Trên thế giới có các thuật ngữ như city, town trong tiếng Anh, urbanized area, urban cluster trong tiếng Mỹ… Trong tiếng Việt có các từ chỉ đô thị như: thị tứ, thị trấn, thị xã, thành ph
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
TRƯƠNG VĨNH THỤY
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ SINH KẾ NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG BÌNH HƯNG HÕA B, QUẬN BÌNH TÂN,
TP HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2004 - 2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA ĐỊA LÝ -*** -
TRƯƠNG VĨNH THỤY
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ SINH KẾ NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG BÌNH HƯNG HÕA
B, QUẬN BÌNH TÂN, TP HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2004 - 2013
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Trang 3Tiếp đến em bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến TS Mẫn Quang Huy, người thầy đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ trực tiếp em hoàn thành luận văn này
Em cũng xin phép được gửi lời cảm ơn đến Lãnh đạo Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất quận Bình Tân, Phòng Thống kê quận, Ủy ban nhân dân phường Bình Hưng Hòa B cùng các anh chị em đồng nghiệp cũng như các hộ dân tại phường Bình Hưng Hòa B đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để em thu thập, điều tra số liệu
và thực hiện luận văn này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn ở bên và động viên
em để em có điều kiện tốt nhất để hoàn thành được luận văn
Em xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Trương Vĩnh Thụy
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến thay đổi sử dụng đất và sinh kế người dân trên địa bàn phường Binh Hưng Hòa B, Quận Bình Tân, Tp Hồ Chí Minh giai đoạn 2004 – 2013” được thực hiện từ tháng 04/2014 đến
tháng 12/2014
Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Các thông tin này
đã được chỉ rõ nguồn gốc, có một số thông tin thu thập từ điều tra thực tế trên một số phường, số liệu đã được tổng hợp và xử lý
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trương Vĩnh Thụy
Trang 51.1.1 Khái niệm, phân loại và chức năng của đô thị: 4 1.1.2 Vai trò của đô thị đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 10 1.1.3 Khái niệm, một số vấn đề của đô thị hóa 11
1.2 Những ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất, cơ cấu kinh tế 16
1.2.1 Đô thị hóa làm thay đổi nhu cầu sử dụng đất 16
1.3 Đặc điểm quá trình đô thị hóa trên thế giới và Việt Nam hiện nay 17
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 27 2.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thiên nhiên 27
Trang 6CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN
SỬ DỤNG ĐẤT VÀ SINH KẾ NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 34
3.1 Đánh giá hiện trạng sử dụng, biến động đất đai trên địa phường Bình Hưng Hòa B
3.1.2 Đánh giá hiện trạng cơ cấu đất đai tại phường Bình Hưng Hòa B qua công tác
3.2 Đánh giá các dự án đang triển khai trên địa bàn phường Bình Hưng Hòa B, quận
3.2.1 Dự án khu dân cư Vĩnh Lộc, phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân 40
3.3 Công tác quy hoạch, kế hoạch trên địa bàn phường Bình Hưng Hòa B 50
3.4 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sinh kế người dân tại phường Bình Hưng
3.4.3 Ảnh hưởng của quá trình đô thị đến sinh kế người dân trên địa bàn phường
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Đô thị hóa là quá trình tất yếu diễn ra không chỉ đối với nước ta mà còn đối với các nước trên thế giới, nhất là các nước châu Á Nền kinh tế càng phát triển thì quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh Đô thị hóa góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội của khu vực, nâng cao đời sống nhân dân Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, quá trình đô thị hóa cũng phát sinh nhiều vấn
đề cần giải quyết như: vấn đề việc làm cho nông dân bị mất đất, phương pháp đền
bù khi giải phóng mặt bằng, cách thức di dân, dãn dân Nếu không có một chiến lược
và giải pháp cụ thể, chung ta sẽ gặp nhiều vướng mắc và lúng túng trong quá trình giải quyết, đôi khi làm nảy sinh những vấn đề ngày càng phức tạp Trong những năm qua, tốc độ đô thị hóa ở nước ta diễn ra khá nhanh
Quận Bình Tân là đô thị mới được thành lập theo nghị định 130/NĐ-CP ngày 05/11/2003 của Chính Phủ [1] do tách từ Thị trấn An Lạc, xã Bình Hưng Hoà, xã Bình Trị Đông và xã Tân Tạo của huyện Bình Chánh trước đây Trong những năm gần đây tốc độ đô thi hoá trên địa bàn quận diễn ra khá nhanh trong đó điển hình là phường Bình Hưng Hòa B Hiện nay nhiều mặt kinh tế xã hội trên địa bàn quận Bình Tân nói chung và phường Bình Hưng Hòa B nói riêng cũng đang phát triển nhanh theo hướng đô thị hóa
Do đó, việc nghiên cứu ảnh hưởng những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hóa, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm giải quyết vấn đề một cách cơ bản là việc làm cần thiết Đó là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình đô thị hóa nhằm ổn định đời sống người dân, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn phường Bình Hưng Hòa B nói riêng, rộng hơn là địa bàn quận Bình Tân Xuất phát từ thực tiễn ấy,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến thay đổi sử dụng đất và sinh kế người dân trên địa bàn phường Binh Hưng Hòa B, Quận Bình Tân, Tp Hồ Chí Minh giai đoạn 2004 – 2013”
nhằm đánh giá những ảnh hưởng của quá trình đô thị đến sự thay đổi sử dụng đất và đời sống người dân trên địa bàn phường từ khi thành lập quận đến năm 2013, qua
Trang 8đó đề xuất những giải pháp góp phần tạo sự cân bằng giữa quá trình đô thị hóa và
ổn định cuộc sống người dân
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá hiện trạng sử dụng đất, biến động đất đai trong quá trình đô thị hóa
và những tác động đến đời sống người dân trên địa bàn phường Bình Hưng Hòa B
Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sinh kế của người dân trên địa bàn phường Bình Hưng Hòa B
Đề xuất một số giải pháp nhằm tạo sự cân bằng cho cuộc sống người dân trong quá trình đô thị hóa
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân
Nghiên cứu quá trình đô thị hóa và sự thay đổi sử dụng đất tại phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân
Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sinh kế người dân địa bàn phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tiến hành đề xuất một số giải pháp sử dụng đất có hiệu quả góp phần hướng quá trình đô thị hóa cho mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội bền vững trên địa bàn phường
3 Phạm vi nghiên cứu 3.1 Phạm vi không gian
- Phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân, Tp Hồ Chí Minh
Qua đó cũng tác động rất lớn đến đời sống người dân trong khu vực Vì lý do đó,
Trang 9phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân được chọn làm điểm nghiên cứu của đề tài
4.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu liên quan đến địa bàn nghiên cứu
- Tài liệu thứ cấp: Là tài liệu sẵn có, được thu thập qua các hồ sơ tài liệu liên quan của quận, phường Đây là số liệu chủ yếu được dùng làm thông tin cho việc phân tích khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn về đô thị hóa, đặc điểm địa bàn nghiên cứu và thực trạng quá trình đô thị hóa ở quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
- Tài liệu sơ cấp: Là tài liệu chưa công bố, được thu thập thông qua việc phỏng vấn trực tiếp hộ dân và cán bộ chính quyền địa phương dựa trên bảng câu hỏi được chuẩn bị sẵn
