Những thông tin về sự biến đổi này rất cần thiết cho sự tìm ra phương hướng, biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, mặt khác việc thu hồi vốn lưu động sau mỗi chu kỳ sản
Trang 1
LUẬN VĂN:
Một số giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại
Công ty xây dưng Sông Đà 11
Trang 2
Để góp phần giảy quyết vấn đề này và đặc biệt đước sự hướng dẫn, giúp
đỡ nhiệt tình của cô giáo, thạc sỹ Nguyễn Thu Hà cùng với sự quan tâm, giúp
đỡ, chỉ bảo của tập thể cán bộ, nhân viên phòng hành chính tổng hợp, phòng kinh tế kỹ thuật Công ty xây dựng Sông Đà 11 Em đã quyết đinh chọn đề tài
”Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công
ty xây dưng Sông Đà 11 ” làm đề tài chuyên đề tốt nghiệp cho mình, với mong
muốn vận dụng những kiến thức đã được học ở nhà trường vào nghiên cứu thực tiễn, từ đó phân tích, đánh giá những kết quả đã đạt được cùng những vấn đề còn tồn tại góp phân hòan thiện công tác quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty xây dựng Sông Đà 11
Tất cả đựơc tập hợp lại trong ba phần chính của bài luận văn tốt nghiệp của em
Trang 3
Chương 1: Lý luận chung về quản lý và sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty xây dựng Sông Đà 11
Chương 3: Một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty xây dựng Sông Đà 11
Lời mở đầu 1
Chương 1: Lý luận chung về quản lý và sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp 11
I Khái niệm, phân loại và vai trò của vốn lưu động trong doanh nghiệp 11
1 Khái niệm 11
2 Phân loại vốn lưu động 12
2.1 Đặc điểm luân chuyển của vốn lưu động 12
2.2 Hình thái biểu hiện của vốn lưu động 13
2.3 Nguồn hình thành vốn lưu động 14
2.3.1 Nguồn vốn chủ sở hữu 14
2.3.2 Nguồn vốn tín dụng (vốn vay) 15
3 Vai trò của vốn lưu động 17
4 Những nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động 18
II Quản lý và sử dụng vốn lưu động 20
1 Yêu cầu đối với việc quản lý vốn lưu động 20
2 Nội dung cơ bản của quản lý vốn lưu động 21
2.1 Quản lý tiền mặt 21
2.2 Quản lý các khoản phải thu, phải trả 24
2.3 Quản lý hàng tồn kho 27
III Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động 28
1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời 29
1.1 Hệ số sinh lời: 29
Trang 41.2 Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động: 29
2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển 30
2.1 Số vòng quay vốn lưu động 30
2.2 Thời gian trung bình một vòng luân chuyển vốn lưu động 30
3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành vốn lưu động 31
3.1 Vòng quay các khoản phải thu 31
3.2 Kỳ thu tiền bình quân được xác định bằng công thức 31
3.3 Kỳ trả tiền bình quân 32
3.4 Thời gian quay vòng hàng tồn kho 32
3.5 Thời gian quay vòng tiền mặt (C.C.C) 33
4 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán 33
4.1 Hệ số thanh toán hiện thời (CR) 34
4.2 Hệ số thanh toán nhanh (QR) 34
4.3 Hệ số thanh toán bằng tiền (tức thời) 35
VI Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp 35
1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp 35
2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp 36
2.1 Nhân tố khách quan 36
2.2 Những nhân tố chủ quan 39
Bên cạnh những nhân tố khách quan kể trên các nhân tố chủ quan cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp đó là các nhân tố 39
3 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp 40
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động tại công
ty xây dựng sông đà 11 Error! Bookmark not defined
Trang 5
I Vài nét khái quát về công ty xây dựng Sông Đà 11 42
1 Quá trình hình thành và phát triển: 42
1.1 Giai đoạn 1: Trước tháng 5 năm 1993 42
1.2 Giai đoạn 2: Từ tháng 5 năm 1993 đến nay 43
2 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của chi nhánh 43
2.1 Chức năng của chi nhánh 43
2.2 Nhiệm vụ của chi nhánh 44
2.3 Cơ cấu tổ chức quản lý kinh doanh của chi nhánh 44
2.3.1 Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban 45
2.3.2 Cơ cấu hệ thống tổ chức sản xuất – thi công của chi nhánh: 46
3 Khái quát tình hình hoạt động của chi nhánh trong hai năm 2001 và 2002 47
Chỉ tiêu 48
II Thực trạng tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động tại công ty 50
1 Tình hình nguồn vốn lưu động trong kinh doanh của chi nhánh 50
1.1 Cơ cấu vốn của chi nhánh trong 2 năm 2001 - 2002 51
1.2 Tình hình kết cấu vốn lưu động của chi nhánh 52
1.3 Nguồn hình thành vốn lưu động 54
2 Thực tế công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động tại chi nhánh 57
2.1 Phân tích tình hình quản ly vốn bằng tiền 58
2.2 Quản lý các khoản phải thu 60
2.3 Quản lý vốn vật tư hàng hoá 62
III Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại chi nhánh 65
1 Hệ số sinh lời vốn lưu động 66
1.1 Hệ số sinh lời của vốn lưu động: 66
1.2 hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động 67
2 Tốc độ luân chuyển của vốn lưu động 68
3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành vốn lưu động 71
3.1 Hiệu quả sử dụng vốn bằng tiền 73
Trang 63.1.1 Vòng quay tiền mặt 73
3.1.2 Kỳ luân chuyển tiền bình quân 73
3.2 Hiệu quả sử dụng vốn trong thanh toán 74
3.2.1 Vòng quay các khoản phải thu 74
3.2.2 Kỳ thu tiền bình quân 74
3.3 Hiệu quả sử dụng vốn vật tư hàng hoá 75
4 Khả năng thanh toán của chi nhánh 76
4.1 Hệ số thanh toán hiện thời 77
4.2 Hệ số thanh toán nhanh 78
4.3 Hệ số thanh toán tức thời 78
IV Đánh giá chung về công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động của chi nhánh trong hai năm 2001 và 2002 80
1 Những kết quả đạt được : 80
2.Những vấn đề tồn tại: 81
Chương III: Một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty xây dựng Sông đà 11 83
I Mục tiêu và định hướng phát triển của chi nhánh trong thời gian tới 83
1 Mục tiêu: 83
2 Định hướng: 84
II Một số kiến nghị 85
1 Tăng cường công tác quản trị 85
2 Nâng cao chất lượng công tác phân tích tài chính 86
3 Kế hoạch hoá nguồn vốn 87
4 Quản lý và sử dụng các khoản mục của nguồn vốn lưu động hữu hiệu hơn 89
4.1 Quản lý và sử dụng vốn bằng tiền 89
4.2 Quản lý vốn trong thanh toán 90
4.2.1 Tìm hiểu rõ thực trạng nguồn vốn của các công trình mà chi nhánh thi công 90
4.2.2 Thực hiện tốt công tác hoàn thiện hồ sơ quyết toán 91
Trang 7
4.2.3 Nhất quán chính sách thu hồi công nợ 91
4.3 Tăng cường công tác quản lý và sử dụng hàng lưu kho 92
5 Quản lý chi phí phát sinh và thiệt hại trong sản xuất 93
6 Hoàn thiện công tác giao khoán 94
7 Một số giải pháp khác 96
8 Một số kiến nghị với nhà nước và cơ quan cấp trên 96
8.1 Kiến nghị với nhà nước 97
8.2 Kiến nghị với công ty xây dựng Sông Đà 11 98
Kết luận 99
Trang 8Danh mục sơ đồ và bảng Nội dung
Trang 92.9 Bảng 9: Các chỉ tiêu các biệt đánh giá hiệu quả
sử dụng vốn lưu động của chi nhánh trong 2 năm 2001 - 2002
5
3
2.10: Bảng 10: Tình hình khả năng thanh toán của
