BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI PHÂN HIỆU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐỀ TÀI VẬN DỤNG CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ TRONG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TAI NẠN GIAO THÔNG Ở NƯỚC TA BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC.
Trang 1BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI PHÂN HIỆU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI: VẬN DỤNG CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ TRONG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TAI NẠN GIAO THÔNG Ở
NƯỚC TA BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN HỌC PHẦN : Triết học Mác- Lênin
MÃ PHÁCH: ………
TP HỒ CHÍ MINH - 2021.
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, xã hội phát triển, nhu cầu về cơ sở vật chất con người ngàycàng tăng, giao thông ở nước ta ngày càng phức tạp Vấn đề tai nạn giaothông nước ta hiện nay đã đạt đến mức báo động và được xếp vào thứ hạngcao trong khu vực Đông Nam Á
Phó Chủ tịch Chuyên trách Ủy ban ATGT Quốc gia Khuất Việt Hùng chobiết, trong 5 năm qua, toàn quốc xảy ra 94624 vụ, làm chết 39917 người, bịthương 77477 người
Qua điều tra, phân tích của các cơ quan chức năng cho biết đa phần các vụtai nạn giao thông xảy ra là do ý thức người tham gia giao thông (chiếm71,6 % ) Trong các vụ giao thông, 66,7% là do moto, xe máy; 27,7% là do ôtô
Với số liệu trên, ta có thể thấy tầm quan trọng của việc ý thức, tráchnhiệm của mỗi cá nhân, tập thể là hết sức quan trọng Mặc dù các ban lãnhđạo đã chủ trương đề xuất các phương pháp, áp dụng các chính sách khắt khe
về việc vi phạm nhưng số lượng tai nạn giao thông vẫn chưa giảm đáng kể.Xuất phát từ thực trạng trên, em đã chọn đề tài “ Vận dụng cặp phạm trùnguyên nhân - kết quả để giải quyết vấn đề tai nạn giao thông ở nước ta hiệnnay” để làm bài luận kết thúc học phần môn Triết học Mác- Lênin
2 Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều những luận văn, công trìnhnghiên cứu liên quan đến vấn đề tai nạn giao thông Một số công trình nghiêncứu trước đây như:
- Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải hành khách
- Hành vi tham gia giao thông của sinh viên trường sư phạm- đại học ĐàNẵng
- Thực trạng tai nạn giao thông đường bộ và cách giải quyết vấn đề này
…
Trang 3- Tìm hiểu tổng quan về cặp phạm trù nguyên nhân- kết quả.
- Từ cặp phạm trù phân tích về tình hình tai nạn giao thông ở nước ta hiệnnay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng: Người dân ở đất nước Việt Nam
* Phạm vi:
- Không gian: tại Việt Nam
- Thời gian: hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaMác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể :
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu các văn bản pháp luật, cáccông trình nghiên cứu, các tài liệu có liên quan đến vấn đề giao thông
- Phương pháp thống kê: thu thập, tổng hợp các tài liệu, số liệu phản ánhvấn đề liên quan giao thông
Trang 4NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN - KẾT QUẢ
1.1 Khái niệm cặp phạm trù nguyên nhân, kết quả
Nguyên nhân là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tác động qua lại giữacác mặt, các bộ phận, các thuộc tính trong một sự vật hoặc giữa các sự vật vớinhau gây ra một sự biến đổi nhất định