4.2.3 Phương pháp kế thừa
Nghiên cứu tham khảo kế thừa kết quả của các dự án nghiên cứu, các đề tài nghiên cứu liên quan đến ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc sử dụng đất nông
nghiệp 4.2.4 Phương pháp tổng hợp, phân tích và dự báo
Tổng hợp phân tích tài liệu nghiên cứu dựa vào thực trạng đô thị hóa và ảnh hưởng của đô thị hóa đến hướng sử dụng đất trong các hộ dân phường Bình Hưng Hòa B;
căn cứ vào định hướng, mục tiêu cụ thể của địa phương, từ đó đưa ra dự báo về quy
mô diện tích, quy mô dân số, cơ cấu kinh tế, phát triển không gian đô thị, mức độ và tốc độ đô thị hóa ở Bình Tân trong những năm tới
4.2.5 Phương pháp điều tra xã hội học
Trên cơ sở xây dựng bảng câu hỏi có nội dung hợp lý, tác giả đã khảo sát lấy ý kiến của nhân dân trên địa bàn nghiên cứu Bảng hỏi được sử dụng để thu thập thông tin định lượng chung về sự biến đổi mức sống, thu nhập, cơ cấu lao động nghề nghiệp
ở một số địa bàn khu vực Việc chọn hộ điều tra được thực hiện theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống, đảm bảo tính khách quan Tổng số phiếu phát ra là 50 phiếu, tổng số phiếu thu về là 50 phiếu
4.2.6 Phương pháp chuyên gia
Kinh nghiệm thực tiễn của các chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực quản lý đất đai, quy hoạch sử dụng đất ở Trung ương và địa phương, các viện, trường
Trang 10CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN SỬ DỤNG
ĐẤT VÀ SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN
1.1 Cơ sở lý luận về đô thị hóa 1.1.1 Khái niệm, phân loại và chức năng của đô thị:
1.1.1.1 Định nghĩa về đô thị:
Theo Trần Văn Tuấn (2006) [2] Đô thị là từ được cấu thành bởi hai bộ phận:
phần đô và phần thị Phần “đô” chỉ chức năng hành chính, phần “thị’ có nghĩa là nơi buôn bán, biểu hiện của phạm trù hoạt động kinh tế Hai bộ phận này có mối quan
hệ đặc biệt, tương tác hỗ trợ, bổ sung cho nhau trong quá trình hình thành và phát triển của một đô thị Trong xã hội ngày nay, người ta chú ý nhiều đến tính chất “thị”
hơn tính chất “đô”, nghĩa là coi trọng yếu tố kinh tế hơn
Có rất nhiều thuật ngữ để chỉ đô thị Trên thế giới có các thuật ngữ như city, town (trong tiếng Anh), urbanized area, urban cluster (trong tiếng Mỹ)… Trong tiếng Việt có các từ chỉ đô thị như: thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố, thành thị [3]
Ở Việt Nam, khái niệm đô thị có sự thay đổi theo thời gian, theo định nghĩa tại Thông tư số 34/2009/TT-BXD của Bộ Xây Dựng quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 05 năm 2009 có nêu [4]: “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn
1.1.1.2 Phân loại đô thị:
Theo quy định tại Điều 6 của Nghị định số 42/2009/NĐ-CP về phân loại đô thị của Chính phủ thì các tiêu chuẩn cơ bản để phân loại đô thị gồm:
- Chức năng đô thị
Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò
Trang 11thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định
- Quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4 nghìn người trở lên
- Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động
- Hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng xã hội
cư đô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên
Cũng theo quy định tại Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 05 năm
2009 thì hiện nay ở nước ta dựa trên các tiêu chí tổng hợp về chức năng đô thị, quy
mô dân số toàn đô thị, mật độ dân số, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp, hê thống công trình hạ tầng đô thị và kiến trúc cảnh quan đô thị, đô thị được phân ra thành 6 loại:
đô thị đặc biệt, đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị loại III, đô thị loại IV và đô thị loại
V
- Đô thị loại đặc biệt:
1 Chức năng đô thị là Thủ đô hoặc đô thị có chức năng là trung tâm kinh tế, tài chính, hành chính, khoa học – kỹ thuật, giáo dục – đào tạo, du lịch, y tế, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế -
xã hội của cả nước
Trang 122 Quy mô dân số toàn đô thị từ 5 triệu người trở lên
3 Mật độ dân số khu vực nội thành từ 15.000 người/km2 trở lên
4 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu đạt 90% so với tổng số lao động
5 Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị a) Khu vực nội thành: được đầu tư xây dựng đồng bộ và cơ bản hoàn chỉnh, bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh môi trường đô thị; 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường;
b) Khu vực ngoại thành: được đầu tư xây dựng cơ bản đồng bộ mạng lưới hạ tầng
và các công trình hạ tầng kỹ thuật đầu mối phục vụ đô thị; hạn chế tối đa việc phát triển các dự án gây ô nhiễm môi trường; mạng lưới công trình hạ tầng tại các điểm dân cư nông thôn phải được đầu tư xây dựng đồng bộ; phải bảo vệ những khu vực đất đai thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, vùng xanh phục vụ đô thị và các vùng cảnh quan sinh thái
6 Kiến trúc, cảnh quan đô thị: thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị Các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên 60% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị,
có các không gian công cộng, phục vụ đời sống tinh thần nhân dân, có các tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu mang ý nghĩa quốc tế và quốc gia
- Đô thị loại I
1 Chức năng đô thị
Đô thị trực thuộc Trung ương có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước
Đô thị trực thuộc tỉnh có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một hoặc một số vùng lãnh thổ liên tỉnh
2 Quy mô dân số đô thị
Trang 13a) Đô thị trực thuộc Trung ương có quy mô dân số toàn đô thị từ 1 triệu người trở lên;
b) Đô thị trực thuộc tỉnh có quy mô dân số toàn đô thị từ 500 nghìn người trở lên
3 Mật độ dân số bình quân khu vực nội thành a) Đô thị trực thuộc Trung ương từ 12.000 người/km2 trở lên;
b) Đô thị trực thuộc tỉnh từ 10.000 người/km2 trở lên
4 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành tối thiểu đạt 85% so với tổng
số lao động
5 Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị a) Khu vực nội thành: nhiều mặt được đầu tư xây dựng đồng bộ và cơ bản hoàn chỉnh; bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh môi trường; 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường;
b) Khu vực ngoại thành: nhiều mặt được đầu tư xây dựng đồng bộ và cơ bản hoàn chỉnh; hạn chế việc phát triển các dự án gây ô nhiễm môi trường; mạng lưới công trình hạ tầng tại các điểm dân cư nông thôn phải được đầu tư xây dựng đồng bộ; bảo
vệ những khu vực đất đai thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, vùng xanh phục
vụ đô thị và các vùng cảnh quan sinh thái
6 Kiến trúc, cảnh quan đô thị: thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị Các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên 50% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị
Phải có các không gian công cộng, phục vụ đời sống tinh thần nhân dân và có các tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu mang ý nghĩa quốc gia
- Đô thị loại II:
1 Chức năng đô thị
Đô thị có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một vùng lãnh thổ liên tỉnh
Trường hợp đô thị loại II là thành phố trực thuộc Trung ương thì phải có chức năng
là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo,
Trang 14du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước
2 Quy mô dân số toàn đô thị phải đạt từ 300 nghìn người trở lên
Trong trường hợp đô thị loại II trực thuộc Trung ương thì quy mô dân số toàn đô thị phải đạt trên 800 nghìn người
3 Mật độ dân số khu vực nội thành
