Các chỉ tiêu đánh giá tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh: Trong công tác quản lý vốn, việc đánh giá đúng đắn tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp kỳ trước l
Trang 1
LUẬN VĂN:
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn kinh doanh ở Xí nghiệp
Trang 2
Giới thiệu
Đối với bất kỳ một nền kinh tế nào, muốn phát triển được thì nguồn lực không thể thiếu được đó là vốn để sản xuất kinh doanh Vốn và hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề sống còn đối với nền kinh tế nói chung cũng như đối với từng doanh nghiệp nói riêng, đặc biệt là trong quá trình chuuyển đổi cơ chế kế hoạch tập trung sang cơ chế thị trường và đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước , vì vậy, mà vấn
đề sử dụng vốn một cách hợp lý và có hiệu quả càng trở nên cấp bách và quan trọng Nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng vốn trong doanh nghiệp và
sự cần thiết trong công tác quản lý và sử dụng vốn Trong thời gian thực tập tại Công ty TNHH Tân Thành, với kiến thức lý luận đã được trang bị, với những tài liệu, tư liệu thu nhận được trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường Em đã
lựa chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ở
Xí nghiệp Xây Dựng Tân Thành” để báo cáo chuyên đề thực tập của mình, với
mong muốn dưa ra dược một số kiến nghị nhằm giúp Xí nghiệp nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp
Báo cáo chuyên đề gồm 3 chương là :
- Chương1:Cơ sở lý luận về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
- Thực trạng vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Xí nghiệp Xây Dựng Tân Thành
- Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Xí nghiệp Xây Dựng Tân Thành
Trang 3
1:khái niệm vốn kinh doanh và vai trò của vốn kinh doanh:
Vốn kinh doanh là một khối lượng tư bản được các doanh nghiệp
đưa vào trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình nhằm thu lợi nhuận.đối với các doanh nghiệp hiện nay vốn đóng mộtvai trò hết sức quan trọng , nó có thể tạo ra cơ hội lớn cho doanh nghiệp sở hửu nó , Đó là cho phép tăng quy mô sản xuất kinh doanh , tăng cường khả năng cạnh tranh và từ đó cho phép doanh nghiệp thu một khoản lợi nhuận tương ứng Tuy nhiên nếu sử dụng vốn một cách không hiệu quả thì vốn không những không phát huy được tác dụng mà trái lại ,nó lại tạo ra một gánh nặng về chi phí sử dụng vốn vay hay chi phí cơ hội do việc
sử dụng vốn CSH
2 Quản lý và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn:
Trong những năm qua, chúng ta đã tìm được một số biện pháp và phương thức khai thác vốn trong nước đã góp phần đáng kể cho sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế Tuy nhiên có một số nghịch lý đang tồn tại là: trong khi chúng ta đang tìm mọi biện pháp để huy động tới đa số vốn trong nước đồng thời tích cực kêu gọi vốn đầu tư của nước ngoài cho sự phát triển của nền kinh tế thì vấn đề hiệu quả sử dụng vốn lại chưa được coi trọng Vốn là nhân tố quan trọng cho quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế Song sử dụng vốn có hiệu quả lại là vấn đề quan trọng hơn nhiều Trong một số chừng mực nào đó sử dụng vốn có hiệu quả sẽ đồng nghĩa với gia tăng vốn đầu tư, măt khác sử dụng vốn có hiệu quả còn là khâu quyết định quy mô huy động và tái tạo vốn Trong điều kiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ngày càng nhiều các công ty tư nhân tồn tại và phát triển một cách bền vững trên cơ sở không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và sức cạnh tranh của mình Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng chính là nâng cao hiệu quả sử các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp, bởi vì, các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp chính là
Trang 4biểu hiện một phần quan trọng của số vốn mà doanh nghiệp đã đầu tư đưa vào sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh
Hội nhập kinh tế Quốc tế là xu hướng tất yếu của các quốc gia trên thế giới
Nó tạo ra nhiều cơ hội thận lợi cho sự phát triển kinh tế Nhưng muốn tận dụng được những ưu thế của phân công lao động Quốc tế đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế phải nâng cao được sức cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ
để chiếm lĩnh được thị trường trong và ngoài nước Muốn làm được điều đó trước hết ta phải bảo toàn được số vốn đó sau đó thì phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói riêng
II Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng vốn:
1 Quan điểm về hiệu quả sử dụng vốn:
