37 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TÍCH TỤ, TẬP TRUNG RUỘNG ĐẤT QUY MÔ LỚN ĐỂ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA, ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TẠI HUYỆN PHÙ CỪ, TỈNH HƯNG YÊN .... Thực tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
- -
Nguyễn Thị Hiền An
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÍCH TỤ RUỘNG ĐẤT QUY MÔ LỚN ĐỂ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA, ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TẠI
HUYỆN PHÙ CỪ, TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
- -
Nguyễn Thị Hiền An
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÍCH TỤ RUỘNG ĐẤT QUY MÔ LỚN ĐỂ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA, ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TẠI
HUYỆN PHÙ CỪ, TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 8850103.01
Người hướng dẫn khoa học: TS Thái Thị Quỳnh Như
XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG
thạc sĩ khoa học
Hà Nội - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nỗ lực học tập và tiến hành nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp, đến nay tôi đã hoàn thành được khóa học của mình và luận văn này khẳng định những nỗ lực của bản thân tôi trong thời gian qua
Để đạt được những thành công này, với lòng biết ơn sâu sắc của mình, tôi xin gửi lời cám ơn tới tập thể thầy cô giáo Khoa Địa lý, Trường đại học Khoa học Tự nhiên- ĐHQGHN Với lòng nhiệt tình yêu nghề và yêu học trò các Thầy, các Cô đã cho tôi những tri thức mới, vươn tới những tầm cao mới, đã động viên khích lệ tôi trong những lúc khó khăn nhất của cuộc sống đề vươn lên đạt được như ngày hôm nay Với lòng biết ơn của mình, em xin chúc các Thầy, các Cô luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công trong sự nghiệp, chúc các Thầy, các Cô có những lớp học trò giỏi, chăm ngoan và thành đạt
Tôi cũng xin gửi lời cám ơn sâu sắc nhất tới TS Thái Thị Quỳnh Như – người hướng dẫn khoa học và PGS.TS Trần Văn Tuấn – Trưởng Bộ môn Quản lý đất đai Trong quá trình hướng dẫn tôi, thầy cô luôn tạo cơ hội để tôi tiếp thu những kiến thức, tạo động lực để tôi hoàn thành công việc nghiên cứu của mình, Thầy cô cũng đã giúp tôi có những định hướng và cái nhìn tươi sáng hơn về cuộc sống Cuối cùng, tôi xin gửi lời tri ân tới gia đình, Bố Mẹ, các anh chị em và người thân của mình, những người luôn luôn bên cạnh tôi những lúc tôi vui vẻ hay buồn phiền, giúp tôi có động lực vươn lên trong thời gian qua cũng như trong cả thời cuộc đời tôi sau này
Xin chân thành cám ơn
Nguyễn Thị Hiền An
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở lý luận của việc tích tụ, tập trung ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp 5
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 5
1.1.2 Quyền sử dụng đất nông nghiệp và vấn đề tích tụ, tập trung đất đai quy mô lớn 10
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tích tụ, tập trung đất nông nghiệp 11
1.1.4 Vai trò, mục đích của việc tích tụ tập trung ruộng đất quy mô lớn, ứng dụng cao nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta 13
1.2 Chính sách pháp luật của nước ta về tích tụ, tập trung ruộng đất nông nghiệp 14
1.2.1 Chính sách pháp luật liên quan đến tích tụ đất nông nghiệp trước năm 198614 1.2.2 Chính sách pháp luật liên quan đến tích tụ đất nông nghiệp từ năm 1986 đến nay 16
1.3 Tổng quan tích tụ, tập trung đất nông nghiệp trong nước và thế giới 21
1.3.1 Tình hình tích tụ, tập trung đất nông nghiệp trên thế giới 21
1.3.2 Tình hình tích tụ, tập trung đất nông nghiệp trong nước 34
Trang 51.4 Khái quát đề án “Khuyến khích tích tụ, tập trung ruộng đất quy mô lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa giai đoạn 2017-2020” của tỉnh Hưng
Yên 37
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TÍCH TỤ, TẬP TRUNG RUỘNG ĐẤT QUY MÔ LỚN ĐỂ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA, ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TẠI HUYỆN PHÙ CỪ, TỈNH HƯNG YÊN 38
2.1 Đặc điểm vùng nghiên cứu 38
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của vùng nghiên cứu 38
2.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội 40
2.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên – kinh tế, xã hội và ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp 45
2.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phù Cừ 45
2.2.1 Cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn huyện Phù Cừ 45
2.2.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phù Cừ 46
2.3 Thực trạng thực hiện tích tụ, tập trung ruộng đất quy mô lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ cao tại huyện Phù Cừ 49
2.3.1 Khái quát tình hình dồn điền, đổi thửa, tích tụ ruộng đất tại huyện Phù Cừ 49
2.3.2 Tình hình triển khai tập trung ruộng đất quy mô lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn 59
2.3.3 Phân tích thực trạng tích tụ, tập trung ruộng đất quy mô lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ cao thông qua tổng hợp phiếu điều tra xã hội học 62
2.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của một số mô hình tập trung ruộng đất quy mô lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn 85
2.4.1 Mô hình tập trung ruộng đất thông qua dồn điển, đổi thửa 85
2.4.2 Mô hình tập trung ruộng đất thông qua thành lập HTX nông nghiệp 86
Trang 62.4.3 Mô hình tập trung ruộng đất thông qua thuê, mướn đất 87
2.5 Đánh giá chung về tích tụ, tập trung ruộng đất quy mô lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ cao tại huyện Phù Cừ 88
2.5.1 Những điển đạt được 88
2.5.2 Những khó khăn, tồn tại, hạn chế 89
CHƯƠNG 3 : ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÍCH TỤ, TẬP TRUNG RUỘNG ĐẤT, ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 91
3.1 Giải pháp chung 91
3.1.1 Tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật đất đai 91
3.1.2 Đổi mới giải pháp tài chính và khoa học, công nghệ 93
3.1.3 Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách hỗ trợ của Nhà nước 94
3.2 Giải pháp cụ thể cho địa bàn nghiên cứu 95
3.2.1 Giải pháp về quy hoạch 95
3.2.2 Giải pháp về chính sách, tổ chức thực hiện tích tụ, tập trung đất nông nghiệp quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao: 95
3.2.3 Ứng dụng rộng rãi tiến bộ kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh nồn nghiệp trên địa bàn huyện 97
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 106
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu sản xuất nông nghiệp của các nước trên thế giới 21Bảng 1.2 Thay đổi quy mô trang trại của Nhật Bản, giai đoạn 1955-1985 24Bảng 1.3 Quy mô sử dụng đất của hộ gia đình sản xuất nông nghiệp các năm
2005, 2010 35Bảng 2.1 Tổng số lao động trong các doanh nghiệp tại thời điểm 31/12 hàng năm phân theo ngành kinh tế 44Bảng 2.2 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp 47Bảng 2.3 Diện tích, năng suất, sản lượng cây trồng nông nghiệp 48Bảng 2.4 Tổng hợp thực trang trước khi thực hiện công tác DTĐR tại 10 xã, thị trấn của huyện Phù Cừ 52Bảng 2.5 Kết quả sau khi thực hiện công tác dồn thửa đổi ruộng của 10 xã tại huyện Phù Cừ 54Bảng 2.6 Kết quả thực hiện dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp của huyện Phù Cừ giai đoạn 2013 – 2015 56Bảng 2.7 Tổng diện tích làm giao thông, thủy lợi, nội đồng và đất công ích sau DTĐR gia đoạn (2013- 2015) của huyện Phù Cừ 58Bảng 2.8 Thực trạng tích tụ, tập trung đất nông nghiệp làm trang trại tại huyện Phù
Cừ, năm 2015 60Bảng 2.9 Tổng hợp ý kiến đánh giá của hộ gia đình cá nhân về các yếu tố ảnh hưởng đến hình thức sử dụng đất tập trung, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp tại địa phương 63Bảng 2.10 Tổng hợp ý kiến của các hộ gia đình cá nhân về mức độ phù hợp của các hình thức sử dụng đất tập trung, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao 65Bảng 2.11 Tổng hợp ý kiến của các hộ dân về quy mô với từng loại hình sử dụng đất của hình thức tập trung, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao tại địa phương 68
Trang 8Bảng 2.12 Tổng hợp ý kiến của các hộ dân về những khó khăn, vướng mắc khi sử dụng đất tập trung, quy mô lơn, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp 68 Bảng 2.13 Tổng hợp ý kiến về những khó khăn 74Bảng 2.14 Tổng hợp ý kiến, nguyện vọng của các tổ chức về các chính sách của Nhà nước để phát triển kinh tế, sử dụng đất tập trung, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp 75Bảng 2.15 Tổng hợp ý kiến của các cán bộ quản lý tại địa phương về yếu tố ảnh hưởng đến hình thức sử dụng đất tập trung, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp tại địa phương 78Bảng 2.16 Tổng hợp ý kiến của cán bộ quản lý về mức độ phù hợp của quy định hiện hành đối với nhu cầu sử dụng đất tập trung, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp tại địa phương 80Bảng 2.17 Tổng hợp ý kiến của cán bộ quản lý về mức độ phù hợp của các chính sách đối với nhu cầu sử dụng đất tập trung, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp tại địa phương 81Bảng 2.18 Tổng hợp các ý kiến của cán bộ quản lý đánh giá về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến việc sử dụng đất tập trung, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp tại địa phương 82Bảng 2.19 Tổng hợp ý kiến của các cán bộ vệ mức độ cần thiết phải đưa ra các quy định và giải pháp 83
