghiên cứu cuối cùng trong luận văn, cụ thể nhƣ sau:
- Nghiên cứu những biểu hiện của một số hiện tƣợng thiên tai trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La từ năm 1961 đến 2010;
- Nghiên cứu tác động của một số hiện tƣợng thiên tai đến sản xuất nông nghiệp của người dân trên địa bàn huyện Mai Sơn từ năm 1961 đến 2010;
- Nghiên cứu tác động của thiên tai đến sinh kế thông qua các nguồn vốn sinh kế của người dân trên địa bàn huyện Mai Sơn;
Dựa trên các kết quả nghiên cứu được tổng hợp, bài viết đề xuất các giải pháp thích ứng thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu nhằm nâng cao khả năng phòng ngừa, ứng phó và giảm nhẹ rủi ro cho người dân ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Các giải pháp này tập trung vào xây dựng hệ thống cảnh báo sớm và truyền thông nguy cơ hiệu quả, cải thiện hạ tầng chịu tải và công trình phục vụ phòng chống thiên tai, đồng thời tăng cường quản lý nguồn nước, đất đai và sinh kế cho cộng đồng Bên cạnh đó, đẩy mạnh giáo dục, tập huấn và nâng cao nhận thức về ứng phó sự cố thiên tai, quản lý rủi ro và thích ứng với biến đổi khí hậu ở cấp hộ gia đình và cộng đồng, nhằm đồng bộ hóa các hoạt động với các kế hoạch phát triển địa phương Những đề xuất này được thiết kế phù hợp với đặc điểm địa lý, văn hóa và trình độ tiếp cận thông tin tại Mai Sơn, đảm bảo tính khả thi, bền vững và mang lại lợi ích thực tiễn cho người dân.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình thực hiện khóa luận, chúng tôi dựa trên một tập hợp các cách tiếp cận nhằm làm rõ bản chất và mối quan hệ giữa các yếu tố liên quan Các hướng tiếp cận được áp dụng gồm tiếp cận hệ thống, tiếp cận địa bàn nghiên cứu và tiếp cận về biến đổi khí hậu a Tiếp cận hệ thống nhắm tới phân tích các thành phần, chức năng và luồng tác động giữa chúng để làm rõ vai trò của từng yếu tố trong tổng thể và từ đó xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.
Hoạt động sản xuất nông nghiệp và các nguồn sinh kế của người dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La được cấu thành và duy trì bởi một hệ thống gồm các thành phần: yếu tố tự nhiên-môi trường, con người và kinh tế-xã hội Các yếu tố này tác động qua lại với nhau, tạo nên đặc trưng riêng cho đời sống sản xuất của khu vực Khi các hiện tượng tự nhiên bất thường xảy ra sẽ tác động tới toàn bộ hệ thống với mức độ khác nhau Do đó, cách tiếp cận hệ thống cho cái nhìn tổng thể về từng yếu tố và mối tương tác giữa các thành phần bên trong hệ thống Trên cơ sở đó, nghiên cứu hiện trạng và đánh giá mức độ tác động của các hiện tượng thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu sẽ toàn diện hơn Để đánh giá sự tác động của thiên tai tới sản xuất nông nghiệp và sinh kế của cộng đồng dân cư trong bối cảnh biến đổi khí hậu, cần một cái nhìn vừa tổng quan vừa từ nhiều góc độ và nguồn thông tin khác nhau, vì sự tác động vừa phản ánh vừa có sự tác động qua lại với các yếu tố tự nhiên cũng như kinh tế-xã hội của cộng đồng Ví dụ, hạn hán gây ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp và đồng thời phản ánh điều kiện thời tiết khí hậu của huyện Mai Sơn.
Thêm vào đó, người dân tại khu vực nghiên cứu cũng chịu tác động của biến đổi khí hậu do vị trí cư trú và điều kiện địa lý đặc thù, khiến họ đối mặt với các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt và thiếu nước Họ có thể có chung kinh nghiệm thích ứng với biến đổi khí hậu được tích lũy theo thời gian và chia sẻ giữa các hộ gia đình và cộng đồng, từ đó hình thành các chiến lược địa phương nhằm giảm thiểu rủi ro và tăng cường khả năng sống chung với BĐKH.
Tuy nhiên, họ có thể có những nhận thức và cách nhận đối với rủi ro do BĐKH gây ra khác nhau
Để nghiên cứu chi tiết các ảnh hưởng của hiện tượng thiên tai, cần tiếp cận địa bàn nghiên cứu bằng cách khảo sát thực địa, phỏng vấn và tìm hiểu đời sống người dân tại huyện Mai Sơn Dữ liệu thu thập từ phương pháp này cho thấy mức độ thiệt hại, tác động lên sản xuất và sinh kế, đồng thời giúp nhận diện các yếu tố dễ bị tổn thương trong cộng đồng c Tiếp cận về biến đổi khí hậu được tích hợp để làm rõ mối liên hệ giữa thiên tai và biến đổi khí hậu, từ đó đề xuất các giải pháp thích ứng phù hợp cho huyện Mai Sơn.
Biến đổi khí hậu toàn cầu là hiện tượng không thể tránh khỏi, mang lại hậu quả khôn lường và nghiêm trọng khó có thể dự đoán trước Dựa trên các kịch bản biến đổi khí hậu đã được tính toán và các dự báo khoa học, người ta có thể hình dung những tác động sẽ xảy ra, nhưng thực tế có thể lớn hơn nhiều so với những gì đã dự báo Mức độ tác động có thể biến đổi giữa các khu vực và theo thời gian, khiến thiệt hại và rủi ro tăng lên bất ngờ Vì vậy, việc hiểu và theo dõi các kịch bản biến đổi khí hậu cùng các dự báo là cần thiết để chuẩn bị và thích ứng với những thay đổi sẽ diễn ra.
Biến đổi khí hậu (BĐKH) sẽ gây ra nhiều tác động tiêu cực lên nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp, du lịch, tài nguyên nước, môi trường sinh thái và sức khỏe con người Để có cái nhìn sâu sắc về ảnh hưởng của BĐKH tới sản xuất nông nghiệp và sinh kế, bài viết dựa trên các tư liệu nghiên cứu ở khía cạnh hình thức tác động, hậu quả và sự thích ứng của cộng đồng dân cư tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La và các tỉnh miền núi, vùng trung du Bắc Bộ Việt Nam Việc thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng được áp dụng nhằm cùng cộng đồng phân tích nguyên nhân và hậu quả, đồng thời kết hợp số liệu khoa học với kiến thức bản địa về khí hậu để đề xuất các giải pháp ứng phó phù hợp Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết nối khoa học và kiến thức địa phương nhằm tăng cường khả năng chống chịu của nông nghiệp và sinh kế trước biến đổi khí hậu ở Mai Sơn và khu vực vùng núi và trung du Việt Nam.