5
7
Danh mục chữ cái viết tắt
Trang 10BCTC : Báo cáo tài chính
BQĐN : Bình quân đầu người
CĐKT : Bảng cân đối kế toán
CPSXKDDD : Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
HĐ ĐTTC : Hoạt động đầu tư tài chính
Trang 11
Chương 1
Lý luận chung về quản lý và sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
i Khái niệm, phân loại và vai trò của vốn lưu động trong doanh nghiệp
Đối tượng lao động là hết thảy những vật mà con người tác động vào nhằm biến đổi nó phù hợp với mục đích sử dụng Bao gồm các loại có sẵn trong thiên nhiên như cây gỗ trong rừng nguyên thuỷ, hải sản ngoài biển khơi… và các loại đã qua chế biến như nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm… chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được dịch chuyển toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm
Khác với đối tượng lao động, tư liệu lao động là một vật hay một hệ thống những vật làm nhiệm vụ truyền dẫn sự tác động của con người đến đối tượng lao động, làm thay đổi hình thái tự nhiên của nó, biến đối tượng lao động thành sản phẩm thoả mãn nhu cầu của con người Những đối tượng lao động nói trên nếu xét về hình thái hiện vật thì được gọi là tài sản lưu động, còn xét về hình thái giá trị thì được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để hình thành các tài sản lưu động, doanh nghiệp phải bỏ ra một số vốn đầu tư nhất định Vì vậy ta có thể hiểu vốn
Trang 12lưu động là số tiền ứng trước về tài sản lưu động để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên liên tục
2 Phân loại vốn lưu động
Phân loại vốn lưu động cần căn cứ vào một số tiêu thức nhất định để sắp xếp vốn lưu động theo từng loại, từng nhóm nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý và mục đích sử dụng Vì vậy việc phân loại có thể căn cứ vào một số tiêu thức sau:
2.1 Đặc điểm luân chuyển của vốn lưu động
Là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc điểm luân chuyển của vốn lưu động chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản lưu động Vì vậy, vốn lưu động của các doanh nghiệp không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh bao gồm:
- Vốn lưu động trong khâu sản xuất như: Vốn sản phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm tự chế, vốn về phí tổn đợi phân bổ
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ gồm: Vốn nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu đóng gói
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông gồm: Vốn thành phẩm, vốn trong thanh toán, vốn bằng tiền
Các quá trình trên diễn ra thường xuyên liên tục lặp đi lặp lại theo chu kỳ
và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động
Do các nhà doanh nghiệp sản xuất hoạt động theo phương thức
T - H - SX - H’ - T’ nên hình thái ban đầu của vốn lưu động là tiền tệ rồi chuyển sang hình thái nguyên vật liệu dự trữ Qua giai đoạn sản xuất, nguyên vật liệu được đưa vào chế tạo thành sản phẩm hoặc bán thành phẩm Kết thúc quá trình vận động, sau khi sản phẩm đã được tiêu thụ vốn lưu động lại trở về hình thái tiền tệ Như vậy vốn lưu động luôn có mặt ở tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất và thường xuyên chuyển từ dạng này sang dạng khác
Trang 13
Trong các doanh nghiệp khác nhau thì sự vận động của vốn lưu động là khác nhau Chẳng hạn, trong các doanh nghiệp thương mại thì phương thức vận động của vốn là T – H – T’ Do vậy bắt đầu quá trình vận động vốn lưu động từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái hàng hoá và kết thúc lại trở về hình thái tiền tệ chứ không qua giai đoạn sản xuất, chế biến
Như vậy, chúng ta có thể khái quát những nét đặc thù về sự vận động của vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh như sau:
* Vốn lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh, vốn lưu động được phân bổ khắp cả trong và ngoài doanh nghiệp Nó có liên quan đến tất cả mọi người trong doanh nghiệp và những đối tượng ngoài doanh nghiệp
* Vốn lưu động được chuyển dịch toàn bộ và một lần vào giá trị sản phẩm
* Vốn lưu động vận động thường xuyên và nhanh hơn vốn cố định Vốn lưu động biến đổi từ hình thái này qua hình thái khác và sau đó sẽ chuyển về hình thái ban đầu Qua quá trình vận động, vốn lưu động không chỉ biến đổi về hình thái, mà quan trọng hơn nó còn tạo nên sự biến đổi về giá trị
Những thông tin về sự biến đổi này rất cần thiết cho sự tìm ra phương hướng, biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, mặt khác việc thu hồi vốn lưu động sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh có tác dụng trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp vì có thể thu hồi vốn lưu động thì doanh nghiệp mới có thể tiến hành mua sắm vật tư, thiết bị, trang trải nợ nần phục vụ cho chu kỳ sản xuất kinh doanh tiếp theo
2.2 Hình thái biểu hiện của vốn lưu động
Theo tiêu thức này thì vốn lưu động bao gồm:
- Vốn lưu động vật tư hàng hoá: Là các khoản vốn lưu động biểu hiện bằng hình thái hiện vật hàng hoá cụ thể như nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, hàng hoá
Trang 14- Vốn lưu động bằng tiền: Bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư ngắn hạn
ở các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu vốn lưu động cũng khác nhau, việc phân tích kết cấu vốn lưu động sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về số vốn lưu động mà mình đang quản lý và sử dụng, từ đó xác định đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý vốn lưu động có hiệu quả hơn với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp Mặt khác, thông qua việc thay đổi kết cấu vốn lưu động của mỗi doanh nghiệp trong từng thời kỳ khác nhau ta có thể thấy được những biến đối tích cực hay những hạn chế về mặt chất lượng trong công tác quản lý vốn lưu động của từng doanh nghiệp
2.3 Nguồn hình thành vốn lưu động
Trong nền kinh tế thị trường, vốn lưu động có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau Tuy nhiên căn cứ vào nội dung kinh tế, người ta có thể chia làm 2 nguồn hình thành cơ bản sau:
* Vốn ban đầu của chủ sở hữu: Là số tiền đóng góp của các nhà đầu tư người chủ sở hữu doanh nghiệp nó phụ thuộc vào loại hình của doanh nghiệp
- Đối với doanh nghiệp nhà nước: Nguồn vốn chủ sở hữu do nhà nước (hay ngân sách nhà nước) cấp phát nên được gọi là vốn ngân sách nhà nước
Trang 15
- Đối với công ty cổ phần: Nguồn vốn này được biểu hiện dưới hình thức vốn cổ phần, vốn này do những người sáng lập công ty phát hành cổ phiếu để huy động thông qua việc bán các cổ phiếu đó
- Đối với doanh nghiệp tư nhân: Nguồn vốn này do chủ doanh nghiệp đầu tư hay các hội viên liên kết cùng nhau bỏ ra để đầu tư hình thành doanh nghiệp, nên được gọi là vốn tự có