Đô thị trực thuộc tỉnh từ 8.000 người/km2 trở lên, trường hợp đô thị trực thuộc Trung ương từ 10.000 người/km2 trở lên
4 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành tối thiểu đạt 80% so với tổng
số lao động
5 Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị a) Khu vực nội thành: được đầu tư xây dựng đồng bộ và tiến tới cơ bản hoàn chỉnh;
100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải được áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường;
b) Khu vực ngoại thành: một số mặt được đầu tư xây dựng cơ bản đồng bộ; mạng lưới công trình hạ tầng tại các điểm dân cư nông thôn cơ bản được đầu tư xây dựng;
hạn chế việc phát triển các dự án gây ô nhiễm môi trường; bảo vệ những khu vực đất đai thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, vùng xanh phục vụ đô thị và các vùng cảnh quan sinh thái
6 Kiến trúc, cảnh quan đô thị: thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị Các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên 40% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị
Phải có các không gian công cộng, phục vụ đời sống tinh thần nhân dân và có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu mang ý nghĩa quốc gia
- Đô thị loại III:
1 Chức năng đô thị
Đô thị là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, hành chính, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh Có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng trong tỉnh, một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh
Trang 152 Quy mô dân số toàn đô thị từ 150 nghìn người trở lên
3 Mật độ dân số khu vực nội thành, nội thị từ 6.000 người/km2 trở lên
4 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành, nội thị tối thiểu đạt 75% so với tổng số lao động
5 Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị a) Khu vực nội thành: từng mặt được đầu tư xây dựng đồng bộ và tiến tới cơ bản hoàn chỉnh; 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải được áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường;
b) Khu vực ngoại thành: từng mặt được đầu tư xây dựng tiến tới đồng bộ; hạn chế việc phát triển các dự án gây ô nhiễm môi trường; mạng lưới công trình hạ tầng tại các điểm dân cư nông thôn cơ bản được đầu tư xây dựng; bảo vệ những khu vực đất đai thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, vùng xanh phục vụ đô thị và các vùng cảnh quan sinh thái
6 Kiến trúc, cảnh quan đô thị: thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị Các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên 40% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị,
có các không gian công cộng, phục vụ đời sống tinh thần nhân dân và có công trình kiến trúc tiêu biểu mang ý nghĩa vùng hoặc quốc gia
- Đô thị loại IV
1 Chức năng đô thị
Đô thị là trung tâm kinh tế, văn hóa, hành chính, khoa học – kỹ thuật, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu của một vùng trong tỉnh hoặc một tỉnh Có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng trong tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với một tỉnh
2 Quy mô dân số toàn đô thị từ 50 nghìn người trở lên
3 Mật độ dân số khu vực nội thị từ 4.000 người/km2 trở lên
4 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thị tối thiểu đạt 70% so với tổng số lao động
5 Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị
Trang 16a) Khu vực nội thành: đã hoặc đang được xây dựng từng mặt tiến tới đồng bộ và hoàn chỉnh; các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải được áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường;
b) Khu vực ngoại thành từng mặt đang được đầu tư xây dựng tiến tới đồng bộ; phải bảo vệ những khu vực đất đai thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, vùng xanh phục vụ đô thị và các vùng cảnh quan sinh thái
6 Kiến trúc, cảnh quan đô thị: từng bước thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị
- Đô thị loại V
1 Chức năng đô thị
Đô thị là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về kinh tế, hành chính, văn hóa, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện hoặc một cụm xã
2 Quy mô dân số toàn đô thị từ 4 nghìn người trở lên
3 Mật độ dân số bình quân từ 2.000 người/km2 trở lên
4 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tại các khu phố xây dựng tối thiểu đạt 65% so với tổng số lao động
5 Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị: từng mặt đã hoặc đang được xây dựng tiến tới đồng bộ, các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải được áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường
6 Kiến trúc, cảnh quan đô thị: từng bước thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị
1.1.2 Vai trò của đô thị đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Đô thị thường đóng vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, thương mại, văn hoá của xã hội; là sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ
sở vật chất kỹ thuật và văn hoá [5]
Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, là điều kiện cho giao thương và sản xuất phát triển, tạo điều kiện thúc ñẩy Công nghiệp hóa nhanh chóng đô thị tối
ưu hoá việc sử dụng năng lượng, con người và máy móc, cho phép vận chuyển nhanh và rẻ, tạo ra thị trường linh hoạt, có năng suất lao động cao Các đô thị tạo
Trang 17điều kiện thuận lợi phân phối sản phẩm và phân bố nguồn nhân lực giữacác không gian đô thị, ven đô, ngoại thành và nông thôn [6]
Đô thị có vai trò to lớn trong việc tạo ra thu nhập quốc dân của cả nước
đô thị luôn phải giữ vai trò đầu tàu cho sự phát triển, dẫn dắt các cộng
đồng nông thôn đi trên con đường tiến bộ và văn minh 1.1.3 Khái niệm, một số vấn đề của đô thị hóa
Đô thị hóa là một phạm trù kinh tế xã hội, là quá trình chuyển hóa và vận động phức tạp mang tính quy luật, là quá trình phổ biến diễn ra trên quy mô toàn cầu, mang tính chất của sự phát triển kinh tế xã hội trong thời đại
Theo nghĩa hẹp: quá trình biến nông thôn thành đô thị , sự phát triển thành phố và việc nâng cao vai trò của nó trong đời sống xã hội [7] Theo nghĩa rộng: quá trình diễn thế về kinh tế xã hội – văn hóa – không gian gắn liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, trong đó diễn ra sự phát triển nghề nghiệp mới, sự dịch chuyển
cơ cấu lao động, sự phát triển đời sống văn hóa, sự chuyển đổi lối sống và sự mở rộng phát triển không gian thành hệ thống đô thị, song song với tổ chức bộ máy hành chính quân sự [8]
Khái niệm “đô thị hóa” được sử dụng rộng rãi trong nhiều chuyên ngành khoa học cũng như trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội Chính vì vậy, dưới mỗi một quan điểm tiếp cận, đô thị hóa lại được hiểu theo những nội dung khác nhau
- Trên thế giới + Theo Pivôvarov - Viện Địa lý thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô thì:
Đô thị hóa là một quá trình kinh tế xã hội toàn thế giới và những kết quả của
nó Biểu hiện ở sự mở rộng lãnh thổ thành phố, sự tập trung dân cư, sự thay đổi các quan hệ xã hội
Đô thị hóa là quá trình tập trung đẩy mạnh và đa dạng hóa những chức năng phi nông nghiệp, sự mở rộng lối sống thành thị, các hình thức cư trú tiến bộ, sự phát triển giao dịch, nền văn hóa thành thị
Đô thị hóa đi đôi với việc tăng dân số đô thị, tăng cường mức độ tập trung dân cư vào các thành phố lớn, sự mở rộng không ngừng của lãnh thổ thành phố
Đô thị hóa là đối tượng nghiên cứu khoa học dưới nhiều khía cạnh khác nhau trên nhiều lĩnh vực Nhưng biểu hiện đặc biệt mạnh mẽ trên khía cạnh địa lý thông