Mục tiêu hoạt động của bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng là tối đa hoá lợi nhuận Để đạt được điều đó đối với các doanh nghiệp việc không ngừng nâng cao quản lý sản xuất kinh doanh trong quản lý và sử dụng vốn có ý nghĩa quyết định
Do vậy bảo toàn và phát triển vốn, quan tâm đúng mức đến hiệu quả sử dụng vốn là điều kiện tiên quyết nhất nó không những để doanh nghiệp đảm bảo thoả mãn lợi ích của nhà đầu tư, người cho vay, người lao động về mặt thu nhập mà còn là cơ sở
để các doanh nghiệp huy động vốn dễ dàng trên thị trường tài chính, mở rộng và phát triển kinh doanh
Chỉ tiêu phản ánh tổng quát nhất hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp được xác định bởi công thức:
Trang 5Chỉ tiêu này phản ánh bình quân trong kỳ cứ một đồng vốn kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng hiệu quả Bản chất về hiệu quả sử dụng của doanh nghiệp là biểu hiện một mặt về hiệu quả kinh doanh, phản ánh trình độ quản lý và sử dụng vốn, thời gian sử dụng vốn theo các điều kiện và nguồn lực xác định phù hợp với mục đích liên doanh Hay nói một cách khái quát tiêu chuẩn hiệu quả là tối đa hoá kết quả và tối thiểu hoá lượng vốn trên cơ sở nâng cao năng lực sản xuất của tài sản tiết kiệm vốn
2 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh:
Trong công tác quản lý vốn, việc đánh giá đúng đắn tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp kỳ trước là vấn đề rất quan trọng Từ việc phân tích, đánh giá đó cho phép nêu ra những phương hướng, biện pháp nhằm đẩy mạnh việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh ở kỳ tiếp theo Do vậy, người ta thường sử dụng một số chỉ tiêu cơ bản sau:
2.1 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định:
Việc phân tích tình hình sử dụng tài sản cố định để có biện pháp sử dụng triệt
để có hiệu quả về số lượng thời gian và công suất của máy móc thiết bị sản xuất và các tài sản cố định khác là một vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu thể hiệu quả sử dụng vốn cố định:
Doanh thu tiêu thụ trong kỳ
(Tỷ suất lợi nhuận VCĐ) =
Tổng lợi nhuận trong kỳ Vốn cố định bình quân trong kỳ
Trang 6Khi sử dụng chỉ tiêu này cần lưu ý tính lợi nhuận do có sức tham gia trực tiếp của tài sản cố định tạo ra không tính lợi nhuận về các hoạt động tài chính và lợi nhuận không có sức tham gia của vốn cố định tạo ra
Số tiền KHLK đầu kỳ (cuối kỳ) Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định trong kỳ tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần
Doanh thu thuần
Nguyên giá TSCĐ cuối
Trang 7Tài sản lưu động là tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh, đảm bảo được vốn lưu động phù hợp với quy mô, yêu cầu của sản xuất kinh doanh và sử dụng chúng một cách hiệu quả là mục tiêu của nhà quản lý doanh nghiệp Để đánh giá hiệu quả vốn lưu động, chúng ta có thể sử dụng các chỉ tiêu cơ bản sau:
Tổng doanh thu thuần
Sức sản xuất của vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động sẽ đem lại cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng doanh thu thuần
Tổng lợi nhuận trong kỳ
Doanh lợi vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân
Chỉ tiêu sức sinh lợi của vốn lưu động hay còn gọi là tỷ suất lợi nhuận của vốn lưu động phản ánh một đồng vốn lưu động tạo nên được bao nhiêu đồng lợi nhuận Khi phân tích chúng ta có thể so sánh giữa các kỳ, năm, giữa thực tế và kế hoạch nếu sức sản xuất và sức sinh lợi của vốn lưu động tăng lên chứng tỏ hiệu quả
sử dụng vốn lưu động tăng lên và ngược lại
Trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn lưu động vận động không ngừng, thường xuyên qua các giai đoạn của quá trình tái sản xuất Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển của vốn lưu động sẽ góp phần giải quyết nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, để xác định tốc độ luân chuyển của vốn lưu động, người ta đưa ra các chỉ tiêu phân tích:
Tổng doanh thu thuần
Số vòng quay của vốn =
Vốn lưu động bình quân
Trang 8Chỉ tiêu này còn được gọi là hệ số luân chuyển, cho biết vốn lưu động quay được mấy vòng trong kỳ Nếu số vòng quay vốn lưu động tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại
Thời gian một vòng quay
luân chuyển =
Thời gian của kỳ
Số vòng quay của vốn lưu động trong kỳ Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho vốn lưu động quay được một vòng Thời gian càng ngắn thì tốc độ luân chuyển càng nhanh tức là vốn lưu động sử dụng triệt để hơn
Ngoài hai chỉ tiêu trên, khi phân tích còn có thể tính ra chỉ tiêu hệ số đảm nhận của vốn lưu động Hệ số này càng nhỏ, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao, số vốn tiết kiệm dược càng nhiều Qua chỉ tiêu này ta biết được để có được một đồng luân chuyển thì cần bao nhiêu đồng vốn lưu động
