Luận văn : phát triển dịch vụ tư vấn pahst hành chứng khoán tại công ty cổ phần chứng khoán Đông nam á
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam đánh dấu bằng việc đưa vàovận hành trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Hồ Chí Minh, từ đó đến nay
có những bước phát triển đột phá Bước đầu tạo dựng nên niềm tin cho các nhà đầu
tư và đang dần thay đổi được lối tư duy coi thị trường chứng khoán như một canhbạc đỏ đen Thị trường chứng khoán Việt Nam đang thực sự trở thành một sân chơitrí tuệ cho các nhà đầu tư
Tiếp theo, với sự ra đời của Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và việc hoànthiện luật Chứng Khoán ngày càng khẳng định rõ hơn sự quan tâm của chính phủtrong việc phát triển một Thị Trường Chứng Khoán - một nơi huy động vốn đangdần thay thế cho các hình thức huy động vốn truyền thống
Đầu năm 2006, sự kiện Thủ Tướng Chính Phủ Phan Văn Khải rung chuôngkhai mạc thị trường chứng khoán đã khích lệ nhiều nhà đầu tư có thêm niềm tin vàothị trường chứng khoán nước nhà Sau sự kiện này đã làm cho các sàn giao dịchchứng khoán trở nên sôi động hơn bằng việc tăng giá kịch trần của nhiều loại chứngkhoán trong 1 tuần liên tiếp Cầu chứng khoán tăng nhanh đột biến trên thị trườngchứng khoán lại càng đẩy giá các chứng khoán lên
Thị trường chứng khoán sôi động là một dấu hiệu tốt cho các tổ chức pháthành, việc huy động vốn qua việc phát hành chứng khoán có nhiều thuận lợi chotính thanh khoản của các chứng khoán ngày càng tăng Rõ ràng việc phát hànhchứng khoán là một hình thức huy động vốn có những ưu điểm vượt trội
Nhận thức được điều đó, nhiều Công ty chứng khoán liên tục phát triển dịch
vụ tư vấn phát hành chứng khoán và thu được rất nhiều thành công
Xuất phát từ thực tế đó em đã chọn đề tài: “Phát triển dịch vụ tư vấn phát hành chứng khoán tại công ty cổ phần chứng khoán Đông Nam Á”.
Kết cấu của bài gồm:
Chương 1: Tổng quan về dịch vụ tư vấn phát hành chứng khoán của Công ty
chứng khoán
Chương 2: Thực trạng của dịch vụ tư vấn phát hành chứng khoán tại Công ty cổ
phần chứng khoán Đông Nam Á.
Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ tư vấn phát hành chứng khoán tại Công ty
cổ phần chứng khoán Đông Nam Á.
Trang 2Em xin chân thành cám ơn Ths Nguyễn Đức Hiển và các anh chị trên Công
ty cổ phần chứng khoán Đông Nam Á đã giúp đỡ em để em có thể hoàn thànhchuyên đề này
Mặc dù, đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực tập tại công ty, tuy nhiên
do sự hiểu biết còn hạn chế và kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều nên đề tài của emkhó tránh khỏi được những thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô
để đề tài của em được hoàn thiện hơn
Trang 3CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ TƯ VẤN PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1 Tổng quan về công ty chứng khoán
1.1.1 Khái niệm công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện cácnghiệp vụ trên thị trường chứng khoán
Theo Quyết định số 27/2007/QĐ – BTC ngày 24 tháng 4 năm 2007 của Bộ Tài
Chính: “Công ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
thành lập hợp pháp tại Việt Nam, được Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước cấp giấyphép thực hiện một hoặc một số loại hình kinh doanh chứng khoán”
Công ty chứng khoán ở Việt Nam chỉ có 2 loại hình tổ chức đó là công ty cổphần và công ty TNHH Trên thế giới còn có loại hình công ty hợp danh nhưng khảnăng huy động vốn của loại hình này bị hạn chế không được phép phát hành bất cứmột loại chứng khoán nào nên ít được áp dụng Còn công ty cổ phần và công tyTNHH có nhiều ưu điểm hơn hẳn công ty hợp danh nên hiện nay chủ yếu công tychứng khoán được tổ chức dưới hai hình thức này
Xuất phát từ hoạt động của thị trường chứng khoán phải tuân theo 3 nguyêntắc chủ yếu: công khai, đấu giá, và trung gian Trong đó nguyên tắc trung gian lànguyên tắc căn bản nhất Theo nguyên tắc này, tất cả các hoạt động mua bán chứngkhoán đều phải qua người trung gian môi giới Người trung gian môi giới có thể làthể nhân hoặc pháp nhân Môi giới pháp nhân chính là các công ty chứng khoánđược Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép hoạt động và có thể trở thànhthành viên chính thức của Sở Giao dịch Chứng khoán Do vậy công ty chứng khoán
là một thành viên không thể thiếu trên thị trường chứng khoán, nó cũng là một loạihình công ty nhưng hoạt động của nó lại khác nhiều so với các công ty hoạt độngsản xuất kinh doanh Hoạt động của nó nhằm đảm bảo nguyên tắc trung gian của thịtrường chứng khoán và vai trò trung gian được thể hiện qua:
- Trung gian về thông tin: Công ty chứng khoán là nơi tích tụ, xử lý thông tinliên quan đến chứng khoán và thị trường chứng khoán, sau đó phân phối nhữngthông tin đó cho các nhà đầu tư, cho các đối tác qua các hoạt động môi giới, tư vấn,quản lý danh mục đầu tư Yếu tố trung gian thông tin hiện nay được thể hiện rõ rệtqua việc hầu hết các công ty chứng khoán đều có trang Web
Trang 4- Trung gian về rủi ro: Công ty chứng khoán đầu tư vào các tài sản có rủi rocao, tỷ lệ công nghệ lớn, sau đó phân phối lại cho nhà đầu tư với mức độ rủi ro íthơn.
- Trung gian về thanh toán: Công ty chứng khoán có vai trò là trung gian thanhtoán cho nhà đầu tư, tổ chức phát hành, lưu ký chứng khoán
Về mô hình tổ chức kinh doanh công ty chứng khoán có thể khái quát thành 2
mô hình sau:
* Mô hình công ty chứng khoán đa năng:
Với mô hình này, các NHTM vừa là chủ thể kinh doanh chứng khoán, kinhdoanh bảo hiểm, và kinh doanh tiền tệ Gồm 2 loại:
- Đa năng một phần để kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm, cácngân hàng phải lập các công ty con hạch toán độc lập và hoạt động tách rời với kinhdoanh tiền tệ Mô hình này được gọi là đa năng kiểu Anh
- Đa năng toàn phần: Các ngân hàng được kinh doanh chứng khoán, kinhdoanh bảo hiểm, kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ tài chính khác mà không phảithành lập các công ty con Mô hình này được gọi là mô hình kiểu Đức
* Mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh: Theo mô hình này các ngânhàng không được tham gia vào kinh doanh chứng khoán Hoạt động kinh doanhchứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứngkhoán đảm nhiệm
1.1.2 Vai trò của công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán có vai trò quan trọng đối với các chủ thể khác nhau trên thị trường chứng khoán
a, Vai trò đối với các tổ chức phát hành
Mục tiêu khi tham gia vào thị trường chứng khoán của các tổ chức phát hành
là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán Vì vậy, thông qua hoạtđộng đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, các công ty chứng khoán có vai trò tạo ra
cơ chế huy động vốn phục vụ các nhà phát hành
Một trong những nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán lànguyên tắc trung gian Nguyên tắc này yêu cầu những nhà đầu tư và những nhà pháthành không được mua bán trực tiếp chứng khoán mà phải thông qua các trung gianmua bán Các công ty chứng khoán sẽ thực hiện vai trò trung gian cho cả người đầu
Trang 5tư và nhà phát hành Và khi thực hiện công việc này, công ty chứng khoán đã tạo ra
cơ chế huy động vốn cho nền kinh tế thông qua thị trường chứng khoán
b, Vai trò đối với các nhà đầu tư
Công ty chứng khoán có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch chocác nhà đầu tư thông qua một số hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư, quản lýdanh mục đầu tư, do đó nâng cao hiệu quả cho các khoản đầu tư Đối với hàng hóathông thường, nếu mua bán qua trung gian sẽ làm tăng chi phí cho cả người mua vàngười bán Tuy vậy, đối với thị trường chứng khoán, sự biến động lên xuốngthường xuyên của giá cả chứng khoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm tăng chiphí và mất công sức của các nhà đầu tư do phải tìm hiểu thông tin trước khi quyếtđịnh đầu tư Nhưng thông qua các công ty chứng khoán, với đội ngũ nhân viên cóchuyên môn sẽ giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả
c, Đối với thị trường chứng khoán
Đối với thị trường chứng khoán, công ty chứng khoán đã tạo ra sự ảnh hưởngmạnh mẽ đến sự phát triển của thị trường chứng khoán nói riêng và của cả nền kinh
tế nói chung thông qua hai vai trò chính
- Góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường
Giá cả chứng khoán là do thị trường quyết định Tuy nhiên, để đưa ra mứcgiá cuối cùng, người mua và người bán phải thông qua công ty chứng khoán vì họkhông được trực tiếp tham gia vào quá trình mua bán Các công ty chứng khoán lànhững thành viên của thị trường, do vậy họ cũng góp phần tạo lập giá cả thị trườngthông qua đấu giá Trên thị trường sơ cấp, các công ty chứng khoán cùng với cácnhà phát hành đưa ra mức giá đầu tiên Chính vì vậy, giá của mỗi loại chứng khoángiao dịch đều có sự tham gia của các công ty chứng khoán
Các công ty chứng khoán còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham gia điều tiếtthị trường Để bảo vệ những khoản đầu tư của khách hàng cũng như lợi ích củachính mình, nhiều công ty chứng khoán đã giành một tỷ lệ nhất định các giao dịchcủa mình để mua chứng khoán vào khi giá giảm và bán chứng khoán dự trữ ra khigiá lên quá cao nhằm góp phần điều tiết và bình ổn giá trên thị trường Dĩ nhiên, sựcan thiệp của các công ty chứng khoán chỉ có hạn, phụ thuộc vào nguồn vốn tựdoanh và quỹ dự trữ chứng khoán Tuy vậy, nó vẫn có ý nghĩa nhất định, có tácđộng đến tâm lý của các nhà đầu tư trên thị trường Với vai trò này, các công ty
Trang 6chứng khoán góp phần tích cực vào sự tồn tại và phát triển bền vững của thị trườngchứng khoán.
- Góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính
Thị trường chứng khoán là môi trường tăng tính thanh khoản của các tài sảntài chính Còn công ty chứng khoán là người thực hiện tốt vai trò đó vì công tychứng khoán tạo ra cơ chế giao dịch trên thị trường Trên thị trường cấp 1, do thựchiện các hoạt động như bảo lãnh phát hành, chứng khoán hóa, các công ty chứngkhoán không chỉ huy động một lượng vốn lớn đưa vào trong hoạt động sản xuấtkinh doanh mà còn làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính được đầu tư
vì các chứng khoán sau đó sẽ được mua bán giao dịch trên thị trường thứ cấp vàthông qua giao dịch các công ty giúp người đầu tư chuyển đổi chứng khoán thànhtiền mặt và ngược lại
c, Vai trò đối với cơ quan quản lý thị trường
Một trong những yêu cầu của thị trường chứng khoán là các thông tin cầnphải được công khai hóa dưới sự giám sát của cơ quan quản lý thị trường Việccung cấp thông tin vừa là quy định của hệ thống luật pháp, vừa là nguyên tắc nghềnghiệp của các công ty chứng khoán vì công ty chứng khoán cần phải minh bạch vàcông khai trong hoạt động Do đó, công ty chứng khoán có vai trò cung cấp thôngtin về thị trường chứng khoán cho các cơ quan quản lý thị trường Các thông tin màcông ty chứng khoán có thể cung cấp bao gồm thông tin về các giao dịch mua bántrên thị trường, thông tin về cổ phiếu, trái phiếu và tổ chức phát hành, thông tin vềnhà đầu tư… Nhờ các thông tin này mà các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểmsoát và chống các hiện tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trường.1
1.1.3 Các nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán
Theo điều 60, Luật chứng khoán: Nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứngkhoán bao gồm:
a) Môi giới chứng khoán;
b) Tự doanh chứng khoán;
c) Bảo lãnh phát hành chứng khoán;
d) Tư vấn đầu tư chứng khoán
1 Nguồn: Giáo trình thị trường chứng khoán, NXB Tài Chính-2002
Trang 7Công ty chứng khoán chỉ được phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hànhchứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán.
Ngoài các nghiệp vụ kinh doanh trên, công ty chứng khoán được cung cấpdịch vụ tư vấn tài chính và các dịch vụ tài chính khác
1.1.3.1 Môi giới chứng khoán
Trên thị trường chứng khoán không phải nhà phát hành nào cũng có thể gặpngay những đối tượng cần mua chứng khoán, cũng như không phải nhà đầu tư nàomuốn đầu tư vào chứng khoán cũng có thể nhanh chóng có đầy đủ thông tin và sựhiểu biết để đầu tư vào loại chứng khoán phù hợp Và do những hạn chế thông tinkhông cân xứng không hoàn hảo gây những tác hại cho thị trường chứng khoán,hàng hóa trao đổi trên thị trường chứng khoán là hàng hóa đặc biệt: tài sản tài chính
vì vậy môi giới chứng khoán ra đời không chỉ nhằm khắc phục những hạn chế trên
mà còn do quy định của pháp luật để giúp quản lý tập trung, tiết kiệm thời gian, chiphí, tăng mức độ an toàn cho việc chuyển giao chứng khoán
Theo điều 6, khoản 20 Luật chứng khoán: “Môi giới chứng khoán là việccông ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho kháchhàng” Theo đó, công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịchthông qua cơ chế giao dịch tại Sở Giao Dịch Chứng khoán hoặc thị trường OTC màchính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của mình
Công ty chứng khoán sẽ thông qua hoạt động môi giới này cung cấp chokhách hàng các báo cáo nghiên cứu và các khuyến nghị đầu tư, và chuyển đến chokhách hàng các sản phẩm dịch vụ tư vấn đầu tư, kết nối giữa nhà đầu tư bán chứngkhoán và mua chứng khoán Bên cạnh đó, trong những trường hợp nhất định, hoạtđộng môi giới chứng khoán sẽ trở thành người bạn, người chia sẻ những lo âu, căngthẳng và đưa ra những lời động viên kịp thời cho nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư cónhững quyết định tỉnh táo
Trang 8thị trường nắm giữ một loại chứng khoán nhất định của một loại chứng khoán vàthực hiện việc mua bán với khách hàng để hưởng chênh lệch giá.
Mục đích của hoạt động tự doanh là nhằm thu lợi nhuận cho chính công tyqua hành vi mua và bán chứng khoán với khách hàng Nghiệp vụ này hoạt độngsong song với nghiệp vụ môi giới, vừa phục vụ lệnh cho khách hàng và cho chínhmình, vì vậy tất yếu sẽ dẫn đễn những xung đột quyền lợi giữa giao dịch của kháchhàng và của công ty
Khác với nghiệp vụ môi giới, công ty chứng khoán chỉ làm trung gian thựchiện lệnh cho khách hàng để hưởng hoa hồng, trong hoạt động tự doanh công tychứng khoán kinh doanh bằng chính nguồn vốn của công ty Vì vậy, công ty chứngkhoán đòi hỏi phải có nguồn vốn rất lớn và đội ngũ nhân viên có trình độ chuyênmôn, khả năng phân tích và đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý, đặc biệt trongtrường hợp đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường
Yêu cầu đối với Công ty chứng khoán:
- Tách biệt quản lý: Các Công ty chứng khoán phải có sự tách biệt giữa hoạtđộng môi giới và tự doanh để đảm bảo sự minh bạch rõ ràng
- Ưu tiên khách hàng
- Góp phần bình ổn thị trường
- Hoạt động tạo thị trường
Các hình thức giao dịch trong hoạt động tự doanh
- Giao dịch gián tiếp: Công ty chứng khoán đặt các lệnh mua và bán chứngkhoán trên Sở Giao Dịch, lệnh của họ có thể thực hiện với bất kì khách hàng nàokhông được xác định trước
- Giao dịch trực tiếp: Là giao dịch tay đôi giữa hai công ty chứng khoán haygiữa công ty chứng khoán với một khách hàng thông qua thương lượng Đối tượngcủa các giao dịch trực tiếp là các loại chứng khoán đăng kí giao dịch ở thị trườngOTC
1.1.3.3 Bảo lãnh phát hành chứng khoán
Để thực hiện thành công các đợt chào bán chứng khoán ra công chúng đòihỏi tổ chức phát hành cần đến các công ty chứng khoán tư vấn tài chính cho đợtphát hành và thực hiện bảo lãnh, phân phối chứng khoán ra công chúng
Như vậy, nghiệp vụ bảo lãnh phát hành là việc công ty chứng khoán có chứcnăng bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán
Trang 9chứng khoán, tổ chức phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoántrong giai đoạn sau phát hành
Tổ chức bảo lãnh chịu trách nhiệm mua hoặc chào bán chứng khoán của một
tổ chức phát hành nhằm thực hiện phân phối chứng khoán để hưởng hoa hồng Phíbảo lãnh hoặc tỷ lệ hoa hồng mà tổ chức bảo lãnh được hưởng xác định trên số tiềnthu được từ đợt phát hành Phí bảo lãnh là mức chênh lệch giữa giá bán chứngkhoán cho người đầu tư và số tiền tổ chức phát hành nhận được Phí bảo lãnh hoặchoa hồng bảo lãnh cao hay thấp là tuỳ thuộc vào tính chất của đợt phát hành (lớnhay nhỏ, thuận lợi hay khó khăn) Nói chung, nếu đợt phát hành đó là đợt phát hànhchứng khoán lần đầu ra công chúng thì mức phí hoặc hoa hồng phải cao hơn lầnphân phối sơ cấp Đối với trái phiếu, phí bảo lãnh hoặc hoa hồng phụ thuộc vào lãisuất trái phiếu (lãi suất trái phiếu thấp thì phí bảo lãnh phát hành phải cao và ngượclại)
Nếu số lượng phát hành không lớn, chỉ cần một tổ chức bảo lãnh phát hành.Nếu chủ thể phát hành là một công ty lớn và số lượng chứng khoán phát hành vượtquá khả năng của một tổ chức bảo lãnh thì chỉ cần phải có một tổ hợp bảo lãnh pháthành, bao gồm một hoặc một số tổ chức bảo lãnh chính và một số tổ chức bảo lãnhphát hành thành viên
Bảo lãnh phát hành bao gồm các phương thức sau 2 :
- Bảo lãnh với cam kết chắc chắn: là phương thức bảo lãnh theo đó tổ chứcbảo lãnh cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán phát hành cho dù có phân phốiđược hết chứng khoán hay không
- Bảo lãnh với cố gắng tối đa: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảolãnh thỏa thuận làm đại lý cho đợt phát hành Tổ chức bảo lãnh không cam kết bántoàn bộ số chứng khoán mà cam kết sẽ cố gắng hết sức để bán chứng khoán ra thịtrường, nhưng nếu không phân phối hết sẽ trả lại cho tổ chức phát hành phần cònlại
- Bảo lãnh theo phương thức dự phòng: là phương thức bảo lãnh phát hànhthường được sử dụng khi một công ty đại chúng phát hành bổ sung thêm cổ phiếu.Trong trường hợp đó công ty cần phải bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông hiện hữu,