Trang 18qua các yếu tố như là: Thay đổi điều kiện sống của nhân dân trong phát triển cấu trúc ngành và cấu trúc lãnh thổ của nền kinh tế và tổ chức lãnh thổ xã hội Sự quan tâm của địa lý tới quá trình đô thị hóa có nguồn gốc sâu xa vì đặc trưng cho quá trình này là sự biểu hiện địa lý và cơ sở địa lý rất rõ rệt Việc giải thích khía cạnh khoa học cơ cấu và những đặc điểm của quá trình đô thị hóa đòi hỏi phải là khía cạnh địa lý, vì nó là một dạng không gian quan trọng nhất của sự tiến hóa kinh tế -
xã hội và quan hệ hết sức chặt chẽ với sự phân bố địa lý lao động [14]
+ Như vậy có thể nói, “Đô thị hóa thực chất là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và cơ cấu xã hội với các đặc trưng như sau:
Một là: Hình thành và mở rộng quy mô đô thị với cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại, dẫn đến chuyển dịch cơ cấu từ nông nghiệp là chủ yếu sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ
Hai là: Tăng nhanh dân số đô thị trong tổng số dân cư, dẫn đến thay đổi cơ cấu lao động và sự chênh lệch giữa các vùng với nhau và giữa khu vực đô thị với khu vực nông thôn
Ba là: Chuyển từ lối sống không tập trung ở khu vực nông thôn (mật độ dân
cư thấp) sang phương thức sống tập trung ở khu vực thành thị (mật độ dân cư cao)
Bốn là: Chuyển từ lối sống nông thôn sang lối sống đô thị, từ văn hóa làng xã sang văn hóa đô thị, từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp” [7]
Xét về khía cạnh dân cư - dân số thì đô thị hóa là quá trình tập trung dân cư vào các đô thị và sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị do yêu cầu của công nghiệp hóa [1]
+ Dưới góc độ tổng thể, Phạm Hùng Cường cho rằng: “Đô thị hóa là một hiện
tượng kinh tế - xã hội phức tạp, diễn ra trên một không gian rộng lớn mà người ta
có thể biểu thị nó thông qua các yếu tố:
- Sự tăng nhanh của tỷ lệ dân số đô thị trong tổng số dân
- Sự tăng lên của số lượng các đô thị đồng thời sự mở rộng của không gian đô thị
- Sự chuyển hóa lao động từ đơn giản sang phức tạp, từ công cụ thô sơ sang tinh vi, cũng như là từ khu vực I (nông - lâm - ngư) sang khu vực II (công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp) và khu vực III (quản lý, nghiên cứu, dịch vụ)
Trang 19- Sự chuyển hóa về lối sống từ sống dàn trải (mật độ dân cư thấp) sang sự tập trung dân cư cao (mật độ dân cư cao), từ điều kiện hạ tầng kinh tế đơn giản sang phức tạp
và có thể nảy sinh nhiều yếu tố, được coi là những hậu quả của quá trình đô thị hóa như: Sự khan hiếm nhà cửa, sự gia tăng giá đất xây dựng, sự nảy sinh ngày càng nhiều các loại bệnh xã hội, sự gia tăng các khu ổ chuột, nạn ô nhiễm môi trường”
[3]
1.1.3.1 Phân loại đô thị hóa
- Đô thị hóa thay thế: Là khái niệm chỉ quá trình đô thị hóa diễn ra trong đô thị Ở đây củng có sự di dân, nhưng là từ trung tâm ra ngoại thành hoặc vùng ven đô Quá trình này cũng có thể là sự chỉnh trang, nâng cấp đô thị, đáp ứng những yêu cầu mới
- Đô thị hóa cưỡng bức: Là khái niệm dùng để chỉ sự di chuyển dân cư từ nông thôn
ra thành thị Đặc điểm của đô thị hóa cưỡng bức là không gian kiến trúc không được
mở rộng theo quy hoạch mang tính tự phát cao Các nhu cầu của dân nhập cư không được đáp ứng Đô thị trở nên quá tải, nhiều hiện tượng tiêu cực phát sinh
- Đô thị hóa ngược: Là khái niệm dùng để chỉ sự di dân từ đô thị lớn sang đô thị nhỏ, hoặc từ đô thị trở về nông thôn Hiện tượng này còn được một số học giả gọi là
“sự phục hưng nông thôn” Phát triển đến một lúc nào đó bằng các chính sách của mình, các Chính phủ sẽ điều chỉnh hướng vào sự phát triển nông thôn Theo Lê Dung Phong [9] Quá trình này sẽ góp phần san bằng khoảng cách về chất lượng sống giữa nông thôn và thành thị
Quá trình đô thị hóa trên thế giới có thể phân chia làm 2 loại bao gồm:
Quá trình đô thị hóa ở các nước phát triển: đặc trưng cho sự phát triển này là
nhân tố chiều sâu và sự tận dụng tối đa những lợi ích, hạn chế những ảnh hưởng xấu của quá trình đô thị hóa Đô thị hóa diễn ra do nhu cầu công nghiệp phát triển mang tính tự nhiên
Quá trình đô thị hóa (ĐTH) ở các nước đang phát triển: có đặc trưng là
ĐTH không đi đôi với công nghiệp hóa (CNH) (trừ một số nước công nghiệp mới - NIC) Sự bùng nổ dân số đô thị quá tải không mang tính tự nhiên mà do sức hấp dẫn
từ sự cách biệt sâu sắc về chất lượng cuộc sống giữa đô thị và nông thôn
Các đặc trưng của quá trình đô thị hóa:
Trang 20Một là: Số lượng các thành phố kể cả các thành phố lớn tăng nhanh, đặc biệt
là thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai
Hai là: Quy mô dân số tập trung ở các thành phố ngày càng lớn, số lượng thành phố có trên một triệu dân ngày càng nhiều
Ba là: Hình thành và phát triển nhiều thành phố gần nhau về mặt địa lý, liên quan chặt chẽ với nhau do phân công lao động đã tạo nên các vùng đô thị Thông thường vùng đô thị bao gồm một vài thành phố lớn và xung quanh chúng là các thành phố nhỏ vệ tinh
Bốn là: Dân số thành thị có xu hướng tăng nhanh do quá trình di dân nông thôn - thành thị, đang làm thay đổi tương quan dân số nông thôn và thành thị, nâng cao tỷ trọng dân thành thị trong tổng số dân
Năm là: Mức độ đô thị hóa biểu thị trình độ phát triển xã hội nối chung, song
có một đặc thù riêng của mỗi nước Đối với các nước phát triển, đô thị hóa chủ yếu diễn ra theo chiều sâu, chất lượng cuộc sống ở thành phố ngày càng hoàn thiện
Trong các nước đang phát triển, tốc độ đô thị hóa rất cao, đặc biệt trong những thập
kỷ gần đây, quá trình đô thị hóa diễn ra theo chiều rộng, đặt ra nhiều vấn đề khó khăn cần giải quyết như; đất đai, thất nghiệp, nghèo đói, ô nhiêm môi trường và tệ nạn xã hội
1.1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa
Quá trình đô thị hóa chịu sự ảnh hưởng của các nhân tố như sau:
- Điều kiện tự nhiên: Trong thời kỳ kinh tế phát triển chưa mạnh mẽ thì đô thị hóa phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Những vùng có khí hậu thời tiết tốt,
có khoáng sản, địa lí thuận lợi cho sản xuất và phát triển và các lợi thế khác sẽ có sức thu hút dân cư mạnh mẽ hơn, và do đó sẽ được đô thị hóa nhanh hơn, quy mô lớn hơn Ngược lại vùng nào kém thuận lợi hớn sẽ đô thị hóa chậm hơn và quy mô nhỏ hơn
- Điều kiện xã hội: Mỗi phương thức sản xuất sẽ có một hình thái đô thị tương ứng và do đó quá trình đô thị hóa có những đặc trưng riêng của nó Kinh tế thị trường đã mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh Sự phát triển của lực lượng sản xuất là điều kiện để công nghiệp hóa , hiện đại hóa và là tiền đề cho đô thị hóa
Trang 21- Văn hóa dân tộc: Mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa riêng và nền văn hóa
đó có ảnh hưởng đến tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội nói chung và hình thái đô thị nói riêng
- Trình độ phát triển kinh tế: Phát triển kinh tế là yếu tố có tính quyết định trong quá trình đô thị hóa Bởi nói đến kinh tế là nói đến vấn đề tài chính Để xây dựng nâng cấp hay cải tạo đô thị đòi hỏi nguồn tài chính lớn Nguồn đó có từ trong nước hay ngoài nước trình độ phát triển kinh tế thể hiện nhiều phương diện như quy mô, tốc độ tăng trưởng GDP, cơ cấu ngành của nền kinh tế, sự phát triển các thành phần kinh tế, luật pháp kinh tế, trình độ hoàn thiện của kết cấu hạ tầng, trình độ văn hóa giáo dục của dân cư, mức sống dân cư
- Tình hình chính trị: Sự ổn định chính trị là động lực thúc đẩy quá trình đô thị hóa, chính trị càng ổn định thì đô thị càng phát triển Ở Việt Nam từ sau năm 1975, tốc độ đô thị hóa ngày càng cao, các khu đô thị mới mọc lên nhanh chóng, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới với các chính sách mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần thì đô thị hóa đã tạo ra sự phát triển kinh tế vượt bậc [9]