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Quy mô hộ nông nghiệp ở Hàn Quốc 28
Hình 1.2 Quy mô hộ nông nghiệp ở Trung Quốc 30
Hình 2.1 Sơ đồ vị trí huyện Phù Cừ 39
Hình 2.2 Cơ cấu các ngành kinh tế huyện Phù Cừ năm 2017 41
Hình 2.3 Giá trị sản phẩm thu được trên 1 hecsta đất trồng trọt và mặt nước nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2012- 2017 42
Hình 2.4 Cơ cấu sử dụng đất đai tại huyện Phù Cừ 46
Hình 2.5 Bình quân số thửa đất/hộ của các hộ gia đình trước và sau đồn điền đổi thửa giai đoạn 2013-2015 57
Hình 2.6 Tổng hợp ý kiến của người dân về mức ảnh hưởng của hạn mức, thời hạn sử dụng đất nông nghiệp hiện hành đến tập trung ruộng đất quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao 66
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình thực hiện giao đất nông nghiệp theo tinh thần của Nghị định 64/CP năm 1993 và Nghị định 85/1999/NĐ-CP, bên cạnh những thành quả quan trọng đã đạt được trong lĩnh vực kinh tế, xã hội… còn tồn tại những bất cập, điển hình là tình trạng đất đai manh mún, khó áp dụng máy móc cơ giới hóa tăng chi phí sản xuất… Cụ thể cả nước có 75 triệu thửa đất, bình quân mỗi hộ có 6 - 8 thửa với khoảng 0,3 - 0,5 ha/hộ Tuy nhiên khi đất nước bước vào thời kỳ hội nhập và phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn thì đất đai manh mún nhỏ lẻ là một trở ngại cho sản xuất khó áp dụng cơ giới hóa, tiến bộ khoa học kỹ thuật, khó hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung Vì vậy, tích tụ đất nông nghiệp là yêu cầu tất yếu, khách quan trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
Để khắc phục một phần tình trạng đất nông nghiệp manh mún tại các địa phương trên cả nước đã triển khai thực hiện chương trình dồn điền đổi thửa Tuy nhiên việc thực hiện chương trình này mới chỉ dồn nhiều thửa nhỏ thành thửa lớn, một hộ có nhiều thửa trở nên ít thửa hơn, nhưng diện tích của hộ không thay đổi Do
đó quy mô diện tích của các hộ dân vẫn ở mức nhỏ Với quy mô diện tích nhỏ như vậy là một rào cản cho các hộ trong việc áp dụng cơ giới hóa và hình thành vùng sản xuất tập trung theo hướng sản xuất hàng hóa Thực tế, trong quá trình thực hiện dồn điền đổi thửa các hộ đã thực hiện tích tụ đất nông nghiệp thông qua việc thực hiện các quyền sử dụng đất: chuyển nhượng, cho thuê Do vậy, chương trình dồn diền đổi thửa là cơ sở tiền đề cho tích tụ đất nông nghiệp phát triển, giúp các hộ dân
mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp
Huyện Phù Cừ nói riêng và tỉnh Hưng yên nói chung đều nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ tiếp giáp với tỉnh Thái Bình, Hải Dương vá có các tuyến giao thông quan trọng như vậy là một lợi thế cho tỉnh Hưng Yên phát triển ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung Trước DTĐR, số thửa khi giao ruộng đất ổn định lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân từ 6-7 thửa (có hộ 14-17 thửa, có thửa đất diện tích dưới 10m2) nay sau DTĐR còn 3.16 thửa/hộ đã tạo thuận lợi cho công
Trang 11tác quản lý nhà nước đất đai trên địa bàn (đặc biệt diện tích đất công ích đã được xác định và để tập trung) góp phần tiếp tục thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa Tuy nhiên, số thửa đất của mỗi hộ gia đình, cá nhân (3.16 thửa/hộ) vẫn còn nhiều, cản trở sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, quy mô lớn
và chưa đáp ứng Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới; chưa đáp ứng yêu cầu về hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống quản lý đất đai; đặc biệt việc quản lý, sử dụng đất công ích Chủ trương tích tụ và tập trung ruộng đất được đặt ra
từ nhiều năm nay nhưng kết quả thực hiện chủ trương đó không đạt được mục tiêu
kỳ vọng Một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là ở chỗ thị trường đất nông nghiệp chưa phát triển Thị trường đất nông nghiệp chưa phát triển lại bắt nguồn từ nguyên nhân bất cập trong chính sách đất nông nghiệp hiện hành
Chính những bất cập này đang trở thành một trong những lực cản thúc đẩy liên kết giữa hàng triệu nông dân cá thể với doanh nghiệp nhằm phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch dưới tác động của biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế
Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu đánh giá
thực trạng tích tụ ruộng đất quy mô lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao tại huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên” để thực
hiện Đề tài luận văn này được sự hỗ trợ và là một sản phẩm đào tạo của Đề tài
cấp Nhà nước: Nghiên cứu cơ sở khoa học, thực tiễn đề xuất mô hình sử dụng đất
tập trung, quy mô lớn, hiệu quả, bền vững đáp ứng yêu cầu ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp tại các vùng kinh tế trọng điểm Việt Nam do TS
Thái Thị Quỳnh Như làm chủ nhiệm
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá việc thực hiện tích tụ, tập trung ruộng đất quy mô lớn để phát triển
sản xuất nông nghiệp hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao, tại huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên Từ đó, đề xuất hoàn thiện một số quy định của pháp luật liên quan đến chính sách này và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại địa phương
Trang 123 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận và chính sách pháp luật về việc việc
tích tụ, tập trung ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp
- Thu thập tài liệu, số liệu về tình hình quản lý sử dụng đất đai, thực trạng thực hiện tích tụ, tập trung ruộng đất tại huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên
- Điều tra, khảo sát về tình hình tích tụ, tập trung ruộng đất tại huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên
- Đánh giá, phân tích thực trạng về tích tụ, tập trung ruộng đất quy mô lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ cao tại huyện Phù Cừ
- Một số đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật về sử dụng đất tập trung quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp và các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại địa bàn nghiên cứu
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Thực trạng tích tụ, tập trung ruộng đất tại huyện Phù
Cừ, tỉnh Hưng Yên
Phạm vi thời gian: tập trung làm rõ thực trạng tích tụ, tập trung ruộng đất tại
huyện Phù Cừ giai đoạn 2013-2018
5 Phương pháp nghiên cứu
1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp: được sử dụng để thu thập
thông tin, tài liệu, gồm: các chủ trương, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật, các tài liệu hướng dẫn…các báo cáo và số liệu của tỉnh Hưng Yên, của huyện Phù Cừ về tình hình tích tụ ruộng đất quy mô lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp
2 Phương pháp điều tra xã hội học (điều tra nhanh nông thôn PRA): Được sử
dụng để thu thập các thông tin, số liệu có liên quan bằng phiếu điều tra của
50 hộ gia đình, cá nhân tham gia các mô hình sản xuất nông nghiệp tập trung, quy mô lớn và 05 tổ chức (chủ trang trại, chủ doanh nghiệp, Hợp tác
Trang 13xã, câu lạc bộ, tổ hợp tác sản xuất nông nghiệp…), 15 cán bộ quản lý đất đai các cấp
3 Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh: Dùng để tổng hợp, phân tích, so
sánh số liệu sau khi đã thu thập được toàn bộ tài liệu, số liệu, thông tin cần thiết và phiếu điều tra từ các phương pháp được tiến hành trước đó
4 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất: sử dụng để đánh giá hiệu quả
sử dụng đất (kinh tế, xã hội, môi trường) của một số mô hình sử dụng đất nông nghiệp tập trung quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn
nghiên cứu
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
- Chương 2: Thực trạng tích tụ, tập trung ruộng đất quy mô lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao tại huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên
- Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả tích tụ, tập trung ruộng đất quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận của việc tích tụ, tập trung ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp
1.1.1 Các khái niệm cơ bản a) Khái niệm về đất đai
Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái [50] Với khái niệm này, đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: Khí hậu; dáng đất, địa hình; Thổ nhưỡng; Thủy văn; Thảm thực vật tự nhiên; Cỏ dại trên đồng ruộng; Động vật tự nhiên; Những biến đổi của đất do hoạt động của con người
- Đất đai (land): là diện tích đất cụ thể của bề mặt Trái Đất: khí hậu, địa hình, nước, thổ nhưỡng, trầm tích, sinh vật, hoạt động của con người
Theo học thuyết sinh thái học cảnh quan (landscape ecology) đất đai được coi
là vật mang của hệ sinh thái, đất đai được định nghĩa đầy đủ như sau: “Một vạt đất xác định về mặt địa lý là một diện tích bề mặt của trái đất với những thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của sinh quyển bên trên, bên dưới nó như là: không khí, đất (soil), điều kiện địa chất, thủy văn, thực vật và động vật cư trú, những hoạt động hiện nay và trước đây của con người, ở chừng mực mà những thuộc tính này ảnh hưởng có ý nghĩa tới việc sử dụng vạt đất đó của con người hiện tại và trong tương lai” [48]
b) Khái niệm đất nông nghiệp
Theo Điều 10 Luật Đất đai năm 2013 căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai của Việt Nam được phân loại thành 3 nhóm đất: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng, trong đó đất nông nghiệp là đất được sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng Đất nông nghiệp bao gồm: Đất trồng cây hàng năm (đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác), đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất nuôi trồng
Trang 15thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác Đối với đất nông nghiệp khác bao gồm: đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép;
đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh [30]
Vai trò của đất đai nói chung đất nông nghiệp nói riêng là vô cùng to lớn Nó không những đóng vai trò là điểm tựa trong ngành sản xuất, là cơ sở cung cấp nuôi dưỡng cây trồng trong sản xuất nông nghiệp mà còn là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sống [46], là nơi tạo ra giá trị sản xuất và thu nhập của các hộ dân Nếu con người biết cách sử dụng các công thức luân canh cây trồng phù hợp với từng loại đất sẽ đảm bảo được năng suất cho cây cũng như đảm bảo được tính bền vững trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp
c) Khái niệm sử dụng đất nông nghiệp
Sử dụng đất nông nghiệp là hành vi lấy đất kết hợp với sức lao động, vốn để sản xuất nông nghiệp tạo ra lợi ích, tùy vào mức độ phát triển kinh tế, xã hội, ý thức của loài người về môi trường sinh thái được nâng cao, phạm vi sử dụng đất nông nghiệp được mở rộng ra các mặt sản xuất, sinh hoạt, sinh thái
Nguyên tắc sử dụng đất: Tại Điều 6 Luật Đất đai năm 2013 quy định có 3
nguyên tắc phải đảm bảo khi sử dụng đất: (1) Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
và đúng mục đích sử dụng đất; (2) Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh; (3) Người sử dụng đất thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan [30]
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn, trong khi đó nhu cầu của con người lấy
từ đất ngày càng tăng, mặt khác đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do bị trưng dụng sang các mục đích khác Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta phải đáp ứng được mục tiêu là nâng cao hiệu quả KT-XH trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu
Trang 16triển KT-XH, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hướng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đất Do đó, đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ và hợp lý”, phải có các quan điểm đúng đắn theo xu hướng tiến bộ, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, làm cơ sở thực hiện việc sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao [35]
Thực hiện sử dụng đất nông nghiệp đầy đủ và hợp lý là cần thiết vì:
- Nó sẽ làm tăng nhanh khối lượng nông sản trên 1 đơn vị diện tích, xây dựng
cơ cấu cây trồng, chế độ bón phân hợp lý, góp phần bảo vệ độ phì đất
- Là tiền đề để sử dụng có hiệu quả cao các nguồn tài nguyên khác, từ đó nâng cao đời sống của nông dân
- Trong cơ chế kinh tế thị trường cần phải xét đến tính quy luật của nó, gắn với các chính sách vĩ mô nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển nền nông nghiệp bền vững [14]
d) Tích tụ đất đai
- Tích tụ đất đai (land accumulation) là một hành vi trong đó chủ thể sở hữu và
sử dụng ruộng đất dùng các biện pháp khác nhau như mua, chuyển nhượng và các biện pháp khác nhằm tăng được quy mô ruộng đất mà mình sở hữu và sử dụng [13]
Mặc dù có nhiều cách tiếp cận và quan điểm khác nhau liên quan đến tích tụ đất đai nhưng tất cả đều có những điểm chung là: 1- Tích tụ đất nông nghiệp làm tăng quy mô ruộng đất của một chủ sở hữu; 2- Tích tụ đất nông nghiệp sẽ khắc phục được tình trạng manh mún đất đai khi tăng quy mô diện tích canh tác của hộ gia đình; 3- Hoạt động tích tụ không thể tách rời với thị trường đất đai mà cụ thể bao gồm thị trường chuyển nhượng QSDĐ và thị trường thuê đất; 4- Tích tụ và tập trung đất đai đều nhằm mục đích giảm manh mún, nhưng tích tụ đất đai gắn trực tiếp đến sự phân tầng về diện tích đất và mức sống ở khu vực nông thôn [32]
Tích tụ đất đai có thể coi là một dạng tích tụ tư bản dưới hình thức hiện vật trong nông nghiệp Tuy nhiên, đặc trưng của tích tụ đất đai trong nông nghiệp khác với tích tụ tư bản trong công nghiệp Do đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không
Trang 17thể thay thế được và có giới hạn, và do sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố sinh thái, tự nhiên, thời tiết, khí hậu nên lợi thế kinh tế theo quy mô có phần hạn chế Trong khi tích tụ tư bản trong công nghiệp gần như là không giới hạn, hình thành nên những doanh nghiệp có quy mô vốn lớn, tận dụng được lợi thế kinh tế theo quy mô Từ đó có thể thấy, cần tính toán quy mô tích tụ đất đai phù hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất Trên thực tế, các mô hình nông nghiệp công nghệ cao không đòi hỏi quy mô ruộng đất quá lớn Một điểm nữa cũng cần quan tâm, đó là tích tụ ruộng đất đồng nghĩa với việc một bộ phận nông dân sẽ mất QSDĐ, đồng nghĩa với việc họ có nguy cơ bị bần cùng hóa rất cao [32]
Hình thức tích tụ đất đai liên quan đến các mô hình giúp tăng diện tích ruộng đất của các hộ gia đình hoặc tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp từ các cá nhân, tổ chức kinh tế hoặc qua các mô hình góp vốn bằng quyền sử dụng đất có chuyển QSDĐ giữa nông dân với doanh nghiệp [32]
e) Tập trung đất đai
Tập trung đất đai (land concentration) được hiểu là quá trình làm tăng quy
mô đất đai cho sản xuất kinh doanh hay mục đích nào đó nhưng không thay đổi quyền sở hữu hay quyền sử dụng của các chủ thể sở hữu và sử dụng ruộng đất [13]
- Tập trung ruộng đất có thể được hiểu là “gom” nhiều mảnh đất hiện có thành mảnh đất, khu đất, cánh đồng có quy mô lớn, liền vùng, liền thửa, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp dịch vụ, bằng con đường thuê mướn hoặc liên kết sản xuất, kinh doanh, góp vốn QSDĐ vào doanh nghiệp
- Theo một cách hiểu khác, tập trung ruộng đất là một sự điều chỉnh và sắp xếp lại các thửa ruộng, thường được áp dụng để hình thành những vùng đất rộng lớn
và hợp lý hơn Tập trung ruộng đất bên cạnh tạo thuận lợi cho thay đổi phương thức sản xuất nông nghiệp còn có thể được sử dụng để cải thiện kết cấu hạ tầng nông thôn và thực hiện các chính sách bảo đảm tính bền vững của môi trường và nông nghiệp [32]
Từ các cách hiểu trên, có thể đưa ra nhận xét: 1- Tập trung ruộng đất là sự
mở rộng quy mô diện tích ruộng đất do hợp nhất nhiều thửa đất lại, chủ sở hữu
Trang 18không thay đổi; 2- Tập trung ruộng đất cần có sự hỗ trợ của tín dụng; 3- Tập trung ruộng đất không chỉ đơn giản là phân bổ lại các lô đất để loại bỏ những ảnh hưởng của sự phân mảnh mà còn gắn liền với cải cách kinh tế và xã hội rộng lớn hơn [32]
Điểm giống nhau của hai khái niểm trên là đều là quá trình tăng quy mô diện tích đất đai phục vụ mục đich kinh tế nhất đinh Tuy nhiên chúng có điểm khác nhau cơ bản, tích tụ và tập trung đất đai được thể hiện qua hai tiêu chí: (i) về việc chuyển giao quyền sử dụng đất và (ii) về tính ổn định của chủ thể có quyền sử dụng đất Về việc chuyển giao quyền sử dụng đất, tích tụ đất đai là quá trình nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để sở hữu đất đai ở quy mô lớn hơn, còn tập trung đất đai là liên kết nhiều mảnh đất của nhiều chủ sở hữu khác nhau lại thành mảnh đất lớn hơn Do đó, tích tụ đất đai làm thay đổi chủ thể có quyền sử dụng đất từ nhiều người thành một người duy nhất, còn tập trung đất đai thì quyền sử dụng đất của các chủ hộ vẫn không thay đổi Về tính ổn định của chủ thể có quyền sử dụng đất, tích