Luận văn tiếp cận các căn cứ pháp lý quan trọng cho các kế hoạch hành động thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm đề xuất giải pháp cho huyện Mai Sơn, dựa trên các văn bản như Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/08/2004 về Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam); Công văn số 3815/BTNMT-KTTV-BĐKH ngày 13/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu; Công văn số 3996/BTNMT-KTTV-BĐKH ngày 04/10/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ năm 2010 của Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu; Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố tháng 6 năm 2009; Quyết định số 384/2006/QĐ-TTg ngày 09/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Sơn La thời kỳ
Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm: Phương pháp thống kê, Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) và Phương pháp đánh giá mức độ biến đổi của các yếu tố khí hậu Trong đó, Phương pháp thống kê dựa trên số liệu từ các tài liệu và dữ liệu cơ bản về điều kiện khí tượng thủy văn, hiện tượng thiên tai, sinh kế và sản xuất nông nghiệp nhằm khái quát tình hình các vấn đề liên quan đến nghiên cứu Để thực hiện phương pháp thống kê, cần thu thập các loại số liệu liên quan đến các yếu tố trên nhằm phục vụ cho phân tích và nhận diện xu hướng, mối liên hệ và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu đối với hoạt động nông nghiệp và đời sống ở khu vực nghiên cứu.
Chuỗi số liệu quan trắc về khí hậu được thu thập từ trạm quan trắc khí tượng địa phương và bao gồm: nhiệt độ trung bình năm, nhiệt độ trung bình của tháng nóng nhất và lạnh nhất, lượng mưa năm, lượng mưa theo mùa (mùa mưa và mùa khô) và số liệu về các ngày mưa lớn từ 1961 đến 2010 Đây là nguồn thông tin tin cậy để áp dụng các phương pháp thống kê khí tượng nhằm xem xét xu hướng biến đổi khí hậu ở địa phương thông qua các đặc trưng như nhiệt độ và lượng mưa Do chuỗi số liệu có ghi nhận theo từng năm và thời gian quan trắc kéo dài lên tới 50 năm nên đảm bảo độ ổn định của kết quả thống kê Các số liệu này được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel và được thể hiện bằng các phương trình tuyến tính để mô tả mối quan hệ và xu hướng một cách rõ ràng. -**Support Pollinations.AI:** -🌸 **Ad** 🌸Powered by Pollinations.AI free text APIs [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) to keep AI accessible for everyone.
Đề án phân tích các hiện tượng thiên tai được thực hiện bằng cách thu thập dữ liệu về lũ lụt, hạn hán, rét hại và nắng nóng từ Báo cáo Tổng kết thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của UBND huyện Mai Sơn và Ban Phòng chống lụt bão tỉnh Sơn La từ năm 1961 đến nay, cùng với nguồn tin từ báo chí và website của các tổ chức liên quan Dữ liệu này được dùng với phương pháp thống kê để xem xét tần suất xuất hiện của các dạng thiên tai trên địa bàn suốt thời gian từ 1961 đến nay Kết quả mang lại cái nhìn tổng quát về xu hướng và mức độ rủi ro thiên tai, phục vụ cho công tác quản lý, phòng chống và thích ứng với biến đổi khí hậu ở Mai Sơn và tỉnh Sơn La.
Số liệu về các nguồn sinh kế và tình hình sản xuất nông nghiệp được thu thập từ Cục Thống kê tỉnh Sơn La từ năm 1990 đến nay; sử dụng phương pháp thống kê giúp hiểu rõ xu thế biến động của các vấn đề liên quan đến sản xuất nông nghiệp và sinh kế tại địa phương Phần tiếp theo giới thiệu phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) và khái niệm PRA, nhằm tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quá trình khảo sát, phân tích và ra quyết định liên quan đến nông nghiệp và sinh kế của người dân.
Theo Ngân hàng thế giới, PRA (Participatory Rural Appraisal) là quá trình chia sẻ, phân tích thông tin và hành động giữa các bên tham gia, trong đó người dân đóng vai trò chủ đạo để xác định những khó khăn của cộng đồng, thảo luận các giải pháp và lập kế hoạch hành động nhằm giải quyết những khó khăn đó [50].
Quy trình PRA được thực hiện với sự hỗ trợ của Trung tâm Nghiên cứu Quan trắc và Mô hình hoá Môi trường, trên phạm vi địa bàn huyện Mai Sơn Thời gian khảo sát trên thực địa diễn ra từ ngày 24 đến 31/5/2016 nhằm tiếp cận và thu thập ý kiến cộng đồng địa phương Tại huyện Mai Sơn, nghiên cứu chọn 3 xã đại diện là Chiềng Chăn, Mường Bon và Chiềng Ve; mỗi xã chọn 1 thôn, và mỗi thôn chọn ngẫu nhiên 10 hộ gia đình tham gia phỏng vấn bằng mẫu phiếu có sẵn (phụ lục 1) Các hộ dân được lựa chọn đảm bảo đại diện cho các nhóm hộ có điều kiện kinh tế khác nhau trong từng xã, nhằm phản ánh đa dạng hộ cư trú Tổng cộng có 30 hộ được điều tra để lấy ý kiến thông qua mẫu phiếu này.
Phỏng vấn được sử dụng để trao đổi và thu thập thông tin liên quan đến tác động của thiên tai đến sản xuất nông nghiệp và công tác ứng phó của cộng đồng Các câu hỏi được thiết kế có mục đích dẫn dắt người được phỏng vấn kể lại các biểu hiện thiên tai và ảnh hưởng của chúng lên sản xuất nông nghiệp cũng như quá trình ứng phó của cộng đồng Quá trình phỏng vấn được tiến hành trực tiếp thông qua bảng hỏi nhằm thu thập dữ liệu có hệ thống và sâu sắc Phương pháp này cũng được sử dụng để đánh giá tính chất, mức độ và xu thế biến đổi của các yếu tố khí hậu, từ đó hỗ trợ nhận diện rủi ro và xây dựng kế hoạch ứng phó phù hợp.
Phương pháp được áp dụng nhằm đánh giá mức độ thay đổi của các yếu tố khí tượng trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, từ đó lượng hóa biến đổi để dự báo xu thế diễn biến của biến đổi khí hậu trong tương lai; kết quả đánh giá cung cấp cơ sở dữ liệu và thông tin quan trọng cho việc xây dựng các giải pháp hành động đối phó với biến đổi khí hậu tại Mai Sơn và tỉnh Sơn La, từ đó nâng cao khả năng thích ứng và giảm nhẹ rủi ro cho cộng đồng và sản xuất địa phương.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất đối với loài người hiện nay, đặc biệt với các quốc gia đang phát triển và dễ bị thiên tai Nó biểu hiện chủ yếu qua sự nóng lên toàn cầu và nước biển dâng Theo kịch bản phát thải cao, vào năm 2100 nhiệt độ trung bình toàn cầu có thể tăng khoảng 3°C và mực nước biển tại Việt Nam có thể dâng khoảng 1 mét.
Theo kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố, Việt Nam sẽ chịu tác động của biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu, làm gia tăng sự khắc nghiệt của thời tiết và đẩy nhanh nước biển dâng Khu vực miền núi và trung du phía Bắc chịu ảnh hưởng mạnh, với nguy cơ xói mòn đất, sạt lở, ngập úng và thiếu nước tưới, ảnh hưởng đến sinh kế người dân, sản xuất nông nghiệp và hạ tầng khu vực Do đó, cần các giải pháp thích ứng và quản lý rủi ro ở cấp tỉnh và cấp địa phương, tăng cường đầu tư cho công tác quản lý nước, bảo vệ đất đai, xây dựng cơ sở hạ tầng chống chịu và lồng ghép biến đổi khí hậu vào quy hoạch phát triển khu vực phía Bắc nhằm bảo đảm an ninh lương thực, sinh kế và phát triển bền vững.