1.1.3.3 Phân kỳ đô thị hóa:
Có những căn cứ khác nhau để phân kỳ đô thị hóa: dựa theo các mốc thay đổi chính trị xã hội trong lịch sử; dựa theo trình độ phát triển lực lượng sản xuất
Nhìn chung, quá trình đô thị hóa được phân chia thành 3 thời kỳ:
- Đô thị hóa tiền công nghiệp (Trước thế kỷ XVIII): Đô thị hóa phát triển mang đặc trưng của nền văn minh nông nghiệp Các đô thị phân tán, quy mô nhỏ, phát triển theo dạng tập trung, cơ cấu đơn giản Tính chất đô thị bấy giờ chủ yếu là hành chính, thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
- Đô thị hóa công nghiệp (đến nửa đầu thế kỷ XX): Các đô thị phát triển mạnh song song với quá trình công nghiệp hóa Cuộc cách mạng công nghiệp đã làm cho nền văn minh đô thị phát triển nhanh chóng, sự tập trung sản xuất và dân cư đã tạo nên những đô thị lớn và cực lớn Cơ cấu đô thị phức tạp hơn, đặc biệt là các thành phố mang nhiều chức năng khác nhau, như thủ đô, thành phố cảng Đặc trưng của thời
kỳ này là sự phát triển thiếu kiểm soát của các thành phố
Trang 22- Theo Nguyễn Thế Bá (2004) [10] Đô thị hóa hậu công nghiệp (từ nửa sau thế kỷ
XX đến nay): Sự phát triển của công nghệ tin học đã làm thay đổi cơ cấu sản xuất
và phương thức sinh hoạt ở các đô thị Không gian đô thị có cơ cấu tổ chức phức tạp, quy mô lớn Hệ thống tổ chức dân cư đô thị phát triển theo cụm, chùm và chuỗi
1.2 Những ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất, cơ cấu kinh tế 1.2.1 Đô thị hóa làm thay đổi nhu cầu sử dụng đất
Hiện nay diện tích đất đô thị khoảng 3 trệu km2, chiếm khoảng 2% diện tích lục địa và khoảng 13% diện tích có giá trị sử dụng cao nhưng lại là nơi tập trung đến gần một nửa dân số thế giới [3] Trong tương lai, khi quy mô dân số đô thị tăng lên thì nhu cầu mở rộng đất đai là tất yếu Việc mở rộng đất đai có được là do quá trình lấn chiếm đất nông nghiệp ở nông thôn
Đất đô thị đặc biệt có giá trị rất lớn do chức năng và tính chất sử dụng cao độ của nó Do vậy quá trình chuyển đổi chức năng từ đất nông nghiệp sang đất đô thị làm cho cơ cấu sử dụng đất thay đồi , giá trị đất đai có sự thay đổi mạnh mẽ
Các loại đất đô thị;
- Đất công nghiệp: đất xây dựng khu công nghiệp tiểu thủ công nghiệp thường được
bố trí ở ngoại ô để đảm bảo các vấn đề vệ sinh và bảo vệ môi trường
- Đất dân dụng: phục vụ cho nhu cầu xây dựng nhà ở, khu vực vui chơi giải trí, nghỉ ngơi của nhân dân, các công trình phục vụ công cộng cây xanh Diện tích đất dân dựng có xu hướng tăng lên gắn với việc nâng cao chất lượng của dân cư và quy hoạch hợp lý
- Đất thương mại, dịch vụ: là đất dành cho các trung tâm giao dịch thương mại, tài chính ngân hàng, tài chính thường tập trung ở trung tâm đô thị
Tác động của quá trình đô thị hóa đến sinh kế
1.2.2.1 Định nghĩa sinh kế: theo Từ điển Tiếng Việt thì sinh kế có thể được hiểu
một cách đơn giản như sau: Cách làm ăn để mưu sự sống
Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái niệm phát triển vào những năm đầu 1990 Tác giả Chambers và Conway (1992) định nghĩa về sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bền vững bao gồm con người, năng lực
và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ Ba khía cạnh tài sản
là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư nợ và cơ hội Sinh kế bền vững khi
Trang 23nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào
và lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai
1.2.1.2 Đô thị hóa làm thay đổi cơ cấu lao động trong các thành phần kinh tế;
Đô thị hóa là yếu tố tích cực làm biến đổi quá trình phát triển và phân bố lực lượng sản xuất từ khối kinh tế này sang khối kinh tế khác Jean Fourasties, nhà xã hội học người Pháp đã phân tích và đưa ra khái niệm về sự biến đổi của ba khu vực lao động trong các giai đoạn phát triển kinh tế xã hội và quá trình đô thị hóa
- Lao động khu vực I: Thành phần lao động sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp
Thành phần lao động này chiếm tỉ lệ cao ở thời kỳ tiền công nghiệp và giảm dần ở các giai đoạn sau, chiếm tỉ lệ thấp nhất trong ba thành phần ở giai đoạn hậu công nghiệp
- Lao động khu vực II: Bao gồm lực lượng lao động sản xuất công nghiệp Thành phần lao động phát triển rất nhanh ở giai đoạn công nghiệp hóa, chiếm tỉ lệ cao nhất trong giai đoạn hậu công nghiệp và sau đó giảm dần do sự thay thế trong lao động công nghiệp bằng tự động hóa
- Lao động khu vực III: Bao gồm các thành phần lao động khoa học và dịch vụ
Thành phần này từ chỗ chiếm tỉ lệ thấp nhất trong thời kỳ tiền công nghiệp đã tăng dần và cuối cùng chiếm tỉ lệ cao nhất trong giai đoạn văn minh khoa học kĩ thuật (giai đoạn hậu công nghiệp)
Lý thuyết ba thành phần lao động kinh tế của Fourasties có ý nghĩa rất lớn trong quá trình đô thị hóa Muốn biết trình độ phát triển lực lượng sản xuất của một quốc gia ta chỉ cần xem tỉ lệ lao động giữa ba khu vực đó Lý thuyết này cũng phù hợp với ba thời kỳ của quá trình đô thị hóa ở hầu hết các nước trên thế giới [10]
1.3 Đặc điểm quá trình đô thị hóa trên thế giới và Việt Nam hiện nay 1.3.1 Tình hình đô thị hóa trên thế giới
Quá trình đô thị hoá hiện nay mang tính toàn cầu, nó xuất hiện ở các quốc gia với chế độ xã hội, chính trị khác nhau Kết quả của quá trình đô thị hía là làm xuất hiện và phát triển nhanh các thành phố, sự mở rộng của lối sống thành thị của những dạng phân bố cư trú mới ở các miền khác nhau của thế giới, mặc dù rốt cuộc
Trang 24những hình thức và nội dung của các quá trình ấy đã biến thành phố thành môi trường sống rất khác nhau ở các nước xã hội chủ nghĩa, các nước đang phát triển và các nước tư bản chủ nghĩa phát triển
Cần phải nhấn mạnh rằng những đặc điểm của điều kiện kinh tế-xã hội và chính trị trong đó diễn ra quá trình đô thị hoá thể hiện một cách rõ rệt ở đặc tính và kết quả của quá trình này Ở các nước tư bản chủ nghĩa quá trình đô thị hoá diễn ra một cách tự phát, đồng thời khoét sâu thêm những mâu thuẫn xã hội
Việc quản lý có hiệu quả quá trình này, việc sử dụng tới mức tối đa những ưu thế và việc làm suy yếu những mặt tiêu cực của quá trình đô thị hoá có khả năng thực hiện ở các nước xã hội chủ nghĩa Nhiệm vụ quản lý quá trình đô thị hoá trước hết nhằm thiết lập những điều kiện tói ưu cho đời sống của dân cư và cho sự phát triển của nền sản xuất xã hội
Ở các nước đang phát triển quá trình đô thị hoá lúc này trở thành một trong những nhân tố quan trọng đảm bảo sự phát triển của nền văn hoá và nền kinh tế dân tộc Trên cơ sở có ảnh hưởng đến nhiều mặt phát triển kinh tế-xã hội của các nước này, kể cả sự hình thành các vùng kinh tế, sự phát triển của các quá trình dân tộc sự suy giảm của tính tích cực tôn giáo,
Đô thị hóa là hiện tượng mang tính toàn cầu và diễn ra với tốc độ ngàymột tăng, đặc biệt là ở các quốc gia kém phát triển Theo các chuyên gia nghiên cứu về
đô thị hoá thì trong tiến trình đô thị hoá nửa sau thế kỷ 20, các quốc gia kém phát triển có chung một đặc điểm là: ở giai đoạn này, tỷ trọng dân số đô thị trên tổng dân
số thấp và tốc độ phát triển dân số đô thị nhanh, nhanh hơn rất nhiều so với các quốc gia phát triển
Bảng 1.1 Tỷ lệ dân số đô thị tại các khu vực trên thế giới từ năm 1950 -2000
Trang 25Trong cùng một khoảng thời gian 50 năm từ 1950 - 2000, tỉ lệ dân số đô thị trên toàn thế giới từ 29,7% tăng lên 47,4%, khu vực kém phát triển từ 17,8% lên 40,5%, trong khi khu vực phát triển từ 54,99% lên 76,1% Theo báo cáo của Liên hiệp quốc, trong 1/4 thế kỷ tới, việc tăng dân số chỉ diễn ra ở các thành phố lớn mà phần lớn thuộc các nước kém phát triển Đến năm 2030, hơn 60% dân số thế giới sống ở các đô thị