Kết quả là phạm trù triết học dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện donguyên nhân tạo ra Ví dụ, sự tương tác lẫn nhau giữa các yếu tố trong hạtngô là nguyên nhân làm cho từ hạt ngô nảy mầm lên cây ngô Sự tác độnggiữa điện, xăng, không khí, áp xuất, v.v (nguyên nhân) gây ra sự nổ (kết quả)cho động cơ
Cần phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ và điều kiện Nguyên cớ lànhững sự vật, hiện tượng xuất hiện đồng thời cùng nguyên nhân nhưng chỉ cóquan hệ bề ngoài, ngẫu nhiên chứ không sinh ra kết quả Điều kiện là hiệntượng cần thiết để nguyên nhân phát huy tác động Trên cơ sở đó gây ra mộtbiến đổi nhất định Nhưng bản thân điều kiện không phải nguyên nhân
1.2 Tính chất của mối liên hệ
Triết học duy vật biện chứng cho rằng, mối liên hệ nhân quả có ba tínhchất:
*Tính khách quan: điều này thể hiện ở chỗ, mối liên hệ nhân quả là vốn
có của sự vật, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Chúng
ta đều biết rằng, mọi sự vật trong thế giới luôn luôn có sự vận động Dù conngười có biết hay không thì giữa các yếu tố trong một sự vật, hoặc giữa các
sự vật vẫn liên hệ, tác động để gây ra những biến đổi nhất định Do đó, mốiquan hệ nhân quả luôn mang tính khách quan
*Tính phổ biến: chúng ta có thể thấy mối liên hệ phổ biến có tính phổ
biến như thế nào thì mối liên hệ nhân- quả cũng có tính phổ biến như vậy
Trang 5Chúng ta có thể nhận thấy mối quan hệ nhân- quả có mặt ở khắp mọi nơi,trong tự nhiên, xã hội và ngay cả trong tư duy của con người Không có mộthiện tượng, sự việc nào không có nguyên nhân của nó, nhưng vấn đề là chúng
ta đã nhận thức được nó hay chưa mà thôi
*Tính tất yếu: thể hiện ở chỗ, cùng một nguyên nhân như nhau, trong
những điều kiện như nhau thì kết quả gây ra phải như nhau Nghĩa là nguyênnhân tác động trong những điều kiện càng ít khác nhau thì kết quả do chúnggây ra càng giống nhau Điều này cũng là một trong những nguyên tắc đểchúng ta có thể rút ra một kết luận khác nữa đó là, thực ra ở trong thế giới vậtchất không bao giờ xảy ra tác động hoàn toàn giống nhau, cũng như khôngbao giờ có những điều kiện giống nhau Bởi vậy, mỗi sự vật hiện tượng đềuđược sinh ra từ những nguyên nhân khác biệt
1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
1.3.1 Nguyên nhân sinh ra kết quả nên nguyên nhân luôn có trước, kết quả luôn có sau
Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân luôn có trước kếtquả về mặt thời gian Tuy nhiên, không phải mọi sự nối tiếp nhau về thời gianđều là quan hệ nhân quả Ví dụ, ngày và đêm không phải là nguyên nhân củanhau Sấm và chớp không phải nguyên nhân của nhau Muốn phân biệtnguyên nhân và kết quả thì phải tìm ở quan hệ sản sinh, tức là cái nào sinh racái nào
Việc nguyên nhân sinh ra kết quả còn phụ thuộc vào yếu tố điều kiện.Không phải có tác động là có kết quả ngay Ở một số trường hợp như quátrình sinh- hóa trong hạt cây nảy mầm , nó cần có độ ẩm, ánh sáng và nhiệt độđầy đủ thích hợp thì mới phát triển nảy mầm tốt Điều kiện có vai trò rất quantrọng, làm cho nguyên nhân nào sinh ra kết quả nào Phức tạp hơn đó là khi
có nhiều nguyên nhân tác động cùng một lúc thì lúc đấy kết quả lại phụ thuộcvào mối liên hệ giữa các nguyên nhân như thế nào Cụ thể như đối với nềnkinh tế nước ta sẽ chịu tác động của quá trình phát triển kinh tế trong nước và
Trang 6cả thị trường thế giới Đối với kinh tế trong nước chúng ta còn có thể chia ranhiều nguyên nhân nhỏ hơn.