tụ đất đai giúp người tích tụ có quyền sử dụng đất lâu dài nên sẽ yên tâm hơn khi tập trung đầu tư và phát triển nông nghiệp vì có đủ quyền năng của chủ sở hữu, nhưng sẽ làm phát sinh bài toán về xã hội và dân cư khi một bộ phận nông dân sẽ mất quyền sử dụng đất do ông cha để lại Đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến nhà nước phải ban hành các chính sách và pháp luật về hạn điền để hạn chế tình trạng nêu trên Việc phân biệt rõ tích tụ và tập trung đất đai giúp nhà nước có những chính sách phù hợp hơn để phục vụ sản xuất nông nghiệp Như vậy, tích tụ
và tập trung ruộng đất khác nhau từ cách thức tiến hành, quyền tài sản (ở đây là QSDĐ) và một số tác động xã hội như cách thức duy trì thu nhập, việc làm của người nông dân sau tích tụ và tập trung ruộng đất cũng khác Tuy nhiên, về mặt kinh tế, mục tiêu cuối cùng vẫn là tạo ra một diện tích đất đai quy mô lớn để có thể ứng dụng công nghệ, máy móc vào sản xuất nông nghiệp để đạt được hiệu quả cao hơn [32]
f) Khái niệm nông nghiệp công nghệ cao
Theo Luật Công nghệ Cao (2008): “Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt
Trang 19trội, giá trị gia tăng, thân thiện với môi trường, có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hoá ngành sản xuất, dịch vụ hiện có” [24]
Theo ý kiến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là nền nông nghiệp được áp dụng những công nghệ mới vào sản xuất, bao gồm: công nghiệp hóa nông nghiệp (cơ giới hóa các khâu của quá trình sản xuất), tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học và các giống cây trồng, giống vật nuôi có năng suất và chất lượng cao, đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích và phát triển bền vững trên
cơ sở canh tác hữu cơ”[24]
Vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao: Là vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, ứng dụng thành tựu của nghiên cứu và phát triển CNC vào lĩnh vực nông nghiệp để thực hiện nhiệm vụ sản xuất một hoặc một vài nông sản hàng hóa và hàng hóa xuất khẩu chiến lược dựa trên các kết quả chọn tạo, nhân giống cây trồng, giống vật nuôi cho năng suất, chất lượng cao; phòng, trừ dịch bệnh; trồng trọt, chăn nuôi đạt hiệu quả cao; sử dụng các loại vật tư, máy móc, thiết bị hiện đại trong nông nghiệp; bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ CNC trong sản xuất nông nghiệp [24]
Trong nông nghiệp, khái niệm "công nghệ cao" hình thành, sử dụng rộng rãi
là sự kết hợp và ứng dụng các công nghệ trên để nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp nhằm tạo ra bước đột phá về năng suất, chất lượng hàng hóa, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người, đặc biệt là đảm bảo sự phát triển nông nghiệp bền vững [24]
1.1.2 Quyền sử dụng đất nông nghiệp và vấn đề tích tụ, tập trung đất đai quy mô lớn
Ðể tích tụ ruộng đất phục vụ phát triển nông nghiệp hiện đại, quy mô lớn, cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai Trong đó, tập trung nâng cao hiệu quả quản lý, có quy định phù hợp về hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân, nhằm vừa nâng cao hiệu quả sử
Trang 20Quyền lợi của nông dân được đặt lên hàng đầu Khi thực hiện tích tụ ruộng đất, vấn đề quan trọng nhất là cần bảo đảm quyền lợi cho người nông dân Thực tế nước ta hiện nay có một tỷ lệ khá lớn người lao động và dân cư sống phụ thuộc vào nông nghiệp, trong khi công nghiệp và dịch vụ chưa đủ mạnh để thu hút lao động ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp Do vậy, việc chuyển nhượng, thu hồi ruộng đất của nông dân để giao cho các doanh nghiệp phát triển nông nghiệp hàng hóa lớn, công nghệ cao cần được xem xét trong mọi điều kiện cụ thể, nhằm bảo đảm ổn định, thỏa đáng lợi ích của nông dân Tích tụ ruộng đất dưới bất kỳ hình thức nào cũng nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, qua đó tăng thu nhập cho người sản xuất nông nghiệp, góp phần tích lũy xã hội [35]
Tuy nhiên, đi cùng với đó, nếu chính sách không tốt sẽ tạo ra sự mất cân bằng thu nhập xã hội, tạo ra sự phân hóa giàu, nghèo Những người nông dân đi làm thuê có thể bị bần cùng hóa do mất tư liệu sản xuất, tạo ra gánh nặng cho xã hội Do
đó, việc xây dựng khung pháp lý cần phù hợp, minh bạch cho các hình thức tích tụ ruộng đất, cần loại bỏ tình trạng tích tụ và sử dụng ruộng đất theo hình thức đầu cơ,
"phát canh thu tô" Hiện nay, người nông dân cũng đã ý thức được việc sản xuất nông nghiệp dựa trên diện tích đất manh mún, nhỏ lẻ sẽ không hiệu quả, dẫn tới lợi nhuận thu lại không cao Bản thân người nông dân rất mong muốn được phối hợp, hợp tác cùng các doanh nghiệp để sản xuất theo chuỗi giá trị và tăng cường đầu ra cho sản phẩm Nhưng họ cũng luôn mong muốn quyền lợi của mình được bảo đảm thông qua sự bảo vệ bằng cơ chế, chính sách quản lý của Nhà nước [35]
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tích tụ, tập trung đất nông nghiệp
Hiện nay, tích tụ đất nông nghiệp tồn tại một số yếu tố hạn chế trong quá trình thực hiện của các hộ dân tại địa phương, bao gồm các yếu tố sau:
a) Chính sách, pháp luật đất đai
Chính sách đất đai: trong quá trình đổi mới chuyển từ cơ chế quản lý kinh tế
kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách đất đai đã từng bước đươ ̣c đ ổi mới với chủ trương giao đất sản xuất ổn định lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân và cấp giấy chứng nhận Trên cơ sở củng cố chế độ
sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nư ớc là đại diện chủ sở hữu, từng bước mở rộng
Trang 21QSDĐ cho người sử dụng đất; xác định QSDĐ là hàng hóa được lưu thông trên thị trường bất động sản; khuyến khích tích tụ ruộng đất (dồn điền, đổi thửa, phát triển kinh tế trang trại, xây dựng cánh đồng lớn), xây dựng nông thôn mới đã được triển khai thực hiện với các bước đi thận trọng, thích hợp và đã phát huy tác dụng [7]
Pháp luật đất đai: Thể chế hóa chính sách đất đai của Đảng, hệ thống pháp
luật đất đai từng bước được hoàn thiện Trên cơ sở khẳng định chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, từng bước mở rộng các quyền của người sử dụng đất, quy định các QSDĐ được tham gia thị trường bất động sản Mở rộng thời hạn sử dụng đất từ 20 năm đối với đất trồng cây hằng năm, 50 năm đối với đất trồng cây lâu năm (Luật Đất đai năm 2003) lên 50 năm đối với các loại đất trồng cây hằng năm và đất trồng cây lâu năm (Luật Đất đai năm 2013) Mở rộng hạn mức nhận chuyển QSDĐ từ gấp
2 lần (Nghị quyết số 1126/2007/NQ-UBTVQH11, ngày 21/6/2007), lên 10 lần (Luật Đất đai năm 2013) [7]
b) Chính sách phát triển thị trường QSDĐ
Thị trường QSDĐ trong nông nghiệp, nông thôn là một thị trường tiềm năng, tuy nhiên, thị trường này chưa phát triển: thị trường QSDĐ sơ cấp (Nhà nước giao đất cho hộ gia đình, cá nhân) đã hoạt động hiệu quả, nhưng thị trường QSDĐ thứ cấp (chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh
và góp vốn bằng QSDĐ) còn “đóng băng” Trong các quyền được pháp luật cho phép, người sử dụng đất mới thực hiê ̣n m ột số quyền, như chuyển đổi, thừa kế, thế chấp; các quyền khác, như quyền chuyển nhượng, quyền cho thuê, cho thuê lại và góp vốn bằng QSDĐ còn ít được sử dụng Điều này, một mặt, là do các quy định về quyền chuyển nhượng, quyền cho thuê, cho thuê lại còn chặt chẽ; các quy định và hướng dẫn về góp vốn bằng QSDĐ chưa đủ rõ ràng để người dân an tâm góp vốn bằng QSDĐ với DN thuộc các thành ph ần kinh tế; mă ̣t khác, tâm lý của người nông dân muốn giữ ruộng đất sản xuất, không muốn chuyển nhượng mặc dù không có nhu cầu sử dụng đất (thanh niên thì đi xuất khẩu lao động hoặc tìm công việc trong các khu kinh tế, khu công nghiệp; người lớn tuổi thì ra thành phố làm các công việc dịch vụ lao động) [7]
Trang 22c) Chính sách khác
Muốn tích tụ ruộng đất cần tăng quy mô diện tích đất canh tác/hộ Trong điều kiện quỹ đất sản xuất nông nghiệp đã khai thác đến trần (khoảng 10 triệu héc-ta) có thể làm là giảm số hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp Năm 2015, nước ta có khoảng 9,3 triệu hộ nông thôn, với 8,5 triệu hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp, quy mô sản xuất 1,21ha đất sản xuất nông nghiệp/hộ Muốn tăng quy mô tích tụ ruộng đất cần tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động trong khu vực nông nghiệp, nông thôn Hộ gia đình muốn tích tụ ruộng đất cần phải có vốn, nếu giá chuyển nhượng QSDĐ từ 100.000 VNĐ - 200.000 VNĐ/1m2 thì để có thêm 1ha, phải có 1 tỷ - 2 tỷ VNĐ Điều này vượt quá khả năng của nông dân Vì vậy, muốn thúc đẩy tích tụ ruộng đất, Nhà nước cần có quỹ phát triển đất và hỗ trợ nông dân vay vốn với cơ chế phù hợp [7]
1.1.4 Vai trò, mục đích của việc tích tụ tập trung ruộng đất quy mô lớn, ứng dụng cao nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta
Tích tụ, tập trung đất đai để khắc phục tình trạng ruộng đất phân tán, nhỏ lẻ, manh mún, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, HTX, tổ hợp tác đầu tư sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghệ cao, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hóa, nâng cao thu nhập cho người sản xuất Đồng thời, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh tái cơ cấu và phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại bền vững, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội của các địa phương và của cả tỉnh phát triển Đây là mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 13 – NQ/TU ngày 11– 1–2019 (gọi tắt là NQ13) của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về tích tụ, tập trung đất đai để phát triển nông nghiệp quy mô lớn, công nghệ cao đến năm 2025, định hướng đến năm 2030
Ở nước ta, những năm qua, các địa phương đã triển khai thực hiện có hiệu quả tái cơ cấu gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, khuyến khích tích tụ, tập trung đất đai để phát triển nông nghiệp, sản xuất hàng hóa quy mô lớn, tạo điều kiện
để doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn Nhiều nơi sản xuất còn phân tán, manh mún, nhỏ lẻ; chưa có nhiều vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, chủ yếu
Trang 23vẫn là sản xuất nông hộ, chất lượng sản phẩm còn thấp, khả năng cạnh tranh hạn chế Một số diện tích đất đã được tích tụ, tập trung nhưng chưa gắn với đổi mới phương thức sản xuất, chưa có phương án sản xuất cụ thể nên chưa phát huy được hiệu quả Chính vì vậy, tích tụ, tập trung đất đai là nhiệm vụ, giải pháp đột phá quan trọng hàng đầu để chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ lên sản xuất tập trung quy mô lớn, công nghệ cao và thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới [35]
1.2 Chính sách pháp luật của nước ta về tích tụ, tập trung ruộng đất nông nghiệp
1.2.1 Chính sách pháp luật liên quan đến tích tụ đất nông nghiệp trước năm 1986
Giai đoạn này bao gồm toàn bộ thời kỳ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1945-1975) Trong đó: từ năm 1945-1954, nước ta thực hiện Cách mạng dân tộc dân chủ; từ năm 1954-1975 nước ta thực hiện xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam Đặc trưng cơ bản của chính sách ruộng đất trong thời kỳ này là: khai hoang, vỡ hoá, tận dụng diện tích đất đai để sản xuất nông nghiệp; tịch thu ruộng đất của thực dân, việt gian, địa chủ, phong kiến chia cho dân nghèo; chia ruộng đất vắng chủ cho nông dân [14]
Đồng thời, giai đoạn này còn gồm cả thời kỳ đầu của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ khi thống nhất đất nước cho đến khi bắt đầu đổi mới (1976- 1987), cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội theo nền kinh tế kế hoạch
Vì vậy, mỗi thời kỳ đều có chính sách quản lý đất đai khác nhau, phù hợp với tình hình lịch sử của đất nước [14]
Khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà vừa ra đời, để giảm bớt khó khăn cho nông dân, Nhà nước và các Bộđã ban hành một loạt các văn bản quy định giảm thuế đất, quy định về sử dụng đất, điển hình là các văn bản sau:
- Ngày 26 tháng 10 năm 1945, Bộ Tài chính ban hành Nghị định "Miễn giảm thuế điền", theo đó giảm 20% thuế ruộng đất và miễn thuế hoàn toàn cho những
Trang 24vùng bị lụt Cũng ngày 26 tháng 10 năm 1945, Bộ Quốc dân kinh tế ban hành Thông
tư về "Khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp"
-Ngày 15 tháng 11 năm 1945, Bộ Quốc dân kinh tế ban hành Nghị định về
"Kê khai và cho mượn đất giồng màu
- Ngày 21 tháng 11 năm 1945, Bộ Quốc dân kinh tế ban hành Thông tư số 577- BKT về "Phương pháp cấp tốc khuếch trương mọi việc giồng màu" [14]
-Ngày 30 tháng 01 năm 1946 , Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số
15 "Bãi bỏ thuế thổ trạch ở thôn quê"
Trong Cách mạng Tháng Tám, nước ta chủ trương tạm gác khẩu hiệu về ruộng đất Vì vậy quyền sở hữu ruộng đất của địa chủ vẫn chưa bị đụng chạm đến
Tháng 1 năm 1948, Hội nghị Trung ương Đảng đã xây dựng một cách hệ thống chính sách ruộng đất của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trong thời kỳ kháng chiến là: triệt để thực hiện việc giảm 25% địa tô, bài trừ những thứ địa tô phụ thuộc (như tiền trình gặt, tiền đầu trâu ); bỏ chế độ quá điền; đưa ruộng đất và tài sản của bọn phản quốc tạm cấp cho dân nghèo; chia lại công điền cho hợp lý; đem ruộng đất, đồn điền của địch cấp cho dân công nghèo, chấn chỉnh các đồn điền do Chính phủ quản lý [22]
- Ngày 14 tháng 7 năm 1949, lần đầu tiên pháp luật nước ta đánh vào quyền
sờ hữu ruộng đất của địa chủ bằng Sắc lệnh số 78/SL của Hồ Chủ tịch ấn định việc giảm địa tô, theo đó quy định giảm 25% địa tô
- Ngày 21 tháng 8 năm 1949, liên bộ Nội vụ - Tư pháp - Canh nông - Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số 33- Nvll "Quy định việc sử dụng ruộng đất của người Pháp
- Ngày 22 tháng 5 năm 1950, Hồ Chủ tịch ban hành Sắc lệnh số 88/SL quy định thể lệ lĩnh canh ruộng đất; theo đó, đảm bảo quyền được lĩnh canh của tá điền với thời hạn ít nhất là 3 năm, cấm địa chủ vô cớ đòi lại ruộng đất trong thời hạn lĩnh canh
- Cũng ngày 22 tháng 5 năm 1950, Hồ Chủ tịch còn ban hành Sắc lệnh số 90/SL quy định việc sử dụng các ruộng đất bỏ hoang Cho đến cuối năm 1951,
Trang 25chính quyền đã tịch thu 258.863 ha đất, tạm cấp cho 500.000 nhân khẩu nông dân;
đồng thời, chính quyền còn vận động một số địa chủ giàu hiến ruộng đất để chia cho nông dân với gần 1 triệu ha [22]
- Ngày 5 tháng 3 năm 1952, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 87/SL ban hành Điều
lệ tạm thời sử dụng công điền công thổ Theo Điều lệ này, công điền công thổ được chia cho dân theo 3 nguyên tắc chung: lợi cho tăng gia sản xuất, củng cốđoàn kết nông thôn, dân chủ và công bằng
- Ngày 9 tháng 10 năm 1952, Bộ Canh nông ban hành Thông tư số 22CN-
RĐ về việc "Tạm cấp ruộng đất của người Pháp và Việt gian"
Thực hiện mục tiêu đánh đổ giai cấp địa chủ, phong kiến, thủ tiêu chế độ tư hữu về ruộng đất, chia ruộng đất cho nông dân, ngày 4 tháng 12 năm 1953, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà thông qua Luật Cải cách ruộng đất Ngày 19/12/1953, Chủ tịch nước Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 179/SL ban hành Luật Cải cách ruộng đất
Như vậy, giai đoạn 1945 đến 1987, tuy chưa có Luật đất đai nhưng đã có nhiều văn bản pháp quy để điều chỉnh các quan hệ về ruộng đất với nội dung cơ bản
là ngày càng tăng cường công tác quản lý đất đai Đồng thời cũng đã sơ khai quy định các nội dung quản lý nhà nước về đất đai [22]
1.2.2 Chính sách pháp luật liên quan đến tích tụ đất nông nghiệp từ năm
1986 đến nay
a) Đổi mới chính sách quản lý
Nghị quyết 10 của Bộ Chính Trị Khóa VI (năm 1988) xác định chủ trương:
“Củng cố và tăng cường các HTX quy mô toàn xã, sản xuất kinh doanh có hiệu quả
Điều chỉnh quy mô quá lớn của một số HTX ở các tỉnh đồng bằng và trung du phía Bắc, duyên hải miền Trung, Tây Nguyên mà sản xuất trì trệ, quản lý kém và xã viên yêu cầu thành các HTX có quy mô thích hợp” [4] Thực hiện Nghị quyết 10, trong nông thôn sản xuất và xã hội đã có sự thay đổi nhiều cụ thể: sản xuất lương thực tăng (1989 đạt 20,5 triệu tấn lương thực), Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu
Trang 26gạo lớn của thế giới Sau này, ngoài xuất khẩu gạo Việt Nam còn xuất khẩu một số nông sản như: điều, tiêu
Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VII (tháng 6/1991) xác định: “Ruộng đất thuộc quyền sở hữu toàn dân, giao cho nông dân quyền sử dụng lâu dài” Thông qua những quy định Nghị quyết người nông dân được tăng thêm quyền làm chủ và yên tâm hơn trong quá trình sản xuất nông nghiệp [4]
- Nghị quyết 10 của Bộ Chính Trị khóa VI (1988) về “Đổi mới quản lý nông nghiệp” xác định: “Ở những nơi có điều kiện khuyến khích người dân giỏi ngành nghề khác chuyển sang làm ngành nghề và trao lại ruộng đất cho HTX, tập đoàn sản xuất để giao khoán thêm cho người trồng trọt, người giao lại ruộng khoán cho HTX, tập đoàn sản xuất được bồi hoàn giá trị sản phẩm đang trồng trên đất đai đó, công sức bỏ ra để tăng thêm độ màu mỡ của đất và các điều kiện sản xuất khác so với khi mới nhận khoán tập thể ” [4]
- Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa VII (29/6/1992) xác định: “Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế quyền sử dụng ruộng đất phải được pháp luật quy định cụ thể theo hướng khuyến khích nông dân an tâm đầu
tư kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo điều kiện từng bước tích tụ ruộng đất trong giới hạn hợp lý để phát triển hàng hóa, đi đôi với mở rộng phân công lao động và phân bố lao động gắn với quá trình công nghiệp hóa”