và như vậy công ty phải chào bán cổ phiếu bổ sung cho các cổ đông cũ trước khichào bán ra công chúng bên ngoài Dĩ nhiên, sẽ có một số cổ đông không muốn muathêm cổ phiếu của công ty Do vậy, công ty cần có một tổ chức bảo lãnh dự phòng
2 Nguồn: http://stocknews.vn/default.aspx?tabid=300&ID=621&CateID=176
Trang 10sẵn sàng mua những quyền mua không được thực hiện và chuyển thành những cổphiếu để phân phối ra công chúng Có thể nói bảo lãnh theo phương thức dự phòng
là việc tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua nốt số chứng khoán còn lại chưa được phânphối hết của tổ chức phát hành và bán lại ra công chúng
- Bảo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không: là phương thức bảo lãnhphát hành trong đó tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán một số lượngchứng khoán nhất định, nếu không phân phối được hết sẽ hủy toàn bộ đợt pháthành
- Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu: là phương thức kết hợp giữa phươngthức bảo lãnh phát hành với cố gắng tối đa và phương thức bảo lãnh bán tất cả hoặckhông Theo phương thức này, tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán tốithiểu một tỷ lệ chứng khoán nhất định Nếu lượng bán chứng khoán đạt được thấphơn tỷ lệ mức yêu cầu, toàn bộ đợt phát hành sẽ bị hủy bỏ, tiền đặt cọc được trả lạicho nhà đầu tư
1.1.3.4 Tư vấn đầu tư chứng khoán và tư vấn tài chính doanh nghiệp
Hoạt động tư vấn là hoạt động mà công ty chứng khoán thông qua các hoạtđộng phân tích, dự báo các dữ liệu từ đó cung cấp cho khách hàng các thông tin,đưa ra các lời khuyên cho khách hàng để giúp khách hàng có những quyết địnhđúng đắn nhất Theo luật chứng khoán năm 2007 đã mở rộng thì hoạt động tư vấncủa công ty chứng khoán bao gồm tư vấn tài chính doanh nghiệp và tư vấn đầu tưchứng khoán Đó là dịch vụ mà công ty chứng khoán cung cấp cho khách hàngtrong lĩnh vực đầu tư chứng khoán, tái cơ cấu tài chính; mua bán, chia tách, hợpnhất doanh nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp trong việc phát hành và niêm yết, đăng kýgiao dịch Ngoài ra, công ty chứng khoán còn thực hiện tư vấn cổ phần hóa, xácđịnh giá trị doanh nghiệp, tư vấn bán đấu giá cổ phần và cung cấp các dịch vụ tàichính khác cho doanh nghiệp phù hợp với quy định của pháp luật
Tư vấn tài chính doanh nghiệp: đây là mảng dịch vụ đang ngày càng được
chú trọng trong các công ty chứng khoán Nếu như trước đây, hoạt động tư vấn tàichính doanh nghiệp chủ yếu do các công ty tư vấn nước ngoài đảm nhiệm và kháchhàng thường là khối doanh nghiệp FDI thì hiện nay, dịch vụ này đang có nhu cầu rấtlớn khi thị trường chứng khoán ngày càng lớn và sôi động, các dịch vụ tư vấn niêmyết chứng khoán, tư vấn huy động vốn, tư vấn tài trợ dự án…cho các công ty cổphần ngày càng bùng nổ Hầu hết tất cả các công ty chứng khoán đều coi tư vấn tài
Trang 11chính doanh nghiệp là một trong những hoạt động trọng tâm, vừa góp phần tăngthêm thu nhập, vừa giúp hình thành thêm một lượng khách hàng tiềm năng chocông ty Mỗi công ty có cách phân loại khác nhau về hoạt động tư vấn tài chínhdoanh nghiệp nhưng nhìn chung hoạt động này gồm có: tư vấn xác định giá trịdoanh nghiệp, tư vấn cổ phần hóa, tư vấn chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, tư vấnphát hành, tư vấn niêm yết, tư vấn đăng ký giao dịch chứng khoán, tư vấn tái cấutrúc tài chính doanh nghiệp, tư vấn mua bán sáp nhập hợp nhất doanh nghiệp Công
ty chứng khoán sẽ nhận được phí hoa hồng cho hoạt động của mình, mức phí nàytùy thuộc vào từng hợp đồng cụ thể của công ty chứng khoán và khách hàng
Tư vấn đầu tư chứng khoán: là việc công ty chứng khoán tư vấn cho người
đầu tư về thời gian mua bán, nắm giữ, giá trị của các loại chứng khoán và diễn biếncủa thị trường dựa vào hoạt động phân tích của các chuyên gia của công ty để giúpkhách hàng có được quyết định đầu tư chính xác Công ty chứng khoán phân tíchcác tình huống, có thể thực hiện một số hoạt động phụ trợ liên quan đến phát hành,đầu tư và cơ cấu tài chính cho khách hàng Đây là nghiệp vụ phải dựa rất nhiều vàonhững kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp của đội ngũ nhân viên tưvấn của công ty chứng khoán Lời tư vấn dựa trên sự phân tích những diễn biến củathị trường trong quá khứ từ đó đưa ra các dự báo trong tương lai Tuy nhiên, khôngphải lúc nào người tư vấn cũng chính xác Lời khuyên của nhà tư vấn cũng có thểgiúp khách hàng kiếm lời nhưng cũng có thể khiến họ bị thua lỗ, thậm chí phá sản
Vì vậy, khách hàng vẫn là người quyết định cuối cùng, thông tin do nhân viên tưvấn đưa ra chỉ nên mang tính chất tham khảo Trong hoạt động này, khi thực hiện tưvấn đạo đức nghề nghiệp của nhân viên tư vấn luôn được đề cao, cần phải thực hiệnđúng các nguyên tắc cơ bản của hoạt động tư vấn để tránh những xung đột lợi ích cóthể xảy ra giữa khách hàng và công ty chứng khoán
1.1.3.5 Các nghiệp vụ khác của công ty chứng khoán: lưu ký chứng khoán, quản
lý thu nhập chứng khoán của khách hàng, dịch vụ tín dụng
- Lưu ký chứng khoán: là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách
hàng thông qua các tài khoản lưu ký chứng khoán Đây là quy định bắt buộc tronggiao dịch chứng khoán, bởi vì trong giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung
là hình thức giao dịch ghi sổ, khách hàng phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán tạicác công ty chứng khoán (nếu các chứng khoán phát hành dưới hình thức ghi sổ)
Trang 12hoặc ký gửi các chứng khoán (nếu phát hành dưới hình thức chứng chỉ vật chất).Khi thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán cho khách hàng, công ty chứng khoán sẽnhận được các khoản thu phí lưu ký chứng khoán, phí gửi, phí rút và phí chuyểnnhượng chứng khoán.
- Quản lý thu nhập chứng khoán của khách hàng: xuất phát từ việc lưu ký
chứng khoán cho khách hàng, công ty chứng khoán sẽ theo dõi tình hình thu lãi, cổtức của chứng khoán và đứng ra làm dịch vụ thu nhận và chi trả cổ tức cho kháchhàng thông qua tài khoản của khách hàng
- Dịch vụ tín dụng: Đối với các thị trường chứng khoán phát triển, bên cạnh
dịch vụ môi giới chứng khoán cho khách hàng hưởng hoa hồng, công ty chứngkhoán còn triển khai dịch vụ cho vay chứng khoán để khách hàng thực hiện giaodịch bán khống (short sale) hoặc cho khách hàng vay tiền để khách hàng thực hiệnnghiệp vụ mua ký quỹ (margin purchase)
1.2 Phát hành chứng khoán
1.2.1 Các phương thức phát hành chứng khoán
Các phương thức phát hành được phân chia theo các tiêu thức khác nhau
1.2.1.1 Phân loại theo đợt phát hành
Theo tiêu thức này, người ta phân chia phương thức phát hành thành pháthành chứng khoán lần đầu và phát hành các đợt tiếp theo
- Phát hành chứng khoán lần đầu là việc tổ chức phát hành chứng khoán lầnđầu tiên sau khi đã đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định của Ủy Ban Chứng khoánNhà nước
- Phát hành các đợt tiếp theo là hoạt động phát hành nhằm mục đích tăng thêmvốn của tổ chức phát hành Tổ chức phát hành các đợt tiếp theo đã có chứng khoánphát hành và giao dịch trên thị trường thứ cấp
1.2.1.2 Phân loại theo đối tượng mua bán chứng khoán
Theo đối tượng mua bán chứng khoán, phương thức phát hành được phânchia thành phát hành riêng lẻ (phát hành mang tính nội bộ) và phát hành ra côngchúng (hình thức chào bán công khai)
a) Phát hành riêng lẻ
Trang 13- Khái niệm: Phát hành riêng lẻ là việc công ty phát hành chào bán chứngkhoán của mình trong phạm vi một số người nhất định (thông thường là cho các nhàđầu tư có tổ chức có ý định nắm giữ chứng khoán một cách lâu dài) như công ty bảohiểm, quỹ hưu trí với những điều kiện hạn chế chứ không phát hành rộng rãi racông chúng Các ngân hàng đầu tư cũng có thể tham gia vào việc phát hành riêng lẻvới tư cách nhà phân phối để hưởng phí phát hành Đa số các đợt phát hành tráiphiếu đều thực hiện dưới hình thức phát hành riêng lẻ, việc phát hành cổ phiếuthường - cổ phiếu phổ thông ít khi được thực hiện dưới hình thức này.
