ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH --- NGUYỄN THỊ BA LIỄU ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG ĐỐI VỚI LĨNH VỰC KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN THỦY SẢN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ỨNG
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
-
NGUYỄN THỊ BA LIỄU
ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG ĐỐI VỚI LĨNH VỰC KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN THỦY SẢN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA CỘNG ĐỒNG CƯ DÂN THỊ TRẤN
CÁT HẢI, HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
-
NGUYỄN THỊ BA LIỄU
ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG ĐỐI VỚI LĨNH VỰC KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN THỦY SẢN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA CỘNG ĐỒNG CƯ DÂN THỊ TRẤN
CÁT HẢI, HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: TS Dư Văn Toán
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Dư Văn Toán không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác
Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng qui cách
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
TÁC GIẢ
NGUYỄN THỊ BA LIỄU
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian và quá trình học tập, nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng, biết ơn tới TS Dư Văn Toán – người đã dành nhiều thời gian, tâm huyết trực tiếp hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy cô trong Khoa Các Khoa học Liên ngành và thầy cô các trường đại học khác tham gia giảng dạy lớp cao học Biến đổi khí hậu khóa 5, Khoa Các khoa học Liên ngành, Đại học Quốc gia Hà Nội, cùng các thầy cô đang công tác tại các viện, trung tâm nghiên cứu khoa học đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức và hỗ trợ cho tôi trong suốt thời gian theo học tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo tổ chức Tầm nhìn thế giới, ban lãnh đạo phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Cát Hải, cán bộ khuyến nông thị trấn Cát Hải, chủ tịch Hội phụ nữ thị trấn Cát Hải đã hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện đề tài luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn ThS Lưu Thị Toán và anh Lê Văn Long – cán
bộ huyện đội đã hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập tài liệu và thực hiện đề tài
Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới các ban lãnh đạo thị trấn huyện Cát Hải cùng các ngư dân tham gia đánh bắt thủy sản trên địa bàn tỉnh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian khảo sát thu thập dữ liệu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến tập thể học viên lớp cao học Biến đổi khí hậu khóa 5, Khoa Các khoa học Liên ngành, Đại học Quốc gia Hà Nội đã góp ý
và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Hà Nội, tháng 11/2017
HỌC VIÊN THỰC HIỆN
NGUYỄN THỊ BA LIỄU
Trang 5MỤC LỤC
Trang Danh mục các ký từ viết tắt
Danh mục các bảng Danh mục các biểu đồ - hình vẽ
v
vi vii
1.1 Biến đổi khí hậu và các tác động của biến đổi khí hậu 7
1.1.1 Nghiên cứu về biến đổi khí hậu trên thế giới 7
1.1.2 Nghiên cứu về biến đổi khí hậu tại Việt Nam 9 1.2 Tổng quan các nghiên cứu về đánh giá tính dễ bị tổn thương trong
1.2.1 Các nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương trên thế giới 11
1.2.2 Các nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương ở Việt Nam 19
1.2.3 Các nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương trong lĩnh vực
1.3 Các khái niệm cơ sở được sử dụng trong luận văn 30
2.1.1 Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương 38
2.1.4 Công cụ SWOT phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và
Trang 62.2 Các số liệu thống kê 44
2.2.1 Điều kiện tự nhiên của thị trấn Cát Hải 44
2.2.2 Số liệu về khí hậu các trạm khu vực thành phố Hải Phòng 45
2.2.4 Kinh tế thủy sản trong bối cảnh Biến đổi khí hậu: hiện trạng
và tương lai ở thị trấn Cát Hải, thành phố Hải Phòng 48
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA CỘNG
3.1 Đánh giá tác động của thiên tai lên huyện đảo Cát Hải 54
3.1.2 Đánh giá mức độ tác động của các hiện tượng thiên tai tới
khai thác và chế biến thủy sản (PI)
3.3.1 Kết quả đánh giá tính dễ bị tổn thương đối với lĩnh vực khai
3.3.3 Lồng ghép nội dung phòng chống, giảm nhẹ rủi ro thiên tai
và ứng phó với biến đổi khí hậu vào kế hoạch phát triển ngành đánh bắt và chế biến thủy sản địa bàn thị trấn Cát Hải
76
Trang 73.4 Nhận xét cuối chương 3 78
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Gross Domestic Product
9 IPCC Ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu
Intergovernmental Panel on Climate Change
10 IUCN Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài
nguyên Thiên nhiên International Union for Conservation of Nature
20 UNDP Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc
United Nations Development Programme
21 UNFCCC Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi
Khí hậu United Nations Framework Convention on Climate Change
23 XDCB Xây dựng cơ bản
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Thống kê tổng lượng mưa trung bình do bão tại các trạm
Bạch Long Vỹ, Hòn Dấu, Phù Liễn
57
Bảng 3.2 Các mức cho điểm của các hiện tượng thiên tai 60 Bảng 3.3 Xếp hạng tần suất xuất hiện của các hiện tượng thiên tai 60 Bảng 3.4 Nhận thức của người dân về ảnh hưởng của thiên tai đối
với khai thác thủy sản của gia đình những năm gần đây
61
Bảng 3.5 Nhận thức của người dân về ảnh hưởng thiên tai đối với
chế biến thủy sản của gia đình những năm gần đây
62
Bảng 3.6 Thang điểm quy đổi mức độ tác động của BĐKH 63 Bảng 3.7 Cho điểm mức độ tác động của các hiện tượng thiên tai 64 Bảng 3.8 Bảng quy đổi điểm mức độ tác động đối với hoạt động khai
Bảng 3.12 Kết quả tác động tổng hợp của các hiện tượng thiên tai và
thời tiết cực đoan lên các hoạt động sản xuất
66
Bảng 3.13 Thang điểm để đánh giá các nguồn vốn 67 Bảng 3.14 Chỉ tiêu đánh giá nguồn vốn con người 67 Bảng 3.15 Chỉ tiêu đánh giá nguồn vốn vật chất 68 Bảng 3.16 Chỉ tiêu đánh giá nguồn vốn tài chính 69 Bảng 3.17 Chỉ tiêu đánh giá nguồn vốn tự nhiên 70
Trang 10Bảng 3.20 Kết quả đánh giá tác động tổng hợp của thiên tai, năng lực
thích ứng và tính dễ bị tổn thương của khai thác và chế biến thủy sản
72
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trang Hình 1.1 Biến động nhiệt độ toàn cầu và nồng độ CO2 8 Hình 1.2 Mối quan hệ giữa tính tổn thương và rủi ro xảy ra thiên tai 17 Hình 1.3 Bản đồ mức độ tổn thương do biến đổi khí hậu của khai
thác thủy sản của các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh tới Thừa Thiên Huế
25
Hình 1.4 Bản đồ lượng giá tổn thất của khai thác thủy sản của các
tỉnh ven biển từ Quảng Ninh tới Thừa Thiên Huế
sinh kế hộ gia đình
40
Hình 2.4 Sơ đồ vị trí thị trấn Cát Hải, huyện Cát Hải, TP Hải Phòng 44
Hình 3.1 Xu thế biến đổi nhiệt độ trung bình năm trạm Bạch Long
Vỹ trong 50 năm từ năm 1958 tới năm 2007
55