Bảng 1.2 Quá trình thay đổi dân cư đô thị trên thế giới giai đoạn 1800-1960
Năm
Toàn bộ dân cư (triệu người)
Dân cư ở các thành phố (triệu người)
Tỷ lệ dân cư của các thành phố so với toàn bộ dân cư thế giới (%)
5 nghìn và hơn nữa
100 nghìn
và hơn nữa
5 nghìn và hơn nữa
Nguồn: Những vấn đề quy hoạch đô thị và dân cư, 1984
Quá trình đô thị hóa là một quá trình mang tính lịch sử Số lượng đô thị tăng lên vừa là chỉ tiêu chứng tỏ trình độ đô thị hóa Đặc trưng của đô thị hóa thể hiện thông qua các vấn đề: 1) dân số nông nghiệp của xã hội chuyển hóa nhanh chóng sang dân số phi nông nghiệp, dân số đô thị; 2) số lượng đô thị và dân số đô thị trong một khu vực nất định không ngừng tăng lên; 3) quy mô dân số của nhiều đô thị trong một thời kỳ nhất định tăng vọt và nâng cấp; 4) đô thị lớn, đô thị đặc biệt lớn
và khu vực đô thị không ngừng hình thành và mở rộng; 5) tỷ trọng dân số đô thị so với cả nước (hoặc khu vực) không ngừng tăng lên
Trang 261.3.2 Tình hình đô thị hóa ở Việt Nam
Việt Nam vốn là một quốc gia nông nghiệp, Đô thị hóa ở Việt Nam đã trải qua mỗi giai đoạn bộ mặt đô thị Việt Nam lại có những biến đổi nhất định
- Thời kỳ trước năm 1954:
Nửa đầu thế kỷ XX, người Pháp đã mở đầu cho quá trình ĐTH Việt Nam thông qua việc thiết lập một mạng lưới đô thị - trung tâm hành chính thương mại và công nghiệp khai thác ở cả 3 miền Bắc - Trung - Nam Tuy vậy, tốc ñộ tăng dân số mới đạt 7,5%; năm 1936 là 7,9%; 20 năm sau - năm
- Thời kỳ năm 1975 - 1989:
Trong giai đoạn này quá trình ĐTH hầu như không có biến ñộng, phản ánh nền kinh tế còn trì trệ
- Thời kỳ từ năm 1989 đến nay:
Dưới tác động của công cụ đổi mới, cải tổ nền kinh tế theo định hướng thị trường thì cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội, cơ cấu lao ñộng, nghề nghiệp cũng như những khuôn mẫu của đời sống đô thị đã và đang diễn ra những biến đổi quan trọng
Quá trình ĐTH đã có những chuyển biến nhanh hơn, đặc biệt trong những năm gần đây tình hình CNH đang diễn ra mạnh mẽ Về số lượng đô thị, năm 1990, cả nước có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ, năm 2000 có 703 ñô thị, đến năm 2010 Việt Nam đã có 743 ñô thị các loại, trong đó có hai đô thị loại đặc biệt (Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh), bốn đô thị loại 1, 13 đô thị loại 2, Có 29,5% dân số đang sống trong đô thị và dự báo tỷ lệ này sẽ ñạt đến 45% vào năm 2020
Trang 27Tuy vậy ĐTH ở Việt Nam còn ở mức thấp so với khu vực và trên thế giới ĐTH cũng làm nảy sinh những mặt tiêu cực sau:
- Việc mở rộng không gian đô thị làm giảm diện tích đất nông nghiệp Theo Hội Nông dân Việt Nam, trong quá trình xây dựng, các khu công nghiệp, khu đô thị, cơ sở hạ tầng, mỗi năm Việt Nam có gần 200 nghìn ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục ñích sử dụng, tương ứng mỗi hộ
có khoảng 1,5 lao động mất việc làm [5]
Đô thị hóa ở Việt Nam nhìn chung tương tự như Trung Quốc, Ấn Độ và đô-nê-xia cho đến cuối những năm 1970, sau đó chậm lại Trong khi Trung Quốc và In-đô-nê-xia tiếp tục thúc đẩy đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế Gần đây, do các cải cách Đổi Mới và các chính sách công nghiệp hóa theo định hướng xuất khẩu, đô thị hóa ở Việt Nam bắt đầu tăng tốc Việt Nam cũng đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, tính theo GDP trên đầu người Quá trình này trùng khớp với sự chuyển đổi cơ cấu nhanh chóng từ nền kinh tế dựa vào nông nghiệp sang một nền kinh tế chú trọng hơn đến công nghiệp và hoạt động theo định hướng xuất khẩu Tất cả những điều này cho thấy, đô thị hóa, một chỉ số phản ánh sự chuyển đổi kinh tế, có liên quan đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, cũng như bất kỳ nơi nào khác trên thế giới
In-Hình 1.1 Đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Nguồn: Ngân hàng thế giới
Liên Hợp Quốc đã dự báo rằng đến năm 2040, dân số đô thị tại Việt Nam sẽ vượt quá dân số nông thôn (Liên Hợp Quốc, 2008) Nhận thức rõ tầm quan trọng của những chuyển đổi đô thị và kinh tế sẽ xảy ra trên diện rộng tại Việt Nam, chính
Trang 28phủ đã đưa ra một Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội mới cho giai đoạn
2011-2020 với mục tiêu tiếp tục thúc đẩy công nghiệp hóa và hiện đại hóa, song song với phát triển nhanh và bền vững Chiến lược này cũng thúc đẩy sự bình đẳng giữa các nhóm dân cư trong cả nước, hướng tới một tương lai trong đó công nghiệp đóng vai trò chủ yếu và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nói tóm lại, trọng tâm của chiến lược là tập trung vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kết hợp với phát triển
xã hội toàn diện
- Dân số đô thị tăng nhanh đã làm hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị bị quá tải, đặc biệt là tình trạng yếu kém của hệ thống cấp nước, thoát nước, thu gom và xử lý chất rắn
- Tốc độ phát triển quá nhanh của đô thị đã vượt khả năng điều hành của chính quyền địa phương
- Vấn đề đói nghèo và thất nghiệp đang diễn ra ở các đô thị Sự thiếu hiểu biết của người dân kéo theo sự mất an toàn xã hội
Trước những thách thức trên, quá trình ĐTH đã ñược Chính phủ quan tâm kịp thời Ngày 23 tháng 1 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt
“định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị đến năm 2020” trong Quyết định số 10/1998/QĐ-TTg, trong đó xác ñịnh phương hướng xây dựng và phát triển các đô thị trên địa bàn cả nước và các vùng đặc trưng
Mức tăng trưởng dân số dự báo:
- Năm 2020, dân số đô thị là 46 triệu người; chiếm 45% dân số cả nước
Nhu cầu sử dụng đất đô thị:
- Năm 2020, diện tích đất đô thị là 460.000 ha, chiếm 1,4% diện tích ñất
tự nhiên cả nước
Tổ chức không gian hệ thống đô thị:
- Mạng lưới đô thị cả nước được hình thành và phát triển trên cơ sở các
đô thị trung tâm, gồm các thành phố trung tâm cấp quốc gia, cấp vùng, cấp tỉnh Các đô thị trung tâm lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh phải được tổ chức thành các chùm đô thị, có vành đai xanh bảo vệ để hạn chế tối
đa sự tập trung dân số, cơ sở kinh tế và phá vỡ cân bằng sinh thái, tránh sự hình thành các siêu đô thị
Trang 29- Quy hoạch sử dụng đất đô thị đảm bảo các khu chức năng và cơ sở hạ tầng có quan hệ gắn bó
- Hình thành bộ mặt kiến trúc hiện đại nhưng vẫn kế thừa, bảo vệ, tôn tạo và giữ gìn các di sản lịch sử văn hoá, phát triển nền kiến trúc đậm đà bản sắc dân tộc
Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật:
- Xây dựng và duy trì bộ khung bảo vệ thiên nhiên trên địa bàn cả nước
Trang 301.3.3 Đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, một trung tâm lớn về kinh tế, văn hoá, khoa học công nghệ, có vị trí chính trị quan trọng của cả nước và sẽ trở thành trung tâm công nghiệp, dịch vụ đa lĩnh vực của khu vực Đông Nam Á Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích 2.095,06 km² Theo kết quả điều tra dân số chính thức vào thời điểm 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2009 thì dân