- Đối với doanh nghiệp liên doanh: Nguồn vốn này được biểu hiện dưới hình thức vốn liên doanh, vốn này được hình thành do sự đóng góp giữa các chủ đầu tư hoặc các doanh nghiệp để hình thành các doanh nghiệp mới
* Vốn doanh nghiệp tự bổ sung: Là số vốn được bổ sung hàng năm từ lợi nhuận hoặc từ các quỹ của doanh nghiệp Ngoài ra cần phải kể đến số vốn do các chủ sở hữu bổ sung mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả kinh doanh
Bên cạnh đó, vốn chủ sở hữu còn bao gồm chênh lệch đánh giá lại tài sản, quỹ phát triển sản xuất, quỹ dự trữ, chênh lệch tỷ giá, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí sự nghiệp
2.3.2 Nguồn vốn tín dụng (vốn vay)
Trong nền kinh tế thị trường, ngoài nguồn vốn chủ sở hữu nguồn vốn tín dụng vẫn luôn được coi là nguồn vốn quan trọng thường xuyên và hiệu quả đối với hầu hết các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế cả trên lý thuyết cũng như thực tế
Vốn vay có ý nghĩa quan trọng không những chỉ ở khả năng tài trợ các nhu cầu bổ sung cho việc mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà còn tạo điều kiện linh hoạt trong việc thu hẹp quy mô kinh doanh bằng việc hoàn trả các khoản nợ đến hạn và giảm số lượng vốn vay Nguồn vốn tín dụng được thực hiện dưới các phương thức chủ yếu sau:
-Vốn tín dụng ngân hàng: Là các khoản vốn mà các doanh nghiệp vay các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm hay các tổ chức kinh doanh khác… theo nguyên tắc hoàn trả theo thời gian quy định
Trang 16Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng quan trọng nhất Nó có quan hệ với các thành phần kinh tế trong xã hội và thoả mãn phần vốn khá lớn đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Việc sử dụng nguồn vốn tín dụng ngân hàng để tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động không chỉ giúp cho doanh nghiệp khắc phục được những khó khăn về vốn mà còn có tác dụng phân tán rủi
ro trong kinh doanh Tuy nhiên để sử dụng nguồn vốn tín dụng có hiệu quả, doanh nghiệp cũng cần phải có những phân tích đánh giá nhiều mặt khi quyết định sử dụng nguồn vốn này, đặc biệt là việc lựa chọn ngân hàng cho vay, khả năng trả nợ và chi phí sử dụng vốn vay từ các ngân hàng
- Vốn tín dụng thương mại: Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp biểu hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hoá, mua bán trả góp, trả chậm hàng hoá, nguồn tín dụng thương mại có ảnh hưởng hết sức to lớn không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với cả một nền kinh
tế Quy mô của nguồn vốn tín dụng thương mại phụ thuộc vào số lượng hàng hoá dịch vụ mua chịu và thời hạn mua chịu của khách hàng Thời hạn mua chịu càng dài thì nguồn vốn tín dụng thương mại càng lớn
- Vốn chiếm dụng của các đối tượng khác: Bao gồm các khoản phải trả cán bộ công nhân viên, phải trả thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước nhưng chưa đến hạn phải trả, phải nộp hay các khoản tiền đặc cọc Mặc dù doanh nghiệp có quyền sử dụng số vốn này vào các hoạt động kinh doanh mà không phải trả lãi, nhưng nguồn vốn này không lớn và không có kế hoạch trước,
mà chỉ đáp ứng vốn lưu động tạm thời
- Vốn do phát hành trái phiếu: Là nguồn vốn doanh nghiệp thu được do phát hành trái phiếu ngắn hạn ra thị trường nhằm thu hút được các nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi trong xã hội Việc phát hành trái phiếu cho phép phân phối rộng rãi, người vay tránh được các khó khăn và sự giàng buộc của ngân hàng, các tổ chức tín dụng Tuy nhiên, không phải bất cứ doanh nghiệp nào cũng có thể phát hành trái phiếu
Trang 17
Như vậy, trong nền kinh tế thị trường, vốn lưu động được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, bằng các hình thức huy động rất đa dạng và phong phú Mỗi hình thức có ưu điểm, nhược điểm nhất định Vì vậy các nhà quản trị tài chính cần phải lựa chọn các phương pháp và hình thức thích hợp đảm bảo cho
doanh nghiệp hoạt động liên tục với chi phí sử dụng vốn thấp nhất
3 Vai trò của vốn lưu động
Vốn trong các doanh nghiệp có vai trò quyết định đến việc thành lập, hoạt động và phát triển của mỗi doanh nghiệp Nó là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất của sự ra đời, tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp Là một bộ phận không thể thiếu được trong vốn kinh doanh của các doanh nghiệp, vốn lưu động có những vai trò chủ yếu sau
Một là: Vốn lưu động giúp cho các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh một cách liên tục có hiệu quả Nếu vốn lưu động bị thiếu hay luân chuyển chậm sẽ hạn chế việc thực hiện mua bán hàng hoá, làm cho các doanh nghiệp không thể mở rộng được thị trường hay có thể bị gián đoạn sản xuất dẫn đến giảm sút lơị nhuận gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Hai là: Do đặc điểm của vốn lưu động là phân bố khắp trong và ngoài doanh nghiệp, đồng thời chúng lại chu chuyển nhanh nên thông qua quản lý và
sử dụng vốn lưu động, các nhà tài chính doanh nghiệp có thể quản lý toàn diện tới việc cung cấp, sản xuất và phân phối của doanh nghiệp Chính vì vậy, có thể nói rằng vốn lưu động là một công cụ quản lý quan trọng Nó kiểm tra, kiểm soát, phản ánh tính chất khách quan của hoạt động tài chính thông qua đó giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu trong kinh doanh như khả năng thanh toán, tình hình luân chuyển vật tư, hàng hoá, tiền vốn, từ đó có thể đưa ra những quyết định đúng đắn đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất
Ba là: Vốn lưu động là tiền đề vật chất cho sự tăng trưởng và phát triển của các doanh nghiệp đặc biệt là đối với các doanh nghiệp thương mại và các
Trang 18doanh nghiệp nhỏ, bởi ở các doanh nghiệp này vốn lưu động chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng vốn, sự sống còn của các doanh nghiệp này phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức, quản lý và sử dụng vốn lưu động Mặc dù, hầu hết các vụ phá sản trong kinh doanh là hệ quả của nhiều yếu tố chứ không phải chỉ do quản trị vốn lưu động tồi Nhưng cũng cần thấy rằng, sự bất lực của một số công tác trong việc hoạch định và kiểm soát chặt chẽ vốn lưu động và các khoản nợ ngắn hạn hầu như là nguyên nhân dẫn đến thất bại của họ
Thứ tư : Vốn lưu động còn là nguồn lực quan trọng để thực hiện các chiến lược, sách lược kinh doanh nhằm phát huy tài năng của ban lãnh đạo doanh nghiệp Nó giúp cho doanh nghiệp đưa hàng hoá từ lĩnh vực sản xuất sang lĩnh vực lưu thông, giải quyết được mâu thuẫn vốn có giữa sản xuất và tiêu dùng
Tóm lại, vốn lưu động có một vai trò rất quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, việc sử dụng vốn lưu động như thế nào cho có hiệu quả sẽ ảnh hưởng rất lớn đến mục tiêu chung của doanh nghiệp
4 Những nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động