Hình 3.2 Xu thế biến đổi nhiệt độ trung bình năm trạm Phù Liễn
trong 42 năm từ năm 1966 tới năm 2007
55
Hình 3.3 Xu thế biến đổi lượng mưa trung bình năm tại trạm Hòn
Dấu, Hải Phòng trong vòng 30 năm từ năm 1980 đến năm
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa của châu Á và tiếp giáp với Biển Đông, Hải Phòng chịu ảnh hưởng của gió mùa, thu hút khoảng 31% các cơn bão hướng vào Việt Nam hàng năm, đồng thời là địa phương dễ chịu tác động của thiên tai như bão, triều cường, triều dâng, lũ lụt, xâm nhập mặn, hạn hán, mưa
đá và giá rét
Quan sát từ Trạm Khí tượng Thủy văn Hòn Dấu (Đồ Sơn, Hải Phòng) cho thấy nhiều bằng chứng về biến đổi khí hậu như thay đổi nhiệt độ, lượng mưa, các đợt lạnh bất thường, mực nước biển, các hiện tượng thời tiết cực đoan ), ghi chép cho thấy mực nước biển đã tăng thêm khoảng 20 mm trong vòng 50 năm qua (Bộ TN & MT, Chương trình Mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, 2008) Nước biển dâng đã dẫn đến sự gia tăng của hiện tượng sạt lở và
lũ lụt, gây ra nhiều mất mát và thiệt hại nặng nề cho người dân địa phương cũng như tài nguyên thiên nhiên vùng ven biển Chỉ riêng năm 2012, Hải Phòng đã phải đối mặt 8 trận bão và chỉ trong một cơn bão, 5 người đã thiệt mạng với tổng thiệt hại về tài sản lên tới 1.000 tỷ đồng (khoảng 47 triệu USD)
Hải Phòng được xem là một trong những thành phố bị ảnh hưởng nhất bởi biến đổi khí hậu ở Việt Nam cũng như quy mô toàn cầu Theo xếp hạng của OECD về các thành phố trên thế giới đối mặt với những tác động mạnh nhất của
lũ lụt ven biển, tính đến những năm 2070, Hải Phòng đứng ở vị trí thứ 10 trên thế giới trong số những thành phố có số lượng dân số đối mặt với các rủi ro đó
Các tác động biến đổi khí hậu lớn chủ yếu tại Hải Phòng là nước biển dâng, thiên tai xảy nhiều hơn, gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan và nhiệt độ
Các ngành bị ảnh hưởng nhiều nhất được dự báo là nông nghiệp và đánh bắt cá/
nuôi trồng thủy sản, mà các ngành này tập trung chủ yếu ở đảo Cát Hải
Đảo Cát Hải hàng năm chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai như bão, gió mùa
và nước dâng Đặc biệt, trong những năm gần đây, tần suất, cường độ và mức độ ảnh hưởng của thiên tai ngày càng tăng làm ảnh hưởng tới môi trường sống và
Trang 13sinh kế của cộng đồng trên đảo Một số vùng cửa sông ven biển có hiện tượng bị nước biển xâm thực, đặc biệt mạnh tại khu vực đảo Cát Hải Một số vùng cửa sông nền địa chất yếu, xuất hiện nhiều vùng xoáy nguy hiểm, tình trạng xói lở
bờ sông có chiều hướng gia tăng, không theo quy luật như trước đây Một số vùng bãi triều xuất hiện rất rõ tình trạng nước biển dâng cao, thủy triều lên xuống bất thường…
Hơn nữa, Cát Hải là huyện đảo ven biển, địa hình thấp so với mực nước biển, do đó ảnh hưởng nước biển dâng dễ xảy ra Bên cạnh đó, bão lụt, sạt lở, lốc xoáy và các hiện tượng thời tiết cực đoan sẽ tác động xấu đến các hoạt động sinh kế, nhất là nuôi trồng và khai thác thủy sản, ảnh hưởng đến đời sống của cộng đồng dân cư huyện đảo Cát Hải
Thị trấn Cát Hải được bảo vệ bởi một hệ thống đê biển và người dân địa phương thường phải đối mặt với nước biển tràn bề mặt đê khi triều dâng kết hợp với gió mạnh Trong nhiều năm qua, hàng năm người dân trong xã bị ảnh hưởng trực tiếp bởi 5-6 cơn bão với quy mô khác nhau, gây ra thiệt hại đáng kể đến tài sảnvà các hoạt động sinh kế của người dân Sạt lở bờ biển (xâm thực vào phía đất liền) là một mối quan tâm lớn khác đối với người dân địa phương ở thị trấn Cát Hải và trong vòng khoảng mươi năm qua, hiện tượng sạt lở ven biển đã đã
ăn sâu về phía đất liền đến khoảng 3-4 m Thị trấn Cát Hải rất dễ bị ảnh hưởng bởi rủi ro thảm họa và các tác động của biến đổi khí hậu của như bão, triều dâng, lũ lụt, nước biển dâng, lốc xoáy, xâm nhập mặn và các hiện tượng thời tiết cực đoan, gây tác động đáng kể đến cuộc sống và hoạt động sinh kế của người dân địa phương, đặc biệt là cho các gia đình và doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn chủ yếu gắn bó với việc sản xuất và chế biến thủy sản Gần đây chính quyền và các cộng đồng địa phương đang cố gắng để hỗ trợ cho việc xây dựng và củng cố
hệ thống đê biển, trồng lại và bảo vệ rừng ngập mặn ở huyện Cát Hải, trong đó thị trấn Cát Hải: 30 ha) Tuy nhiên, những biện pháp giảm nhẹ này vẫn chưa đủ hiệu quả
Trang 14Trong lịch sử, huyện Cát Hải nói chung và thị trấn Cát Hải nói riêng thường xuyên đối mặt với thiên tai (từ tháng Sáu đến tháng Mười -Âm lịch)
Trong năm 2005, 3 trong 9 cơn bão và 4 áp thấp nhiệt đới tiến vào biển Đông trực tiếp đổ bộ vào huyện Cát Hải chỉ trong vòng hai tháng (tháng Bảy-tháng Chín) Bão đã gây ra lũ lụt cho tất cả khu vực nuôi trồng thủy sản của huyện (1.400 ha), sản xuất muối (142 ha), gây thiệt hại đáng kể cho sản xuất nuôi trồng thủy sản, nuôi cá lồng, kinh doanh du lịch Tổng thiệt hại là khoảng
54 tỷ đồng (khoảng 2,3 triệu USD)
Trong năm 2006, cơn bão số 3 gây ra mưa lớn trên địa bàn huyện, dẫn đến ngập lụt lớn cho sản xuất nông nghiệp
Trong năm 2008, 6 trong số 8 trận bão và 2 áp thấp nhiệt đới tiến vào biển Đông đã trực tiếp đổ bộ vào huyện Cát Hải
Chỉ trong năm 2012, 3 trong 8 cơn bão, áp thấp nhiệt đới tiến vào biển Đông
đã trực tiếp đổ bộ vào huyện Cát Hải; cơn bão số 8 (SONTINH) đã gây ra tổn thất và thiệt hại đáng kể cho cộng đồng địa phương huyện Cát Hải Cơn bão đã khiến 2 người chết, 110 ngôi nhà bị tốc mái, 13 tàu thuyền và 79 phương tiện vận tải biển bị chìm, 55 lồng bè cá bị hư hỏng, đê bị vỡ và sạt lở, 146 tấn thủy sản v.v Tổng thiệt hại vào khoảng 69 tỷ đồng (khoảng 2,8 triệu USD)
Chỉ trong riêng 9 tháng đầu năm 2013, 4 cơn bão trực tiếp đổ bộ vào huyện Cát Hải Tổng thiệt hại từ cơn bão số 2 là khoảng 100 tỷ đồng (khoảng 4,2 triệu USD)
Các nhóm dễ bị tổn thương nhất được xác định là các hộ gia đình đánh cá, các hộ sản xuất nuôi trồng thủy sản, các hộ sản xuất muối và các hộ sản xuất nông nghiệp Do những tổn thất nghiêm trọng có thể xảy ra do thiên tai, người dân địa phương đôi khi mạo hiểm sức khỏe và an toàn của họ trong các tình huống nguy hiểm để bảo vệ tài sản của mình Có những trường hợp mà các hộ gia đình sau khi được sơ tán đã trở lại để cứu tài sản của mình trên biển và đã bị mắc kẹt trong một khu vực không thể tiếp cận
Trang 15Tại địa bàn khu vực nghiên cứu, hiện mới chỉ có dự án HRCD (Hải
Phòng tăng cường năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu) đang được Tổ chức
Tầm nhìn thế giới triển khai từ năm 2014 Tuy nhiên dự án mới chỉ tập trung vào việc nghiên cứu tổng quát các sinh kế của người dân địa phương các huyện Cát Hải (xã Văn Phong, xã Hoàng Châu, thị trấn Cát Hải), TP Hải Phòng (phường Vạn Mỹ, phường Máy Chai), huyện Tiên Lãng (xã Đông Hưng, xã Tiên Hưng, xã Vinh Quang) Hiện nay, vẫn chưa có một công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu về mặt sinh kế nói chung và nghề khai thác và chế biến thủy sản nói riêng của người dân thị trấn Cát Hải, đặc biệt là trong bối cảnh