số thành phố là 7.162.864 người (chiếm 8,34% dân số Việt Nam), mật độ trung bình 3.419 người/km² Đến năm 2013 dân số thành phố tăng lên 7.818.200 người (Niên giám thống kê năm 2013) Tuy nhiên nếu tính những người cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của thành phố vượt trên 10 triệu người Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 21,3% tổng sản phẩm (GDP) và 29,38% tổng thu ngân sách của cả nước, GDP bình quân đầu người đạt 3.700 USD (năm 2012) [13] Thành phố Hồ Chí Minh là một trong số ít những đô thị lớn trên thế giới có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao liên tục trong suốt 2 thập niên qua Hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật về tài chính cũng tiếp tục được đổi mới theo hướng tạo môi trường đầu tư và môi trường kinh doanh thuận lợi, đảm bảo tập trung nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu của nền kinh tế Nền kinh tế thị trường của TP.HCM phát triển, lưu thông hàng hóa với tốc độ cao, từ đó tạo điều kiện cho quá trình phát triển kinh tế hàng hóa, thúc đẩy sự phân công xã hội phát triển, đẩy nhanh tiến trình xã hội hóa sản xuất cũng như khả năng hội nhập kinh tế quốc tế Sự phát triển kinh tế thị trường tạo nên môi trường kinh doanh thuận lợi, khiến người ta say sưa nâng cao chất lượng, tăng thêm số lượng sản phẩm đã biến TP.HCM trở thành đô thị có nền kinh tế năng động [14]
Dấu ấn rõ nét nhất của quá trình đô thị hóa trong những năm gần đây tại TP.HCM là những bước đột phá mạnh mẽ trong việc quy hoạch lại thành phố, mạnh dạn dỡ bỏ những khu nhà cũ nát, hiệu quả sử dụng thấp, thay vào đó là những công trình hiện đại, hàng loạt nhà cao tầng được xây dựng, đồng thời dành một phần diện tích mặt đất để xây dựng sân vườn, công viên, cây cảnh tạo sự thân thiện với môi trường Nhiều công trình chỉnh trang và xây mới đã làm cho diện mạo thành phố thêm văn minh hiện đại Ít ai tin rằng kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè với hàng nghìn
Trang 31nhà ổ chuột chen chúc bên bờ kênh lại được cải tạo thành công với kè chắn và cây xanh thẳng tắp hai bên Nhiều xóm nghèo, nhà cửa lụp xụp, tăm tối như: Xóm Củi (quận 5), khu vực hai bên kênh Lò Gốm (quận 6) và các khu dân cư chật hẹp khác ở các quận: 3, 4, 8, 11, Tân Bình, Bình Tân được xóa bỏ để xây các chung cư cao tầng hoặc các khu đô thị mới Các chương trình xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở cho người thu nhập thấp, nhà ở cho công nhân, ký túc xá cho sinh viên cũng được triển khai tích cực Theo thống kê của Sở Xây dựng thành phố, từ năm 2006 đến 2009, diện tích đất sàn xây dựng nhà ở trên địa bàn thành phố đã có thêm 26,677 triệu m2
Tính ra trung bình mỗi năm, thành phố có thêm 6,67 triệu m2 nhà ở Nhiều công trình kiến trúc hiện đại và lộng lẫy như các tòa nhà Kumho Asiana, Vincom, Bitexco Financial Tower trở thành điểm nhấn trên bức tranh toàn cảnh của kiến trúc thành phố
Sau nhiều năm đầu tư mở rộng các cơ sở sản xuất, TP Hồ Chí Minh đã xây dựng thành cộng 16 khu chế xuất và khu công nghiệp với tổng diện tích 2.500 ha nằm rải rác tại chín quận, huyện (nguồn: Ban quản lý các khu chế xuất và công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh 2013) Sự hình thành các KCX, KCN này không những thu hút nhanh chóng vốn đầu tư nước ngoài, giải quyết việc làm cho hàng trăm nghìn lao động, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế thành phố theo hướng CNH, HÐH, tạo tiền đề quan trọng cho quá trình đô thị hóa những khu vực chung quanh
Thành phố chủ trương mở rộng không gian đô thị theo nhiều hướng: đông, đông - nam, nam, tây - bắc, Một số khu đô thị mới đã và đang được hình thành như: Nam Sài Gòn (quận 7), Thủ Thiêm (quận 2), Tây Bắc (huyện Củ Chi), Hiệp Phước, Phước Kiểng (huyện Nhà Bè), An Lạc - Bình Trị Đông, Nam Hùng Vương, Tân Tạo, Vĩnh Lộc (quận Bình Tân), Sinh Việt (huyện Bình Chánh), An Phú Hưng (huyện Hóc Môn) tạo cho thành phố dáng dấp một đô thị 'đa tâm' Ở những quận mới và một số khu vực ngoại thành, quá trình đô thị hóa diễn ra khá nhanh, nhất là các quận: 2, 7, 9, 10, Gò Vấp, Bình Tân, Thủ Ðức và các huyện: Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè
Nỗ lực đáng ghi nhận khác của thành phố trong nhiều năm qua là đã cải thiện đáng kể cơ sở hạ tầng giao thông Nhiều tuyến đường huyết mạch như: Nam Kỳ
Trang 32Khởi Nghĩa, Trường Chinh, Ðiện Biên Phủ, Nguyễn Hữu Cảnh được nâng cấp,
mở rộng Nhiều công trình xuyên tâm, hướng tâm được thành phố đầu tư xây dựng như: Ðại lộ Ðông - Tây nay là đường Võ Văn Kiệt với đường hầm chui qua sông Sài Gòn, đại lộ Nguyễn Văn Linh, đường Cao tốc Sài Gòn – Trung Lương, đại lộ Phạm Văn Đồng, đường Rừng Sác Nhiều chiếc cầu quan trọng kết nối các khu vực trong thành phố với vùng ven được nâng cấp hoặc xây mới như: Phú Mỹ, Thủ Thiêm, Bình Triệu 2, Tân Thuận 2, Chữ Y, Chà Và, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Tri Phương, Ông Lãnh, Kênh Tẻ Nhiều cơ sở hạ tầng kỹ thuật khác như: điện, viễn thông cũng từng bước được hiện đại hóa với nhiều khu vực nội thành được ngầm hóa
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, sự phát triển quá nóng về xây dựng ở trung tâm thành phố cộng với tốc độ đô thị hóa quá nhanh ở các quận, huyện đã để lại những hệ lụy không nhỏ phá vỡ quy hoạch chung và cảnh quan đô thị, mất cân bằng sinh thái nghiêm trọng giữa những gì con người tạo nên và môi trường thiên nhiên, kiến trúc đô thị thiếu hài hòa, bị chia cắt, manh mún Tình trạng ngập lụt của thành phố càng trở nên trầm trọng Cứ sau một cơn mưa lớn kéo dài hay một đợt triều cường, nhiều tuyến đường và khu phố trở thành sông, hồ Một nghịch lý là thành phố đã bỏ nhiều công sức, đầu tư khá lớn tiền của để khắc phục nhưng càng chống, càng ngập nhiều điểm hơn Ngoài ra, người dân thành phố còn đối mặt với nạn ùn tắc giao thông ngày càng lan rộng và thường xuyên; nước sạch tuy đã được cải thiện phần nào nhưng chưa đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của người dân
Trang 33Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thiên nhiên
2.1.1 Lịch sử hình thành:
Quận Bình Tân là đô thị mới được thành lập bao gồm 10 đơn vị hành chính theo Nghị định 130/NĐ-CP ngày 05/11/2003 của Chính Phủ, từ Thị trấn An Lạc, xã Bình Hưng Hoà, xã Bình Trị Đông và xã Tân Tạo của huyện Bình Chánh (cũ) trước đây
Riêng phường Bình Hưng Hòa B, là 01 trong 10 đơn vị hành chính của quận Bình Tân, được hình thành trên cơ sở tách xã Bình Hưng Hòa (thuộc huyện Bình Chánh cũ trước đây)
Năm 2012, tổng diện tích tự nhiên của phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân là 732,73ha (chiếm 14,12% diện tích tự nhiên của toàn quận Bình Tân)
2.1.2 Vị trí địa lý:
Phường Bình Hưng Hòa B năm ở phía Tây Bắc của quận Bình Tân
Vị trí tiếp giáp:
- Phía Bắc: giáp Quận 12, huyện Hóc Môn
- Phía Nam: giáp phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân
- Phía Đông: giáp Quốc Lộ 1A
- Phía Tây: giáp huyện Bình Chánh Các tuyến đường giao thông chạy qua phường Bình Hưng Hòa B:
- Quốc Lộ 1A: nằm tiếp giáp phía Đông của phường, thuận lợi cho kết nối giao thông với các tỉnh miền Tây và miền Đông
- Hệ thống các tuyến đường giao thông kết nối với huyện Hóc Môn và huyện Bình Chánh như đường Võ Văn Vân, đường Quách Điêu Ngoài ra phường Bình Hưng Hòa còn nằm ngay giao lộ ngã 4 Gò Mây tiếp giáp với các tuyến đường giao thông trực tiếp đi vào trung tâm thành phố Hồ Chí Minh như đường Lê Trọng Tấn kết nối với khu Công Nghiệp Tân Bình, các quận Tân Phú, quận Tân Bình
Với vị trí hêt sức thuận lợi như vậy nên phường Bình Hưng Hòa là nơi trung chuyển, tái chế, bảo quản sản phẩm rất thuận lợi cho phát triển ngành công nghiệp chế biến, thương mại - dịch vụ, tạo việc làm, thu hút nhân lực lao động, thuận lợi
Trang 34cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhìn chung vị trí địa lý của phường Bình Hưng Hòa rất thuận lợi cho hình thành phát triển đô thị mới
Hình 2.1 Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu 2.1.3 Địa hình, khí hậu
Trang 35Phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân nói riêng và thành phố Hồ Chí Minh nói chung nằm trong vùng nhiệt đới xavan, cũng như một số tỉnh Nam bộ khác không có bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông rõ rệt, nhiệt độ cao đều và mưa quanh năm (mùa khô ít mưa)