Vùng miền núi và trung du Việt Nam, bao gồm Sơn La và Mai Sơn, đang chịu tác động đáng kể của biến đổi khí hậu Các khu vực này thường chịu lũ, lũ quét và sạt lở đất; cháy rừng và hạn hán cũng diễn ra, ảnh hưởng đến đời sống và sinh kế người dân Các lĩnh vực trọng yếu như an ninh lương thực, lâm nghiệp, giao thông vận tải và môi trường/tài nguyên nước/đa dạng sinh học cùng với sức khỏe cộng đồng và các vấn đề xã hội khác đều có nguy cơ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu.
Bảng 3 Các ngành và đối tượng chịu tác động của Biến đổi khí hậu
Vùng/Tỉnh Các tác động của biến đổi khí hậu
Ngành chịu tác động của biến đổi khí hậu Đối tƣợng dễ bị tổn thương
Vùng núi và trung du/tỉnh Sơn
- Gia tăng lũ và sạt lở đất
- Gia tăng hiện tƣợng thời tiết cực
- Nông nghiệp, An ninh lương thực
- Dân cƣ miền núi, nhất là dân tộc thiểu số
- Nhiệt độ gia tăng và hạn hán nước/đa dạng sinh học
- Y tế, sức khỏe cộng đồng/các vấn đề xã hội khác nữ, trẻ em
Theo Bộ TN&MT, biểu hiện của BĐKH ở Việt Nam, trong đó khu vực phía Bắc nói chung và huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La nói riêng có những nét chính sau [5]:
- Xu thế biến đổi của nhiệt độ và lƣợng mƣa là rất khác nhau trên các vùng
Trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình tăng khoảng 0,5°C trên phạm vi cả nước và lượng mưa có xu hướng giảm ở phía Bắc và tăng ở phía Nam lãnh thổ Nhiệt độ tháng I (tháng đặc trƣng cho mùa đông), nhiệt độ tháng VII (tháng đặc trƣng cho mùa hè) và nhiệt độ trung bình năm tăng trên phạm vi cả nước Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn so với mùa hè và nhiệt độ vùng sâu trong đất liền tăng nhanh hơn so với nhiệt độ vùng ven biển và hải đảo Trong 50 năm, các vùng khí hậu phía Bắc nhiệt độ mùa đông tăng khoảng 1,3-1,5°C, nhiệt độ mùa hè tăng 0,3-0,5°C, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5-0,6°C;
- Lƣợng mƣa mùa khô (tháng XI-IV) tăng lên chút ít hoặc thay đổi không đáng kể ở các vùng khí hậu phía Bắc Lƣợng mƣa mùa mƣa giảm từ 5-10% trên đa phần diện tích phía Bắc Lượng mưa năm có xu hướng giảm Lượng mưa ngày cực đại có xu hướng tăng lên ở hầu hết các vùng khí hậu, nhất là trong những năm gần đây
Khoảng 7 cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam mỗi năm, trong đó khoảng 5 cơn đổ bộ hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền Số lượng các cơn bão rất mạnh có xu hướng gia tăng, và mùa bão hiện nay có dấu hiệu kết thúc muộn hơn so với trước đây Mức độ ảnh hưởng của bão đối với nước ta cũng có xu hướng mạnh lên.
Hạn hán, ở mức tháng và mùa, có xu hướng tăng lên, nhưng không đồng đều giữa các vùng và giữa các trạm khí tượng trong từng vùng khí hậu; để đánh giá biến đổi khí hậu tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, bài viết xem xét sự biến đổi của nhiệt độ và lượng mưa—theo đó hai yếu tố khí tượng quan trọng quy định tính chất khí hậu khu vực Hiện nay khu vực nghiên cứu không có trạm quan trắc khí tượng tại chỗ, do đó cần dựa vào số liệu từ các trạm gần có đặc điểm khí hậu tương đồng Bốn trạm khí tượng Bắc Yên, Yên Châu, Sông Mã và Sơn La được xem là phù hợp vì vị trí gần và đặc điểm khí hậu tương đồng với địa điểm nghiên cứu Vì vậy, số liệu quan trắc từ bốn trạm này được sử dụng từ năm 1961 đến 2010 (50 năm) để xem xét biến đổi khí hậu tại Mai Sơn, đồng thời phương trình hồi quy tuyến tính được áp dụng để xác định xu thế của nhiệt độ và lượng mưa tại Phú Hộ trong khoảng thời gian 1961–2010.
Trong phần Nhiệt độ, mục a mô tả mức biến đổi của nhiệt độ Kết quả tính toán cho thấy mức độ biến đổi từ năm 1961 đến năm 2010 và được trình bày cụ thể trong bảng sau Bảng này tổng hợp các giá trị biến đổi theo từng giai đoạn, giúp nhận diện xu hướng chung và mức chênh lệch so với chuẩn tham chiếu Nhờ phân tích từ bảng, người đọc có thể hình dung rõ ràng sự biến động nhiệt độ theo thời gian và có căn cứ để rút ra các kết luận liên quan đến biến đổi khí hậu ở phạm vi nghiên cứu.
Bảng 4 Chỉ số S và chỉ số Sr của nhiệt độ tại 4 trạm từ năm 1960 – 2010
XII-II III-V VI-VIII IX-XI XII-II III-V VI-VIII IX-XI
Kết quả tính toán S trên các trạm khí tượng theo từng thời kỳ mùa cho thấy giá trị độ lệch chuẩn S biến thiên theo mùa; trong 3 tháng XII–II, độ lệch chuẩn S lớn nhất, dao động từ 0.9 tại trạm Yên Châu (Sơn La) đến 1.3 tại trạm Sông Mã, trong khi 3 tháng VI–VIII có giá trị S nhỏ nhất, dao động khoảng 0.3 tại trạm Sơn La.
Mức độ biến động của nhiệt độ trong 3 tháng từ XII đến II là lớn nhất, dao động từ 4.9% tại trạm Sơn La đến 7.7% tại trạm Sông Mã; ngược lại, giá trị biến động trong giai đoạn 3 tháng từ VI đến VIII nhỏ nhất, dao động từ 1.3% ở trạm Sơn La lên tới 1.9% ở trạm Yên Châu Phần b trình bày tính xu thế và tốc độ xu thế của nhiệt độ.
Xu hướng biến thiên của độ lệch chuẩn nhiệt độ theo các tháng XII–II (đại diện cho mùa đông) và VI–VIII (đại diện cho mùa hè), cùng với nhiệt độ trung bình năm, được thể hiện trong Hình 3 đến Hình 10 Các hình này cho thấy mức độ biến động nhiệt độ theo mùa và sự thay đổi của nhiệt độ trung bình năm.
Theo số liệu thống kê, nhiệt độ trung bình mùa lạnh tại tất cả các trạm quan trắc đang tăng nhanh hơn so với nhiệt độ trung bình mùa hè.