BĐKH Vì vậy, đề tài: “Đánh giá tính dễ bị tổn thương đối với lĩnh vực khai thác và chế biến thủy sản và đề xuất các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu của cộng đồng cư dân thị trấn Cát Hải, huyện Cát Hải, TP Hải Phòng”
được lựa chọn và triển khai
2 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn được thực hiện với các mục tiêu sau đây:
- Đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu đối với lĩnh vực khai thác và chế biến thủy sản
- Phân tích các nhận định của người dân về mức độ tác động của thiên tai, thời tiết cực đoan và BĐKH đối với các hoạt động khai thác và chế biến thủy sản tại huyện Cát Hải, TP Hải Phòng;
- Đánh giá năng lực thích ứng của người dân trước những tác động của hiện tượng thiên tai, BĐKH
- Đề xuất các giải pháp thích ứng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: hoạt động khai thác và chế biến thủy sản trước tác
động của biến đổi khí hậu
* Phạm vi nghiên cứu: Cộng đồng dân cư thị trấn Cát Hải, huyện Cát Hải,
TP Hải Phòng
4 Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu trong đề tài này tập trung đánh giá tính dễ bị tổn thương của lĩnh vực khai thác và chế biến thủy sản, tần suất và mức độ tác động
Trang 16của BĐKH, khả năng ứng phó của cộng đồng dân cư với lĩnh vực khai thác và chế biến thủy sản trong bối cảnh Biến đổi khí hậu
Nội dung nghiên cứu cụ thể như sau:
- Mô tả các hiện tượng thiên tai tác động tới địa bàn thị trấn Cát Hải, huyện Cát Hải, TP Hải Phòng;
- Đánh giá khả năng thích ứng của cộng đồng cư dân địa phương và đề xuất các giải pháp thích ứng trong bối cảnh biến đổi khí hậu
5 Giả thuyết nghiên cứu
- Những hiện tượng thiên tai có thể gia tăng do BĐKH và có tác động xấu đến hệ thống sản xuất nông nghiệp và thủy sản Hiểu biết đầy đủ những tác động này, và nếu được truyền thông hiệu quả, sẽ góp phần giảm thiểu tính dễ bị tổn thương và nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng dân cư địa phương thị trấn Cát Hải, huyện Cát Hải, TP Hải Phòng
- BĐKH có thể tác động theo những cách khác nhau tới các hộ gia đình dưới các hình thức mất sinh kế, tài sản và việc làm
- Người dân địa phương đã có những biện pháp ứng phó linh hoạt trước những tác động của BĐKH
những tác động của BĐKH
* Ýnghĩa thực tiễn
Trên cơ sở phân tích một cách khoa học, luận văn hy vọng mô tả được đầy
đủ những tác động của BĐKH đến sự thay đổi các hoạt động khai thác và chế biến thủy sản, thu nhập của người dân tại khu vực nghiên cứu, và nhận biết được
Trang 17những kinh nghiệm và kiến thức bản địa mà người dân tại khu vực nghiên cứu
đã áp dụng trong việc ứng phó trước những tác động đó Đồng thời đề xuất được các giải pháp thích ứng có tính ứng dụng trong bối cảnh biến đổi khí hậu
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung Luận văn được trình bày trong 3 chương với nội dung chủ yếu sau đây:
Chương 1 Tổng quan tài liệu: Nội dung của chương này tập trung vào
biểu hiện của biến đổi khí hậu và đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu, đặc biệt đối với ngành thủy sản
Chương 2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu: Chương này giới thiệu
các phương pháp nghiên cứu của luận văn liên quan tới tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu và các giải pháp ứng phó liên quan đến hoạt động đánh bắt thủy sản và các chính sách hiện hành trong lĩnh vực thủy sản
Chương 3 Kết quả và thảo luận: Chương này đưa ra các kết quả phân tích
đánh giá tính dễ bị tổn thương đối với ngành khai thác và chế biến thủy sản do biến đổi khí hậu, đồng thời đưa ra các giải pháp giảm thiểu mức độ tổn thương
do biến đổi khí hậu lên lĩnh vực sinh kế này
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Biến đổi khí hậu và các tác động của biến đổi khí hậu
1.1.1 Nghiên cứu về biến đổi khí hậu trên thế giới
Báo cáo đánh giá lần thứ 5 của Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) cho thấy, sự ấm lên của khí hậu toàn cầu là rõ ràng và từ những năm
1950 có nhiều thay đổi chưa từng có trong nhiều thập kỷ hoặc thiên niên kỷ trước đó Khí quyển và đại dương đã trở nên nóng hơn, lượng tuyết và băng đã giảm đi và mực nước biển đã tăng lên Về nguyên nhân, IPCC cho rằng, phát thải khí nhà kính do con người là nguyên nhân chính gây ra của sự ấm lên toàn cầu và biến đổi khí hậu
Vào cuối thế kỷ XIX, các nhà khoa học đã bắt đầu nhận thấy mầm mống của biến đổi khí hậu, tuy nhiên tại thời điểm đó người ta chưa nhận thức được hậu quả của nó ngày nay Tới năm 1896, Svante Arrherius – một nhà hóa học Thụy Điển đã đưa ra kết lu ận việc đốt than trong công nghiệp sẽ làm gia tăng nhanh chóng hiệu ứng nhà kính Kết luận của Svante Arrherius về mức độ ảnh hưởng của khí nhà kính nhân tạo rằng nếu lượng khí nhà kính tăng gấp đôi thì nhiệt độ trung bình của toàn cầu sẽ tăng vài độ C, điều này gần như trùng khớp với mô hình khí hậu đang được sử dụng hiện nay
Cho tới nay, IPCC đã xuất bản báo cáo lần thứ 4 vào năm 2007, đây là một trong các tài liệu quan t rọng nhất về biến đổi khí hậu Theo IPCC (2007), sự ấm lên của khí hậu là điều chắc chắn Hàm lượng khí CO2, loại khí nhà kính quan trọ ng nhất trong bầu khí quyển toàn cầu, dao động ở mức 200-300 ppm trong suốt 800.000 năm qua, nhưng đã tăng lên ở mức khoảng 387 ppm trong 150 năm qua, chủ yếu là do đốt nhiên liệu hóa thạch và một nguyên nhân nhỏ hơn là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và thay đổi việc sử dụng đất Các quan trắc khí tượng được định lượng chi tiết và đến nay đã thu thập được dãy số liệu khí hậu chính xác trong hơn một thế kỷ qua Những số liệu cho thấy nhiệt độ không khí trung bình toàn cầu trong thế kỷ 20 đã tăng lên 0,74oC ( 0,2oC); trên đất liền
Trang 19tăng nhiều hơn trên biển và giai đoạn 1995 – 2006 được xếp vào danh sách 12 năm nóng nhất trong lịch sử quan trắc nhiệt độ [34]
Hình 1.1 Biến động nhiệt độ toàn cầu và nồng độ CO 2 [34]
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã và đang gây ra những tác động tiêu cực tới các hệ thống tự nhiên, nhân tạo và con người trên toàn thế giới Sự thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa đã gây ra sa mạc hóa, hạn hán, lũ lụt…, gây tác hại cho tài nguyên nước, tài nguyên đất, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội Mực nước biển dâng cao đe dọa làm ngập chìm các hòn đảo, các khu vực đất thấp, làm thay đổi toàn
bộ đời sống, sinh hoạt của con người Sự gia tăng cáchiệntượng thời tiết cực đoan như bão, lũ, lũ quét… cũng gây thiệt hại lớn cho các quốc gia Theo ước tính của các nhà khoa học, nếu nhiệt độ trung bình của trái đất tăng từ 1,5 đến 2,5oC so với thời kỳ tiền công nghiệp, khoảng 20% - 30% các loài sinh vật sẽ đứng bên bờ tuyệt chủng Nếu nhiệt độ trung bình của trái đất tăng hơn 4oC thì
sẽ chỉ còn rất ít các hệ sinh thái có khả năng thích ứng được, hơn 40% hệ sinh thái sẽ chuyển đổi và rất nhiều hệ sinh thái sẽ biến mất hoặc sụp đổ trên quy mô toàn cầu Bên cạnh đó, nếu mực nước biển dâng cao 1m, hàng triệu người có thể mất nhà cửa và hàng nghìn ha đất canh tác bị ngập lụt, gây thiệt hại hàng trăm tỷ USD Nhiều quốc đảo có độ cao dưới 3m so với mặt nước biển như Kiribati, Tuvalu, sẽ mất phần lớn diện tích và một vài nước khác sẽ biến mất khi nước biển dâng cao 1m