Vốn lưu động của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất luôn luôn vận động luân chuyển từ hình thái này sang hình thái khác, do đó hiệu quả sử dụng vốn lưu động luôn chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố trong quá trình vận động đó Bao gồm:
- Các nhân tố về mặt sản xuất như: đặc điểm kỹ thuật, công nghệ sản xuất của doanh nghiệp, mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo, độ dài của chu
kỳ sản xuất, trình độ tổ chức quản lý sản xuất, các yếu tố này ảnh hưởng đến
tỷ trọng vốn trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh
- Các nhân tố về mặt cung ứng như: khoảng cách giữa các doanh nghiệp với nơi cung cấp, khả năng cung cấp của thị trường, kỳ hạn giao hàng, khối lượng vật tư mỗi lần giao hàng, đặc điểm thời vụ của chủng loại vật tư, tất cả
Trang 19- Các nhân tố về mặt quản lý có vai trò quan trọng trực tiếp quyết định đến hiệu quả sử dụng và kết cấu của vốn lưu động, đồng thời nó cũng tác động trực tiếp đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
- Các nhân tố về mặt sử dụng: Quá trình mua vật tư không phù hợp với quy trình công nghệ hoặc vật tư không đủ tiêu chuẩn chất lượng không thu hồi được phế liệu Điều này có tác động không nhỏ đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
- Nhân tố về lạm phát: Do tác động của nền kinh tế luôn tồn tại lạm phát, nếu doanh nghiệp không điều chỉnh kịp thời giá trị của vật tư hàng hoá sẽ làm cho giá trị vốn lưu động của doanh nghiệp bị giảm theo tốc độ trượt giá của tiền
tệ
- Nhân tố về rủi ro: Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trường có nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia, bình đẳng cạnh tranh và với sức mua thị trường là có hạn thì sẽ luôn tồn tại những rủi ro về thua lỗ cho doanh nghiệp Bên cạnh đó, các rủi ro về thiên tai, địch họa có thể xảy ra bất cứ lúc nào dẫn đến sự thâm hụt về vốn cho doanh nghiệp
Trên đây là những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng và kết cấu vốn của doanh nghiệp Vậy doanh nghiệp phải căn cứ vào tình hình, điều kiện sản xuất kinh doanh cụ thể của mình để kiếm chế bớt bất lợi, phát huy ưu thế nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Trang 20II Quản lý và sử dụng vốn lưu động
1 Yêu cầu đối với việc quản lý vốn lưu động
Trong cơ chế hiện nay, vấn đề quản lý vốn kinh doanh là rất cấp thiết và cấp bách đối với doanh nghiệp bởi vì quản lý vốn là khâu quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh Đối với vốn lưu động cũng vậy, muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động thì phải quản lý tốt vốn lưu động Do đó, khi đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động, ta không thể không xem xét đến việc quản lý vốn lưu động Và để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động thì trong khâu quản lý vốn cần chú ý những vấn đề sau:
Một là: Xác định lượng vốn lưu động cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kế hoạch tổ chức huy động vốn lưu động, luôn đảm bảo một lượng vốn lưu động cần thiết tối thiểu cho quá trình sản xuất kinh doanh được thuận lợi liên tục Đồng thời, tránh được tình trạng ứ đọng vốn, gây lãng phí nguồn lực, tăng chi phí cho doanh nghiệp, thúc đẩy quá trình luân chuyển vốn lưu động để từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
Hai là: Lựa chọn hình thức khai thác huy động vốn lưu động thích hợp nhằm đáp ứng nhu cầu cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, triệt để khai thác các nguồn vốn bên trong doanh nghiệp Đồng thời, tính toán huy động vốn bên ngoài như vốn chiếm dụng, vay ngân hàng, phát hành trái phiếu, một cách hợp lý nhằm hạ thấp chi phí và đảm bảo an toàn cho doanh nghiệp
Ba là: Phải luôn có những giải pháp an toàn và phát triển vốn lưu động Mục tiêu của doanh nghiệp là lợi nhuận nhưng trước đó vấn đề quan trọng đặt
ra tối thiểu cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu lợi nhuận là phải bảo toàn vốn lưu động
Bốn là: Thường xuyên tiến hành phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động nhằm tăng cường nâng cao hiệu qủa tổ chức sử dụng vốn lưu động, góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Trang 21kỹ thuật hiện đại Từ đó, tạo ra khả năng để doanh nghiệp nâng cao năng suất
và chất lượng sản phẩm , hạ thấp chi phí giá thành sản phẩm Bên cạnh đó, doanh nghiệp đồng thời khai thác được các nguồn vốn và sử dụng vốn có hiệu quả, tiết kiệm, làm tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, giảm bớt nhu cầu vay vốn, giảm bớt chi phí về lãi vay
2 Nội dung cơ bản của quản lý vốn lưu động
2.1 Quản lý tiền mặt
Quản lý tiền mặt đề cập đến việc quản lý tiền mặt trong quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển… Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn phát sinh các khoản thu chi thanh toán ngay bằng tiền mặt,
do đó việc dự trữ tiền mặt tại doanh nghiệp là cần thiết và rất quan trọng
Động cơ chủ yếu của việc nắm giữ tiền mặt trong doanh nghiệp là để làm thông suốt các giao dịch trong kinh doanh cũng như duy trì khả năng thanh toán của doanh nghiệp ở mọi thời điểm Ngoài ra,còn xuất phát từ nhu cầu dự phòng
để ứng phó với những nhu cầu bất thường chưa dự đoán được và động lực đầu
cơ trong việc dự trữ tiền mặt để sẵn sàng sử dụng khi xuất hiện các cơ hội kinh doanh có tỷ suất lợi nhuận cao Việc duy trì mức dự trữ tiền mặt đủ lớn còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp có cơ hội thu chiết khấu từ các nhà cung cấp
Nội dung chủ yếu của việc quản lý tiền mặt bao gồm:
* Xác định số dư tiền mặt mục tiêu:
Số dư tiền mặt mục tiêu bao gồm sự đánh đổi giữa chi phí cơ hội của việc nắm giữ quá nhiều tiền mặt và chi phí giao dịch của việc nắm giữ quá ít tiền mặt
Trang 22William Baumol là người đầu tiên đưa ra mô hình quản lý tiền mặt chính thức liên kết giữa chi phí cơ hội và chi phí giao dịch (C*) Mô hình của ông có thể được dùng để tính toán mức số dư tiền mặt mục tiêu và được xác định bằng công thức:
Trong đó:
C*: Số dư tiền mặt mục tiêu
T: Tổng nhu cầu về tiền mặt trong một chu kỳ
F: Chi phí một lần giao dịch
K: Lãi suất trên thị trường
Như vậy, nếu doanh nghiệp giữ số tiền mặt ở mức quá thấp, doanh nghiệp sẽ gặp phải khó khăn trong việc thanh toán, do đó có thể doanh nghiệp phải bán các tài sản lưu động có tính thanh khoản cao thường xuyên hơn là nếu giữ số tiền mặt cao hơn, điều đó sẽ làm cho chi phí giao dịch tăng lên Ngược lai, chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền mặt sẽ tăng lên, khi số tiền mặt giữ lại tăng Do đó, nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải xác định được số dư tiền mặt mục tiêu hay nói cách khác chính là sự cân đối giữa chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền mặt và chi phí giao dịch sao cho tổng chi phí là tối thiểu.