Trong đó, trong mùa đông, nhiệt độ tăng từ 0,5 – 1 0 C và trong mùa hè là 0,2 – 0,6 0 C
Các trạm có nhiệt độ trung bình trong mùa đông tăng mạnh nhất là trạm Sơn
La, Bắc Yên với nhiệt độ tăng 0,7 – 1,1 0 C
Các trạm có nhiệt độ trung bình trong mùa hè tăng mạnh nhất là Yên Châu với nhiệt độ tăng khoảng 0,5 0 C
Nhiệt độ cực trị và số ngày có nhiệt độ cực trị
Kết quả tính toán về nhiệt độ cực trị tối thấp cho thấy nhiệt độ tối thấp tại các trạm được khảo sát đều thấp hơn giá trị chuẩn của thời kỳ 1980-1999 Đồng thời, kết quả cho thấy giá trị trung bình nhiệt độ tối thấp của các tháng 6, 7 và 8 trên toàn bộ các trạm giảm ít hơn so với các tháng còn lại.
Kết quả quan trắc nhiệt độ tối thấp tại khu vực 4 trạm trên cho thấy xu hướng giảm số ngày có nhiệt độ tối thấp dưới 13°C Cụ thể, từ năm 1960 đến năm 1990, số ngày có nhiệt độ tối thấp dưới 13°C giảm dần; trung bình từ năm 1960 đến năm 1970 là 94,36 ngày, và từ năm 2000 đến năm 2010 số ngày dưới 13°C giảm xuống còn 71,89 ngày.
Hình 3 Số ngày có nhiệt độ tối thấp nhỏ hơn 13 0 C
Nhiệt độ cực trị tối cao: Kết quả tính toán thống kê trên tập số liệu từ năm
Hiện trạng thiên tai tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Xét theo kịch bản biến đổi khí hậu (BĐKH) cho tỉnh Sơn La giai đoạn 2011–2015 và có tính đến năm 2020, cơ bản nhiệt độ không tăng lớn, khoảng 0,2°C so với thời kỳ 1980–1999; trong khi lượng mưa tăng khoảng 1,2–2,5% trong giai đoạn 2011–2020 so với 1980–1999 Tuy vậy, mức tăng lượng mưa chủ yếu tập trung vào các tháng cao điểm của mùa mưa và có diễn biến không ổn định Do đó, nhận định đến năm 2015 và tính đến 2020 cho thấy, trong điều kiện BĐKH, thiên tai sẽ xảy ra thường xuyên hơn, trong đó hiện tượng thiên tai gây hậu quả lớn nhất là lũ quét.
Tình hình lũ quét trong thời gian qua của huyện Mai Sơn
Mai Sơn là một huyện miền núi ở vùng Tây Bắc, có địa hình độ cao trung bình khá lớn và bị chia cắt sâu, mạnh Sông Đà chảy qua huyện với chiều dài khoảng 24 km, cùng hệ thống sông suối nhánh của Đà và sông Mã như Nậm Pàn, Nậm Khiêng, Nậm Pó và Suối Quét, tạo thành mạng lưới sông suối dày với mật độ khoảng 1,8 km/km^2 Địa hình dốc, nhiều thác ghềnh là điều kiện thuận lợi để phát triển thủy điện nhưng đồng thời tiềm ẩn nguy cơ lũ quét.
Khí hậu nhiệt đới gió mùa tạo nên hai mùa rõ rệt: mùa đông lạnh và khô, mùa hè nóng ẩm và mưa nhiều Lượng mưa trung bình ở khu vực này lớn, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, chiếm 85–90% tổng lượng mưa cả năm.
Với những đặc điểm về địa hình, khí hậu, trong những năm qua trên địa bàn huyện Mai Sơnđã xảy ra rất nhiều trận lũ quét khác nhau
Nguy cơ xảy ra lũ quét trong điều kiện có biến đổi khí hậu tại huyện Mai Sơn
Theo kịch bản BĐKH cho huyện Mai Sơn, lượng mưa có xu hướng tăng và phân bố không đồng đều về không gian và thời gian; lượng mưa tăng chủ yếu vào mùa hè với mức tăng khoảng 0,8–1,8% vào năm 2020, 2,1–4,7% vào năm 2050 và 4–9% vào năm 2100, đồng thời số ngày mưa lớn và lượng mưa lớn nhất trung bình ngày cũng sẽ tăng, với mức tăng 9,5% vào năm 2020 và 45% vào năm 2050.
Lượng mưa trung bình hàng năm và lượng mưa lớn nhất theo ngày có xu hướng tăng lên, là yếu tố chủ chốt làm tăng số lượng cũng như cường độ của các trận lũ quét trên địa bàn huyện Sự gia tăng này làm gia tăng mức độ rủi ro lũ quét và đặt áp lực lên hệ thống quản lý nước và công trình hạ tầng Để giảm thiểu thiệt hại, cần tăng cường công tác dự báo thời tiết, cảnh báo sớm và đầu tư cho các giải pháp thoát nước, đê điều và kế hoạch ứng phó với mưa lũ.
Tổn thất của sự gia tăng lũ quét do biến đổi khí hậu
Huyện Mai Sơn trong những năm qua đã hứng chịu nhiều trận lũ quét gây thiệt hại đáng kể về con người và tài sản Từ năm 1990 trở lại đây, trên địa bàn huyện đã xảy ra hàng chục trận lũ quét với cường độ mạnh, ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất và hệ thống công trình Sau đây là những trận lũ quét điển hình cho thấy mức độ phức tạp của thiên tai tại khu vực và sự cần thiết của công tác phòng chống thiên tai cùng công tác cảnh báo sớm và ứng phó khẩn cấp.
Lũ quét ngày 27/7/1991 ở thị trấn Mai Sơn được gây ra bởi xoáy thấp Bắc Bộ, dẫn đến mưa lớn trên lưu vực suối Nậm Pàn thuộc địa bàn thị trấn Mai Sơn Lượng mưa dồn nén trong thời gian ngắn khiến nước trên lưu vực dâng cao nhanh, gây ngập úng, sạt lở và thiệt hại cho nhà cửa, hoa màu cùng hệ thống giao thông tại khu vực Sự kiện này cho thấy tác động mạnh của hiện tượng xoáy thấp Bắc Bộ đối với miền núi phía Bắc Việt Nam và nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác cảnh báo nhằm giảm thiểu thiệt hại trong các trận mưa lớn tiếp theo.
Trong hai ngày 26 và 27/7, lượng mưa đo được là 291,1 mm Hạ lưu suối Nậm Pàn, do nhiều nhập lưu và đô thị hoá mạnh, đã gây nghẽn dòng và ngập lụt nghiêm trọng ở các xã ven suối Thiệt hại ghi nhận: 16 người chết, 200 ngôi nhà bị cuốn trôi, 6 cầu treo bị đổ; làm hỏng 2 đập cao 10 m, 3 đập cao 5 m, 5 đập rọ thép, 1 đập xây; 50 phai gỗ; sạt lở 12.000 m3 đất; lấp 165 ha lúa màu; đổ hệ thống cột điện 35 kV.