1.3.2 Trong những điều kiện nhất định, nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hoá lẫn nhau Nghĩa là cái trong quan hệ này được coi là nguyên nhân thì trong quan hệ khác có thể là kết quả
Nguyên nhân và kết quả có thể hoãn đổi cho nhau theo hai trường hợpsau:
- Thứ nhất: nguyên nhân sinh ra kết quả, nhưng bản thân nguyên nhân ấy
đã là kết quả của một mối quan hệ khác Kết quả cũng vậy, nó được sinh ra từnguyên nhân nhưng không dừng lại ở đó, nó lại chính là nguyên nhân dẫn đếnmột mối quan hệ khác Chúng sẽ tồn tại theo chuỗi như: A sinh ra B, B sinh
ra C, C sinh ra D,….Ví dụ như phân cách quyền lực trong xã hội ngày càngphát triển sẽ dẫn tới cạnh tranh mâu thuẫn, mẫu thuẫn sẽ là nguyên nhân dẫnđến tệ nạn…
- Thứ hai: Nguyên nhân sinh ra kết quả và những kết quả đó có khả năngtác động lại nguyên nhân thì kết quả ấy sẽ mang tư cách là nguyên nhân Do
đó, chúng ta có thể thấy sự hoán đổi vị trí giữa nguyên nhân và kết quả ngaytrong một mối quan hệ nhân quả
Bởi vậy, Ăng-ghen đã từng nói rằng: “ nguyên nhân và kết quả là nhữngkhái niệm chỉ có ý nghĩa là nguyên nhân và kết quả khi được áp dụng vàomột trường hợp riêng biệt nhất định” Hay nói cách khác , nguyên nhân và kếtquả bao giờ cũng nằm trong một mối quan hệ xác định cụ thể
1.3.3 Nguyên nhân sinh ra kết quả, nhưng kết quả không hoàn toàn thụ động,
nó vẫn sẽ có khả năng tác động ngược trở lại nguyên nhân
Kết quả sau khi được sinh ra, nó có thể tác động lại nguyên nhân theochiều hướng tích cực hoặc tiêu cực Ví dụ cụ thể như trình độ dân trí là kếtquả của nền kinh tế Nếu trình độ dân trí thấp nó sẽ tác động lại khiến kinh tếngày càng đi xuống Nhưng trình độ dân trí cao thì nó lại giúp kinh tế ngàycàng trở nên phát triển hơn
Trang 7Vấn đề tác động ngược trở lại của kết quả đối với nguyên nhân có ýnghĩa thực tiễn rất quan trọng Nó làm cho ta phải dự kiến được đầy đủ nhữnghậu quả của một chính sách xã hội, đặc biệt là trong vấn đề về đầu tư, mộttrong những yếu tố tạo ra nguyên nhân phát triển nền kinh tế đất nước Việcđưa đầu tư rất có thể mang lại những hậu quả lớn, sẽ làm cho kinh tế pháttriển mạnh nếu đúng đắn Ví dụ người ta đầu tư vào những ngành mũi nhọn
có tác dụng làm thay đổi căn bản nền kinh tế, vì chỉ trong một thời gian ngắnsau nền kinh tế quốc dân đã có một động lực lớn như là công nghệ thông tin,bưu chính viễn thông, công nghệ tin học Những kết quả mà do sự đầu tư đãlàm cho các ngành kinh tế như công nghiệp, thủy sản, nông nghiệp cónhững sự phát triển vượt bậc, khi đó nó lại tạo ra những điều kiện cho việc táiđầu tư ngày càng được tốt hơn với một lực lượng tài chính, lực lượng vật chấtcàng càng to lớn Và rồi khi đó trong mỗi chu kỳ khác, sự đầu tư đúng đắn sẽmang lại cho các ngành khoa học mới ra đời, cứ như thế theo một chu trìnhđầu tư có kết quả và kết quả đó làm cho quá trình đầu tư có ý nghĩa kinh tế xãhội sâu sắc hơn