Sự nóng lên toàn cầu rất rõ ràng với những biểu hiện của sự tăng nhiệt độ không khí và đại dương, sự tan băng diện rộng và qua đó là mức tăng mực nước biển trung bình toàn cầu
Trang 20Biến đổi khí hậu tác động lên tất cả các thành phần môi trường bao gồm
cả các lĩnh vực của môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và sức khoẻ con người trên phạm vi toàn cầu Tuy nhiên, mức độ tác động của biến đổi khí hậu
có khác nhau: nghiêm trọng ở các vùng có vĩ độ cao và ít hơn tại các vùng khác,
sẽ lớn hơn ở các nước nhiệt đới, nhất là các nước đang phát triển công nghiệp nhanh ở Châu Á Trong đó, những người nghèo, những người ít góp phần gây ra biến đổi khí hậu nhất thì lại phải chịu những thiệt hại sớm nhất và nghiêm trọng nhất về phát triển con người do biến đổi khí hậu gây ra [6]
Cho tới nay, vấn đề BĐKH đã, đang và sẽ tác động lên các lĩnh vực năng lượng, nước, lương thực, văn hóa, kinh tế, ngoại giao, xã hội, việc làm, thương mại, làm thay đổi toàn diện và sâu sắc quá trình phát triển và an ninh toàn cầu như:
- Sự thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa đã gây ra sa mạc hóa, hạn hán, lũ lụt…, gây tác hại cho tài nguyên nước, tài nguyên đất, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội
- Mực nước biển dâng cao đe dọa làm ngập chìm các hòn đảo, các khu vực đất thấp, làm thay đổi toàn bộ đời sống, sinh hoạt của con người
- Sự gia tăng cáchiệntượng thời tiết cực đoan như bão, lũ, lũ quét… cũng gây thiệt hại lớn cho các quốc gia
1.1.2 Nghiên cứu về biến đổi khí hậu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, biến đổi khí hậu được nghiên cứu nhiều sau khi Việt Nam tham gia ký công ước khung liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) năm
1992 và sau đó là tham gia nghị định thư Kyoto năm 1998 Nhiều nhà khoa học Việt Nam đã đi sâu nghiên cứu về BĐKH như Giáo sư Nguyễn Đức Ngữ với sự
ra đời cuốn sách Biến đổi khí hậu, nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật năm 2008 [6], và nhiều nhà khoa học khác cũng tham gia vào lĩnh vực nghiên cứu này Bộ Tài nguyên và Môi trường là đơn vị nhà nước Việt Nam chủ trì các hoạt động liên quan đến biến đổi khí hậu
Trang 21Trong vài thập kỷ vừa qua, ở Việt Nam đã xuất hiện các đợt nắng nóng, rét đậm rét hại, hạn hán, mưa lớn, lũ lụt kỉ lục Nhiều cơn bão mạnh xuất hiện với đường đi phức tạp… gây nhiều thiệt hại về kinh tế - xã hội và môi trường
Những nghiên cứu gần đây cho thấy các diễn biến bất thường nói trên phù hợp với xu thế của biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càng khốc liệt hơn
Ở Việt Nam, nhiệt độ trung bình năm đã tăng 0,5 – 0,7 oC trong khoảng 50 năm qua Trong 3 thập kỷ gần đây, 1981 – 2010, số đợt không khí lạnh qua Bắc Bộ giảm rõ rệt, trung bình từ 29 đợt/ năm xuống còn 24 đợt/ năm Trong thời kỷ 1960 – 2007, số cơn bão hoạt động trên Biển Đông tăng lên với tốc độ 0,45 cơn/thập
kỷ Số cơn bão ảnh hưởng đến Việt Nam cũng tăng lên trung bình 0,226 cơn/thập kỷ, tỉ trọng bão ảnh hưởng đến khu vực phía Nam tăng lên Số ngày mưa phùn trung bình năm ở phía Bắc giảm rõ rệt, từ 35,8 ngày trong thập kỷ
1971 - 1980, xuống còn 14,5 ngày/năm trong 10 năm gần đây Biến động của lượng mưa trong 9 thập kỷ vừa qua không nhất quán, có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống Trên lãnh thổ Việt Nam, xu thế biến động của lượng mưa cũng rất phức tạp, tăng lên trên hầu hết khu vực phía Nam và giảm đi trên các khu vực phía Bắc Trong 50 năm qua, mực nước biển trung bình trên các đoạn
bờ biển Việt Nam tăng 2,5 - 3,0cm/1 thập kỷ [1], [3], [5]
Trong khuôn khổ của Chương trình Mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu, năm 2009 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng và công bố kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam dựa trên kịch bản phát thải khí nhà kính và kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu của Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) Tuy nhiên kịch bản năm 2009 chỉ chi tiết đến vùng khí hậu và vùng biển của Việt Nam, trong khi đó yêu cầu thực tiễn cần có kịch bản chi tiết tới cấp tỉnh và nhỏ hơn Vì vậy năm 2011, Bộ Tài nguyên Môi trường đã cập nhật bổ sung dữ liệu, kiến thức mới về hệ thống khí hậu và đưa ra các kịch bản chi tiết hơn phù hợp với thực tiễn Cho đến này, Bộ đã xây dựng 03 kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam lần lượt năm 2009, năm 2011
và năm 2016 [1]
Trang 22Kịch bản năm 2011 xây dựng dựa trên các sản phẩm của mô hình hoàn lưu khí quyển toàn cầu AGCM của Viện nghiên cứu Khí tượng Nhật Bản (MRI); mô hình khí hậu khu vực PRECIS của Vương quốc Anh; các phần mềm thống kê SDSM của Hoa Kỳ; SIMCLIM của New Zealand Các kịch bản khí hậu được xây dựng theo các kịch bản phát thải khí nhà kính toàn cầu bao gồm: Kịch bản phát thải thấp B1; kịch bản phát thải trung bình (B2,A1B); kịch bản phát thải cao (A2,A1, FI)
Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam năm 2016 được cập nhật theo lộ trình đã được xác định trong Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, nhằm cung cấp những thông tin mới nhất về diễn biến, xu thế biến đổi của khí hậu và nước biển dâng trong thời gian qua và kịch bản biến đổi khí hậu
và nước biển dâng trong thế kỷ 21 ở Việt Nam
1.2 Tổng quan các nghiên cứu về đánh giá tính dễ bị tổn thương trong
bối cảnh Biến đổi khí hậu
1.2.1 Các nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương trên thế giới
Tính dễ bị tổn thương (vulnerability – V) và rủi ro (risk – R) là những khái niệm quan trọng khi nghiên cứu về thiên tai và BĐKH Không có một định nghĩa chính xác về tính tổn thương hay rủi ro vì hai khái niệm này được sử dụng rất linh hoạt trong các bối cảnh nghiên cứu khác nhau Có nhiều khái niệm về tính dễ bị tổn thương (TDBTT) và việc sử dụng thuật ngữ liên quan đến tính dễ
bị tổn thương TDBTT thường đi kèm với các nguy cơ tự nhiên như lũ lụt, hạn hán và nguy cơxã hội như nghèo đói, vv…Gần đây, khái niệm này được sử dụng rộng rãi trong bối cảnh BĐKH để biểu thị mức độ thiệt hại mà một khu vực dự kiến sẽ bị ảnh hưởng do các tác động khác nhau của BĐKH Có nhiều nghiên cứu về TDBTT trên thế giới và khái niệm về TDBTT cũng khác nhau tùy theo quan điểm của những nhà nghiên cứu Cụ thể, một số định nghĩa về TDBTT điển hình như sau:
Chamber (1983) định nghĩa TDBTT có 2 mặt Một mặt là rủi ro bên ngoài, các cú sốc mà một cá nhân hoặc hộ gia đình phải chịu từ các tác động của
Trang 23BĐKH và một mặt là nội bộ bên trong đó là sự không có khả năng bảo vệ, có nghĩa là thiếu phương tiện để đối phó mà không bị thiệt hại [20]