- Nghị quyết hội nghị Trung ương 4 khóa VIII (1997): “Thực hiện chính sách ruộng đất phù hợp với sự phát triển nông nghiệp hàng hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Vừa khuyến khích sử dụng ruộng đất có hiệu quả thông qua tích
tụ ở những nơi có điều kiện bằng hình thức hạn điền theo quy định cụ thể, vừa bảo
vệ quyền lợi chính đáng của người nông dân có đất canh tác, không bị bần cùng hóa
và nghiêm cấm hành vi mua bán đất để kiếm lời Kinh tế trang trại với các hình thức sở hữu khác nhau (Nhà nước, tập thể, tư nhân) được phát triển chủ yếu để trồng cây dài ngày, chăn nuôi đại gia súc ở những nơi có nhiều ruộng đất, khuyến khích khai phá đất hoang vào mục đích này” [2]
- Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị khóa VIII (10/11/1998) về một số vấn đề nông nghiệp và nông thôn quy định: “Về tích tụ ruộng đất, việc chuyển nhượng
Trang 27quyền sử dụng, tích tụ và tập trung ruộng đất là hiện tượng sẽ diễn ra trong quá trình phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn Việc tích tụ và tập trung ruộng đất phải được kiểm soát, quản lý chặt chẽ của Nhà nước không để quá trình này diễn ra tự phá làm cho người nông dân mất ruộng mà không tìm được việc làm, trở thành bần cùng hóa” [3] Đây là chính sách đầu tiên đề cập đến vấn đề tích tụ và tập trung đất thông qua chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Nghị quyết 03/2000/NQ-CP (20/2/2000) về kinh tế trang trại xác định: Sự phát triển của kinh tế trang trại đã góp phần khai thác thêm nguồn vốn trong dân,
mở mang thêm diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá, nhất là ở các vùng trung du, miền núi và ven biển; tạo thêm việc làm cho lao động nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo; tăng thêm nông sản hàng hoá Một số trang trại đã góp phần sản xuất và cung ứng giống tốt, làm dịch vụ, kỹ thuật tiêu thụ sản phẩm cho nông dân trong vùng [11]
- Nghị quyết số 26 - NQ/TW7 (khóa X) (25/8/2008) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn xác định: Tiếp tục khẳng định đất đai là sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch, kế hoạch để sử dụng có hiệu quả; giao đất cho
hộ gia đình sử dụng lâu dài; mở rộng hạn mức sử dụng đất, thúc đẩy quá trình tích
tụ đất đai; công nhận quyền sử dụng đất được vận động theo cơ chế thị trường, trở thành một nguồn vốn trong sản xuất, kinh doanh [1] Bên cạnh đó, những vấn đề về vốn, đào tạo nghề, đào tạo cán bộ quản lý, hỗ trợ chuyển đổi nghề, hạn mức giao đất nông nghiệp… cũng được đưa ra với mục tiêu là phát triển bền vững, toàn diện nông nghiệp, nông dân, nông thôn Đây là chìa khóa để quá trình tích tụ đất nông nghiệp diễn ra phổ biến tại các địa phương
b) Pháp luật đất đai liên quan đến tích tụ đất nông nghiệp
Hiến pháp
- Tại Điều 17 của Hiến pháp năm 1992 đã quy định “Đất đai, rừng núi, sông
hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao,
Trang 28quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân” [27]
- Hiến pháp năm 2013: Đây là bản hiến pháp mới nhất tại thời điểm hiện tại, hiến pháp thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kế thừa được giá trị to lớn của các bản Hiến pháp năm 1946, năm
1959, năm 1980 và năm 1992, nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Tại Khoản 1 Điều 54 quy định: Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển kinh tế đất nước, được quản lý theo pháp luật [30]
Luật đất đai
Nhằm mục đích thể chế hóa chính sách đất đai của Đảng, cụ thể hóa các quy định của Hiến Pháp 1980, 1992, 2013, hệ thống pháp luật đã được hình thành và từng bước phát triển từ Luật đất đai 1987 đến Luật đất đai 2013
* Luật đất đai năm 1987
Luật Đất đai năm 1987 là văn bản đầu tiên do Quốc Hội ban hành về đất đai
và ruộng đất Việc ban hành Luật đất đai năm 1987 giúp cho các cơ quan quản lý đất đai thuận lợi hơn trong việc quản lý Tuy nhiên, trong thời kỳ này việc chuyển quyền sử dụng đất đai chỉ thực hiện cụ thể tại Điều 16: 1) Khi hộ nông dân vào hoặc
ra hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp; 2) Khi hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp và cá nhân thỏa thuận đổi đất cho nhau để tổ chức lại sản xuất; 3) Khi người được giao đất chuyển đi nơi khác hoặc đã chết mà thành viên trong hộ của người đó vẫn còn tiếp tục sử dụng Trong thời kỳ này nghiêm cấm việc chuyển quyền sử dụng đất thông qua hình thức mua bán [26]
* Luật đất đai năm 1993
Luật Đất đai năm 1993 đã thể chế hóa chính sách đất đai cho phù hợp với yêu cầu kinh tế - xã hội đặt ra và khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và nguyên tắc giao đất sử dụng ổn định lâu dài cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân (thể hiện rõ trong NĐ 64/CP năm 1993), xác lập các quyền của người sử dụng đất như quyền chuyển đổi, thừa kế, thế chấp, cho thuê, chuyển nhượng nhằm tăng cường
Trang 29tính tự chủ và lợi ích kinh tế được đảm bảo về mặt pháp lý cho những người sử dụng đất Quy định đất có giá và do Nhà nước định giá để tính tiền sử dụng đất, thu tiền sử dụng đất khi giao đất, cho thuê đất, tính thuế sử dụng đất… [28]
* Luật đất đai năm 2003
Chủ trương phát triển sản xuất hàng hóa trong kinh tế nông nghiệp được Đảng và Nhà nước ta đặt ra như một bước đi tất yếu nhằm giải quyết vấn đề “tam nông” Một trong những biện pháp quan trọng nhất để phát triển sản xuất hàng hóa nông nghiệp là giải pháp tập trung ruộng đất, tích tụ đất nông nghiệp, tổ chức sản xuất ở quy mô lớn hơn Hộ dân có thể thực hiện tích tụ thông qua các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, cho thuê, cho thuê lại, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất đối với đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp Bên cạnh đó, Điều 9 quy định người sử dụng đất bao gồm: các tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất; tổ chức kinh
tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất [29]
Bên cạnh đó, để người dân yên tâm đầu tư sản xuất, Nhà nước đẩy nhanh tiến
độ giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, ưu tiên cho thuê đất đối với đất chưa giao, chưa cho thuê ở địa phương để phát triển sản xuất hàng hóa với qui mô lớn hơn, khuyến khích khai hoang, phục hóa để phát triển mở rộng trang trại
* Luật đất đai năm 2013
Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực từ ngày 01/7/2014 giúp cho việc quản lý đất đai cũng như việc tích tụ đất nông nghiệp của người dân được thực hiện thuận lợi hơn Điển hình là việc thay đổi hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân tại điểm a Điều 126: “Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân không quá 10 lần hạn mức giao đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đối với mỗi loại đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 129 của Luật Đất đai năm 2013” [30]
Trang 30Bên cạnh đó tại Điều 167 quy định về 8 quyền riêng của người sử dụng đất là: Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất [30]
Với việc ban hành Luật Đất đai năm 2013 đã giải quyết được một số hạn chế của Luật Đất đai năm 2003 và có những hướng mới hơn cho việc tích tụ đất nông nghiệp điển hình là tăng thời hạn sử dụng đất nông nghiệp và tăng hạn mức chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp giữa các hộ gia đình Ngoài ra, một số trường hợp phát sinh khó khăn trong quá trình tích tụ tập trung như dồn điền đổi thửa, chuyển nhượng, góp vốn, thế chấp bằng đất nông nghiệp đã được quy định trong các văn bản dưới Luật Đây là cơ sở tạo điều kiện thuận lợi hơn cho thực hiện tích tụ đất nông nghiệp ở Việt Nam
1.3 Tổng quan tích tụ, tập trung đất nông nghiệp trong nước và thế giới
1.3.1 Tình hình tích tụ, tập trung đất nông nghiệp trên thế giới
Theo báo cáo của World bank (2013): Ngành nông nghiệp của một số quốc
gia phát triển được đánh giá theo các tiêu chí, trong đó có tiêu chí về tỷ lệ đất nông nghiệp so với diện tích đất tự nhiên của các quốc gia (chi tiết tại Bảng 1.1) Qua đó cho thấy, tập trung đất nông nghiệp là điều kiện cần cho phát triển nông nghiệp
Bảng 1.1.Một số chỉ tiêu sản xuất nông nghiệp của các nước trên thế giới
Quốc Gia
Tỷ lệ đất nông nghiệp so với đất
tự nhiên(%)
Lao động nông nghiệp so với việc làm (%)
Máy móc NN (Lượng máy kéo /100Km 2 )
Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân (USD) Thời
gian
Tháng 2/2000
Tháng 11/2009
Tháng 2/2000
Tháng 11/2009 2000 2009 2000 2012
Trang 31Quốc Gia
Tỷ lệ đất nông nghiệp so với đất
tự nhiên(%)
Lao động nông nghiệp so với việc làm (%)
Máy móc NN (Lƣợng máy kéo /100Km 2 )
Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân (USD) Thời
gian
Tháng 2/2000
Tháng 11/2009
Tháng 2/2000
Tháng 11/2009 2000 2009 2000 2012
Nhật Bản 13 13 4,7 3,8 4.532,1 4.532,1 23.813
42.94
3 Hàn
cơ giới hóa vào sản xuất và tăng năng suất nông nghiệp