1.3.4 Một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả và một kết quả có thể được sinh ra từ nhiều nguyên nhân
- Một nguyên nhân có thể sinh ra rất nhiều hậu quả Ví dụ như việc gây ônhiễm mỗi trường có thể gấy ra rất nhiều hậu quả như:
+ Môi trường không khí : mưa axit, thủng tầng ô zôn, tăng hiệu ứng nhàkính … dẫn đến các bệnh về đường hô hấp , ung thư da
+ Môi trường nước: hủy diệt các sinh vật sống trong nước, cạn kiệt mạchnước ngầm, gây hậu quả nghiêm trọng đến sự sống và sức khỏe con người, + Môi trường đất: thực vật nhiễm bệnh đẫn đến người ăn cũng nhiễm bệnh,môi trường sống của nhiều loài động thực vật bị thu hẹp,
- Một kết quả cũng có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau Ví dụnhư dịch COVID-19 đang bùng phát mạnh ở nước ta Có rất nhiều nguyênnhân khiến dịch bùng phát mạnh như:
Trang 8+ Thiếu sự tách biệt hẳn giữa bệnh nhân nghi nhiễm với những bệnh nhânkhác.
+ Thiếu sự nhận thức về mối đe dọa của dịch bệnh ở nhân viên và bệnhnhân dân đến tâm lí chủ quan
+ Sự di chuyển thường xuyên của người dân khiến vùng lây nhiễm ngàycàng mở rộng khó kiểm soát
…
1.3.5 Kết quả không bao giờ được lớn hơn nguyên nhân
Đây được coi là vấn đề rất quan trọng Vấn đề này đã được Hê- ghen đềcập trong cuốn logic của ông Kết quả không bao giờ hơn nguyên nhân, chỉcần căn cứ vào định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng của Lô- mô- nô-xốp cũng có thể đi đến kết luận này Một kết quả được xem như là cái sinh ra
từ sự tác động thì chính bản thân nó không thể nào lớn hơn tác động đó được
Ví dụ khi chúng ta đun nước ở ngoài trời nắng sẽ nhanh hơn khi đun ở trongnhà, vì nó chịu sự tác động , được tiếp thu ánh sáng mặt trời Khi thấy kết quảlớn hơn nguyên nhân, chúng ta cần phải đi tìm những nguyên nhân khác để
bổ sung làm nên kết quả mà chúng có được
Điều này có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng Bởi vì trong thực tế, khichúng ta nhìn thấy về mặt hình thức nhận được kết quả lớn hơn sự tác độngthì chúng ta biết rằng phải đi tìm những nguyên nhân khác để bổ sung cho kếtquả đó Qua quá trình đó chúng ta phát hiện thêm được những mối liên hệmới Và những lần hoạt động tiếp theo, chúng ta có thể sử dụng nhữngnguyên nhân mới mà chúng đã phát hiện được vào trong quá trình hoạt độngcủa mình
1.3.6 Sự vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân - kết quả trong thực tiễn
Điều lưu ý ở đây là chúng ta cần phân biệt được nhân- quả trong tự nhiênhay nhân- quả trong xã hội
Trong thế giới tự nhiên, mối quan hệ nhân- quả là mối quan hệ mù quáng.Các tác động của các sự vật hiện tượng này lên những sự vật hiện tượng khác