O'brien và Mileti (1992) đã thử nghiệm TDBTT đối với BĐKH và khẳng định rằng bên cạnh sự ổn định và giàu có về kinh tế, khả năng chống chịu của dân cư với các cú sốc về môi trường, cấu trúc và tình trạng sức khỏe của người dân có thể đóng một vai trò quan trọng quyết định đến TDBTT Tuổi tác là một vấn đề quan trọng vì người già và trẻ em vốn là những đối tượng dễ bị tổn thương do những rủi ro môi trường và nguy cơphơi lộ Dân số trong độ tuổi lao động và có sức khỏe tốt có nhiều khả năng đối phó và do đó ít bị tổn thương hơn khi đối mặt với nguy cơphơi lộ
Blaikie và cộng sự (1994) định nghĩa TDBTT là các đặc điểm của một người hoặc một nhóm người về khả năng của họ để dự đoán trước, đối phó với, chống chịu và phục hồi từ các tác động của các nguy cơ tự nhiên và khẳng định rằng TDBTT có thể được đánh giá thông qua khả năng chống chịu và mức độ nhạy cảm [19]
Watson và cộng sự (1996) định nghĩa TDBTT như mức độ mà BĐKH có thể gây thiệt hại hoặc gây tổn hại cho một hệ thống, không chỉ phụ thuộc vào mức độ nhạy cảm của hệ thống đó mà còn về năng lực thích ứng với các điều kiện khí hậu mới
Atkins và cộng sự (1998) đã nghiên cứu các phương pháp đo lường TDBTT và xây dựng một sự kết hợp chỉ số TDBTT thích hợp cho các nước đang phát triển Các chỉ số dễ bị tổn thương tổng hợp đã được trình bày cho một mẫu của 110 nước phát triển có số liệu thích hợp có sẵn Các chỉ số cho thấy rằng các quốc gia nhỏ đặc biệt dễ bị tổn thương khi so sánh với các quốc gia lớn
Giữa các quốc gia nhỏ, Cape Verde và Trinidad và Tobago, được ước tính có TDBTT tương đối thấp còn phần lớn được ước tính có TDBTT tương đối cao;
và các nước nhưTonga, Antigua và Barbedas có TDBTT cao đối với các yếu tố kinh tế và môi trường bên ngoài [18]
Trang 24Handmer và cộng sự (1999) đã nghiên cứu các cơ chế đối phó với cú sốc môi trường hoặc nguy cơgây ra tổn thương về mặt sinh lý Các yếu tố nhưsự ổn định về thể chế và chất lượng của cơ sở hạ tầng công cộng là rất quan trọng trong việc xác định TDBTT đối với BĐKH Một xã hội với cơsở hạ tầng công cộng thích hợp sẽ có thể đối phó với một mối nguy một cách hiệu quả và do đó làm giảm TDBTT Một xã hội như vậy có thể được xem nhưmột xã hội có TDBTT thấp Nếu không có năng lực thể chế liên quan đến các kiến thức về các hiện tượng và năng lực đối phó, thì TDBTT cao có khả năng chuyển rủi ro về sinh lýthành một tác động đến dân số [28]
Theo Adger (1999), TDBTT là mức độ mà một hệ thống tự nhiên hoặc xã hội dễ bị thiệt hại do BĐKH Nó được coi là một hàm của hai thành phần: ảnh hưởng có thể có của một hiện tượng đến con người, được gọi là năng lực hoặc TDBTT về mặt xã hội và rủi ro về một hiện tượng nhưvậy có thể xảy ra, thường được gọi là sự phơi lộ(exposure) [15]
Kasperson và cộng sự (2000) định nghĩa TDBTT như mức độ mà một hệ thống dễ bị thiệt hại do bị phơi lộ với một nhiễu loạn hoặc căng thẳng và thiếu năng lực hoặc các biện pháp để đối phó, phục hồi hoặc thích ứng một cách cơbản để trở thành một hệ thống mới hoặc sẽ bị mất đi vĩnh viễn
Chris Easter (2000) đã xây dựng một chỉ số TDBTT đối với các quốc gia khối thịnh vượng chung, dựa trên hai nguyên tắc Đầu tiên là tác động của các
cú sốc bên ngoài mà quốc gia này đã bị ảnh hưởng và thứ hai là khả năng chống chịu của một quốc gia để chống cự và phục hồi từ những cú sốc như vậy Phân tích sử dụng một mẫu của 111 nước đang phát triển trong đó có 37 nước nhỏ và
74 nước lớn mà có sẵn dữ liệu có liên quan Kết quả cho thấy trong số 50 nước
dễ bị tổn thương nhất, có 33 nước nhỏ trong đó có 27 nước kém phát triển nhất
và 23 hòn đảo Trong khi đó, trong 50 quốc gia ít bị tổn thương nhất, chỉ có hai tiểu bang [21]
Moss và cộng sự (2001) đã xác định mười đại diện cho năm lĩnh vực nhạy cảm liên quan đến khí hậu đó là mức độ nhạy cảm về định cư, an ninh lương
Trang 25thực, sức khỏe con người, hệ sinh thái và nguồn nước và bảy đại diện cho ba lĩnh vực đối phó và năng lực thích ứng, năng lực kinh tế, nguồn nhân lực và năng lực tài nguyên môi trường hay tự nhiên Các đại diện đã được tổng hợp thành các chỉ số ngành, các chỉ số về mức độ nhạy cảm và các chỉ số đối phó hoặc năng lực thích ứng và cuối cùng là xây dựng các chỉ số về khả năng chống chịu TDBTT đối với BĐKH
Dolan và Walker (2003) đã thảo luận các khái niệm về TDBTT và trình bày một khung tích hợp đa cấp để đánh giá TDBTT và năng lực thích ứng
Những yếu tố quyết định năng lực thích ứng bao gồm khả năng tiếp cận và phân phối của cải, công nghệ, và thông tin, nhận thức và quan điềm về rủi ro, vốn xã hội và các khung thể chế quan trọng để giải quyết các nguy cơcủa BĐKH
Chúng được xác định ở cấp độ cá nhân và cộng đồng và nằm trong phạm vi khu vực thiết lập, quốc gia và quốc tế Kiến thức truyền thống và địa phương là chìa khóa để thiết kế và thực hiện nghiên cứu và cho phép kết quả có liên quan tại địa phương có thể hỗ trợ trong việc ra quyết định, lập kế hoạch và quản lýhiệu quả hơn tại các khu vực ven biển xa xôi hẻo lánh [25]
Katharine Vincent (2004) đã tạo ra một chỉ số để đánh giá thử nghiệm mức độ tương đối của dễ TDBTT về mặt xã hội đối với sự thay đổi nguồn nước
do tác động của BĐKH và cho phép so sánh chéo giữa các nước ở châu Phi Một chỉ số tổng hợp TDBTT về mặt xã hội được tính bằng cách lấy trung bình của năm chỉ số phụ thành phần, đó là các chỉ số về sự giàu có và ổn định về mặt kinh tế, cơcấu dân số, ổn định thể chế và chất lượng cơsở hạ tầng công cộng, sự kết nối toàn cầu và sự phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên Kết quả chỉ ra rằng thông qua việc sử dụng các dữ liệu hiện tại, Niger, Sierra Leone, Burundi, Madagascar và Burkina Faso là những nước dễ bị tổn thương nhất ở châu Phi
USEPA - Cục Bảo vệ Môi trường Hoa kỳ (United State Environment Protection Agency, 2006) định nghĩa tính tổn thương của một hệ thống là mức
độ tổn thất của hệ thống đó dưới tác động của một áp lực nào đó từ bên ngoài hay bên trong hệ thống
Trang 26Trong các báo cáo của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), khái niệm này vẫn được sử dụng khác nhau qua các thời kỳ Trên thực tế, IPCC
đã đưa ra các khái niệm khác nhau về TDBTT đối với BĐKH qua các năm Năm
1992, TDBTT được định nghĩa như mức độ mà một hệ thống không có khả năng đối phó với những hậu quả của BĐKH và nước biển dâng Trong báo cáo lần thứ 2 tại SAR năm 1996 của IPCC đã định nghĩa: “Tính dễ bị tổn thương là mức
độ mà Biến đổi khí hậu có thể gây tổn hại hay bất lợi cho hệ thống; tính dễ bị tổn thương không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy cảm mà tính dễ bị tổn thương còn phụ thuộc vào năng lực thích ứng của cộng đồng trong điều kiện khí hậu mới”
Định nghĩa này bao gồm sự phơi lộ, mức độ nhạy cảm, khả năng phục hồi của
hệ thống để chống lại các mối nguy hiểm do ảnh hưởng của BĐKH
Định nghĩa về tính tổn thương do BĐKH được nhiều tổ chức và nhà khoa học sử dụng do Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) đưa ra trong Báo cáo Đánh giá Thứ 3 năm 2001 như sau: tính tổn thương là “mức độ một hệ thống tự nhiên hay xã hội có thể bị tổn thương hoặc không thể ứng phó với các tác động bất lợi do BĐKH (bao gồm các hình thái thời tiết cực đoan và biến đổi khí hậu” Để định lượng tính tổn thương do BĐKH, IPCC đã chỉ rõ tính tổn thương (V) là một hàm số của 3 yếu tố sau: (i) mức độ xuất lộ của hệ thống trước các tác động bất lợi của BĐKH (Exposure – E); (ii) mức độ nhạy cảm của