Trận lũ quét tại Thị trấn Mai Sơn ngày 25/7/1996 diễn ra do cơn bão số 2 năm 1996 gây mưa lớn trên lưu vực suối Nậm Pàn và Nậm Bú Trong ba ngày từ 23 đến 25/7, lượng mưa đo được tại trạm Chiềng On đạt 249,9 mm, gây ngập lụt các xã ven suối từ cầu Hát Lót về hạ lưu; lũ đạt cường suất 118 cm/h tại Hát Lót Mực nước dâng cao đã gây thiệt hại lớn cho người dân dọc theo suối Nậm Pàn.
- Lũ quét xảy ra trong năm 1997 tại huyện Mai Sơn cùng với các huyện Sông
Ở Mộc Châu, Mường La, Thuận Châu, Sốp Cộp và Thành phố Sơn La thuộc tỉnh Sơn La, sự cố đã gây thiệt hại 24 tỷ đồng, làm 3 người chết, 36 người bị thương và hơn 400 người bị ảnh hưởng.
Trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2008, mỗi năm trên địa bàn huyện Mai Sơn xảy ra từ 4 đến 10 trận lũ quét gây thiệt hại hàng tỷ đồng Trận lũ quét ngày 26/9/2008 gây thiệt hại nghiêm trọng với 35 người chết, 40 người bị thương, 390 nhà sập, cuốn trôi hoặc hư hỏng, 1.299 nhà bị ngập và 618 nhà bị vùi lấp; lũ cuốn trôi 2.085 ha lúa và 13.911 tấn lương thực, làm hư hỏng nặng 09 hồ chứa, 28 đập xây và 72 phai Tổng mức thiệt hại lên tới 570 tỷ đồng.
Lũ quét năm 2015 tại huyện Mai Sơn làm ảnh hưởng tới 98 căn nhà dân, thiệt hại ước tính khoảng 500 triệu đồng Trong đó có 23 căn phải di chuyển do ngập lụt hoặc sạt lở, và 24 căn bị sạt lở, ngập lụt ở mức độ cục bộ Tại xã Mường Chanh, mương xây (dự án 925) ở cụm bản Đen bị gãy và cuốn trôi 73 m cầu máng; 7.400 m mương đất xây bị vùi lấp và sạt lở; 02 cầu treo bị hư hỏng.
Những số liệu thống kê cho thấy lũ quét gây thiệt hại lớn hàng năm, tác động mạnh tới tăng trưởng kinh tế, đời sống xã hội và nguồn vốn sinh kế của người dân huyện Mai Sơn cũng như điều kiện sống của cộng đồng Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, lũ quét được dự báo sẽ gia tăng cả về tần suất và cường độ, kéo theo thiệt hại ngày càng lớn và thách thức đáng kể đối với công tác quản lý, ứng phó và phục hồi sau thiên tai tại địa phương.
Hình 6 Lũ quét xảy ra trên địa bàn huyện Mai Sơn cuốn trôi cầu treo dân sinh
Nguồn: VTC (http://www.vtc.vn)
Nguy cơ xảy ra hạn hán
Phân tích xu hướng biến đổi lượng mưa trong mùa khô từ năm 1961 đến 2010 cho thấy lượng mưa mùa khô đang giảm dần, đặc biệt là ở những năm gần đây Bên cạnh đó, số ngày nắng nóng trên 35°C có xu hướng tăng khoảng 2 ngày mỗi thập kỷ Những biến đổi này là nguyên nhân làm hạn hán tại huyện Mai Sơn có xu hướng gia tăng về cả tần suất và cường độ Cụ thể, năm 2005 nắng nóng kéo dài 15 ngày gây hạn hán trên diện rộng; năm 2006 hạn hán xảy ra cục bộ tại một số địa bàn; năm 2007 hạn hán xảy ra hầu khắp các địa bàn tỉnh trong vụ Đông Xuân; năm 2010 nắng nóng xảy ra trên hầu hết các địa bàn của tỉnh từ cuối tháng 6 đến đầu tháng 7.
Trong kịch bản BĐKH cho huyện Mai Sơn, lượng mưa trung bình mùa khô (mùa đông) có xu hướng giảm, đặc biệt ở các tháng II đến IV.
Tác động một số hiện tƣợng thiên tai tới sản xuất nông nghiệp và sinh kế tại địa phương
Theo thống kê và định hướng phát triển của huyện Mai Sơn nói riêng và tỉnh Sơn La nói chung, ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng rất lớn trong cơ cấu kinh tế Điều này cho thấy nông nghiệp là động lực chủ đạo thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và là nền tảng cho đời sống người dân địa phương, đồng thời định hình các chương trình và chiến lược phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững ở khu vực Tây Bắc.
Trong những năm qua, sản lượng nông nghiệp không ngừng tăng trưởng, nhưng vẫn chịu ảnh hưởng đáng kể từ các hiện tượng thời tiết cực đoan Ngành nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, đặc biệt là thời tiết, và với sự gia tăng về tần suất và mức độ của các hiện tượng cực đoan do biến đổi khí hậu, ngành nông nghiệp huyện Mai Sơn đang đối mặt với nguy cơ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
3.1.4.1.Tác động của hiện tƣợng thiên tai tới sản xuất nông nghiệp
Trong điều kiện biến đổi khí hậu, lượng mưa tăng lên và phân bổ không đồng đều trong mùa mưa, trong khi mùa khô (mùa đông) lại chứng kiến sự suy giảm và phân bổ mưa không đồng đều; nhiệt độ tăng trong mùa hè và chênh lệch nền nhiệt giữa các mùa ngày càng lớn sẽ tác động đáng kể đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là ngành trồng trọt.
Cơ cấu cây trồng của huyện Mai Sơn trong giai đoạn 2011–2015 và đến năm 2020 tập trung chủ yếu ở lúa, ngô, đậu và chè, cùng với cây công nghiệp cà phê Các cây trồng này có đặc tính phụ thuộc nhiều vào chế độ mưa và nền nhiệt, nên sản lượng và cơ cấu diện tích có biến động theo từng năm Việc nắm bắt cơ cấu cây trồng Mai Sơn ở hai mốc thời gian này giúp đánh giá tiềm năng nông nghiệp địa phương và xây dựng chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững, thích ứng với điều kiện khí hậu.
- Tác động của sự thay đổi chế độ mƣa: Theo kịch bản BĐKH cho huyện giai đoạn
Khoảng 2011–2015 và đến năm 2020 cho thấy biến đổi lượng mưa có xu hướng gia tăng và phân bổ không đồng đều: lượng mưa mùa mưa tăng 0,6–1,3%, tập trung ở các tháng cao điểm mùa mưa; lượng mưa mùa khô suy giảm 0,3–1,2% và phân bổ không đồng đều Lượng mưa và cách phân bổ lượng mưa sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng, năng suất và tập quán canh tác của vùng Tuy nhiên, trong giai đoạn 2011–2015, lượng mưa tăng lên không đáng kể nhưng có diễn biến bất thường, nên tác động của sự thay đổi lượng mưa đến ngành trồng trọt của huyện trong thời gian tới chủ yếu liên quan đến các hiện tượng cực đoan như lũ lụt và hạn hán.