Trang 9gây ra những biến đổi nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người và tuântheo những quy luật vốn có của thế giới vật chất Mối quan hệ này được diễn
ra ở rất nhiều phạm vi, trong tất cả các phương thức tồn tại của thế giới vậtchất và thường đưa lại cho chúng ta những hiểu biết về sự tác động qua lại vàchuyển hóa giữa các bộ phận của thế giới khách quan Ví dụ như lực hút củamặt trăng với trái đất gây nên hiện tượng thủy triều, các thiên thạch bay tự do
ở trong vũ trụ thỉnh thoảng lại rơi vào bầu khí quyển của trái đất tạo nênnhững trận mưa thiên thạch Đối với những mối quan hệ nhân- quả trong tựnhiên, chúng ta càng nghiên cứu nhiều thì càng tốt Nhờ biết được hậu quả docác tác động lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng trong tự nhiên, con người cóthể lợi dụng được những nguồn năng lượng lớn để phục vụ cho nhu cầu củamình Như khi chúng ta biết được hiện tượng thủy triều, chúng ta có thể lợidụng nó để tạo ra nguồn điện Đồng thời người ta sử dụng mối quan hệ nhân-quả của các hiện tượng tự nhiên để thấy được những tác hại mà các hiệntượng đó gây ra Tiêu biểu là hiện tượng sóng thần ở vùng biển Ấn Độ Dương.Nếu chúng ta biết rằng các hoạt động của núi lửa và động đất ở dưới lòngbiển đã gây ra những đợt sóng thần thì người ta có thể dự báo trước tránhhiểm họa cho các ngư dân ven biển
Mối quan hệ nhân - quả trong lĩnh vực xã hội, tức là hoạt động của conngười phức tạp hơn rất nhiều Trước hết, nó chỉ xuất hiện khi có hoạt độngcủa con người Chúng ta sẽ đề cập đến các đặc điểm của hoạt động con người
là hoạt động có ý thức Đặc điểm này có thể đúng hoặc không đúng ở trongnhững trường hợp, lĩnh vực khác nhau Có những trường hợp được xem làhoạt động ý thức của cá nhân, nhưng nó lại là hoạt động vô ý thức đối vớicộng đồng xã hội Chủ thể bao giờ cũng sẽ xuất phát từ lợi ích của bản thân
họ trước, nhưng ảnh hưởng của hoạt động ấy ảnh hưởng như thế nào đến đờisống xã hội thì còn phụ thuộc vào những mối liên hệ và những hậu quả xã hội
mà nó gây ra Nghiêm cứu mối quan hệ nhân - quả ở đây là nghiên cứu về lợiích Những lợi ích nào được sinh ra từ những tác động nào và hậu quả của nó
Trang 10là gì Ví dụ như tình trạng tai nạn giao thông hiện nay nó rất là phổ biến.Chúng ta đều biết rằng nguyên nhân chủ yếu chính là do ý thức của ngườitham gia việc tuyên truyền về luật chính là sự tác động để có thể làm giảmtình trạng tai nạn xảy ra.
Nói tóm lại, mối quan hệ nhân quả được thể hiện ở rất nhiều lĩnh vực Nhưng nó có thể hiện ở lĩnh vực nào thì chúng ta cũng cần phải luôn luôn tìm hiểu, nghiên cứu để tìm ra cách khắc phục, tìm cách giải quyết những hậu quả do các tác động gây ra Đồng thời chúng ta có thể lợi dụng mối quan hệ này để phục vụ cho nhu cầu, cuộc sống của mình.