hệ thống trước những thay đổi của khí hậu (Sensitivity – S); (iii) năng lực thích ứng với BĐKH (Adaptive Capacity – AC) Mức độ nhạy cảm (S) được xác định
là mức độ mà hệ thống phản ứng lại một sự thay đổi của khí hậu (bao gồm cả sự thay đổi bất lợi hoặc có lợi của khí hậu) Năng lực thích ứng (AC) được xác định
là mức độ mà các điều chỉnh của hệ thống có thể làm giảm nhẹ khả năng gây tổn thương do BĐKH hoặc bù đắp các thiệt hại do BĐKH gây ra hoặc tận dụng các
cơ hội do tác động tích cực của BĐKH đem lại Như vậy mối quan hệ của chỉ số tính tổn thương với các chỉ số thành phần có thể viết ngắn gọn lại theo mối quan
hệ toán học là V = f(E,S,AC)
Đến Báo cáo Đánh giá Thứ 4, định nghĩa tính tổn thương được phát triển
và nêu cụ thể hơn so với Báo cáo Thứ 3 IPCC nhấn mạnh chỉ số tính tổn thương
Trang 27là một chỉ số tổng hợp của nhiều yếu tố thành phần Tính tổn thương phụ thuộc vào hai yếu tố là (i) yếu tố tự nhiên: các tác động liên quan đến thay đổi khí hậu
và thời tiết; (ii) yếu tố con người: các tác động do con người tạo ra Chỉ số tổn thương tổng hợp phải phản ánh được tính tổn thương về kinh tế (economic vulnerability), tổn thương về môi trường (environmental vulnerability) và tổn thương về xã hội (social vulnerability) Trong đó, các yếu tố liên quan đến tính tổn thương về xã hội nhưgiảm nghèo, đa dạng hóa sinh kế, bảo vệ tài sản cộng đồng và tăng cường các hoạt động của tập thể ngày càng quan trọng vì chúng liên quan trực tiếp đến năng lực ứng phó với BĐKH IPCC cũng nêu rõ tính tổn thương do BĐKH phụ thuộc nhiều vào địa điểm khảo sát và quy mô đánh giá, bên cạnh đó cần xem xét đến nguồn gốc của các tác động liên quan đến khí hậu
và ýnghĩa của những tác động đó Các yếu tố rủi ro và tính không chắc chắn liên quan đến đánh giá tổn thương cũng cần được xem xét [7]
Khái niệm về rủi ro (risk) trong bối cảnh liên quan đến thiên tai và BĐKH
là khả năng bị tổn thất hoặc là xác suất bị thiệt hại, mất mát Rủi ro bao gồm hai yếu tố: xác suất xảy ra tổn thất (Probability – P) và thiệt hại do tổn thất gây ra (Loss – L) [7]
Về mặt toán học, rủi ro được biểu diễn dưới dạng R = P x L Rủi ro và tính tổn thương có mối quan hệ với nhau đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu về thiên tai và BĐKH Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ toán học giữa rủi ro
và tính tổn thương [36] Theo đó, rủi ro một thiên tai xảy ra (hazard risk) được xác định bằng xác suất thiên tai xảy ra (hazard – H), mức độ xuất lộ của hệ thống khi thiên tai xảy ra (exposure – E) và mức độ tổn thương của hệ thống khi thiên tai xảy ra (vulnerability – V) Do mức độ xuất lộ (E) đã được tính trong (V) nên công thức biểu diễn mối quan hệ giữa rủi ro và tính tổn thương là: R = f(H, V) Theo Hình 1.2 và công thức tính chỉ số rủi ro trên thì tính tổn thương V
là một thành phần của rủi ro (R)
Trang 28Hình 1.2 Mối quan hệ giữa tính tổn thương và rủi ro xảy ra thiên tai [7]
Quá trình tổng hợp các báo cáo và tài liệu cho thấy, có rất nhiều tổ chức
và nhà khoa học đã đưa ra các phương pháp và mô hình đánh giá rủi ro và tổn thương khác nhau Mặc dù các phương pháp và mô hình đưa ra có những điểm khác nhau trong việc gọi tên và định nghĩa các chỉ số thành phần để tính toán chỉ
số tổn thương do BĐKH nhưng bản chất và phương pháp xác định các chỉ số thành phần đó lại giống nhau Sự khác nhau cơ bản giữa các nghiên cứu tập trung chủ yếu ở quy mô đánh giá, phương pháp phân nhóm và tổng hợp các chỉ
số thành phần cũng nhưphương pháp thể hiện kết quả Tuy nhiên nguyên tắc chung để xác định các chỉ số thành phần trong các nghiên cứu đều dựa trên cơ
sở phương pháp luận về đánh giá tổn thương được đưa ra trong Báo cáo Thứ 3 của IPCC [7]
Nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương trong bối cảnh biến đổi khí hậu
đã được triển khai từ rất sớm trên thế giới và điển hình với các nghiên cứu đánh giá của IPCC
Trang 29Trên thế giới, TDBTT đã được nghiên cứu ở rất nhiều quy mô khác nhau như đối với một vùng lãnh thổ/khu vực (đới ven biển, hệ thống đảo ), một hệ sinh thái, một hệ thống tự nhiên hay một cộng đồng người vv trên nhiều lĩnh vực như kinh tế -xã hội, môi trường, tự nhiên, thiên tai và đặc biệt quan tâm tới lĩnh vực BĐKH Tính dễ bị tổn thương trong các nghiên cứu cụ thể được xem xét trong những hoàn cảnh và nguyên nhân rất đa dạng như sự BĐKH toàn cầu,
sự biến động giá cả hàng hóa trên thị trường, sự khan hiếm lương thực, sự thay đổi tổ chức và thể chế, chiến tranh, khủng bố, những tai biến thiên nhiên, suy thoái môi trường vv
Lịch sử nghiên cứu TDBTT được ghi nhận từ hơn 20 năm qua và đặc biệt được quan tâm nhiều từ những năm 90 của thế kỷ XX, thể hiện trong các công trình
Vào cuối thế kỷ XX, một số mô hình về tổn thương và phương pháp đánh giá TDBTT dựa trên các thông số được lượng hóa có hệ thống đã được định hình trên thế giới như phương pháp của NOAA, phương pháp của Cutter Các
mô hình này tập trung vào nghiên cứu xây dựng các bản đồ về phân vùng mức
độ nguy hiểm do tai biến và mật độ phân bố các đối tượng dễ bị tổn thương, từ
đó thành lập bản đồ đánh giá TDBTT Để làm được điều đó phải có một cơsở dữ liệu tin cậy, chi tiết, và được thu thập một cách có hệ thống nhờ sự phối hợp của rất nhiều cơquan khác nhau (khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học
xã hội) Các phương pháp này đã chứng tỏ được tính ưu việt của chúng trong việc dự báo TDBTT do những tai biến tiềm tàng, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp hạn chế, giảm thiểu rủi ro và thiệt hại và là cơ sở quan trọng trong nghiên cứu TDBTT
Các công trình nghiên cứu TDBTT do BĐKH của IPCC năm 2007 đã chỉ
ra 7 yếu tố quan trọng khi đánh giá TDBTT, đó là: 1) Cường độ tác động; 2) Thời gian tác động; 3) Mức độ dai dẳng và tính thuận nghịch của tác động; 4) Mức độ tin cậy trong đánh giá tác động và TDBTT; 5) Năng lực thích ứng; 6)
Sự phân bố các khía cạnh của tác động và TDBTT; và 7) Tầm quan trọng của hệ
Trang 30thống khi gặp nguy hiểm Các yếu tố này có thể được sử dụng kết hợp với việc đánh giá những hệ thống có mức độ nhạy cảm cao với các điều kiện về khí hậu như đới ven biển, hệ sinh thái, các chuỗi thức ăn
Kết quả của nghiên cứu này có giá trị rất cao trong điều kiện hiện nay do phù hợp với xu thế của BĐKH đang diễn ra trên toàn cầu và có thể áp dụng được tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới
1.2.2 Các nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương ở Việt Nam
Khái niệm và những nghiên cứu về TDBTT mới được thực hiện ở Việt Nam trong thời gian gần đây, bắt đầu từ những năm cuối của thế kỷ XX
Từ năm 1994 tới năm 1996, Tom G và cộng sự đã nghiên cứu về TDBTT của đới bờ Việt Nam do sự gia tăng mực nước biển và BĐKH trong dự án VIE hợp tác giữa Việt Nam và Hà Lan, đã chỉ ra được khả năng rủi ro cao cho khoảng 17 triệu người dân ở các đồng bằng ven biển