Các tác động chủ yếu nhƣ sau:
Việc lượng mưa tăng và tập trung chủ yếu vào mùa mưa sẽ dẫn đến lũ lụt và lũ quét, từ đó gây mất mùa, mất đất canh tác và buộc thay đổi mùa vụ Đặc biệt, hiện nay và đến năm 2015 cây lương thực vẫn chiếm ưu thế trong cơ cấu cây trồng, trong đó lúa, ngô và cây chè là các cây trồng phụ thuộc nhiều vào chế độ mưa và lượng mưa.
Theo kết quả tính toán, lượng mưa và số lượng các trận mưa lớn có xu hướng tập trung tại một thời điểm nhất định trong mùa mưa, chủ yếu vào tháng 8 thay vì các tháng khác Sự tập trung này cho thấy mốc thời gian dự báo mưa lớn trở nên rõ ràng, giúp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nước, cảnh báo lũ quét và lên kế hoạch cho công trình hạ tầng Việc nhận diện chu kỳ mưa lớn cũng hỗ trợ cải thiện mô hình dự báo khí tượng thủy văn và phục vụ cho các chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời tối ưu hóa hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Thời điểm đầu vụ thu đông là giai đoạn quyết định đối với năng suất và chất lượng cây trồng, vì sự biến động của lượng mưa và phân bổ mưa có thể ảnh hưởng mạnh đến vụ mùa này Sự thay đổi lượng mưa sẽ khiến các đợt mưa lớn diễn ra trong thời kỳ cây vụ hè thu đang ra hoa – kết trái, ảnh hưởng đến khả năng thụ phấn và từ đó tác động tới năng suất và chất lượng cây trồng Bên cạnh đó, lũ quét có thể xuất hiện thường xuyên hơn, gây mất đất canh tác ở nhiều khu vực và làm giảm diện tích đất sản xuất.
Bảng 7 Khảo sát hoạt động sản xuất nông nghiệp tại 3 xã của huyện Mai Sơn
Nguồn: Điều tra hộ dân, 2016
Theo thống kê gần đây, các thiên tai liên quan đến thời tiết và khí tượng trong thời gian qua gây thiệt hại đáng kể cho ngành trồng trọt Những ảnh hưởng của các thiên tai này đối với sản xuất trồng trọt được thể hiện rõ trong bảng dưới đây, cho thấy mức thiệt hại về sản lượng, chất lượng và chi phí sản xuất theo từng loại cây trồng.
Bảng 8 Tỷ lệ các hộ bị mất mùa do ảnh hưởng bởi các sự kiện thời tiết bất lợi trong
5 năm gần đây trên địa bàn huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La
Nguyên nhân mất mùa Hạn hán
Nguồn: Điều tra hộ dân, 2016
Trong giai đoạn 2011–2015, tần suất và lượng mưa gia tăng đi kèm với các hiện tượng thời tiết cực đoan đã tăng lên đáng kể, cho thấy sự biến đổi của khí hậu đang làm tăng mức độ rủi ro cho sản xuất nông nghiệp Theo đó, diện tích đất canh tác ngô và hoa màu bị ảnh hưởng bởi các hiện tượng thời tiết cực đoan cũng tăng theo, gây thiệt hại và biến động trong chu kỳ sản xuất Những diễn biến này nhấn mạnh sự cần thiết của các biện pháp thích ứng khí hậu và quản lý rủi ro nông nghiệp để bảo đảm sự ổn định của nguồn cung nông sản.
+ Sự suy giảm lƣợng mƣa trong mùa khô: Cùng với sự thay đổi về nhiệt độ trong mùa khô, sự suy giảm lƣợng mƣa trong mùa khô sẽ tác động đến sản xuất nông nghiệp của tỉnh nói chung và đến ngành trồng trọt nói riêng Với đặc điểm địa hình chủ yếu là đồi núi dốc, lưu lượng dòng chảy xuống rất thấp trong mùa khô nên sự suy giảm lượng mưa trong mùa khô sẽ gây ra hạn hán, ảnh hưởng đến canh tác nông nghiệp (mất mùa, chất lƣợng sản phẩm và năng suất cây trồng suy giảm) Theo cơ cấu cây trồng của huyện Mai Sơn, cây trồng chủ yếu là ngô Lƣợng mƣa giảm kéo theo độ ẩm của đất và không khí sẽ giảm làm giảm tốc độ sinh trưởng của cây ngô và chất lƣợng sản phẩm
Do đặc điểm địa hình của huyện chủ yếu là các vùng đất canh tác có độ dốc cao
Theo thống kê tình hình hạn hán trong vụ đông xuân của huyện Mai Sơn trong những năm qua cùng với sự suy giảm lƣợng mƣa trong mùa xuân đƣợc dự báo trong giai đoạn
Ở huyện Mai Sơn, vụ đông xuân chủ yếu trồng lúa và ngô, hai loại cây trồng phụ thuộc nhiều vào nguồn nước Sự suy giảm lượng mưa trong mùa khô có thể làm thay đổi thời vụ (thường gieo giống muộn hơn) và ảnh hưởng đến kỳ sinh trưởng cũng như ra hoa kết hạt Vì vậy, trong giai đoạn 2011–2015, cơ cấu cây trồng của vụ đông xuân cần được quan tâm và điều chỉnh để thích nghi với biến đổi nguồn nước và đảm bảo hiệu quả sản xuất.
Do đặc điểm địa hình phức tạp của huyện Mai Sơn, các công trình thủy lợi đóng vai trò then chốt đối với sản xuất nông nghiệp và đảm bảo an toàn cho người dân Khai thác hiệu quả nguồn nước, cấp nước tưới tiêu và thoát nước hợp lý không chỉ giúp ổn định mùa vụ, tăng năng suất cây trồng mà còn giảm thiểu rủi ro thiên tai và ngập lụt Vì vậy, việc quản lý, bảo trì và đầu tư cho hệ thống thủy lợi ở Mai Sơn là yếu tố quyết định cho sự phát triển nông nghiệp bền vững và an ninh nguồn nước của huyện.
Việc gia tăng các đợt lũ và lũ quét trong mùa mưa, kết hợp với địa hình đồi núi có độ dốc cao, tạo nhiều rủi ro cho an toàn và tuổi thọ của các công trình thủy lợi, trong đó kênh mương dẫn nước là những đối tượng chịu tác động mạnh nhất Theo thống kê và thực tế, các trận lũ quét gần đây đã phá hủy nhiều công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Thiệt hại do lũ quét đối với các công trình thủy lợi là không nhỏ, đặc biệt ở huyện miền núi nghèo Mai Sơn Dự báo cho thấy khả năng xảy ra lũ quét trên địa bàn huyện ngày càng gia tăng, đồng nghĩa với những thách thức lớn hơn đối với hệ thống công trình thủy lợi của tỉnh Với xu hướng tăng của các trận lũ quét trong thời gian tới, cần tăng cường công tác phòng chống, bảo vệ và nâng cấp kênh mương, đồng thời đẩy mạnh quản lý và đầu tư cho thủy lợi để giảm thiểu thiệt hại và đảm bảo nguồn nước tưới cho vụ mùa.