- Điều kiện chào bán cổ phần riêng lẻ: Theo điều 8 nghị định số01/2010/NĐ-CP ngày 04/01/2010 do Chính phủ ban hành quy định về điều kiệnchào bán cổ phần riêng lẻ như sau:
1 Là công ty cổ phần, các doanh nghiệp chuyển đổi thành công ty cổ phần,ngoại trừ các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chuyển đổi thành công ty cổphần
2 Có quyết định thông qua phương án chào bán cổ phần riêng lẻ và phương
án sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán của Đại hội đồng cổ đông hoặcHội đồng quản trị theo Điều lệ công ty hoặc ủy quyền của Đại hội đồng cổđông cho Hội đồng quản trị (đối với công ty cổ phần); hoặc Hội đồng thànhviên, chủ sở hữu công ty (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn chuyển thànhcông ty cổ phần); hoặc chủ doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, Hội đồngquản trị doanh nghiệp liên doanh (đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài chuyển đổi thành công ty cổ phần)
Phương án chào bán phải xác định rõ đối tượng và số lượng nhà đầu tư đượcchào bán dưới 100 nhà đầu tư và hạn chế chuyển nhượng cổ phần tối thiểutrong vòng 01 năm kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán
Trường hợp chào bán cho các đối tác chiến lược, tổ chức chào bán phải xâydựng tiêu chí xác định, lựa chọn đối tác chiến lược Đối tác chiến lược là các
tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có năng lực tài chính, quản trị doanhnghiệp; chuyển giao công nghệ mới, cung ứng nguyên vật liệu, phát triển thịtrường tiêu thụ sản phẩm; gắn bó lợi ích lâu dài với doanh nghiệp
Những người có quyền lợi liên quan đến đợt chào bán riêng lẻ không đượctham gia biểu quyết thông qua Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông về việc này
Trang 143 Có hồ sơ đăng ký chào bán cổ phần riêng lẻ đầy đủ và hợp lệ theo quyđịnh và gửi tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền chậm nhất 20 ngày trướcngày dự kiến thực hiện việc chào bán, trừ trường hợp pháp luật chuyênngành có quy định khác.
4 Trường hợp tổ chức chào bán là doanh nghiệp thuộc lĩnh vực ngành, nghềkinh doanh có điều kiện, ngoài việc phải đáp ứng các quy định tại khoản 1, 2
và 3 Điều này, phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luậtchuyên ngành liên quan
5 Các đợt chào bán riêng lẻ phải cách nhau ít nhất sáu tháng
6 Đảm bảo tuân thủ các quy định về tỷ lệ góp vốn, hình thức đầu tư, trongtrường hợp có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài
b) Phát hành chứng khoán ra công chúng
- Khái niệm: là hình thức phát hành trong đó chứng khoán được phát hành
rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn các nhà đầu tư nhất định, trong đó phảiđảm bảo một tỷ lệ cho các nhà đầu tư nhỏ Ngoài ra, tổng khối lượng phát hànhchứng khoán cũng phải đạt một tỷ lệ theo quy định
Việc phát hành chứng khoán ra công chúng phải được cơ quan quản lý nhànước về chứng khoán cấp giấy phép hoặc chấp thuận Sau khi phát hành trên thịtrường sơ cấp chứng khoán sẽ được giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán khi đãđáp ứng được các quy định về niêm yết chứng khoán của SGDCK Tổ chức pháthành chứng khoán ra công chúng phải thực hiện một chế độ báo cáo, công bố thôngtin công khai và chịu sự quản lý, giám sát riêng theo quy định của pháp luật vềchứng khoán và thị trường chứng khoán
Việc phát hành ra công chúng được phân biệt thành hai hình thức là pháthành cổ phiếu ra công chúng và phát hành trái phiếu ra công chúng
Trường hợp phát hành cổ phiếu ra công chúng, việc phát hành được thựchiện một trong hai phương thức sau:
+ Phát hành lần đầu ra công chúng (IPO): là việc phát hành trong đó cổ phiếucủa công ty lần đầu tiên được bán rộng rãi cho công chúng đầu tư Nếu cổphần được bán lần đầu ra công chúng nhằm tăng vốn thì đó là IPO sơ cấp,còn khi cổ phần được bán lần đầu từ số cổ phần hiện hữu thì đó là IPO thứcấp
Trang 15+ Chào bán sơ cấp: là đợt phát hành cổ phiếu bổ sung của công ty cho rộngrãi công chúng đầu tư.
Trường hợp phát hành trái phiếu ra công chúng, việc phát hành được thựchiện bằng một hình thức duy nhất đó là chào bán sơ cấp
- Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng: theo điều 12 Luật chứng
khoán thì điều kiện chào bán chứng khoán bao gồm:
1 Điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng bao gồm:
a) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán
từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
b) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán;
c) Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua
2 Điều kiện chào bán trái phiếu ra công chúng bao gồm:
a) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán
từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
b) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải cólãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán, không cócác khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm;
c) Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợtchào bán được Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữucông ty thông qua;
d) Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư
về điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp củanhà đầu tư và các điều kiện khác
3 Điều kiện chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng bao gồm:
Trang 16a) Tổng giá trị chứng chỉ quỹ đăng ký chào bán tối thiểu năm mươi tỷ đồngViệt Nam;
b) Có phương án phát hành và phương án đầu tư số vốn thu được từ đợt chàobán chứng chỉ quỹ phù hợp với quy định của Luật chứng khoán
4 Chính phủ quy định điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng đốivới doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyểnđổi thành công ty cổ phần, doanh nghiệp thành lập mới thuộc lĩnh vực cơ sở
hạ tầng hoặc công nghệ cao; chào bán chứng khoán ra nước ngoài và cáctrường hợp cụ thể khác
*Ý nghĩa cơ bản của việc phân biệt giữa phát hành riêng lẻ và phát hành racông chúng: Việc phân biệt phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng là để xácđịnh những người phát hành rộng rãi ra công chúng phải là những công ty có chấtlượng cao, hoạt động sản xuất kinh doanh tốt, nhằm bảo vệ cho công chúng đầu tưnói chung, nhất là những nhà đầu tư nhỏ thiếu hiểu biết Đồng thời, đây cũng là điềukiện để xây dựng một thị trường chứng khoán an toàn, công khai và có hiệu quả.Việc phát hành chứng khoán riêng lẻ thông thường chịu sự điều chỉnh của LuậtCông ty Chứng khoán phát hành dưới hình thức này không phải là đối tượng đượcniêm yết và giao dịch trên thị trường chứng khoán sơ cấp
1.2.2 Ưu thế của phát hành chứng khoán so với các hình thức huy động vốn khác
Nhu cầu về vốn là một trong những vấn đề bức xúc của doanh nghiệp, đặcbiệt trong giai đoạn hnay, khi mà các doanh nghiệp đều mong muốn đầu tư để mởrộng sản xuất, đa dạng hóa dịch vụ nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp Khi nhu cầu về vốn đòi hỏi nhiều hơn, doanh nghiệp tìm nhiều cách
để huy động vốn Mỗi cách huy động vốn đều có những ưu điểm, nhược điểm riêng.Tùy theo mục đích, nhu cầu sử dụng vốn và khả năng trả nợ trong từng giai đoạn cụthể mà doanh nghiệp lựa chọn biện pháp huy động vốn khác nhau
Doanh nghiệp cũng có thể lựa chọn hình thức vay tín dụng ở các ngân hàng
để đáp ứng các yêu cầu về vốn Lợi thế của phương thức này là không bị chia sẻ
Trang 17những lợi ích cho các cổ đông mới Tuy nhiên phương thức này không cho phépcông ty vay với số lượng lớn và thường phải có yêu cầu về thế chấp tài sản Nhưngkhi nhu cầu về vốn trở thành vấn đề bức xúc và không thể đáp ứng được bằng cáchình thức khác thì công ty phải thực hiện phát hành chứng khoán để huy động vốntrên thị trường Phương thức phát hành chứng khoán cho phép công ty tiếp cận vớinguồn vốn lớn và lâu dài, thời gian hoàn lại tiền lâu hơn Hình thức này giúp doanhnghiệp tăng lượng vốn đối ứng để thực hiện các dự án có quy mô lớn Ưu điểm lớnnữa của phát hành chứng khoán là có thể huy động được các nguồn vốn với chi phíthấp, có thể huy động được một lượng vốn lớn mà không bị tính lãi suất như vayngân hàng Và với việc huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu, doanh nghiệpkhông phải trả lại tiền gốc cũng như không bắt buộc trả cổ tức nếu làm ăn không đạthiệu quả Doanh nghiệp cũng chủ động hơn trong việc vay vốn dài hạn Bên cạnh
đó việc phát hành chứng khoán có những yêu cầu thực hiện tương đối phức tạp,kèm theo các yêu cầu về công bố thông tin khá chặt chẽ
1.3 Dịch vụ tư vấn phát hành chứng khoán của công ty chứng khoán
1.3.1 Nội dung dịch vụ tư vấn phát hành chứng khoán
Tư vấn phát hành chứng khoán là dịch vụ tư vấn giúp doanh nghiệp huyđộng vốn thông qua việc phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu Nhu cầu về vốn để đápứng cho nhu cầu phát triển là nhu cầu rất quan trọng, các công ty chứng khoán sẽgiúp doanh nghiệp lựa chọn một trong các giải pháp tối ưu trong việc lựa chọn cáchình thức huy động vốn như phát hành cổ phiếu, trái phiếu để tài trợ cho nguồn vốncủa mình Căn cứ nhu cầu khách hàng, công ty chứng khoán sẽ đưa ra một giải phápphát hành chứng khoán có lợi nhất và tốn ít chi phí nhất, tùy theo từng điều kiện cụthể mà xác định doanh nghiệp nên phát hành loại chứng khoán nào Các công việc
cơ bản của dịch vụ tư vấn phát hành bao gồm: Rà soát tính pháp lý và tính phù hợpcủa kế hoạch phát hành, xây dựng phương án phát hành chi tiết (khối lượng chứngkhoán phát hành, cơ cấu, phương thức chào bán, giá cả, thời điểm,…) lập và bảo vệ
hồ sơ phát hành lên cơ quan chức năng, tổ chức triển khai thực hiện
Bước 1:
Bước đầu tiên của dịch vụ này là tìm kiếm khách hàng Cũng như các loại
hình dịch vụ khác đối với công ty chứng khoán ngoài việc thụ động đợi khách hàng
có nhu cầu tìm đến công ty thì một trong những bước chủ động là phải đi tìm kiếmkhách hàng Khách hàng ở đây là các doanh nghiệp có nhu cầu về vốn, các công ty
Trang 18cổ phần hoặc công ty mới đi vào hoạt động Bên cạnh đó là các doanh nghiệp nhànước có nhu cầu bán bớt một phần cổ phần thuộc quyền sở hữu nhà nước nhằm thulại vốn cho ngân sách, đối tượng này thường là ít Việc tìm kiếm khách hàng thôngqua việc quảng bá, tiếp xúc tìm kiếm các doanh nghiệp có cơ hội và triển vọng, vàqua các hội nghị, bên cạnh đó dựa trên các mối quan hệ làm ăn sẵn có, và quan hệvới khách hàng từ trước.