Năm 1999, Adger và cộng sự đã nghiên cứu TDBTT ở khía cạnh xã hội
và khả năng phục hồi ở Việt Nam khi môi trường thay đổi ở huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sự đổi mới về kinh tế bắt đầu từ giữa thập kỷ 80 đã làm tăng tính bất công bằng trong thu nhập và phúc lợi địa phương gây ảnh hưởng tới năng lực thích nghi của người dân địa phương khi phải đối mặt với cả sự thay đổi về thể chế tổ chức và những ảnh hưởng của sự BĐKH [15]
Năm 2005, nghiên cứu về TDBTT tại đới ven biển Hải Phòng do Lê Thị Thu Hiền thực hiện đã thành lập được bản đồ TDBTT Trong công trình nghiên cứu này, khu vực có TDBTT cao tập trung ở khu vực khu nội thành cũ, khu vực nuôi trồng thuỷ hải sản, rừng phòng hộ ven biển và khu bảo tồn san hô Kết quả của nghiên cứu này đã góp phần vào việc quản lýtổng hợp và phát triển bền vững đới ven biển Hải Phòng
Ở Việt Nam, những nghiên cứu đánh giá về tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu cũng được thực hiện từ những năm 2000, tiêu biểu như:
Trang 31Đề tài “Nghiên cứu, đánh giá tính dễ bị tổn thương của đới duyên hải Nam Trung Bộ làm cơ sở khoa học để giảm nhẹ tai biến, quy hoạch sử dụng đất bền vững” đã được GS Mai Trọng Nhuận và nhóm nghiên cứu thực hiện trong giai đoạn 2001-2002 Trong công trình này, lần đầu tiên các tác giả đã xây dựng được phương pháp luận và quy trình đánh giá TDBTT cho đới duyên hải Qua
đó, bước đầu thiết lập được quy trình công nghệ thành lập bản đồ TDBTT của tài nguyên và môi trường đới duyên hải Nam Trung Bộ Các nghiên cứu này đã góp phần quan trọng trong công tác giảm thiểu thiệt hại do tai biến, bảo vệ tài nguyên và môi trường, quy hoạch sử dụng hợp lý lãnh thổ, lãnh hải ven bờ miền Trung, Nam Trung Bộ nói riêng và ven bờ Việt Nam nói chung
Cùng với đó, trong bối cảnh BĐKH đang là vấn đề quan tâm của toàn xã hội, GS.Mai Trọng Nhuận đã cùng các cộng sự có những nghiên cứu tổn thương
do BĐKH (áp dụng cho thành phố Hạ Long, cửa sông Hồng, Chân Mây - Lăng Cô,…) Trên cơ sở đó, tập thể tác giả cũng đã đề xuất các giải pháp nhằm sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng tránh giảm nhẹ thiên tai và thích ứng với BĐKH vùng như quy hoạch sử dụng bền vững tài nguyên môi trường (với các mô hình phát triển kinh tế bền vững nhưnông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và du lịch sinh thái, khai thác khoáng sản sạch,…), giải pháp quản lývà bảo vệ tài nguyên môi trường, giải pháp giảm thiểu thiệt hại tai biến do BĐKH
và giải pháp giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng
Một số nghiên cứu khác như đánh giá TDBTT do lũ lụt, chủ yếu tập trung vào đánh giá sự mất mát trong lĩnh vực nông nghiệp (FAO, 2004); Giảm thiểu TDBTT do lũ lụt và bão ở tỉnh Quảng Ngãi; và khả năng phục hồi của cộng đồng dân cư ở đồng bằng sông Cửu Long do tai biến thiên nhiên (chính phủ Úc
hỗ trợ thực hiện năm 2004-2009), v.v…
Năm 2008, tại hội thảo ở Quảng Ninh về “Địa chất biển Việt Nam và phát triển bền vững” nhóm công tác của Đại học Quốc gia Hà Nội (Nguyễn Thị Minh Ngọc và nnk đã trình bày báo cáo “Đánh giá mức độ tổn thương của vịnh Tiên
Trang 32Yên – Hà Cối (tỉnh Quảng Ninh), phục vụ quy hoạch sử dụng bền vững tài nguyên – môi trường”
Năm 2009, Tổng cục Môi trường, Bộ TN &MT đã triển khai dự án “Điều tra, đánh giá mức độ tổn thương tài nguyên - môi trường, khí tượng thủy văn biển Việt Nam; Dự báo thiên tai, ô nhiễm môi trường tại các vùng biển” gồm nhiều hợp phần, trong đó có “Điều tra, đánh giá tổng hợp mức độ tổn thương tài nguyên - môi trường vùng biển và đới ven biển Việt Nam, đề xuất các giải pháp quản lýphát triển bền vững” Gần đây các yếu tố gây tổn thương (các yếu tố tự nhiên và các hoạt động nhân sinh), các đối tượng bị tổn thương (dân cư, cơsở hạ tầng, khu công nghiệp, khu đô thị, các loại tài nguyên…) và khả năng ứng phó của hệ thống kinh tế xã hội đối với BĐKH cũng được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu khác Có thể nhận thấy rằng trong thời gian qua chủ đề của những nghiên cứu về tổn thương do BĐKH chủ yếu nhằm vào các đối tượng
ở vùng đồng bằng và biển ven bờ Rất ít gặp những nghiên cứu về tổn thương ở miền trung du và đồi núi của Việt Nam
Nghiên cứu “Đánh giá tính dễ bị tổn thương và các tác động của BĐKH tại Cần Thơ” do quỹ Rokefeller tài trợ năm 2009 Nghiên cứu này nhằm mục đích xác định những khu vực, những lĩnh vực và nhóm người dễ bị tổn thương nhất do BĐKH và nguyên nhân
Năm 2009, tại Công văn số 3815/BTNMT-KTTVBĐKH ngày 13/10/2009
Bộ Tài nguyên và Môi trường đã Hướng dẫn xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH Từ đó, các tỉnh thành trong cả nước, cũng như một số bộ, ngành
đã tiến hành xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH cho từng địa phương và từng ngành
Năm 2010, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường đã thực hiện và xuất bản “Các kịch bản nước biển dâng và khả năng giảm thiểu rủi ro do thiên tai tại Việt Nam” Những phát hiện chính của nghiên cứu này đó là việc xây dựng được cơ sở dữ liệu về các kịch bản nước biển dâng, tác động của nước biển dâng và xác định tính dễ bị tổn thương do nước biển dâng
Trang 33Năm 2011, với sự tài trợ của Tổ chức quốc tế UNDP, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường đã triển khai dự án “Tăng cường năng lực quốc gia ứng phó với BĐKH ở Việt Nam nhằm giảm nhẹ tác động và kiểm soát phát thải khí nhà kính” trên địa bàn các tỉnh Bình Định, Bình Thuận và Cần Thơ, trong đó nhiệm vụ đánh giá tác động, TDBTT do BĐKH ở huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định, từ đó đề xuất biện pháp thích ứng là một hợp phần của dự án trên
“Đánh giá tính dễ bị tổn thương đối với lĩnh vực nước và vệ sinh môi trường tại tỉnh Bến Tre” thực hiện bởi AECOM Asia và kết thúc năm 2011
Nghiên cứu này nêu tổng quan về TDBTT do BĐKH tại tỉnh Bến Tre, và xác định những huyện dễ bị tổn thương nhất đối với các lĩnh vực nhưtài nguyên nước, nghèo đói, các hệ thống sinh kế và cơsở hạ tầng và dịch vụ cấp nước sạch
và vệ sinh môi trường
“Nghiên cứu tác động của BĐKH đến Đồng bằng sông Cửu Long và đề xuất các giải pháp thích ứng”, dự án do Ngân hàng Phát triển Châu Á ADB tài trợ với 2 giai đoạn, giai đoạn 1 tập trung vào việc đánh giá các tác động và TDBTT do BĐKH đối với 3 lĩnh vực chính tại 2 tỉnh Kiên Giang và Cà Mau, đó là: Năng lượng và Công nghiệp, Giao thông vận thải và Quy hoạch đô thị, và Nông nghiệp và Nuôi trồng Thủy sản Giai đoạn 1 kết thúc năm 2011 Giai đoạn
2 bắt đầu năm 2012 và kết thúc năm 2013, tập trung vào việc xác định các biện pháp thích ứng nhằm giảm thiểu các tác động của BĐKH và lựa chọn ra những
dự án ưu tiên để thu hút vốn đầu tư
“Nghiên cứu Đánh giá TDBTT đối với BĐKH của thành phố Cần Thơ”
thuộc gói thầu Tư vấn xác định các phương án thích ứng và phòng ngừa tác động của Biến đổi khí hậu cho Thành phố Cần Thơ, dự án Tăng cường năng lực quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam nhằm giảm nhẹ tác động và kiểm soát phát thải khí nhà kính” (thuộc Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường) Nghiên cứu này tập trung đánh giá TDBTT do BĐKH đối với các lĩnh vực cụ thể của TP Cần Thơ như dân cư, nông nghiệp, công nghiệp và dịch