Định hướng và mục tiêu các giải pháp
Trong giai đoạn 2011–2020 của kịch bản biến đổi khí hậu tỉnh Sơn La, tác động của BĐKH lên huyện Mai Sơn không lớn, chủ yếu thể hiện qua sự biến đổi nhiệt độ ở mức nhẹ và sự biến đổi phân bố lượng mưa ở mức không lớn Do đó, định hướng chính cho kế hoạch hành động thích ứng với BĐKH tại Mai Sơn sau năm 2020 là tiếp tục và củng cố các hoạt động ứng phó với thiên tai, đồng thời tăng cường tuyên truyền và nâng cao nhận thức về BĐKH để các cấp, ngành, địa phương và đoàn thể chủ động thích ứng với những thách thức Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực quản lý, triển khai và khoa học, nâng cấp cơ sở hạ tầng để thích ứng một cách chủ động với BĐKH cho ngành nông nghiệp – lĩnh vực chủ chốt của huyện trong các giai đoạn tiếp theo.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và các hiện tượng thiên tai, mục tiêu chung của công tác thích ứng ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La là tăng cường khả năng ứng phó chủ động và kịp thời nhằm giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực lên sản xuất nông nghiệp và sinh kế của cộng đồng dân cư Hoạt động này tập trung vào nâng cao khả năng thích ứng với thiên tai, bảo đảm an toàn và ổn định đời sống cho người dân, đồng thời tăng cường sức chống chịu của cộng đồng trước các rủi ro do thiên tai gây ra.
Mục tiêu cụ thể đƣợc xác định là:
(1) Giữ vững mục tiêu phát triển của ngành nông nghiệp trong giai đoạn 2011 -
(2) Chủ động ứng phó với những hiện tượng bất thường của thời tiết và phòng ngừa dịch bệnh trong sản xuất nông nghiệp
Để ngành nông nghiệp có thể chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu ở các giai đoạn tiếp theo, cần chuẩn bị tốt năng lực quản lý và năng lực thực hiện, đồng thời củng cố cơ sở hạ tầng thiết yếu Việc tăng cường quản trị, nâng cao năng lực triển khai các chương trình thích ứng và giảm thiểu rủi ro BĐKH sẽ giúp nông dân và chuỗi giá trị nông sản thích nghi với điều kiện thời tiết ngày càng khắc nghiệt, từ đó đảm bảo nguồn cung thực phẩm ổn định và phát triển bền vững cho toàn ngành.
(4) Nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai
(5) Giúp cộng đồng hiểu và chủ động ứng phó hiệu quả với BĐKH
(6) Nâng cao nhận thức về công tác phòng chống lũ quét, phòng chống và chữa cháy rừng
(7) Đảm bảo an toàn cho người dân ở các khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ quét
(8) Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai
(9) Đảm bảo các chỉ tiêu đã được đề ra về phát triển vệ sinh môi trường
Đảm bảo hệ thống giao thông và các cơ sở hạ tầng được đầu tư và quản lý hiệu quả nhằm phục vụ tốt nhất các nhu cầu dân sinh và đẩy mạnh phát triển kinh tế của cộng đồng dân cư Việc nâng cấp và đồng bộ hóa mạng lưới giao thông cùng hạ tầng thiết yếu giúp tăng khả năng tiếp cận dịch vụ công, cải thiện chất lượng sống và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh Hệ thống giao thông được tối ưu hóa sẽ thúc đẩy lưu thông hàng hóa, thu hút đầu tư và mở rộng cơ hội việc làm cho người dân địa phương Do đó, đầu tư có trọng tâm vào giao thông vận tải và cơ sở hạ tầng không chỉ đáp ứng nhu cầu dân sinh mà còn tăng trưởng kinh tế bền vững cho cộng đồng.
(11) Bảo đảm nơi cƣ trú của các loài sinh vật
Đề xuất các giải pháp
a Thực hiện chương trình truyền thông biến đổi khí hậu, nước biển dâng và hành động giảm thiểu, thích ứng
- Xây dựng kế hoạch và các hoạt động tuyên truyền về BĐKH nói chung và các tác động của BĐKH
Phổ biến và triển khai đầy đủ chương trình hành động của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về xây dựng hệ thống chính sách và lồng ghép biến đổi khí hậu (BĐKH) vào các chương trình ngành, nhằm thống nhất mục tiêu và định hướng giữa Trung ương và địa phương Nội dung được truyền thông tới các cán bộ chuyên trách ở cấp xã, cấp huyện và các ban ngành để nâng cao nhận thức, năng lực triển khai và bảo đảm tính liên thông, đồng bộ của các chính sách nông nghiệp và phát triển nông thôn liên quan đến BĐKH.
- Tuyên truyền phổ biến kế hoạch hành động ứng phó BĐKH của tỉnh Sơn La đến người dân và các cán bộ chuyên trách cấp huyện, xã
- Chương trình ngoại khóa về BĐKH, những tác động có hại và các giải pháp thích ứng trong các trường phổ thông trong hệ thống giáo dục trong huyện
Truyền thông về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững trên các phương tiện thông tin đại chúng, tuyên truyền các giải pháp chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu và điều chỉnh các hệ thống tự nhiên và con người để phù hợp với môi trường và khí hậu đang thay đổi, nhằm ứng phó với các tác động hiện tại và tương lai.
Xây dựng chương trình và kế hoạch liên ngành với các đơn vị như kế hoạch, giáo dục, y tế, Chữ thập đỏ, Đoàn thanh niên, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể quần chúng để ký kết liên tịch triển khai chương trình hành động về biến đổi khí hậu (BĐKH); tổ chức các hội thi, hội diễn và các cuộc thi sáng tác ca khúc về môi trường, sáng tác kịch bản và tài liệu, in ấn tờ rơi, phát thanh trên xe loa, đồng thời bố trí kinh phí hỗ trợ cho cán bộ ở các cấp để tổ chức các cuộc vận động, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng và phổ biến các biện pháp thích ứng và giảm thiểu BĐKH.
Xây dựng mô hình thí điểm ứng phó biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng và nâng cao năng lực cho cán bộ ở các cấp chuyên ngành của huyện là hai yếu tố then chốt Ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) là vấn đề mới và phức tạp, vì vậy ngành nông nghiệp cần có đội ngũ cán bộ có hiểu biết về BĐKH và năng lực để xây dựng và phát triển ngành trong điều kiện có BĐKH Do đó, cần nâng cao năng lực cho các cán bộ chuyên trách và cán bộ lập kế hoạch của huyện về BĐKH, đồng thời trang bị các kỹ năng lồng ghép chiến lược, chương trình và kế hoạch ứng phó BĐKH vào các kế hoạch phát triển ngành.
Để tăng cường công tác phòng chống thiên tai và cứu hộ, cần hoàn thiện cơ cấu tổ chức của Ban Chỉ huy phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn; Ban Chỉ huy phòng chống, chữa cháy rừng từ cấp huyện đến cấp xã; nâng cao năng lực quản lý và thực hiện công tác phòng chống thiên tai (lũ quét, lụt và cháy rừng) Đồng thời tổ chức diễn tập phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn hàng năm và diễn tập phòng chống, chữa cháy rừng Thực hiện khung chương trình hành động của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về xây dựng hệ thống chính sách, lồng ghép biến đổi khí hậu với chương trình của ngành sản xuất nông nghiệp và chương trình phát triển bền vững.