Bước 2:
Sau quá trình tìm kiếm khách hàng là quá trình thu thập những thông tin liênquan đến doanh nghiệp, tìm hiểu nhu cầu về vốn cũng như cơ cấu tài chính vốn cócủa doanh nghiệp và khi thoả thuận xong có thể đi đến việc ký kết hợp đồng sơ bộ
tư vấn phát hành chứng khoán giữa khách hàng và công ty chứng khoán
Bước 3:
Trong quá trình tư vấn phát hành chứng khoán cho doanh nghiệp lần đầuphát hành chứng khoán ra công chúng, với tư cách là nhà tư vấn phát hành, công tychứng khoán có nhiệm vụ:
- Thu thập các thông tin chính thức từ phía tổ chức phát hành như: báo cáotài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, mục tiêu của doanh nghiệp trongtương lai, chiến lược kinh doanh, đội ngũ cán bộ nhân viên hiện có của doanhnghiệp, bộ máy lãnh đạo, kế hoạch sản xuất trong hiện tại và tương lai…Tất cả cácnguồn thông tin này đều được đối chiếu với nhiều nguồn khác nhau để xem xét tínhđúng đắn của thông tin
- Đánh giá, thực hiện việc phân tích nhu cầu vốn của khách hàng trong tươnglai, xem xét cơ cấu vốn tối ưu đối với doanh nghiệp, và xây dựng một phương án tối
ưu đối với doanh nghiệp như việc lựa chọn loại chứng khoán phát hành, số lượngchứng khoán phát hành Và phương án này sẽ được đưa ra cho khách hàng xem xét.Thông qua đại hội cổ đông chính thức, công ty chứng khoán sẽ chính thức cùng với
tổ chức phát hành xây dựng kế hoạch cho đợt phát hành Thực hiện tiếp xúc sơ bộvới các nhà đầu tư để tìm hiểu thị trường và thái độ nhà đầu tư như thế nào đối vớidoanh nghiệp phát hành
- Công ty chứng khoán với tư cách là nhà tư vấn sẽ cùng tổ chức phát hànhtìm kiếm nhà bảo lãnh phát hành chứng khoán (ở Việt Nam có một số trường hợpviệc phát hành cổ phiếu ra công chúng không cần tổ chức bảo lãnh) và tổ chức kiểm
Trang 19toán độc lập Việc lựa chọn một tổ chức bảo lãnh có uy tín và mạng lưới rộng lớn sẽgiúp cho việc phân phối chứng khoán của tổ chức phát hành diễn ra một cách thuậnlợi Thông thường một Công ty chứng khoán thường kiêm luôn cả nhiệm vụ tư vấnphát hành và bảo lãnh phát hành nếu được khách hàng cho phép Tuy vậy có thểkhông thuê bảo lãnh phát hành chứng khoán, tuỳ theo yêu cầu của tổ chức pháthành, Công ty chứng khoán có thể đứng ra với tư cách là nhà tư vấn độc lập trợ giúpviệc phát hành thông qua phương thức phát hành hợp lý.
- Dựa trên những gì đã có như loại chứng khoán là cổ phiếu, số lượng pháthành, công ty tư vấn sẽ tư vấn cho tổ chức phát hành xác định mức giá và phươngthức chào bán Định giá cao hay thấp sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới tâm lý của nhà đầu
tư cũng như kết quả của đợt phát hành Trong quá trình tư vấn phát hành thì việcxác định giá phát hành cũng như phương thức chào bán là phần quan trọng nhấttrong khâu tư vấn tài chính đối với tổ chức phát hành Trong đó phương thức chàobán là một trong những nhân tố quyết định quan trọng tới kết quả của đợt phát hành
Phương thức giá cố định được thực hiện theo hình thức rộng rãi và khôngphân biệt các đối tượng đầu tư nên còn có những tên gọi khác nhau như phươngpháp chào bán công khai hay chào bán phổ thông
Trong phương thức giá cố định, giá chào bán chứng khoán được thỏa thuận
và thống nhất giữa tổ chức phát hành và tổ chức bảo lãnh trước khoảng 1 tuần sovới ngày phát hành Ngay trong ngày hôm trước của ngày phát hành, những nhà đầu
tư sẽ phải hoàn tất việc đăng ký số lượng chứng khoán đặt mua theo mức giá đãđịnh trước Nếu số lượng đăng ký mua lớn hơn nhiều so với khả năng cung cấp thìchứng khoán sẽ được phân phối cho các nhà đầu tư theo tỷ lệ đã đăng ký
+ Phương thức đấu giá
Nguyên tắc chung thực hiện phương thức này là bên phát hành sẽ tiếp nhậncác giá đăng kí mua dưới dạng đăng ký kín Sau khi kết thúc thời gian đăng ký, phía
Trang 20phát hành sẽ công bố kết quả về giá và số lượng được chấp nhận Có các hình đấugiá:
Đấu thầu một giá: Trên cơ sở nguyên tắc chung của đấu giá, phía phát hành
sẽ tổng hợp và công bố một mức giá cố định được áp dụng chung cho tất cả các nhàđầu tư đã thắng thầu, những nhà đầu tư này đã đặt giá bằng hoặc cao hơn mức giácông bố Tại mức giá này cung và cầu chứng khoán tương đối sát nhau Thôngthường số lượng chứng khoán được phân phối cho những người thắng thầu theo tỷ
lệ số lượng chứng khoán mà nhà đầu tư đã đặt và thắng
Đầu thầu nhiều mức giá: Nhà đầu tư được phép đặt nhiều mức giá khác
nhau Tương ứng với mỗi mức giá là số lượng chứng khoán đăng ký mua Sau khithời gian đăng ký kết thúc, tổ chức phát hành hoặc tổ chức bảo lãnh phát hành sẽ tậphợp đăng ký theo đúng thứ tự ưu tiên cho giá đăng ký cao nhất và người trúng thầu
sẽ phải thanh toán đúng như giá đã đăng ký Tại mức giá trúng thầu, nếu cầu lớnhơn cung thì chứng khoán được phân theo tỷ lệ số lượng chứng khoán đặt mua củacác nhà đầu tư tại mức đó
Đấu thầu không bình đẳng: Là hình thức đấu thầu mà giá được chọn để
thanh toán sẽ thấp hơn giá có khả năng thanh toán của thị trường Nói một cáchkhác là giá bán chứng khoán được xác định mức cao nhất mà tại đó cho phép tất cả
số chứng khoán phát hành được bán hết Dĩ nhiên, trong trường hợp sử dụngphương thức đấu thầu này thì số lượng chứng khoán phân phối hết cho nhà đầu tưtheo tỷ lệ đăng ký và trúng thầu
+Phương thức lập sổ
Theo phương thức này tổ chức phát hành và nhà bảo lãnh sẽ xác định mộtkhung giá có thể chấp thuận Sau đó, trong thời gian được phép thực hiện chiến dịchvận động tới các nhà đầu tư, tổ chức bảo lãnh phát hành sẽ tổ chức những buổi gặp
gỡ với những nhà đầu tư tiềm năng để thăm dò khả năng về số lượng cũng như mứcgiá mà các nhà đầu tư có thể chấp nhận Những nội dung được trao đổi trong cáccuộc gặp này chủ yếu nhằm diễn giải về mục đích của đợt phát hành, các vấn đềxung quanh đợt chào bán và không được vượt quá phạm vi quy định của cơ quanquản lý phát hành Các nhà đầu tư sẽ đăng ký số lượng chứng khoán và giá chấpthuận Tuy nhiên, những đăng ký này không bị bắt buộc phải thực hiện Khi thờigian lập sổ kết thúc tổ chức phát hành và tổ chức bảo lãnh phát hành sẽ quyết địnhgiá bán cuối cùng trên cơ sở phân tích những thông tin có được từ các đăng ký muacủa các nhà đầu tư Cuối cùng, khi đã thống nhất được giá bán, tổ chức bảo lãnh
Trang 21phát hành sẽ lựa chọn trong số các nhà đầu tư đã đăng ký mua để quyết định bánchứng khoán cho họ.
- Phát hành cổ phiếu khi công ty tăng vốn
Để tăng vốn trong quá trình kinh doanh, công ty cổ phần có thể lựa chọnphương pháp phát hành và bán cổ phiếu mới Công ty sẽ lựa chọn hình thức pháthành cổ phiếu để tăng vốn dưới các hình thức sau:
+Tăng vốn bằng cách phát hành thêm cổ phiếu mới, thu bằng tiền mặt
+Tăng vốn bằng cách phát hành cổ phiếu mới bằng hiện vật
+Tăng vốn từ quỹ dự trữ
+Tăng vốn bằng cách chuyển từ trái phiếu chuyển đổi sang cổ phiếu
- Phát hành thêm cổ phiếu mới do tách hoặc gộp cổ phiếu
Loại phát hành cổ phiếu mới này làm thay đổi số lượng cổ phiếu lưu hànhcủa công ty nhưng không làm tăng vốn của công ty so với trước khi phát hành thêm
cổ phiếu mới
Trong quá trình hoạt động của công ty, đôi khi giá cổ phiếu của công ty lênquá cao Điều đó có thể gây khó khăn cho nhà đầu tư Công ty có thể thu hồi cổphiếu cũ và thay thế bằng số lượng cổ phiếu mới nhiều hơn và quy định tỷ lệ thaythế cụ thể
Phương pháp xác định giá chứng khoán
Tiếp đến việc xác định giá chào bán của chứng khoán vừa là một trongnhững nội dung quan trọng và là công việc khó khăn nhất của tổ chức tư vấn pháthành Xác định giá chào bán có thể coi là một nghệ thuật vì bên cạnh những nguyêntắc toán học thuần tuý, giá chào bán chứng khoán phải dựa trên những yếu tố của thịtrường mà những yếu tố này lại rất khó xác định và định lượng một cách chính xác.Trong xác định giá chứng khoán, tổ chức tư vấn phát hành thường sử dụng cácphương pháp sau:
+ Phương pháp dựa vào giá trị tài sản của công ty: Phương pháp này dựa
trên giá trị tài sản để định ra giá trị của công ty Tuy nhiên, xác định giá theophương pháp này chỉ phù hợp và mang lại kết quả chính xác nếu phần lớn tài sảncủa công ty có tính thanh khoản cao, có nghĩa là dễ dàng thanh lý ngay được và vớigiá cả sát với giá trên thị trường Trên thực tế điều này không dễ dàng Nhiều tài sản
Trang 22của công ty rất khó xác định chính xác giá trị tài sản vô hình hay những tài sảnmang tính triển vọng Đặc biệt phương pháp này không phù hợp với các công ty trẻthuộc các lĩnh vực công nghệ cao khi thực hiện việc chào bán lần đầu vì phần lớncác giá trị của công ty thuộc dạng này được xuất phát từ những cơ hội phát triển,nghĩa là những giá trị còn trong tương lai Trên thực tế những giá trị này rất khó xácđịnh một cách chính xác.