* Hoạch định ngân sách tiền mặt:
Ngân sách tiền mặt là một kế hoạch ngắn hạn dùng để xác định nhu cầu chi tiêu và nguồn thu tiền mặt của doanh nghiệp, kế hoạch này thường được xây dựng trên cơ sở quý, tháng, tuần
Dự đoán nguồn thu tiền mặt bao gồm thu nhập từ hoạt động kinh doanh, nguồn đi vay và các nguồn khác, trong các nguồn thu kể trên, nguồn thu từ hoạt
C*O =
Trang 23
động sản xuất kinh doanh coi là quan trọng nhất, nó được dự đoán dựa trên cơ
sở doanh số bán ra và phần trăm doanh số được thanh toán tiền mặt dự kiến trong kỳ
Dự đoán nhu cầu chi tiêu bao gồm các khoản chi cho sản xuất kinh doanh như mua sắm tài sản, trả lương, các khoản chi cho hoạt động đầu tư theo kế hoạch của doanh nghiệp, các khoản chi trả lãi, nộp thuế và các khoản chi khác
Trên cơ sở so sánh nhu cầu chi tiêu, doanh nghiệp có thể thấy được mức thăng dư hay thâm hụt ngân quỹ Từ đó thực hiện các biện pháp cân bằng thu chi ngân sách như tăng tốc độ thu hồi công nợ hoặc giảm tốc độ xuất quỹ nếu
có thể thực hiện được, hoặc khéo néo sử dụng các khoản nợ đến thời hạn thanh toán
* Đầu tư tiền nhàn rỗi: Hầu hết các công ty lớn quản lý tài sản tài chính ngắn hạn của mình và giao dịch thông qua ngân hàng và các trung gian Do đó, nếu công ty có dư thừa tiền mặt tạm thời, công ty có thể đầu tư vào các chứng khoán ngắn hạn Các loại chứng khoán có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt cao là những công cụ tài chính được mua bán trên thị trường tiền tệ hay thị trường vốn có tính linh hoạt rất cao Việc đầu tư vào các loại chứng khoán này
có vai trò như một bước đệm cho quản lý tiền mặt, khi lượng tiền mặt của doanh nghiệp giảm thấp hơn mức ấn định, các loại chứng khoán này được dùng
để chuyển đổi nhanh thành tiền mặt Ngược lại, tiền nhàn rỗi có thể được đầu tư tạm thời vào các loại chứng khoán này Tuy nhiên, khi đầu tư vào các loại chứng khoán cần xem xét kỹ các đặc tính như tính thanh khoản, tính rủi ro, thời gian đáo hạn, lợi nhuận kỳ vọng
Để thực hiện các nội dung quản lý tiền mặt nói trên doanh nghiệp có thể
sử dụng các biện pháp như:
- Tăng tốc độ thu hồi tiền mặt
- Giảm tốc độ chi tiêu tiền mặt
Trang 24Trong đó tăng tốc độ thu hồi tiền mặt có thể được thực hiện thông qua việc khuyến khích khách hàng thanh toán sớm với việc áp dụng chính sách chiết khẩu đối với các khoản nợ được thanh toán trước hay đúng hạn, quy định phương thức thanh toán phù hợp với từng đối tượng khách hàng tổ chức theo dõi và đôn đốc thu hồi công nợ
Giảm tốc độ chi tiêu tiền mặt là việc thay vì dùng tiền thanh toán sớm các hoá đơn mua hàng, người quản lý tài chính có thể trì hoãn việc thanh toán trong phạm vi thời gian và các chi phí tài chính, tiền phạt hay sự suygiảm vị thế tín dụng của doanh nghiệp thấp hơn những lợi ích cho việc thanh toán chậm mang lại
2.2 Quản lý các khoản phải thu, phải trả
Việc chiếm dụng vốn lẫn nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh là một nét đặc trưng trong quan hệ kinh tế giữa các chủ thể, thậm chí còn được coi
là một “sách lược” trong kinh doanh trên thị trường Các khoản phải thu chính
là số vốn doanh nghiệp bị chiếm dụng, các khoản phải trả là số vốn doanh nghiệp đi chiếm dụng
Độ lớn các khoản phải thu, phải trả phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tốc
độ thu hồi hay trả công nợ cũ, tốc độ tạo ra nợ mới và sự tác động của các yếu
tố chung nằm ngoài sự kiểm soát của doanh nghiệp như chu kỳ suy thoái của nền kinh tế, khủng hoảng tiền tệ… Doanh nghiệp đặc biệt chú ý tới các nhân tố
mà mình có thể kiểm soát được, tác động lớn tới chất lượng của các khoản phải thu, phải trả Đó là chính sách tín dụng
Trang 25
- Chiết khấu tiền mặt: Là việc nhằm khuyến khích khách hàng trả tiền sớm bằng cách thực hiện việc giảm giá đối với các trường hợp mua hàng bằng tiền mặt hoặc trả tiền trước thời hạn
- Thời hạn bán chịu: Là độ dài thời gian của các khoản tín dụng
- Chính sách thu tiền và biện pháp xử lý với các khoản tín dụng quá hạn Các yếu tố trên tác động mạnh mẽ đến doanh thu bán hàng của doanh nghiệp, chẳng hạn doanh thu sẽ có xu hướng tăng lên khi các tiêu chuẩn tín dụng được lới lỏng, tỷ lệ chiết khấu tăng, thời gian bán chịu dài và phương thức thu tiền bớt gắt gao Tuy nhiên, trong việc thiết lập chính sách tín dụng và tổ chức thực hiện nó, người làm công tác quản lý tài chính phải xác minh được phẩm chất tín dụng của khách hàng trên cơ sở đó thiết lập các tiêu chuẩn tín dụng thích hợp, bởi nếu các tiêu chuẩn tín dụng quá cao có thể loại bỏ nhiều khách hàng tiềm năng do đó làm giảm lợi nhuận Ngược lại, nếu tiêu chuẩn tín dụng quá thấp sẽ làm tăng doanh số bán nhưng đồng thời cũng làm cho rủi ro tín dụng tăng, gia tăng các khoản nợ khó đòi, chi phí thu tiền tăng lên
* Theo dõi các khoản phải thu, phải trả:
Người làm công tác quản lý tài chính phải theo dõi thường xuyên các khoản phải thu nhằm xác định đúng thực trạng của chúng và đánh giá đúng tính hữu hiệu của chính sách thu tiền của doanh nghiệp, kịp thời phát hiện các khoản tín dụng có vấn đề để có biện pháp giải quyết thích ứng Để theo dõi các khoản phải thu, phải trả có thể sử dụng các công cụ sau đây
- Kỳ thu, trả tiền bình quân:
Kỳ thu tiền bình quân phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản phải thu, kỳ trả tiền bình quân phản ánh số ngày cần thiết để doanh nghiệp trả các khoản phải trả, được xác định theo công thức:
Vòng quay các khoản phải thu
Kỳ trả tiền
Trang 26Mục tiêu trong quản lý các khoản phải thu, phải trả của doanh nghiệp là
“thu sớm và trả muộn” Tuy nhiên, trong trường hợp doanh nghiệp thành công trong việc thực hiện như trên, khách hàng và nhà cung cấp bị thiệt, và sự đánh đổi ở đây chính là sự tác động đối với mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các đối tác trên Cho nên, kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp trong nhiều trường hợp chưa thể có kết luận chắc chắn là tốt hay xấu mà còn phải xem xét lại mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp như mở rộng thị trường, chính sách tín dụng, quan hệ khách hàng…
- Phân tích tuổi của các khoản phải thu: Phương pháp này dựa trên thời gian biểu về tuổi của các khoản phải thu tức là khoảng thời gian có thể thu được tiền của các khoản phải thu để phân tích Sự phân tích theo phương pháp này có tác dụng rất hữu hiệu, nhất là khi các khoản phải thu được xem xét dưới góc độ
sự biến động về thời gian Nó cho phép tạo ra một phương pháp theo dõi hiệu quả đối với các khoản phải thu, tất nhiên, phương pháp này có hạn chế là nó chịu sự chi phối mạnh mẽ của doanh số bán theo thời vụ Khi doanh thu bán thay đổi thất thường, biểu thời gian sẽ cho thấy sự thay đổi rất lớn mặt dù mô hình thanh toán không thay đổi