Lồng ghép các chương trình thuộc Khung Chương trình hành động của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn vào quy hoạch và chương trình phát triển nông nghiệp của huyện nhằm tăng tính đồng bộ giữa các cấp và tối ưu hóa nguồn lực Việc tích hợp này đảm bảo các mục tiêu phát triển nông nghiệp địa phương được triển khai một cách nhất quán, hiệu quả và bền vững, đồng thời tạo cơ sở để thực hiện các kế hoạch dài hạn của huyện trong lĩnh vực nông nghiệp.
- Lồng ghép các hoạt động của Kế hoạch hành động ứng phó BĐKH của tỉnh vào kế hoạch, chương trình phát triển của ngành nông nghiệp
Ngoài ra, trong giai đoạn tới, các hoạt động thích ứng với BĐKH cho sản xuất nông nghiệp có thể đƣợc lồng ghép vào:
- Chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới của huyện;
- Chương trình mục tiêu xóa đói, giảm nghèo của huyện;
- Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng hàng năm của huyện;
- Chương trình giống cây trồng, vật nuôi và giống cây lâm nghiệp
Quy hoạch kinh tế - xã hội của huyện là khung định hướng phát triển bền vững, đồng thời đòi hỏi xây dựng và hoàn thiện các quy hoạch thuộc lĩnh vực sản xuất nông nghiệp cho giai đoạn 2011 – 2020 và kế hoạch 5 năm liên quan Các quy hoạch này cần được điều chỉnh để phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu (BĐKH), nhằm tăng cường năng suất, hiệu quả sử dụng nguồn lực và thích ứng với rủi ro khí hậu Việc đồng bộ hóa quy hoạch kinh tế - xã hội với quy hoạch sản xuất nông nghiệp 2011 – 2020 và kế hoạch 5 năm sẽ tạo nền tảng cho phát triển nông thôn bền vững và nâng cao đời sống người dân của huyện.
Trên cơ sở các đánh giá chi tiết về tác động của biến đổi khí hậu đối với tỉnh Sơn La và huyện Mai Sơn, ngành nông nghiệp sẽ điều chỉnh các mục tiêu phát triển, lên kế hoạch vụ mùa phù hợp, quy hoạch vùng sản xuất và lựa chọn cây, con phù hợp nhằm chủ động thích ứng với những thay đổi của thời tiết.
Tăng cường tuyên truyền và nâng cao nhận thức cho cán bộ khuyến nông cấp huyện, xã về biến đổi khí hậu (BĐKH) và kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH của tỉnh và nhà nước; đồng thời duy trì và phát triển cơ sở hạ tầng bảo vệ sản xuất và kết hợp với nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm bảo đảm chuỗi sản xuất bền vững và nâng cao hiệu quả nông nghiệp.
Duy trì và Phát triển cơ sở hạ tầng bảo vệ sản xuất
Để đảm bảo tính liên tục và bền vững của sản xuất nông nghiệp, cần thực hiện các chương trình nghiên cứu nhằm nắm bắt nguyên nhân và xác định các nguy cơ tiềm ẩn một cách chủ động, từ đó đề xuất các phương án ngăn ngừa phù hợp và kết hợp quy hoạch, nạo vét hệ thống kênh mương, xây dựng mô hình kiểm soát lũ và điều tiết nước ở các địa phương, song song với bố trí dân cư nông thôn để quản lý lượng nước và lưu lượng chảy trên các hệ thống kênh nhánh và kênh nội đồng, góp phần đảm bảo tính liên tục trong sản xuất; tuy nhiên dưới tác động của thời tiết bất thường như mưa nắng thay đổi và hiện tượng hạn hán, lũ lụt luôn là mối đe dọa và nguy cơ khó kiểm soát, do đó một hệ thống kênh mương hoàn chỉnh có khả năng điều tiết nước kịp thời vào mùa khô và tiêu thoát nước nhanh vào mùa mưa, đặc biệt khi xảy ra hiện tượng mưa bão bất thường.
Việc củng cố và nâng cấp hệ thống cống, trạm bơm điện là then chốt để đảm bảo bơm tưới và tiêu phục vụ sản xuất kịp thời và hiệu quả Đồng thời khôi phục đường bộ và giao thông thủy lợi nội đồng sẽ nâng cao khả năng vận hành và vận chuyển, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa Đây là vấn đề lớn cần được quan tâm và mỗi người dân cần có ý thức, đóng góp vào quá trình thực hiện để ứng phó với hiện tượng ngập úng cục bộ và giảm thiểu thiệt hại cho nông dân Việc vận chuyển vật tư và lưu thông hàng hóa thuận lợi sẽ thúc đẩy việc áp dụng nhanh hơn khâu cơ giới hóa trong nông nghiệp Nhờ đó hình thành những vùng sản xuất lớn, tập trung và có chất lượng cao.
Đẩy mạnh tuyên truyền về lợi ích của rừng, nhấn mạnh các tác động tích cực như giảm lũ lụt, mưa bão, lốc xoáy và hạn hán, cải thiện nguồn nước ngầm, chất lượng không khí và điều hòa nhiệt độ; đồng thời nhắc đến thiệt hại rất to lớn do mất rừng trước biến đổi khí hậu toàn cầu để nâng cao nhận thức của cộng đồng Phát động rộng rãi phong trào trồng cây, gây rừng và mở rộng trồng rừng lâm nghiệp phân tán tại khu dân cư, trường học và dọc theo các tuyến kênh Bảo vệ tốt các khu rừng tự nhiên và rừng trồng, hạn chế ở mức thấp nhất các vụ cháy rừng và nạn chặt phá rừng trái phép, nhằm duy trì các dịch vụ sinh thái và nguồn lợi lâu dài.
Nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Để ứng phó với biến đổi khí hậu và sự xâm nhập của dịch bệnh, ngành nông nghiệp cần nghiên cứu và phát triển các giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản mới có khả năng thích ứng với thời tiết bất thường và nguy cơ dịch bệnh, từ đó duy trì cân bằng hệ sinh thái vốn đã bị đe dọa Đầu tư vào công tác lai tạo và sản xuất giống mới giúp đảm bảo sản xuất nông nghiệp bền vững và cung cấp nguồn dinh dưỡng an toàn cho cộng đồng, đồng thời nâng cao chất lượng nguồn cung phục vụ xuất khẩu và phát triển kinh tế - xã hội.
Để nâng cao năng suất và chất lượng ngô, cần nghiên cứu và chọn giống ngô ngắn ngày có khả năng chống chịu hạn, kháng rét và kháng sâu bệnh tốt Đồng thời kết hợp điều chỉnh lịch gieo trồng và lịch mùa vụ để phù hợp với điều kiện thời tiết và biến đổi khí hậu Việc kết hợp giữa chọn giống chịu hạn, chịu rét và điều chỉnh lịch mùa vụ giúp cây ngô phát triển tối ưu, hạn chế thiệt hại và tăng hiệu quả sản xuất.
Nghiên cứu và ứng dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác mới phù hợp nhằm hướng tới sản xuất bền vững, giảm thiểu hủy hoại và ô nhiễm môi trường Đồng thời chú trọng áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật để hạn chế khai thác quá mức các nguồn tài nguyên đất, nước và sinh vật, và kiểm soát sự xâm nhiễm của sinh vật ngoại lai.