Trang 11CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ VÀO PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TAI NẠN GIAO THÔNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1 Thực trạng tai nạn giao thông hiện nay
Thông tin từ Cục Cảnh sát giao thông - Bộ Công an cho biết, 6 tháng đầunăm 2021 (tính từ ngày 15/12/2020 đến ngày 14/6/2021), toàn quốc xảy ra
6340 vụ tai nạn giao thông, làm chết 3192 người, bị thương 4475 người Sovới cùng kỳ năm 2020, tai nạn giao thông giảm 580 vụ (8,38%), giảm 90người chết (2,74%) và giảm 570 người bị thương (11,29%)
Trong số này, trên lĩnh vực đường bộ xảy ra 6278 vụ tai nạn giao thông,làm chết 3147 người, bị thương 4465 người So với cùng kỳ năm 2020, giảm
550 vụ (8,05%), giảm 63 người chết (1,96%), giảm 564 người bị thương(11,21%) Trong đó, có 11 vụ đặc biệt nghiêm trọng, làm chết 34 người, bịthương 17 người Nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông chủ yếu là chạy quátốc độ quy định, tránh vượt sai quy định, không đi đúng phần đường, lànđường…
Trên lĩnh vực đường sắt, cả nước xảy ra 38 vụ, làm chết 30 người, bịthương 9 người So với cùng kỳ năm 2020, giảm 10 vụ (20,83%), giảm 7người chết (18,91%), giảm 3 người bị thương (25%)
Đường thủy nội địa xảy ra 24 vụ tai nạn giao thông, làm chết 15 người, bịthương 1 người So với cùng kỳ năm 2020, giảm 20 vụ (45,45%), giảm 20người chết (57,14%), giảm 3 người bị thương (75%)
Trong 6 tháng 2021, lực lượng Cảnh sát giao thông cả nước đã xử lý trên1,73 triệu trường hợp vi phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đường sắt
và đường thủy nội địa, phạt tiền trên 1717 tỷ đồng, tước 167761 giấy phép lái
xe, bằng, chứng chỉ chuyên môn, tạm giữ 298008 phương tiện các loại Sovới cùng kỳ năm 2020, xử lý giảm 102280 trường hợp (5,57%), tiền phạt tănggần 99,8 tỷ đồng (6,16%)
Trang 12Đáng chú ý trên lĩnh vực đường bộ, lực lượng Cảnh sát giao thông đã xử
lý trên 1,66 triệu trường hợp, phạt tiền 1653 tỷ đồng Trong đó, có 123160trường hợp vi phạm nồng độ cồn (chiếm 7,38%); 1144 trường hợp lái xedương tính với chất ma túy (chiếm 0,06%); 17778 trường hợp chở hàng quátải (chiếm 1,06%); 5676 trường hợp vi phạm quy định về đóng mới, sửa chữaphương tiện (chiếm 0,34%); 58470 trường hợp vi phạm làn đường, phầnđường (chiếm 3,5%); 175872 trường hợp chạy quá tốc độ quy định (chiếm10,54%)
Lĩnh vực đường sắt xử lý 5371 trường hợp, phạt tiền 2,8 tỷ đồng Đườngthủy xử lý 59849 trường hợp, phạt tiền 61,6 tỷ đồng
Toàn quốc đã xảy ra 48 vụ ùn tắc giao thông trong thời gian 6 tháng đầunăm; so với cùng kỳ năm 2020 số vụ không tăng không giảm Nguyên nhâncủa các vụ ùn tắc này chủ yếu là do tai nạn giao thông: 45 vụ (93,75%), do sự
cố phương tiện là 3 vụ (6,25%)
Phát biểu tại hội nghị, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình yêu cầu các địaphương tăng cường trách nhiệm, đóng góp ý kiến, giải pháp để đảm bảo trật
tự an toàn giao thông thời gian tới
Phó Thủ tướng đánh giá Luật xử lý vi phạm hành chính quy định về việc
xử phạt trong lĩnh vực giao thông hiện chưa đủ mức răn đe, phòng ngừanhững hành vi gây tai nạn giao thông Bộ Tư pháp cần xem xét đề xuất, sửađổi để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật
2.2 Một số nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng tai nạn giao thông
Theo thống kê của Ủy ban an toàn giao thông quốc gia 29,8% do vi phạmbiển báo hiệu đường bộ, dừng đỗ sai quy định, không có Giấy phép lái xe, viphạm quy trình thao tác lái xe, phương tiện không đảm bảo an toàn kỹ thuật,
do người đi bộ, do công trình giao thông và các nguyên nhân khác Tiếp đến
là do vi phạm làn đường chiếm 26% trên tổng số nguyên nhân gây ra tai nạn.Việc mua bán trái phép lấn chiếm lòng lề đường hiện đang là một nỗi lo cho