+ Phương pháp chiết khấu dòng tiền (DCF): Phương pháp xác định giá chiết
khấu luồng thu nhập được thực hiện bằng cách lấy các luồng thu nhập mà doanhnghiệp đó thu được trong tương lai để quy về giá trị hiện tại theo lãi suất chiết khấu
Nguyên tắc cơ bản trong việc chiết khấu là ghép luồng thu nhập với tỷ lệchiết khấu phù hợp với nội dung thu nhập đó Cụ thể:
1 Mô hình chiết khấu luồng cổ tức (DDM) 3 :
Mô hình 1 giai đoạn_Mô hình Gordon
Mô hình hai giai đoạn
g D
P
1
0
) 1 ( )
1 (
) 1 (
*
) (
) 1 (
*
g r
g Do
t hg
r g
r
g G
Do r
G D
P
) 1 (
* ) (
) 1 (
* ) 1 (
* )
1 (
) 1 (
Trang 23Ghg: tốc độ tăng trưởng trong giai đoạn tăng trưởng cao
T: khoảng thời gian tăng trưởng cao
2 Mô hình chiết khấu dòng tiền tự do (FCFE)
Xác định FCFE:
FCFE = thu nhập ròng
– (chi phí TSCĐ – khấu hao)
– thay đổi vốn lưu động (không tiền mặt)
+ (nợ mới phát hành – nợ được trả)
FCFE = thu nhập ròng
– (chi phí TSCĐ – khấu hao)*(1 – tỷ lệ nợ)
– thay đổi vốn lưu động*(1 – tỷ lệ nợ)
Công thức tổng quát:
Trong đó: P0: giá trị của CF
FCFE0: FCFE của năm đầu tiên
ke: chi phí vốn cổ phần
g: tốc độ tăng trưởng của FCFE
Áp dụng mô hình 1 giai đoạn: khi Cty tăng trưởng ổn định:
Áp dụng mô hình FCFE 2 giai đoạn:
t
ke
P ke
g FCFE
P
1
0 0
)1()
1(
)1(
*
)(
0
n e
t
g k
FCFE P
n n
t
t
ke
g r FCFE ke
FCFE P
1
1
)1(
)/(
)(
)1(0
Trang 243 Mô hình chiết khấu dòng tiền tự do toàn doanh nghiệp (FCFF)
Xác định FCFF:
FCFF = EBIT*(1 - T) – (chi phí TSCĐ – Khấu hao)
– thay đổi vốn lưu động ròng
Công thức tổng quát:
Trong đó: WACC: chi phí vốn bình quân
Áp dụng mô hình 1 giai đoạn:
Áp dụng mô hình FCFF 2 giai đoạn:
Hạn chế của phương pháp này tuy được dựa trên lý thuyết khá chặt chẽ vàhợp lý nhưng lại rất khó thực hiện được vì trong nhiều trường hợp không thể tínhđược luồng tiền luân chuyển trong tương lai và khó xác định chính xác tỷ lệ chiếtkhấu hợp lý
+ Phương pháp so sánh với các công ty cùng hoạt động trên thị trường:
Nguyên tắc thực hiện của phương pháp này là so sánh với những công ty có nhữngđiều kiện tương tự và thực hiện phát hành ra công chúng để xác định giá trị củacông ty dự kiến phát hành Phương pháp này được coi là hữu dụng nhất khi trên thịtrường có một nhóm các công ty có cùng điều kiện có thể cùng so sánh được vớinhau Tuy nhiên, điều này khó có thể xảy ra Các công ty thường rất khác nhau vềlĩnh vực hoạt động Ngay trong bản thân cùng một lĩnh vực sản xuất, giữa các công
ty cũng cần có sự khác biệt rất căn bản về trình độ quản lý, những thuận lợi khókhăn, cơ hội phát triển…Hơn thế nữa, một điều không dễ khắc phục là số lượngchứng khoán có thể tìm mua được trên thị trường khác nhau Nếu công ty nào có
1 0
)1
(
)(
0
n
t
g WACC
FCFF P
st st n
t hg
t
WACC
g WACC FCFF
WACC
FCFF P
1
1 0
)1
(
)/(
)(
)1
(
Trang 25chứng khoán khó tìm mua trên thị trường, đương nhiên giá chứng khoán sẽ cao hơn
do tác động của tâm lý cung cầu Ngược lại, những công ty có lượng chứng khoánđược bán ra nhiều trên thị trường thì giá chứng khoán phần nào sẽ bị ít ảnh hưởngbởi các yếu tố đầu cơ
Để khắc phục những nhược điểm của từng phương pháp trên các nhà tư vấnphát hành phải nghiên cứu để đề xuất hướng sử dụng kết hợp các phương pháp Đó
là sử dụng các phương pháp chiết khấu luồng tiền, có sử dụng số liệu kế toán và cókết hợp so sánh đối chiếu với các công ty cùng loại Cách làm này được coi là thíchhợp hơn cả Tuy nhiên cần chú ý là nếu sử dụng dữ liệu của kế toán mà không cónhững điều chỉnh cho phù hợp thì kết quả cũng không hoàn toàn chính xác Trongthực tế, một số các chỉ số sau đây thường được sử dụng là: P/E, giá trị thị trườngtrên giá trị sổ sách Cách làm này được thực hiện với việc tìm kiếm các công tycùng hoặc trong ngành tương tự về điều kiện hoạt động và điều kiện tài chính vớicông ty thực hiện phát hành lần đầu Tổ chức phát hành và phân tích các chỉ số giátrị thị trường có sự điều chỉnh với những đặc thù riêng của công ty sau đó sẽ quyếtđịnh giá cao nhất và giá thấp nhất của đợt chào bán Sau khi tập hợp thêm nhữngthông tin khác trên thị trường, người ta sẽ đưa ra một giá chào bán cuối cùng củađợt phát hành Thông thường, các nhà bảo lãnh phát hành thường sử dụng các sốliệu dự đoán cho năm kế tiếp Tuỳ thuộc vào đặc thù của từng ngành công nghiệp,các hệ số sử dụng để so sánh giữa các tổ chức phát hành và công ty so sánh có thể làP/E, giá trị thị trường trên giá trị sổ sách…
Những rủi ro khi sử dụng phương pháp này: Rất khó dự toán được luồng tiềnmặt trong tương lai, đặc biệt là khi các công ty này là những công ty trẻ, nằm tronglĩnh vực công nghệ cao thực hiện phát hành lần đầu Rất khó xác định lãi suất chiếtkhấu hợp lý cho mỗi nguồn thu nhập Khó tìm được các công ty có cùng chung cácđiều kiện để so sánh Khi sử dụng phương pháp hệ số của công ty tương đương, mộtyếu tố thường không được tính đến quy mô của chứng khoán phát hành ra côngchúng Bởi vì nếu khối lượng chứng khoán ra công chúng càng nhỏ thì nhu cầu muachứng khoán ở giá cao sẽ càng tăng lên
Bước 4:
- Tiếp đến công ty chứng khoán với tư cách là nhà tư vấn phát hành sẽ thựchiện việc lập bản cáo bạch sơ bộ cho đợt phát hành Việc thành lập bản cáo bạch
Trang 26thuộc trách nhiệm của tổ chức tư vấn và bảo lãnh phát hành thông qua các công tykiểm toán Đây là bức tranh tổng thể cho tổ chức phát hành tiếp xúc với các nhà đầu
tư và cũng là những gợi ý cho các nhà đầu tư, do vậy mà nó có một vai trò khá quantrọng cho cả nhà phát hành lẫn các nhà đầu tư Các thông tin không được sai sự thực
để nhằm lôi kéo nhà đầu tư, song vẫn phải giúp cho tổ chức phát hành có thể thu hútđược sự quan tâm của các nhà đầu tư Bản cáo bạch bao gồm các thông tin như:
+ Thông tin về tổ chức phát hành
+ Chứng khoán phát hành: loại chứng khoán, số lượng phát hành, giá dự kiếnphát hành, phương thức và thời gian phân phối chứng khoán…
+ Tình hình và đặc điểm của tổ chức phát hành
+ Các đối tác liên quan
+ Các nhân tố rủi ro liên quan tới ngành kinh doanh và triển vọng của công ty+ Các thông tin khác
- Hoạt động tư vấn của công ty chứng khoán ngoài ra sẽ giúp tổ chức pháthành chuẩn bị hồ sơ đăng ký phát hành chứng khoán lên Uỷ ban chứng khoán Nhànước Hồ sơ đăng ký phát hành chứng khoán ra công chúng bao gồm:
+ Các báo cáo tài chình được kiểm toán
+ Bản cáo bạch, bản sao các hợp đồng đề cập trong bản cáo bạch
+ Hợp đồng bảo lãnh phát hành chứng khoán
+ Các tài liệu khác
Trong khoảng thời gian chờ đợi sau khi nộp hồ sơ đăng ký phát hành, công
ty chứng khoán tư vấn cho tổ chức phát hành sẽ sử dụng các thông tin có trong bảncáo bạch cho việc tiếp cận các nhà đầu tư, để tìm hiểu nhu cầu thị trường, từ đóđánh giá chính xác thị trường về cổ phiếu mà doanh nghiệp chuẩn bị phát hành
Sau khi có tín hiệu từ phía Uỷ ban chứng khoán Nhà nước, tổ chức tư vấn sẽgiúp đỡ khách hàng trong việc công bố thông tin
Bước 5:
Trang 27Cuối cùng, sau khi đã phân phối hết chứng khoán theo phương thức đã lựachọn, nhà tư vấn sẽ giúp việc thông báo kết quả về đợt phát hành lên Uỷ ban chứngkhoán Nhà nước và đăng ký với cơ quan có thẩm quyền.