Trong năm trên địa bàn có haimùa là biến thể của mùa hè: mùa mưa và mùa khô rõ rệt
Mùa mưa được bắt đầu từ tháng 5 tới tháng 11 (khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ cao mưa nhiều),
Mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau (khí hậu khô mát, nhiệt độ cao vừa mưa ít)
Trung bình, một tháng có 160 tới 270 giờ nắng, nhiệt độ trung bình 27 °C, cao nhất lên tới 40 °C, thấp nhất xuống 13,8 °C
Hàng năm, có 330 ngày nhiệt độ trung bình 25 tới 28 °C
Lượng mưa trung bình đạt 1.949 mm/năm
Một năm, ở thành phố có trung bình 159 ngày mưa, tập trung nhiều nhất vào các tháng từ 5 tới 11, chiếm khoảng 90%, đặc biệt hai tháng 6 và 9
Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính là gió mùa Tây – Tây Nam và Bắc – Ðông Bắc:
- Gió Tây – Tây Nam từ Ấn Độ Dương, tốc độ trung bình 3,6 m/s, vào mùa
mưa
- Gió Bắc – Ðông Bắc từ biển Đông, tốc độ trung bình 2,4 m/s, vào mùa khô
Ngoài ra còn có gió tín phong theo hướng Nam – Đông Nam vào khoảng tháng 3 tới tháng 5, trung bình 3,7 m/s Có thể nói Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng không có gió bão Cũng như lượng mưa, độ ẩm không khí ở thành phố lên cao vào mùa mưa (80%), và xuống thấp vào mùa khô (74,5%) Bình quân độ ẩm không khí đạt 79,5%/năm [a]
2.1.4 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên 2.1.4.1 Tài nguyên đất
Phường Bình Hưng Hòa B có tổng diện tích đất tự nhiên năm 2012 là 732,
7299 ha, chiếm 14,12% tổng diện tích đất tự nhiên của quận Bình Tân,
Trong đó đã khai thác đưa vào sử dụng 100% diện tích
Trang 36Trước đây, khi chưa tách quận Bình Tân, phần lớn diện tích đất tại phường phục vụ cho mục đích sản xuất đất nông nghiệp nhưng đến năm 2013 do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, diện tích đất sản xuất nông nghiệp trực tiếp trên địa bàn phường hiện không còn nhiều mà được thay thế bằng các ngày tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ
Có thể thấy tài nguyên đất của phường đang được khai thác sử dụng khá triệt
để theo xu hướng chung của quá trình đô thị hóa
Về mặt thổ nhưỡng, đất đai của phường thuộc dạng đất xám là chủ yếu
2.1.4.2.Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt: Phụ thuộc chủ yếu vào lượng nước mưa tự nhiên (bình quân 1983 mm/năm) và lưu lượng của các sông Sài Gòn, Nhà Bè - Soài Rạp, Vàm
Cỏ Đông Tuy nhiên do chịu ảnh hưởng nước thải của Thành Phố theo các kênh Tàu
Hủ, Tân Hóa - Lò Gốm, kênh đôi, rạch Nước Lên đổ về cũng như nguồn nước thải
từ các khu công nghiệp, khu dân cư trên địa bàn quận đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nước mặt gây ô nhiễm tác động xấu đến đời sống nhân dân
- Nguồn nước ngầm: Nước ngầm phân bố khá rộng, chủ yếu ở các tầng chứa pleitoxen ở độ sâu 100 - 300 m, đây là nguồn nước có thể khai thác phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Tuy nhiên chất lượng nước ngầm ở phía Bắc quận cao hơn ở phía Nam, nguyên nhân vào mùa khô phần lớn nguồn nước ngầm ở phía
Nam quận bị nhiễm phèn, gây khó khăn cho việc khai thác sử dụng
2.1.4.3 Tài nguyên nhân văn
Trên địa bàn quận Bình Tân nói chung và phường Bình Hưng Hòa B nói riêng hiện có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống, trong đó chủ yếu là dân tộc Kinh (chiếm 91,27% tổng dân số) và dân tộc Hoa (chiếm 8,45%), còn lại là các dân tộc Khơme, Chăm, Tày, Thái, Mường, Nùng và người nước ngoài Với những nét đặc trưng riêng biệt về tập quán sinh hoạt của mỗi cộng đồng dân tộc đã tạo nên sự đa dạng, phong phú về văn hoá truyền thống của quận
2.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 2.2.1 Dân số và lao động
- Năm 2013 phường Bình Hưng Hòa B có tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 7,33ha
Trang 37- Tổng dân số phường Bình Hưng Hòa B vào năm 2013 là 56766 người, mật độ dân
số trung bình là 7744 người/km2 -Năm 2013 phường Bình Hưng Hòa B cơ bản đã không còn hộ nghèo theo chuẩn của thành phố là thu nhập dưới 12 triệu đồng/người/năm
- Dân số trong độ tuổi lao động của phường Bình Hưng Hòa B vào năm 2013 vào khoảng 40871 người, chiếm khoảng 72% dân số trên địa bàn phường Đây là điều hết sức thuận lợi cho việc phát triển kinh tế trên địa bàn phường nói riêng, nơi tập trung khu công nghiệp Vĩnh Lộc
2.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế – xã hội
Tiếp tục tập trung thúc đẩy phát triển kinh tế, chuyển dịch theo hướng thương mại dịch vụ - Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp, trong đó: đẩy mạnh tốc
độ phát triển thương mại dịch vụ Tốc độ phát triển kinh tế năm sau cao hơn năm trước, cụ thể: năm 2005 đạt 25%; năm 2006 đạt 26,86%; năm 2007 đạt 26,8%; năm
2008 đạt 33%; riêng năm 2009 do bị ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế thế giới nên tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 16%; năm 2010 đạt 33.8%; năm 2011 đạt 32.76%; năm
2012 đạt 34.7%; năm 2013 ước đạt 34,9% Bình quân tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt 29,1%, tập trung chủ yếu vào các ngành chủ lực như kinh doanh sắt thép, máy móc, xây dựng, dịch vụ cho thuê kho bãi, các ngành sản xuất nhựa, may mặc…
Qua kết quả nêu trên, từ số lượng công ty, doanh nghiệp đến hộ cá thể đều tăng, chứng tỏ các giải pháp thúc đẩy kinh tế phát triển của phường đã phát huy tác dụng tích cực, thu hút các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất - kinh doanh trên địa bàn
- Song song đó, từ năm 2004 đến nay, UBND phường đã thường xuyên kết hợp với ban ngành, đoàn thể và các khu phố, tổ dân phố thực hiện tuyên truyền, vận động nhân dân không nuôi gia cầm, thủy cầm; không kinh doanh sản phẩm động vật không qua kiểm dịch hoặc không rõ nguồn gốc Tổ chức lập cam kết các hộ kinh doanh sản phẩm động vật không rõ nguồn gốc hoặc chưa qua kiểm dịch tại các chợ
tự phát trên địa bàn phường Đồng thời phối hợp với phòng kinh tế quận, thú y quận thường xuyên tiến hành kiểm tra, xử lý các trường hợp giết mổ gia súc trái phép, đến nay trên địa bàn phường không có xảy ra dịch bệnh gia súc, gia cầm
Trang 38Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn phường Bình Hưng Hòa B từ năm 2005 đến năm 2013
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 Tốc độ * 25 26,86 26,8 33 16 33,8 32,76 34,7 34,9
Trong 10 năm qua, hàng năm phường đều xây dựng kế hoạch vận động nhân dân hiến đất, vật kiến trúc để chỉnh trang các tuyến hẻm, đường Thực hiện triển khai đồng bộ trong cả hệ thống chính trị từ phường đến khu phố Đặt biệt là được sự quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo của cấp ủy Chi bộ, ban điều hành các khu phố, tổ dân phố và sự đồng thuận của nhân dân trên địa bàn nên công tác chỉnh trang cơ sở hạ tầng của UBND phường đã đạt được những kết quả khả quan, cụ thể là đã chỉnh trang được 267/569 tuyến hẻm đưa vào sử dụng
Phường đã phối hợp với quận triển khai thi công và hoàn thành đưa vào sử dụng các tuyến đường Hồ Văn Long, Bùi Dương Lịch, Liên khu 5-6, Liên khu 4-5, đường số 2, đường số 6, đường Bình Thành Hàng năm phường phối hợp với quận
tổ chức dặm vá đảm bảo giao thông cho người dân trong dịp Tết Nguyên Đáng trên các tuyến đường chính trên địa bàn phường
Qua đó, cơ bản đã giải quyết nhu cầu đi lại của nhân dân được thuận lợi, thoát nước hiệu quả, giảm ngập úng và tạo điều kiện kết nối các tuyến hẻm trên địa bàn phường, đời sống kinh tế của người dân được nâng lên, thu hút các nhà đầu tư sản xuất phát triển, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người dân, góp phần tăng nguồn thu ngân sách địa phương