Khu vực Châu Á vào những năm 1960 được đặc trưng bởi quy mô sản xuất nhỏ Quy mô này khá hiệu quả do sử dụng được lao động gia đình và kiểm soát được sản xuất Tuy nhiên, quy mô nhỏ đã hạn chế phát triển của cơ giới hóa và áp dụng công nghệ mới Vào những năm 1970 và 1980, một số nước có tốc độ công
Trang 32nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh đã thúc đẩy việc tăng quy mô trang trại thông qua thu hút một lượng lớn lao động ở khu vực nông thôn Giá đất ở nông thôn ngày càng có xu hướng tăng cao và nông dân dần dần sống chủ yếu bằng thu nhập phi nông nghiệp, khả năng tiếp cận đến đất nông nghiệp là hạn chế Đây chính là cái
"bẫy quy mô sản xuất nhỏ" mà một số nước ở Châu Á phải đối mặt Công nghiệp sử dụng nhiều lao động đã xung đột với phương thức sản xuất sử dụng nhiều lao động
ở khu vực nông thôn Sự cải thiện năng suất trong công nghiệp đã hỗ trợ đầu vào cho sản xuất nông nghiệp và công nghiệp hóa đã làm gia tăng đáng kể quy mô trang trại thông qua nới lỏng các ràng buộc về lao động [10]
Ngược lại với khu vực Châu Á, hệ thống đồn điền sản xuất hàng hóa lớn phát triển mạnh ở khu vực Châu Mỹ La tinh Hệ thống này tồn tại và được tiếp quản từ thời kỳ thực dân Với quy mô sản xuất lớn, các quốc gia trong vùng đã có điều kiện
áp dụng máy móc và công nghệ để tăng năng suất, tạo ra các vùng sản xuất hàng hóa có quy mô lớn và cạnh tranh Tuy nhiên, việc đất nông nghiệp bị tập trung quá mức đã gây ra tình trạng phân hóa xã hội một cách sâu sắc và bất ổn ở khu vực nông thôn
Luận văn sẽ giới thiệu kinh nghiệm của một số nước ở Châu Á trong việc giải bài toán quy mô đất đai, qua đó có thể rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong thực hiện các chính sách liên quan đến tập trung ruộng đất
Trang 33thời điểm năm 1956, một hộ nông trung bình có từ 0,8 đến 1 ha đất bao gồm từ 10 đến 20 mảnh nhỏ, mỗi mảnh rộng khoảng 0,06 ha, và khoảng cách trung bình giữa các mảnh là 4 km Đồng thời các hợp tác xã nông thôn được thành lập để cung cấp chủ yếu là dịch vụ và tài chính cho các đơn vị sản xuất nông nghiệp độc lập Tiếp sau đó là các chính sách trợ giúp sản xuất lúa gạo, phát triển nông thôn; xây dựng
cơ sở hạ tầng như là thuỷ lợi, giao thông, và thông tin truyền thông; tạo ra các giống lúa năng xuất cao và kỹ thuật thâm canh; phát triển các loại hoa màu và cây trồng khác ngoài lúa, và các ngành khác như chăn nuôi, thuỷ sản, và lâm nghiệp; phát triển các ngành phi nông nghiệp ở cả nông thôn và thành thị; người dân nông thôn
ra thành thị làm việc, đồng thời nông dân mùa nông nhàn cũng kiếm được việc làm
ở khu vực phi nông nghiệp; cơ giới hoá hoạt động sản xuất nông nghiệp sử dụng các máy móc nhỏ [10]
Bảng 1.2 Thay đổi quy mô trang trại của Nhật Bản, giai đoạn 1955-1985
Năm
Số trang trại (triệu)
Phân phối theo quy mô của
các trang trại (%)
Tổng
Quy
mô trung bình/t rang trại (ha)
[Bộ Nông nghiệp Nhật Bản, Điều tra nông, lâm nghiệp]
Khi nền kinh tế Nhật Bản phát triển, đặc biệt là công nghiệp, tỷ trọng tiêu thụ lúa gạo giảm, dù vẫn là lương thực chính, dẫn đến thu nhập từ sản xuất lúa thấp hơn nhiều lần so với sản xuất hoa màu, hay là các ngành phi nông nghiệp Điều này tạo
ra xu hướng nông dân từ bỏ sản xuất lúa gạo dẫn đến nguy cơ Nhật Bản mất khả năng tự cung cấp lúa gạo Chính vì thế, cần phải tăng năng xuất, tức là tăng thu nhập cho nông dân, bằng cách xoá bỏ tình trạng manh mún đất, mở rộng kích thước thửa ruộng để có thể đưa máy móc thiết bị lớn vào sản xuất lúa gạo thay thế sức
Trang 34Từ năm 1961, biện pháp khuyến khích tích tụ đất đai đầu tiên được Nhật Bản
áp dụng là trợ cấp cho nông dân mua đất Mức hạn điền 3 ha đã được bãi bỏ vào năm 1962 Tuy nhiên biện pháp này không mấy thành công trong việc khuyến khích nông dân mua đất Lý do xuất phát từ cả bên cung và bên cầu Hình thức làm nông bán thời gian trở nên phổ biến khi rất nhiều lao động nam chính hàng ngày đi vào thành phố làm việc trong khi người già và phụ nữ trong gia đình tiếp tục làm nông nghiệp nên không có nhu cầu bán đất Nhiều hộ gia đình ngừng hẳn nghề nông và
bỏ không ruộng đất nhưng không muốn bán đất vì thu nhập phi nông nghiệp của họ
là đủ sống và họ vẫn muốn giữ nhà ở quê để sống khi về hưu Khi giá đất tăng cao
do công nghiệp hoá thì lại trở nên quá đắt đối với các hộ thuần nông muốn mở rộng sản xuất Chính hệ thống tư hữu đất đai ở đây đã không thúc đẩy các giao dịch mua bán đất Chính vì vậy, thúc đẩy tích tụ đất đai thông qua thị trường cho thuê đất là biện pháp mà Nhật Bản đưa ra vào năm 1970 Các kiểm soát giá thuê đất đều được xoá bỏ và chủ đất có quyền lấy lại đất sau khi hết hạn hợp đồng cho thuê thời hạn ít nhất 10 năm Trong các năm 1975 và 1980, cho thuê ngắn hạn được hợp pháp hoá
Biện pháp này có tiến triển tốt hơn hình thức khuyến khích mua bán đất, tuy vẫn chậm và bị giới hạn do sự mất cân bằng giữa cung và cầu tương tự như trên thị trường mua bán đất
Một nguyên nhân nữa dẫn đến sự kém thành công của các chính sách khuyến khích tích tụ ruộng đất là tâm lý chủ nghĩa quân bình mạnh mẽ ở nông thôn Họ sẽ cảm thấy không thoải mái nếu một người trong làng mình mở rộng trang trại để cạnh tranh với họ Bên cạnh đó, các hộ thường có nhiều thửa ruộng nhỏ rời rạc cách
xa nhau nên rất khó thuê được đất liền kề để mở rộng thửa và có thể sử dụng được máy móc hiện đại Ngay cả khi tìm thuê được đất liền kề thì vẫn có khả năng chủ đất sẽ cho người khác thuê sau khi hết hạn hợp đồng và người thuê lại phải chia nhỏ thửa ruộng của mình Ở đây cũng chính hai yếu tố tư hữu đất đai cộng với sự tự do của thị trường cho thuê đất lại hạn chế hoạt động thuê đất [10]
Một biện pháp khác nhà nước Nhật Bản thực hiện song song là “hợp nhất ruộng đất” trong hệ thống tư hữu đất đai Đây là hình thức trao đổi quyền sở hữu và
vị trí các thửa ruộng nằm cách xa nhau giữa các chủ đất nhằm tạo cơ cấu mới mà mỗi hộ chỉ sở hữu một (hay là ít nhất có thể) thửa ruộng có giá trị bằng với tổng giá
Trang 35trị đất trước đây Vào tháng 6 năm 1949, Luật Cải tiến đất đai được ban hành, trong khoảng từ năm 1950 đến 1952, 1.880.000 ha đất trên tổng số 3.957.000 ha đất nông nghiệp của đảo Honshu, là đảo lớn nhất của Nhật Bản, đã được hợp nhất thành công Và hình thức này được củng cố thêm vào năm 1992 trong “Đường hướng cơ bản trong chính sách mới về lương thực, nông nghiệp và các vùng nông thôn” của
Bộ nông lâm thuỷ sản Nhật Bản Mục tiêu của chương trình này là tạo ra các thửa ruộng hợp nhất rộng 1, 2 hoặc 3 ha Từ năm 1993, hàng năm trung bình 50.000 ha được hợp nhất ở Honshu Mặc dù điều luật ban hành năm 1949 yêu cầu sự tán thành của 50% chủ đất trong làng và chính sách mới năm 1992 nâng lên 2/3, nhưng thường thì tất cả các hộ đều đồng tình từ trước khi tiến hành hợp nhất Khó khăn chính với các cán bộ thực hiện vẫn là làm thế nào để đảm bảo quyền lợi và thoả mãn được các yêu cầu của nông dân [10]
Tuy “hợp nhất ruộng đất” có thể xoá bỏ hiện tượng manh mún đất đai, tăng kích thước thửa ruộng, tạo điều kiện cho việc mua bán cho thuê đất và các hình thức hợp tác sản xuất dễ dàng hơn nhưng lại không có khả năng tăng quy mô sản xuất
hộ Nó cũng không thể đảm bảo các hộ thuần nông sẽ sử dụng đất hiệu quả, hay là đối với các hộ nông bán thời gian hoặc bỏ không đất mà không có ý định bán hoặc cho thuê đất thì cũng chưa ch ắc muốn bán hoặc cho thuê sau khi đã hợp nhất ruộng đất của họ
Biện pháp thứ tư nhằm khuyến khích sản xuất quy mô lớn là hình thức uỷ thác sản xuất, tức là các hộ quy mô nhỏ hơn 0,5 ha sẽ uỷ thác các hộ quy mô lớn làm một phần hay toàn bộ quy trình sản xuất lúa của mình bằng máy móc, lao động
và quản lý của các hộ quy mô lớn này
Thành lập xí nghiệp thành thị-nông thôn hợp tác sản xuất cũng là một hình thức tăng quy mô sản xuất Trong đó các xí nghiệp sẽ điều hành sản xuất tập trung, bao gồm cả các việc được uỷ thác Hình thức này có ưu điểm là có thể đưa đất đáng
ra bị bỏ không vào sản xuất, đạt tính kinh tế của quy mô trong sử dụng máy móc, lao động, và quản lý
Một hình thức khác là hợp tác xã sản xuất nông nghiệp trong đó các hộ kết hợp sản xuất một phần hay toàn bộ quy trình để có thể tăng quy mô sản xuất chung
Trang 36lên 2-5 ha và lớn hơn Ở một số làng, tất cả các hộ thành lập chung một hợp tác xã sản xuất, phá bỏ hết các bờ phân chia ruộng để sử dụng chung máy móc và đã tăng quy mô sản xuất lên rất lớn Nhưng nếu các hộ có thể rút lại đất của mình thì có một
số vấn đề chính đáng quan tâm mà sẽ ảnh hưởng đến sự thành bại của các hợp tác
xã Thứ nhất, các thành viên có thể không đồng ý cho hợp tác xã chuyển đổi đất của
họ sang chức năng khác ngoài trồng lúa như là ao, đập, đường đi, vân vân Thứ hai,