Đối với các đợt phát hành bổ sung hay chào bán sơ cấp, thì hoạt động tư vấncủa công ty chứng khoán cũng tương tự như tư vấn phát hành chứng khoán lần đầu
ra công chúng, tuy nhiên do việc phát hành bổ sung có thể là cổ phiếu hoặc tráiphiếu nên trong giai đoạn đầu tư vấn, công ty chứng khoán phải giúp cho doanhnghiệp lựa chọn loại chứng khoán phát hành sao cho phù hợp với kết cấu tài chínhcủa doanh nghiệp, xây dựng một công cụ phát hành sao cho thu hút được nhà đầu tư
và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp, lựa chọn hình thức tăng vốn phùhợp: bằng cách phát hành chứng khoán mới, thu bằng tiền mặt…Thêm vào đó khiđăng ký phát hành thêm cần bổ sung vào bản cáo bạch, trong quá trình phát hành dođặc điểm của phát hành trái phiếu nên bắt buộc phải có tổ chức bảo lãnh phát hành
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển của dịch vự tư vấn phát hành
chứng khoán
- Số lượng hợp đồng tư vấn:
Số lượng hợp đồng tư vấn là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá sự phát triểncủa dịch vụ tư vấn nói chung và dịch vụ tư vấn phát hành chứng khoán nói riêng.Đây là chỉ tiêu phản ánh sự gia tăng về mặt lượng Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏkhách hàng ký hợp đồng tư vấn càng nhiều Số lượng hợp đồng tư vấn được ký kết
và thực hiện càng nhiều thì càng chứng tỏ sự tin tưởng của khách hàng đối với côngty
- Giá trị hợp đồng:
Giá trị hợp đồng tư vấn phát hành là một chỉ tiêu phản ánh sự gia tăng về mặtlượng Về mặt lượng, tổng các giá trị hợp đồng tư vấn càng lớn, chứng tỏ doanh thutăng thêm của công ty càng lớn, đó là sự tăng trưởng về mặt lượng của hoạt độngnày Mặt khác, giá trị hợp đồng tư vấn càng lớn, chứng tỏ quy mô hợp đồng lớn,cũng như hiệu quả hoạt động mà công ty chứng khoán thực hiện cao
- Sự hài lòng của khách hàng:
Trang 28Sự hài lòng của khách hàng là một tiêu chí quan trọng của bất kỳ hoạt động
tư vấn nào mà không chỉ riêng hoạt động tư vấn phát hành, bởi nó là mục tiêu caonhất của một hoạt động tư vấn Đây là chỉ tiêu định tính, không thể đo lường đượcthông qua các con số cụ thể nhưng có thể đánh giá được một cách gián tiếp bằngcách điều tra thăm dò, thống kê Nếu độ hài lòng của khách hàng càng lớn, chứng tỏchất lượng tư vấn phát hành của công ty tốt và có hiệu quả Và những khách hàngnày có thể trở thành những khách hàng tiềm năng của công ty, họ sẽ tiếp tục sửdụng dịch vụ của công ty khi có nhu cầu hoặc giới thiệu bạn hàng, đối tác cho công
ty Đây là một điều kiện rất thuận lợi để công ty tiếp tục phát triển hoạt động tư vấnphát hành chứng khoán
- Thị phần của công ty so với toàn bộ thị trường:
Một chỉ tiêu không kém phần quan trọng khi đánh giá sự phát triển của hoạtđộng tư vấn phát hành chứng khoán của một công ty chứng khoán đó là thị phần vềhoạt động này của công ty so với toàn bộ thị trường Đây là một chỉ tiêu rất dễ nhận
ra và là một trong những nhân tố được khách hàng cân nhắc khi tìm đối tác để kýhợp đồng Bởi một công ty chứng khoán có thị phần lớn chứng tỏ uy tín, chất lượngcủa công ty trong hoạt động tư vấn phát hành chứng khoán so với các công ty cùngngành Thị phần càng lớn tức là số khách hàng tín nhiệm, sử dụng dịch vụ của công
ty càng nhiều và càng chứng tỏ sự phát triển của dịch vụ tư vấn phát hành chứngkhoán của công ty
1.4 Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của dịch vụ tư vấn phát hành chứng khoán của công ty chứng khoán
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của hoạt động tư vấn pháthành chứng khoán của công ty chứng khoán Có thể phân chúng thành hai nhóm:nhóm nhân tố chủ quan và nhóm nhân tố khách quan
1.4.1 Nhân tố chủ quan
- Quan điểm của công ty về phát triển dịch vụ tư vấn phát hành chứng khoán:
Trang 29Tư vấn phát hành chứng khoán là một trong những hoạt động kinh doanh củacông ty chứng khoán Do đó, nó có phát triển hay không phụ thuộc rất nhiều vàoquan điểm của công ty Nếu quan tâm đến hoạt động này, công ty sẽ có những đầu
tư hợp lý về cơ sở vật chất, kỹ thuật, về nhân sự, sẽ có những ưu tiên phát triển thìhoạt động này càng có điều kiện để phát triển Bên cạnh đó, nó còn thể hiện ở mụctiêu khách hàng nhắm tới của công ty chứng khoán, đó là các doanh nghiệp lớn haydoanh nghiệp vừa và nhỏ Mỗi đối tượng tư vấn, công ty sẽ xác định được lợi ích vàchi phí riêng Trên cơ sở đó, công ty chứng khoán sẽ lựa chọn được khách hàngmục tiêu phù hợp với năng lực của công ty Như vậy có thể thấy, chính sách củacông ty chứng khoán là điều kiện cần để hoạt động tư vấn phát hành chứng khoánphát triển Một khung chính sách thông thoáng, gọn nhẹ, nhất quán cùng với sựkhuyến khích, tạo điều kiện từ công ty sẽ giúp thúc đẩy mạnh phát triển hoạt động
tư vấn phát hành chứng khoán
- Chất lượng đội ngũ cán bộ nhân viên:
Hoạt động tư vấn là hoạt động đòi hỏi nhiều chất xám, yêu cầu đầu tư lớnvào đội ngũ nhân viên vủa phòng tư vấn Đây chính là điểm mấu chốt để tạo ra cácdịch vụ tư vấn có chất lượng, đáp ứng được nhu cầu và làm hài lòng khách hàng.Chất lượng của nhân viên tạo nên uy tín và sự tăng trưởng cho chính hoạt động tưvấn vì vậy năng lực chuyên môn của công ty là một trong những nhân tố quan trọngảnh hưởng tới hoạt động tư vấn phát hành của công ty chứng khoán
Qua việc tiếp xúc hay trao đổi với nhân viên công ty chứng khoán, kháchhàng sẽ đánh giá về công ty từ đó tạo nên sự không thiện cảm hay thiện cảm đối vớicông ty Trình độ của đội ngũ nhân viên công ty chứng khoán cũng bộc lộ trong khithực hiện nghiệp vụ tư vấn phát hành vì để hoàn thành tốt các hoạt động này đòi hỏiphải là người có khả năng thu thập, xử lý và phân tích thông tin Nhân viên tư vấnphải có giấy phép hành nghề tư vấn Hiện nay, khi mà trình độ dân trí ngày càngcao thì yêu cầu của khách hàng đối với công ty chứng khoán cũng tăng lên Họ đòihỏi những dich vụ tốt nhất, hoàn hảo nhất Đây là một tín hiệu đáng mừng bởi vì chỉ
có như thế công ty chứng khoán mới có động lực để phát triển Rõ ràng, để thỏamãn nhu cầu khách hàng công ty chứng khoán phải xây dựng một đội ngũ nhân viên
có năng lực toàn diện
Tìm nguồn nhân lực cao đã khó, giữ chân được những nhân lực cáo đó cònkhó hơn Để làm được điều đó, công ty chứng khoán không thể thiếu một chiến
Trang 30lược nhân sự, một chính sách đãi ngộ hợp lý Chính sách nhân sự phù hợp sẽ giúpcông ty có được những nhân viên tư vấn giỏi nhất, chất lượng tư vấn được nâng cao
từ đó cũng phát triển được hoạt động tư vấn phát hành chứng khoán
- Hệ thống thông tin và cơ sở vật chất kỹ thuật:
Hoạt động tư vấn phụ thuộc nhiều vào khối lượng thông tin mà công tychứng khoán thu thập được bởi vì trên cơ sở những thông tin thu thập sẽ tiến hànhtổng hợp, nghiên cứu, so sánh, phân tích, đánh giá từ đó đưa ra quyết định tư vấn
Do vậy, hệ thống thông tin là vô cùng quan trọng Cũng giống như các hoạt độngkhác của công ty chứng khoán, tư vấn phát hành chứng khoán cũng cần có nhữngđiều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật để có thể tiến hành Nhân viên tư vấn cũng cầnphải có máy móc, phương tiện hỗ trợ trong quá trình làm việc để đảm bảo được chấtlượng và hiệu quả công việc Cơ sở vật chất kỹ thuật góp phần đẩy nhanh tiến độ tưvấn cũng như nâng cao chất lượng
- Sự phát triển của mạng lưới khách hàng:
Mạng lưới khách hàng truyền thống, đối tác làm ăn của công ty chứng khoáncàng lớn thì càng thuận lợi đặc biệt là khi quy mô đợt phát hành càng lớn thì yếu tốnày trở nên quan trọng, nó tác động tới hiệu quả của đợt phát hành Bên cạnh đó, sựphát triển của các hoạt động khác của công ty như môi giới, marketing… cũng thuhút được nhiều khách hàng đến với công ty thì tư vấn phát hành cũng có nhiều cơhội phát triển
Trang 311.4.2 Nhân tố khách quan