vụ, cơsở hạ tầng và vấn đề vệ sinh môi trường Mức độ tổn thương ở hiện tại và
Trang 34tương lai (ứng với các mốc thời gian năm 2020, năm 2050 và năm 2100) sẽ được đánh giá
Dự án “Nghiên cứu thiên tai do biến đổi khí hậu và xây dựng hệ thống thông tin nhiều bên tham gia nhằm giảm thiểu tính dễ bị tổn thương ở Bắc Trung
Bộ Việt Nam (CPIS)” do DANIDA, Bộ Ngoại Giao Đan Mạch tài trợ với thời gian thực hiện 36 tháng từ 2012 đến 2015 Một trong những vấn đề đặt ra của dự
án là Nghiên cứu đánh giá TDBTT nhằm nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng cưdân vùng đồng bằng và ven biển các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình nói riêng và ở Việt Nam nói chung
Dự án HRCD - Thành phố Hải Phòng tăng cường năng lực chống chịu
với biến đổi khí hậu & rủi ro thiên tai với mục tiêu tổng thể của dự án là "Tăng
cường năng lực chống chịu của cộng đồng địa phương tại các khu vực dễ bị tổn thương tại thành phố Hải Phòng trước rủi ro thiên tai và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu" Dự án tập trung xây dựng năng lực giảm nhẹ thiên tai rủi ro (DRR/ GN RRTT) và thích ứng với biến đổi khí hậu (CCA/ TƯ BĐKH) cho trẻ em, các DN VVN, các đối tác và cộng đồng trong các khu vực được lựa chọn tại thành phố Hải Phòng thông qua nâng cao nhận thức về rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu, nâng cao năng lực địa phương để ứng phó với rủi ro thiên tai, cải thiện các cơ hội sinh kế cũng như giảm nhẹ tình trạng dễ bị tổn thương và rủi ro đối với các hoạt động sinh kế của người dân địa phương và khu vực doanh nghiệp nhỏ trong cộng đồng mục tiêu [12][13]
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để đánh giá TDBTT của một hệ thống kinh tế- xã hội - môi trường do BĐKH và khả năng chống chịu, thích ứng của nó được áp dụng vào Việt Nam Dù với những cách tiếp cận khác nhau nhưng cũng đều xem xét tới cả những yếu tố bên trong và bên ngoài hệ thống trong việc đánh giá TDBTT do BĐKH Nhìn chung hiện nay, Việt Nam đã có khá nhiều nghiên cứu về đánh giá TDBTT do BĐKH Tuy nhiên, chúng ta cần thêm những nghiên cứu chuyên sâu đánh giá toàn diện tác động của BĐKH đến tất cả các lĩnh vực tự nhiên và kinh tế-xã hội cho từng khu vực, địa phương cụ thể của
Trang 35Việt Nam Vì vậy, hướng nghiên cứu này trong thời gian tới cần phải được tiếp tục triển khai
1.2.3 Các nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương trong lĩnh vực khai thác
và chế biến thủy sản ở Hải Phòng
Trong báo cáo tổng kết kết quả nghiên cứu của đề tài cấp nhà nước
BĐKH25 – Lượng giá kinh tế do biến đổi khí hậu đối với thủy sản miền bắc và
đề xuất giải pháp giảm thiểu thiệt hại do biến đổi khí hậu do trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN chủ trì, đã đưa ra bản đồ mức độ tổn thương do biến đổi khí hậu của khai thác thủy sản của các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh tới Thừa Thiên Huế (hình 1.3) Chúng ta có thể thấy một Hải Phòng có mức độ tổn thương trung bình[8]
Đồng thời, kết quả của đề tài cũng đưa ra Bản đồ lượng giá tổn thất của khai thác thủy sản các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến Thừa Thiên Huế Hầu hết các tỉnh đều chịu ảnh hưởng nặng nề từ biến đổi khí hậu tới khai thác thủy sản, đặc biệt là các khu vực ven biển (hình 1.4)
Trang 36Hình 1.3 Bản đồ mức độ tổn thương do biến đổi khí hậu của khai thác thủy sản của các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh tới Thừa Thiên Huế [8]
Trang 37Hình 1.4 Bản đồ lƣợng giá tổn thất của khai thác thủy sản của các tỉnh ven
biển từ Quảng Ninh tới Thừa Thiên Huế [8]
Trang 38Trong văn kiện dự án HRCD Thành phố Hải Phòng tăng cường năng lực chống chịu với biến đổi khí hậu & rủi ro thiên tai (tổ chức Tầm nhìn Thế giới – World Vision) cũng xác định thị trấn Cát Hải là một trong những địa phương có tính dễ bị tổn thương cao nên cũng được lựa chọn là một trong số các địa phương được lựa chọn để triển khai dự án Việc lựa chọn này đã được thảo luận
kỹ lưỡng với chính quyền địa phương và các cơ quan/ dự án liên quan hiện cómặt trên địa bàn Hải Phòng như MCD/ OXFAM, Tổ chức Cứu trợ Trẻ em, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam để tránh chồng chéo và tối đa hóa ảnh hưởng
Những trao đổi và tiếp xúc ban đầu với các dự án, đơn vị liên quan nói trên cho thấy có nhiều tiềm năng để phối hợp và hợp tác cũng như nhân rộng các mô hình thành công trong quá trình thực hiện Dự án HRCD
Dự án HRCD đang triển khai với mong muốn những người dân địa phương sẽ được hưởng lợi trực tiếp và gián tiếp từ các hoạt động nâng cao nhận thức, tập huấn, các hoạt động giảm nhẹ v.v những hoạt động này sẽ dần dần tăng cường năng lực của người dân đối với công tác GN RRTT – TƯ BĐKH, cũng như bảo vệ tài sản/ môi trường/ nền kinh tế của họ một cách bền vững
Nguồn thu nhập chính của các nhóm đối tượng hưởng lợi hiện nay chủ yếu từ sản xuất nuôi trồng thủy sản, đánh bắt hải sản, các doanh nghiệp nhỏ (sản phẩm dệt may, gỗ, chế biến thủy, hải sản, sản xuất muối, nuôi trồng thủy sản như nuôi lồng, bè cá, tôm, đầm ngao, đánh bắt hải sản và nuôi trồng và chế biến thủy sản)
Dự án HRCD cũng nhắm vào các cộng đồng ngư dân đánh bắt theo mùa
vụ, vốn từ các huyện khác của Hải Phòng và các tỉnh khác đến với huyện Cát Hải để đáp ứng các nhu cầu về hậu cần và tìm nơi tránh, trú bão Trong khi các nhóm đối tượng mục tiêu sẽ được hưởng lợi từ các hoạt động xây dựng năng lực
để đối phó tốt hơn với các rủi ro thiên tai và các tác động của biến đổi khí hậu, các gia đình dễ bị tổn thương được lựa chọn cũng sẽ được hỗ trợ các hoạt động sinh kế thay thế như nuôi trồng thủy sản, chế biến các sản phẩm thủy hải sản một cách bền vững, được giới thiệu và đa dạng hóa các cây hàng hóa thích ứng cao (như trồng thanh long, hoa hồng v.v…) và chăn nuôi gia súc & gia cầm để
Trang 39tăng khả năng chống chịu của họ Điều Phối viên về Phát triển Kinh tế của WVV cũng như các chuyên gia có liên quan sẽ được huy động trong thiết kế của các hoạt động này, để các sản phẩm và hoạt động hỗ trợ sinh kế có thể tiếp cận tới thị trường và nhu cầu
Dự án HRCD đã đưa ra một số kết quả đánh giá tính dễ bị tổn thương của khu vực thị trấn Cát Hải, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng trong báo cáo Đánh giá HVCA của dự án HRCD do nhóm Ecode thực hiện (ThS Hoàng Thị Ngọc Hà, GS.TSKH Trương Quang Học, Ths Lưu Thị Toán, Ths Vũ Thục Hiền) trên cơ sở yêu cầu của WV thì chủ yếu đánh giá chỉ mới dừng lại ở mức tổng quan của địa phương (đánh giá của các cán bộ huyện, thị trấn)
Hình 1.5 Tổng hợp kết quả đánh giá hiểm họa địa bàn thị trấn Cát Hải [12]
Trang 40Nghành nghề: NTTS, KTTS và chế biến thủy sản là những ngành nghề chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai, đặc biệt là 2 hiện tượng bão và lụt
Hình 1.6 Bản đồ hiểm họa thiên tai thị trấn Cát Hải [12]