- Mô hình số dư các khoản phải thu: Phương pháp này đo lường phần doanh số bán chịu của mỗi tháng vẫn chưa thu được tiền tại thời điểm cuối tháng đó và tại thời điểm kết thúc của tháng tiếp theo Ưu điểm của mô hình này so với mô hình phân tích tuổi của các khoản phải thu là nó hoàn toàn không chịu sự tác động của yếu tố thời vụ mức biến động của doanh số bán không ảnh hưởng tới sự phân bổ hợp lý những khoản nợ tồn đọng theo thời gian
Trang 27bị giám đoạn, hiệu quả kém Việc quản lý hàng tồn kho có hiệu qủa phải đạt được 2 mục tiêu sau:
- Mục tiêu an toàn: Đòi hỏi doanh nghiệp cần phải có một khối lượng hàng hóa dự trữ đủ để đảm bảo sản xuất và bán ra thường xuyên, liên tục
- Mục tiêu kinh tế: Đảm bảo chi phí cho dự trữ là thấp nhất
Để kết hợp hài hoà giữa hai mục tiêu này, nhà kinh tế Ford W Harris đã
đề xuất mô hình EOQ (Economic Order Quantity Model) áp dụng trong quản lý hàng tồn kho để tối thiểu hoá chi phí hàng tồn kho và tối đa hoá an toàn trong cung ứng, đã được hầu hết các doanh nghiệp sử dụng Mô hình này giả thiết rằng:
- Một lượng hàng hoá như nhau được đặt tại mỗi thời điểm đặt hàng lại
- Các nhà quản lý chỉ quan tâm tới chi phí bảo quản và chi phí đặt hàng
là những chi phí chịu ảnh hưởng bởi số lượng hàng tồn kho
Theo lý thuyết về mô hình này thì số lượng hàng đặt hiệu quả là:
EOQ = Q* =
2*S*O
Trang 28Trong đó :
EOQ: Số lượng hàng đặt hiệu quả
S: Tổng nhu cầu về hàng lưu kho trong một năm O: Chi phí một lần đặt hàng
C: Chi phí bảo quản một đơn vị hàng hoá trong năm Vậy mức dữ trữ trung bình tối ưu là: Q*/2
Theo giả thuyết của mô hình thì nhu cầu và thời gian đặt hàng là xác định Tuy nhiên thực tế không phải như vậy, dự trữ an toàn được sử dụng như là một lớp đệm chống lại sự gia tăng bất thường của nhu cầu hay thời gian mua hàng hoặc tình trạng không sẵn sàng cung cấp Dự trữ an toàn là mức tồn kho hay dữ trữ tồn kho ở mọi thời điểm, ngay cả khi lượng tồn kho được xác định theo mô hình EOQ
Vậy dự trữ trung bình tối ưu thực tế là:
Như vậy, việc quản lý và sử dụng vốn lưu động là 2 vấn đề không thể tách rời nhau, nếu quản lý tốt thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động sẽ cao và ngược lại Do vậy, muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động doanh nghiệp phải quản lý vốn lưu động một cách khoa học, có hiệu quả
III Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là chỉ tiêu chất lượng phản ánh mối quan
hệ giữa kết quả thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh tới số vốn lưu động
bỏ ra trong kỳ Với việc cụ thể hoá kết quả kinh doanh và sử dụng vốn lưu động bằng các chỉ tiêu sát thực, doanh nghiệp sẽ đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn lưu động một cách đúng đắn và khách quan, sau đây chúng ta xem xét lần lượt các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Q*
+ Dự trữ an toàn thực tế
Trang 29Hệ số sinh lời vốn lưu động càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng
có hiệu quả Hệ số sinh lời vốn lưu động có thể tính theo công thức sau:
Trong đó:
HSL : Hệ số sinh lời vốn lưu động
VLĐbq : Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Trong đó: VLĐĐK: Số vốn lưu động đầu kỳ
VLĐCK: Số vốn động cuối kỳ Các chỉ tiêu trên đây dùng để phản ánh tình hình sử dụng vốn lưu động là tiết kiệm hay lãng phí, hiệu quả hay không hiệu quả Dựa vào các chỉ tiêu này, người ta có thể đánh giá khái quát về tình hình sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
1.2 Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động:
Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động được xác định bằng công thức:
Trang 30Chỉ tiêu này phản ánh số vốn lưu động cần có để đạt được một đồng doanh thu, hệ số đảm nhiệm vốn lưu động càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao và ngược lại
2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển
Sử dụng hợp lý, hiệu quả vốn lưu động được biểu hiện trước hết ở tốc độ luân chuyển vốn lưu động nhanh hay chậm, việc nâng cao tốc độ chu chuyển vốn lưu động có ý nghĩa to lớn vì với một số vòng không tăng nhưng có thể hoàn toàn tăng nhanh doanh số bán ra Nó chính là điều kiện cơ bản để tăng thu nhập, lợi nhuận, tiết kiệm vốn lưu động và cũng là nhiệm vụ cơ bản của doanh nghiệp Tốc độ luân chuyển vốn lưu động được thể hiện bằng số vòng quay và
số ngày của một vòng chu chuyển vốn lưu động
2.1 Số vòng quay vốn lưu động
Số vòng quay vốn lưu động phản ánh số lần luân chuyển vốn lưu động được thể hiện trong một thời kỳ nhất định thường tính trong một năm Công thức tính như sau:
Trong đó:
V: Số lần luân chuyển của vốn lưu động trong kỳ
Số lần luân chuyển càng lớn thì hiệu suất sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp càng cao và ngược lại
2.2 Thời gian trung bình một vòng luân chuyển vốn lưu động
Số ngày trung bình của một vòng luân chuyển vốn lưu động phản ánh số ngày để thực hiện một vòng quay vốn lưu động, kỳ luân chuyển vốn lưu động càng ngắn thì càng tốt và ngược lại
Công thức được xác định như sau:
V = Doanh thu thuần
(trong kỳ)
Trang 31
Trong đó:
K: Thời gian trung bình một vòng luân chuyển vốn lưu động
3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu
thành vốn lưu động
Để đánh giá một cách chính xác hơn, cặn kẽ hơn về hiệu quả sử dụng vốn
lưu động chúng ta hãy lần lượt phân tích từng khoản mục cụ thể cấu thành lên
vốn lưu động của doanh nghiệp:
3.1 Vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản
phải thu của doanh nghiệp thành tiền mặt và được xác định bằng công thức:
Trong đó:
Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thể hiện rằng doanh nghiệp thu
hồi càng nhanh các khoản nợ Điều đó được đánh giá là tốt vì vốn bị chiếm
dụng giảm
3.2 Kỳ thu tiền bình quân được xác định bằng công thức
Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu
các khoản phải thu = phải thu đầu kỳ
phải thu cuối kỳ
Kỳ thu tiền bình quân =
365
(ngày)
365*VLĐBQ
Trang 32Kỳ thu tiền bình quân càng ngắn thể hiện chính sách thu hồi công nợ của
doanh nghiệp có hiệu quả Tuy nhiên, nếu kỳ thu tiền bình quân mà quá ngắn
nghĩa là phương thức tín dụng quá hạn chế, có thể sẽ làm ảnh hưởng không tốt
đến quá trình tiêu thụ sản phẩm, bởi lẽ trong thời đại “Khách hàng là thượng
đế” hiện nay việc mua bán chịu là một tất yếu khách quan và khách hàng luôn
mong muốn thời hạn trả tiền được kéo dài thêm
3.3 Kỳ trả tiền bình quân
Kỳ trả tiền bình quân thể hiện số ngày bình quân của một lần doanh
nghiệp đã trả cho các khoản nợ ngắn hạn từ việc mua bán chịu hàng hoá được
thể hiện bằng công thức:
Những nhà quản lý doanh nghiệp luôn mong muốn kỳ trả tiền bình quân
dài, nghĩa là khả năng đi chiếm dụng vốn từ các doanh nghiệp, cá nhân khác sẽ
tăng Tuy nhiên, không phải kỳ trả tiền bình quân càng dài càng tốt, vì khi đó
khách hàng và nhà cung cấp bị thiệt, và sự đánh đổi ở đây chính là tác động đối
với mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các đối tác trên
3.4 Thời gian quay vòng hàng tồn kho
Thời gian quay vòng hàng tồn kho phản ánh số ngày trung bình của một
vòng quay hàng tồn kho, thời gian quay vòng hàng tồn kho càng ngắn thì số
vòng quay hàng tồn kho càng lớn, chứng tỏ việc kinh doanh càng có hiệu quả,
công thức xác định như sau:
Trang 33
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho càng ngắn (hay hệ số doanh số lưu
kho cao) thì việc kinh doanh được đánh giá càng tốt bởi lẽ doanh nghiệp chỉ đầu
tư cho hàng tồn kho thấp nhưng vẫn đạt được doanh số cao Song, trong quá
trình phân tích đánh giá, cần xem xét một cách cụ thể những yếu tố khác có liên
quan, như phương thức bán hàng vận chuyển thẳng hoặc bán giao tay ba nhiều,
thì hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao hoặc nếu duy trì mức tồn kho thấp
cũng sẽ làm cho số ngày một vòng quay hàng tồn kho thấp nhưng cũng sẽ làm
cho khối lượng tỉêu thụ hàng hoá sẽ bị hạn chế hơn
3.5 Thời gian quay vòng tiền mặt (C.C.C)
Vòng quay tiền mặt là khoản thời gian bắt đầu từ khi trả tiền mặt cho
nguyên vật liệu và kết thúc khi thu được tiền mặt từ các khoản phải thu và được
xác định bằng công thức:
Các doanh nghiệp luôn mong muốn có vòng quay tiền mặt ngắn vì khi đó
số vốn mà doanh nghiệp đưa vào sản xuất kinh doanh sẽ cho một hiệu quả cao
hơn từ đó sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Tuy nhiên để
làm được điều đó buộc các doanh nghiệp phải có chính sách quản lý tín dụng
cấp cho khách hàng chặt, đồng thời tăng khả năng chiếm dụng vốn của khách
hàng Nhưng quan hệ của doanh nghiệp là mối quan hệ giữa các đối tác, khách
hàng và nhà cung cấp nên khi doanh nghiệp có lợi thì nhất định các đối tác bị
thiệt hại, điều đó sẽ ảnh hưởng không tốt tới các mối quan hệ của doanh nghiệp
trên thị trường
4 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
Các hệ số này đo lường khả năng đáp ứng các ràng buộc pháp lý về tài
chính của doanh nghiệp (nghĩa là thanh toán các khoản nợ ngắn hạn) Khi
hàng bán
(vòng)
Số ngày bình quân của =
365
(ngày) Vòng quay
= Doanh
thu thuần Vốn bằng
Vòng quay
tiền mặt
Trang 34doanh nghiệp có đủ tiền, doanh nghiệp sẽ tránh được việc vi phạm các ràng buộc pháp lý về tài chính và vì thế tránh được nguy cơ chịu các áp lực về tài chính Khả năng thanh khoán kế toán đo lường, khả năng thanh toán nợ ngắn hạn và nó thường liên quan đến vốn lưu động ròng, chênh lệch giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn
Để tính toán khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp người ta thường sử dụng một số phương pháp cụ thể như : hệ số thanh toán hiện thời, hệ
số thanh toán nhanh, hệ số thanh toán bằng tiền
4.1 Hệ số thanh toán hiện thời (CR)
Hệ số thanh toán hiện thời phản ánh mối quan hệ giữa tài sản lưu động
và các khoản nợ ngắn hạn Nó thể hiện mức độ đảm bảo của tài sản lưu động với nợ ngắn hạn và được xác định bằng công thức:
Hệ số thanh toán hiện thời cao sẽ phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp là tốt Tuy nhiên, không phải hệ số này càng cao là càng tốt, vì khi đó có một lượng tài sản lưu động lớn bị tồn chữ, làm việc sử dụng tài sản lưu động không hiệu quả, vì bộ phận này không sinh lời
Do đó tính hợp lý của hệ số thanh toán hiện thời còn phụ thuộc vào từng ngành nghề, góc độ của người phân tích cụ thể
4.2 Hệ số thanh toán nhanh (QR)
Hệ số thanh toán nhanh đo lường mức độ đáp ứng nhanh của vốn lưu động trước các khoản nợ ngắn hạn Trong tài sản lưu động của doanh nghiệp hiện có thì vật tư hàng hoá có tính thanh khoán thấp nhất, do đó nó có khả năng thanh toán kém nhất Vì vậy khi xác định hệ số thanh toán nhanh người ta đã trừ phần hàng tồn kho ra khỏi tài sản đảm bảo thanh toán nhanh và được thể hiện bằng công thức:
Trang 35
Cũng như hệ số thanh toán hiện thời, độ lớn hay nhỏ của hệ số này còn tuỳ thuộc vào từng ngành nghề kinh doanh cụ thể thì mới có thể kết luận là tích cực hay không tích cực Tuy nhiên nếu hệ số này quá nhỏ thì doanh nghiệp sẽ gặp phải khó khăn trong việc thanh toán công nợ
4.3 Hệ số thanh toán bằng tiền (tức thời)
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng nợ ngắn hạn thì hiện tại doanh nghiệp
có bao nhiêu đơn vị tiền tệ tài trợ cho nó Nếu chỉ tiêu này cao phản ảnh khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp là tốt, nếu chỉ tiêu này mà thấp thì khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp là chưa tốt Tuy nhiên, khó có thể nói cao hay thấp ở mức nào là tốt và không tốt Vì nó còn phụ thuộc vào lĩnh vực kinh doanh hoặc góc độ của người phân tích
Như vậy có thể nói, việc phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác tài chính của doanh nghiệp Bởi vì nó không chỉ ảnh hưởng tới lợi nhuận mà còn liên quan đến việc thu hút các nguồn lực cho doanh nghiệp
VI Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu lâu dài của doanh nghiệp là phát triển Để đạt được mục tiêu đó doanh nghiệp luôn cần nỗ lực hết sức phấn đấu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh mà trong đó vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh có vị trí quan trọng hàng đầu
Hệ số thanh toán tức thời =
Tiền mặt
Trang 36
Việc sử dụng vốn lưu động hiệu quả luôn gắn liền với lợi ích và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đây là vấn đề có tính cấp thiết đối với
sự tồn tại của doanh nghiệp và là một tất yếu khách quan mà doanh nghiệp cần đạt được Việc quản lý và sử dụng vốn lưu động kém hiệu quả sẽ làm tốc độ luân chuyển chậm, hiệu quả sử dụng vốn thấp ở mức nghiêm trọng hơn hiện tượng này rất dễ dẫn đến thất thoát vốn và ảnh hưởng đến quá trình tái sản xuất Quy mô vốn giảm khiến cho chu kỳ sản xuất sau thu hẹp hơn so với chu kỳ trước Tình trạng trên nếu kéo dài liên tục thì chắc chắn doanh nghiệp không thể đứng vững được trên thị trường
Với ý nghĩa như vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hết sức cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp Vì vốn lưu động là một bộ phận cấu thành nên tổng nguồn vốn của doanh nghiệp là yếu tố quan trọng tài trợ cho tài sản lưu động, là công cụ để thực hiện các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, đảm bảo cho sự hoạt động nhịp nhàng cân đối, củng cố và tăng cường công tác
kế hoạch hoá cũng như việc hạch toán kinh tế và đẩy mạnh thi đua sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp
2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, quản lý và sử dụng vốn lưu động một cách
có hiệu quả, hợp lý có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm
vụ chung của doanh nghiệp Tuy nhiên, việc sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau Nhằm phát huy được những mặt mạnh, giảm thiểu những mặt tiêu cực tác động đến hiệu quả sử dụng vốn