do một nguyên nhân nào đó như mâu thuẫn cá nhân hay trong quản lý, các thành viên muốn rút ra khỏi hợp tác xã hoặc muốn thành lập hợp tác xã mới dẫn đến việc chia khoanh vùng lại đất rất ảnh hưởng đến sản xuất Nếu chấp nhận chi phí cao, hợp tác xã có thể thuyết phục thành viên muốn tách ra chịu đổi đất của họ sang vị trí khác để duy trì sự liên kết của các mảnh còn lại, tuy nhiên thành viên đó vẫn có thể không đồng ý Nhìn chung rất khó tìm ra cách giải quyết cho mỗi trường hợp muốn tách ra của thành viên và thực tế là việc hợp tan của các hợp tác xã nông nghiệp diễn ra thường xuyên
Đánh thuế đối với các hộ nông bán thời gian hoặc các hộ bỏ không đất mà không muốn bán hoặc cho thuế đất hoặc tham gia hợp tác xã hay xí nghiệp cũng là một biện pháp đã được xem xét Những điểm yếu có thể là sự quan liêu trong khâu
tổ chức, khó có thể đánh thuế các hộ thuần nông tách khỏi hợp tác xã sản xuất độc lập Và để bảo đảm sự ủng hộ của nông dân, chính chính phủ đương nhiệm cũng không muốn đưa ra một chính sách thuế như thế Điều này có thể giải thích cho lý
do tại sao thị trường đất vẫn được thả nổi không bị đánh thuế
b) Hàn Quốc
Giống như các nước khác trong khu vực, ở Hàn Quốc trong thời kỳ phong kiến, nông dân không có ruộng đất và làm thuê cho địa chủ Đây là một hệ thống bất bình đằng và khiến cho số đông phải sống trong nghèo đói Chính vì thế, hệ thống này đã được thay đổi vào năm 1950 trong “Chương trình cải cách ruộng đất”
nhằm tạo ra sự phân chia tài sản công bằng, và giúp cho sự độc lập và tự chủ của các chủ đất nhỏ Với khẩu hiệu “Người cày có ruộng”, nhà nước Hàn Quốc mua lại ruộng đất của những người không làm nông nghiệp, địa chủ chỉ được giữ lại nhiều nhất là 3 ha đất, còn lại phải bán cho nhà nước Sau đó nhà nước phân chia ruộng
Trang 37đất cho nông dân và các chủ đất nhỏ vẫn muốn tiếp tục làm nông nghiệp Những người được phân đất phải trả lại chi phí mua đất cho nhà nước trong vòng 5 năm, như vậy nông dân hoàn toàn làm chủ đất đai Tuy nhiên, chính mức hạn điền 3 ha đất cho mỗi hộ nông dân – tâm điểm bình luận của nhiều hội nhà nông và các nhà chính sách về sau này – đã tạo ra nền nông nghiệp quy mô nhỏ hiện nay ở Hàn Quốc (tại thời điểm năm 2005 diện tích trung bình là 1,43 ha so với 0.94 ha năm 1975) Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, bắt đầu từ những năm
1960, đã thu hút một lượng lớn lao động ở nông thôn ra thành thị tham gia các ngành phi nông nghiệp và để lại lực lượng lao động chủ yếu là người già và phụ nữ
ở nông thôn làm nông nghiệp [10]
Hình 1.1 Quy mô hộ nông nghiệp ở Hàn Quốc [23]
Đến năm 1993, nhà nước Hàn Quốc thử nghiệm nâng mức hạn điền từ 3 ha lên 10 ha trong các “Vùng phát triển nông nghiệp”, và trong đó nông dân có thể sở hữu đến 20 ha đất nếu được chính quyền địa phương cho phép Ở ngoài các vùng phát triển này thì mức hạn điền được nâng lên 5 ha vào năm 1999, và đến năm 2002 thì tất cả các mức hạn điền đều được bãi bỏ Cho đến trước năm 1990 chỉ nông dân mới
có quyền sở hữu đất nông nghiệp, hiện nay thì các tổ chức hiệp hội người làm nông nghiệp đã được phép sở hữu đất nông nghiệp [10]
Trang 38Bên cạnh các cải cách pháp chế, nhà nước Hàn Quốc đã tiến hành rất nhiều chương trình thúc đẩy tích tụ đất đai rất cụ thể Cộng đồng nông thôn và Hiệp hội nông nghiệp Hàn Quốc là một tổ chức phi lợi nhuận đóng vai trò quan trọng trong quá trình này Một chương trình lớn của tổ chức này là hỗ trợ tài chính bằng các khoản vay ưu đãi cho những người muốn thuê và mua đất nông nghiệp, chú trọng đến các hộ trẻ thuần nông Từ năm 1995 đến năm 2004, khoảng 85 nghìn hộ trồng lúa được cho vay ưu đãi, tổng số 3 nghìn tỷ Won (tương đương 2,7 tỷ USD) và quy
mô trung bình của nhóm này đã tăng từ 2,2 ha lên 4,3 ha Nhà nước còn khuyến khích mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp bằng nhiều biện pháp khác, ví dụ như trợ cấp trực tiếp cho các hộ nông lớn tuổi sẵn sàng nghỉ hưu; khuyến khích sản xuất theo nhóm trong đó các hộ nông nhỏ thành lập hợp tác xã gom ruộng đất, máy móc
và lao động lại để cùng sản xuất; khuyến khích mô hình trust nông nghiệp tổ chức quản lý sản xuất theo hợp đồng
Với mục đích giảm thiểu hiện tượng manh mún đất đai và khuyến khích các
hộ trẻ thuần nông nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, một hệ thống ngân hàng đất nông nghiệp được thành lập vào năm 2005 Hệ thống này cung cấp thông tin cho những người muốn mua hoặc thuê đất và những người muốn bán hoặc cho thuê đất,
và đóng vai trò trung gian trên thị trường đất nông nghiệp Năm 2006, tổ chức Cộng đồng nông thôn và Hiệp hội nông nghiệp Hàn Quốc có chương trình mua đất của các hộ có các khoản vay nợ lớn và cho họ thuê lại nếu thích hợp nhằm mục đích cân bằng thị trường đất nông nghiệp và hỗ trợ các hộ nông nghiệp gặp khó khăn tài chính tạm thời
c) Trung Quốc
Hiện tượng manh mún đất đai trong sản xuất nông nghiệp vẫn luôn được coi
là một rào cản cho phát triển nông nghiệp ở Trung Quốc vì nó không cho phép cơ giới hoá dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp và cũng đòi hỏi chi phí rất lớn mới có thể khắc phục được tình trạng này Và Trung Quốc đã bắt đầu đưa ra các chính sách và chương trình hành động nhằm hạn chế manh mún và thúc đẩy tích tụ đất đai từ những năm 80 của thế kỷ XX
Trang 39Hình 1.2 Quy mô hộ nông nghiệp ở Trung Quốc[51]
Nguyên nhân lịch sử dẫn đến hiện trạng manh mún đất nông nghiệp ở Trung Quốc chính là Hệ thống tự quản lý hộ (Household Responsibility System) ban hành vào những năm cuối thập kỷ 70, đầu 80 Trước đó, ruộng đất thuộc sở hữu và quản
lý của các hợp tác xã Sau đó, trong Hệ thống tự quản lý hộ, ruộng đất được chia thành một số loại - dựa theo chất lượng đất, độ cao,… và mỗi hộ được phân ít nhất một mảnh thuộc mỗi loại để đảm bảo công bằng giữa các hộ, và tổng diện tích chia cho mỗi hộ phụ thuộc vào số thành viên trong hộ Đất thường được phân chia lại theo định kỳ khi có sự thay đổi về nhân khẩu Theo số liệu năm 1986, mỗi hộ nông dân trung bình có 8,43 mảnh ruộng với tổng diện tích 0,61 ha Như vậy áp lực dân
số đông và cố gắng đảm bảo phân chia công bằng trong Hệ thống tự quản lý hộ chính là tác nhân trực tiếp gây ra hiện tượng manh mún đất sản xuất nông nghiệp hiện nay ở Trung Quốc [10]
Đến giữa thập niên 80, khi mà người ta nhận ra manh mún ruộng đất là lực cản lớn đến tăng trưởng nông nghiệp, thì nhà nước Trung Quốc mới bắt đầu tiến hành các chương trình tích tụ đất, đầu tiên ở các vùng ven biển phía Đông Trung Quốc, và vài năm sau ở các tỉnh trong lục địa Đây là một phần quan trọng của một
dự án lớn hơn gọi là “Tăng cường phát triển nông nghiệp”, mà mục tiêu chính là nâng cấp cơ sở hạ tầng Dự án thực hiện tích tụ đất chủ yếu bằng cách phân chia lại
Trang 40đất, gom các thửa đất tách biệt của mỗi hộ vào chung một địa điểm, hoặc ít phân tán nhất có thể Trước hết, các mảnh được thu lại và chia thành các mảnh từ 0,13 đến 0,20 ha ở vùng đồng bằng, và khoảng 0,07 ha ở vùng đồi núi, và chia lại cho các hộ nông Mặc dù nhà nước đã kêu gọi tích tụ đất trong nhiều năm nhưng tiến triển thường rất chậm Một lý do quan trọng là chi phí thực hiện Quy trình thu gom đất trong mỗi làng đòi hỏi sự tham gia của rất nhiều hộ Hơn thế, để đảm bảo thành công, tất cả các hộ đều phải tham gia vào tất cả các công đoạn trong cả quy trình để
có thể đưa ra cách giải quyết phù hợp nhất Ở các tỉnh miền Tây Trung Quốc, mật
độ dân số thấp hơn, các hộ nằm cách xa nhau hơn so với các tỉnh miền Đông nên chi phí thực hiện dự án tích tụ cũng cao hơn [10]
Cuối những năm 1990, một chương trình tích tụ đất cấp quốc gia bắt đầu được thực hiện Chương trình này tích tụ ruộng đất manh mún và đất ít sử dụng, phát triển đất hoang hoá và đất hoang thành đất sản xuất nhằm bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên Tính đến tháng 6 năm 2004, chương trình này đã hoàn thành
731 dự án, diện tích trung bình mỗi dự án là 648 ha và nhà nước đầu tư trung bình
1300 đô la Mỹ cho mỗi ha đất
Bộ luật quản lý đất đai ban hành năm 1998 cũng gây ảnh hưởng đến mức độ manh mún đất Theo luật này thì các hộ nông được trao quyển sử dụng đất trong 30 năm Mục đích chính là để kéo dài quyền sử dụng đất và điều này sẽ khuyến khích đầu tư lâu dài vào đất Tuy nhiên thời hạn sử dụng dài hơn nghĩa là sự phân chia đất giữa các hộ cần phải công bằng hơn và dẫn đến việc phân chia lại ruộng đất Thế là ruộng đất lại được chia nhỏ ra thành nhiều loại đất, điều kiện thuỷ lợi, tưới tiêu, hay bất kể điều kiện gì có thể ảnh hưởng đến năng xuất sản xuất và quản lý đất Theo Zhu (2001), mức độ manh mún ruộng đất đã tăng lên sau khi ban hành th ời hạn sử dụng 30 năm
Một kinh nghiệm khác rút ra từ quá trình tích tụ ruộng đất ở Trung Quốc là thị trường cho thuê đất Hiện nay ở Trung Quốc, nông dân không có quyền mua bán đất nông nghiệp nhưng, ở nhiều vùng, thì họ có thể đi thuê đất của các hộ nông khác hoặc của làng hay hợp tác xã Ví dụ, các hộ tìm được việc làm ở khu vực phi nông nghiệp rất muốn cho các hộ khác trong làng thuê lại đất của họ Còn nếu họ bị mất