Bên cạnh các nhân tố chủ quan tác động trực tiếp tới hoạt động dịch vụ tưvấn phát hành thì nhân tố khách quan bao gồm các tác động của môi trường vĩ mônhư : yếu tố pháp lý, sự phát triển của thị trường chứng khoán, tâm lý nhà đầu tư vàyếu tố thuộc về tổ chức phát hánh cũng tác động khá lớn tới dịch vụ này
- Yếu tố pháp lý:
Đây là yếu tố tác động trực tiếp tới hoạt động của công ty chứng khoán.Khung pháp lý và các chính sách của Nhà nước tạo khuôn khổ cho các hoạt độngcủa công ty chứng khoán, tác động trực tiếp đến sự phát triển của hoạt động tư vấnphát hành chứng khoán Môi trường pháp lý đồng bộ, hoàn chỉnh sẽ góp phần pháttriển thị trường, quy định rõ chức năng và cơ chế hoạt động của các doanh nghiệpkhi muốn phát hành chứng khoán, điều này làm cho công tác tư vấn trở nên rõ rànghơn do được chuẩn hóa một cách cao độ, tránh những sai sót trong thủ tục làm chậmquá trình thực hiện của đợt phát hành Với những chính sách khuyến khích pháttriển, các công ty chứng khoán sẽ dễ dàng hơn trong hoạt động
- Sự phát triển của thị trường chứng khoán:
Thị trường chứng khoán là môi trường hoạt động của công ty chứng khoán.Thị trường chứng khoán phát triển sẽ tạo cơ sở cho mọi hoạt động của công tychứng khoán phát triển, hoạt động tư vấn phát hành chứng khoán cũng không nằmngoài quy luật đó Thị trường chứng khoán phát triển sẽ tạo ra nhu cầu sử dụng dịch
vụ tư vấn tăng cao, và do lúc này việc huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh
tế thông qua phát hành chứng khoán sẽ chiếm tỷ trọng lớn Điều đó đồng nghĩa vớiviệc các doanh nghiệp, tổ chức phát hành sẽ rất cần đến các hoạt động tư vấn như tưvấn phát hành chứng khoán Hơn nữa khi thị trường phát triển các công ty chứngkhoán sẽ được đầu tư tốt hơn vể công nghệ, kỹ thuật, trình độ vì vậy sẽ tạo điềukiện cho công ty chứng khoán nâng cao chất lượng dịch vụ tư vấn
- Tâm lý nhà đầu tư:
Khi đánh giá về thị trường chứng khoán không thể không đánh giá về nhucầu và trình độ của nhà đầu tư Việc tư vấn phát hành chứng khoán của công ty cógiúp ích cho doanh nghiệp hay không phải xem xét đến nhu cầu của nhà đầu tư vàphản ứng của nhà đầu tư đến doanh nghiệp cũng như các tổ chức có liên quan
Trang 32Trong quá trình phát hành chứng khoán nếu như nhà đầu tư có sự tin tưởng vào tổchức phát hành cũng như tổ chức có liên quan như tư vấn, bảo lãnh, kiểm toán thìđợt phát hành mới có khả năng thành công và ngược lại sẽ rất khó khăn cho các tổchức phát hành thành công Trình độ của các nhà đầu tư cũng ảnh hưởng tới tâm lýcủa họ Do vậy việc tư vấn phát hành chứng khoán phải đặc biệt quan tâm tới tâm lýnhà đầu tư, xây dựng niềm tin của họ đối với tổ chức phát hành.
- Yếu tố thuộc về tổ chức phát hành:
Trung tâm của một đợt phát hành là tổ chức phát hành, họ quyết định tới kếtquả của đợt phát hành Bên cạnh những điều kiện đảm bảo cho đợt phát hành thànhcông như uy tín của doanh nghiệp cũng như tiềm năng của doanh nghiệp thì khíacạnh mà chúng ta quan tâm là thái độ của doanh nghiệp với việc tư vấn trong đợtphát hành Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam đang trong thời kì hình thành vàhoàn thiện thì việc các doanh nghiệp những chủ thể tham gia thị trường với tư cách
là người đi tìm vốn từ đó cung cấp hàng hoá là các chứng khoán ra thị trường lạichưa có cái nhìn đúng đắn đối với các dịch vụ tài chính nói chung cũng như tư vấnphát hành chứng khoán nói riêng Một trong những khó khăn của việc phát hànhchứng khoán là việc các doanh nghiệp với trình độ còn hạn chế khi tham gia vào thịtrường và bản thân họ cũng không thực sự tin tưởng các tổ chức trung gian nhưcông ty chứng khoán khi phát hành chứng khoán Vấn đề ở chỗ họ chưa hiểu đượclợi ích đem lại của việc tư vấn, chưa xác định rõ được giá trị của việc tư vấn Bêncạnh đó do thị trường tài chính chưa đồng bộ, nền kinh tế vẫn còn kém phát triểnnên việc họ vẫn còn dựa vào nguồn vốn tín dụng cũng như vốn nhà nước đã khiếncho nhu cầu về phát hành chứng khoán không còn, do đó tính thiết yếu của việc tưvấn là không cần thiết
Trang 33CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA DỊCH VỤ TƯ VẤN PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG
KHOÁN ĐÔNG NAM Á
2.1 Khái quát về công ty cổ phần chứng khoán Đông Nam Á
2.1.1 Giới thiệu chung về công ty
Công ty cổ phần chứng khoán Đông Nam Á (SASC) tiền thân là công ty cổphần chứng khoán Seabank được đổi tên theo Quyết Định số 202/UBCK-GP ngày
11 tháng 03 năm 2009 của UBCK nhà nước Công ty được cấp giấy chứng nhậnđăng ký kinh doanh số 010301 5002 do Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở kếhoạch và đầu tư Thành phố Hà Nội cấp vào ngày 12 tháng 12 năm 2006 với số vốnđiều lệ ban đầu là 50 tỷ đồng, hiện tại vốn điều lệ của Công ty là 200 tỷ đồng
Công ty chính thức trở thành thành viên lưu ký của TTGDCK TP Hồ ChíMinh ngày 05/01/2007, với số đăng ký thành viên lưu ký và thành viên giao dịch là
032 Ngày 07/03/2007, công ty chính thức đi vào hoạt động và đến ngày 20/03/2007công ty đã được TTGDCK TP Hồ Chí Minh trao quyết định công nhận tư cáchthành viên Theo đó công ty trở thành thành viên thứ 34 tại TTGDCK TP Hồ ChíMinh
Tên giao dịch của công ty là: Công ty cổ phần chứng khoán Đông Nam Á.Tên giao dịch tiếng anh là: Southeast Asian securities corporation
Tên viết tắt: SASC
SASC có trụ sở chính tại 14 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội
Công ty CP chứng khoán Đông Nam Á thuộc loại hình công ty cổ phần, cổđông sáng lập là Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á (Seabank) Đây làmột trong những ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu Việt Nam Với những
Trang 34kinh nghiệm dày dặn trong lĩnh vực ngân hàng – tài chính cùng với mức vốn lên tớihơn 4 nghìn tỷ thì đây là sự đảm bảo cho những dịch vụ có thể được ngân hàng mẹSeabank hỗ trợ cho công ty chứng khoán.
Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp là chuyên cung cấp tất cả các dịch vụchứng khoán như môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, lưu kí chứngkhoán, tư vấn tài chính doanh nghiệp và đầu tư chứng khoán
Sứ mệnh tầm nhìn của công ty: SASC hướng tới mục tiêu là một trong
những công ty chứng khoán hàng đầu Việt Nam và định hướng trở thành 1 tập đoànngân hàng đầu tư chuyên nghiệp
Giá trị của công ty:
Tối ưu hóa lợi nhuận và cơ hội đầu tư cho khách hàng là nền tảng cơ bảntrong mọi mọi hoạt động của chúng tôi SASC luôn đối xử một cách côngbằng với các chuẩn mực đạo đức cao nhất đối với tất cả khách hàng
SASC xây dựng một môi trường kinh doanh chuyên nghiệp, hiệu quả, sángtạo và luôn hướng tới sự thành công của khách hàng
Giá trị của SASC được tạo dựng từ sự nỗ lực không ngừng của đội ngũ cán
bộ, từ Hội đồng Quản trị tới đội ngũ lãnh đạo và chuyên viên nghiệp vụ đềuhướng tới sự hoàn hảo, minh bạch, trung thực, trách nhiệm và cởi mở
Hướng tới sự chuyên nghiệp và hoàn hảo trong chất lượng dịch vụ cùng camkết bảo mật của SASC sẽ mang lại cho khách hàng sự tin tưởng và tăngcường sức mạnh cho các nhà đầu tư
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và nhân sự
a, Nhân sự
Ngay từ khi bắt đầu thành lập, SASC đã xác định rõ nguồn nhân lực là yếu tốquyết định cho sự tăng trưởng và triển khai thành công chiến lược phát triển củacông ty Do đó, công tác tuyển dụng và đào tạo được đặc biệt chú ý nhằm cung cấpcho công ty một đội ngũ cán bộ có trình độ và năng lực tốt nhất, có đạo đức nghềnghiệp
Hiện nay, sau hơn 3 năm thành lập công ty đã có đội ngũ lãnh đạo là cácchuyên gia tài chính giàu kinh nghiệm trong quản lý Ngân hàng, Tài chính, Chứngkhoán với nền tảng kiến thức tài chính chuyên sâu, cộng với bề dày kinh nghiệm về