lưu động, đòi hỏi các nhà quản lý phải nắm bắt được các nhân tố tác động đó
Trang 37* Thị trường và khả năng tiêu thụ sản phẩm: Đây là một trong những nhân tố có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động và nó càng có ý nghĩa hơn trong điều kiện nến kinh tế thị trường hiện nay, khi mà chúng ta đang phải đối mặt với tình trạng dư cung ở tất cả mọi ngành, mọi lĩnh vực, cùng với
sự cạnh tranh khốc liệt trên thương trường Điều đó đòi hỏi các nhà doanh nghiệp phải tiến hành phân tích thị trường xác định đúng đắn mức cầu về sản phẩm, hàng hoá và xem xét đến các yếu tố cạnh tranh Đồng thời căn cứ vào tình hình hiện tại, doanh nghiệp tiến hành chọn phương án kinh doanh thích hợp nhằm tạo ra lợi thế của doanh nghiệp trên thị trường
* Chính sách kinh tế của nhà nước trong việc phát triển nền kinh tế: vai trò chủ đạo của nhà nước trong nền kinh tế thị trường được thể hiện thông qua việc điều tiết hoạt động kinh tế ở tầm vĩ mô Nhà nước là người hướng dẫn, kiểm soát và điều tiết hoạt động của doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế Thông qua các chính sách, pháp luật và các biện pháp kinh tế… Nhà nước tạo môi trường và hành lang cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh
và hướng các hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp đi theo quỹ đạo của kế
Trang 38hoạch vĩ mô Bởi vậy, nó có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
* Tiến bộ của khoa học công nghệ: trong thời đại ngày nay, trình độ tiến
bộ khoa học công nghệ cũng có ảnh hưởng tới sự phát triển của doanh nghiệp nói chung cũng như hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng Vì vậy, doanh nghiệp phải quan tâm đến việc áp dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm hiện đại hoá trang thiết bị, nâng cao chất lượng, đổi mới sản phẩm Nếu doanh nghiệp không tiếp cận kịp thời với sự tiến
bộ của khoa học, công nghệ để đổi mới trong thiết bị, sản phẩm thì sẽ có nguy
cơ dẫn doanh nghiệp tới tình trạng làm ăn thua lỗ do sản phẩm làm ra không còn thích ứng, phù hợp với nhu cầu thị trường
* Uy tín của doanh nghiệp:
Uy tín của doanh nghiệp có một nội dung hết sức phong phú thể hiện trong mối quan hệ với các tổ chức tín dụng, các ngân hàng thương mại, các công ty tài chính, các bạn hàng, khách hàng của doanh nghiệp về sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của mình… Một doanh nghiệp có uy tín, điều kiện vật chất được khai thác triệt để tạo ra một sự phát triển vững chắc cho doanh nghiệp Khi đó doanh nghiệp vẫn có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường mà không cần dự trữ một lượng vốn quá lớn Điều này sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
* Lạm phát: Là quá trình đồng tiền bị mất giá theo thời gian, nó luôn xuất hiện thường trực trong mọi nền kinh tế, trong mọi thời kỳ phát triển của xã hội, do đó nó sẽ ảnh hưởng tới giá trị vốn lưu động trong kinh doanh của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp không có được sự bổ sung thích hợp thì nó sẽ làm cho vốn lưu động bị giám sút theo tỷ lệ lạm phát và ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động
* Rủi ro trong sản xuất kinh doanh: Lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn, quá trình sản xuất kinh doanh luôn chứa đựng những rủi ro bất chắc Vì
Trang 39* Nhân tố con người: Có thể nói con người luôn đóng vai trò trung tâm
và có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, khi các doanh nghiệp phải cạnh tranh nhau một cách gay gắt thì con người lại càng khẳng định được mình
là nhân tố quan trong tác động đến hiệu quả kinh doanh Đối với các nhà lãnh đạo thì trình độ quản lý, khả năng chuyên môn của họ sẽ giúp doanh nghiệp đạt được lợi nhuận tới ưu Bên cạnh đó, ý thức trách nhiệm trong lao động cũng như khả năng thích ứng với yêu cầu thị trường của cán bộ công nhân viên sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động cho doanh nghiệp
* Trình độ và khả năng quản lý: Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung thì trình độ và khả năng quản lý bị coi nhẹ hoặc là không cần thiết, không liên quan đến sự sống còn của doanh nghiệp Ngược lại, trong điều kiện nền kinh tế thị trường nó giữ một vai trò quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Nếu trình độ quản lý doanh nghiệp còn non kém sẽ dẫn tới việc thất thoát vật tư, hàng hoá, sử dụng lãng phí tài sản lưu động, hiệu quả sử dụng vốn lưu động thấp
* Việc xây dựng chiến lược và phương án kinh doanh: Các chiến lược và phương án kinh doanh phải được xác định trên cơ sở tiếp cận thị trường cũng như phải có sự phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của nhà nước Đây là một trong những nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất lớn đến hiệu qủa sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
Trang 40Ngoài các nhân tố trên, hiệu quả sử dụng vốn lưu động còn chịu ảnh hưởng của một số nhân tố khác như: lỗ tích luỹ, việc trích lập dự phòng… các nhân tố này tác động đến lợi nhuận do đó cũng ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
Trên đây là một số nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp, các doanh nghiệp cần xem xét quy mô, loại hình của doanh nghiệp mình mà hạn chế những ảnh hưởng xấu có thể xẩy ra nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
3 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp
Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động các doanh nghiệp có thể áp dụng nhiều biện pháp khác nhau và không doanh nghiệp nào giống doanh nghiệp nào, tuy nhiên có thể kể ra một số biện pháp chủ yếu sau:
* Lựa chọn phương án, kế hoạch kinh doanh thích hợp với thực tế thị trường: việc lựa chọn và xây dựng các kế hoach kinh doanh, phải có nhiều bộ phận trong doanh nghiệp cùng hợp tác thực hiện trên cơ sở nghiên cứu tíếp cận thị trường và đánh giá đúng tình hình thực tế của doanh nghiệp, các phương án,
kế hoạch kinh doanh thích hợp sẽ giúp cho doanh nghiệp đạt được hiệu quả tối
ưu Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng phải quan tâm đến việc thực thi các phương án kinh doanh mang tính khoa học và thực tiễn Cụ thể, doanh nghiệp phải tiến hành tìm kiếm bạn hàng nhằm đảm bảo có được nguồn cung cấp và tiêu thụ hàng hoá ổn đinh, lâu dài Hơn nữa, doanh nghiệp phải có sự chuẩn bị chu đáo và có các giải pháp phù hợp với những biến cố, thử thách của cơ chế thị trường
* Xác định chính xác nhu cầu vốn lưu động và các hình thức sử dụng: do hoạt động sản xuất kinh doanh luôn biến động và doanh nghiệp thường xuyên tiến hành mở rộng sản xuất kinh doanh nên nhu cầu về vốn lưu động cũng thường xuyên thay đổi Vì vậy, doanh nghiệp phải xác định đúng đắn các nhu cầu vốn lưu động cần thiết cho hoạt động sản xuất, kinh doanh trong từng thời