Vốn lưu động bình quân
Hệ số đảm nhận vốn lưu động =
Tổng số doanh thu thuần
Trong toàn bộ các công thức nêu trên, doanh thu thuần và vốn lưu động bình quân trong kỳ được xác định như sau:
+ Tổng doanh thu thuần = tổng doanh thu bán hàng trong kỳ- (chi phí các khoản thuế phải nộp + chiết khấu hàng bán + giảm giá hàng bán + doanh thu hàng
2
Tổng vốn lưu động 3 tháng
- Vốn lưu động bình quân quý =
Trang 93
Tổng vốn lưu động 4 quý -Vốn lưu động bình quân năm =
2.3 Các hệ số về khả năng thanh toán:
Tình hình tài chính được đánh giá là lành mạnh trước hết phải được thể hiện ở khả năng chi trả Đây là vấn đề được nhiều người quan tâm như các nhà đầu tư, người cho vay, người cung cấp nguyên vật liệu họ luôn đặt ra câu hỏi: hiện doanh nghiệp có đủ khả năng trả món nợ tới hạn không? Để trả lời câu hỏi đó người ta thường dựa vào các chỉ tiêu sau:
* Hệ số khả năng thanh toán tổng quát:
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát là mối quan hệ giữa tổng tài sản mà hiện nay doanh nghiệp đang quản lý sử dụng với tổng số nợ phải trả
Công thức:
Tổng tài sản
Hệ số thanh toán tổng quát =
Vốn lưu động bình quân
Trang 10Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 là báo hiệu sự phá sản của doanh nghiệp, tổng số tài sản hiện có (TSCĐ, TSLĐ) không đủ trả số nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán
* Hệ số khả năng thanh toán tạm thời:
Tổng tài sản lưu động Khả năng thanh toán tạm thời =
Nợ ngắn hạn
Nợ ngắn hạn thường bao gồm: Các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các
tổ chức tín dụng, các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản phải trả khác
Tính hợp lý của hệ số này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh Ngành nghề nào mà có TSLĐ chiếm tỷ trọng lớn (như ngành thương mại, xây dựng ) trong tổng tài sản thì hệ số này lớn và ngược lại
*Hệ số khả năng thanh toán nhanh:
TSCĐ trước khi mang đi thanh toán cho chủ nợ đều phải chuyển đổi thành tiền Trong TSLĐ hiện có thì vật tư hàng hoá chưa thể chuyển đổi ngay thành tiền,
do đó nó có khả năng thanh toán kém nhất Vì vậy hệ số khả năng thanh toán nhanh
là thước đo về khả năng trả nợ ngay, không dựa vào việc phải bán các loại vật tư hàng hoá
2.4 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh:
Trang 11Doanh lợi tổng vốn (Tỷ suất doanh lợi tổng vốn) =
Lợi nhuận thuần
Vốn sản xuất bình quân
Đây là chỉ tiêu mức độ sinh lời của đồng vốn, phản ánh cứ một đồng vốn sản xuất bình quân được sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ sẽ tạo ra mấy đồng lợi nhuận
Lợi nhuận thuần
Tỷ suất doanh lợi doanh thu =
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này thể hiện trong một đồng doanh thu mà doanh nghiệp thực hiện trong kỳcó mấy đồng lợi nhuận Khi xem xét chỉ tiêu này, phải đặt nó trong một ngành cụ thể và so sánh nó với năm trước và các doanh nghiệp cùng ngành
2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
- Về khách quan:
+ Cơ chế quản lý và chính sách vĩ mô của Nhà nước: Nhà nước tạo môi trường, hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động đồng thời định hướng
Trang 12hoạt động của các doanh nghiệp thông qua các công cụ quản lý và các chính sách kinh tế vĩ mô Vì vậy, chỉ một số sự thay đổi nhỏ trong cơ chế quản lý của nhà nước cũng ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do vậy ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
+ Tác động của nền kinh tế có lạm phát: trong điều kiện có lạm phát, nếu doanh nghiệp không điều chỉnh kịp thời giá cả của tài sản thì sẽ làm cho vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mất dần theo tốc độ trượt giá của tiền tệ
+ Sự phát triển của khoa học công nghệ: nếu doanh nghiệp không bắt kịp với tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật thì các tài sản cần thiết trong kinh doanh của doanh nghiệp sẽ xảy ra hiện tượng hao mòn vô hình, doanh nghiệp sẽ bị mất vốn kinh doanh
+ Sự biến động của thị trường “đầu ra” và “đầu vào” của doanh nghiệp: Trong điều kiện “đầu ra” không đổi, nếu giá cả các yếu tố “đầu vào” biến động tăng
sẽ làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng vốn Ngược lại, nếu “đầu ra” của doanh nghiệp bị ách tắc, doanh thu không đủ bù đắp chi phí, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp sẽ là số âm
+ Sự cạnh tranh trên thị trường: cạnh tranh là xu hướng tất yếu của nền kinh
tế thị trường, do vậy doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm Có như vậy doanh nghiệp mới thắng trong cạnh tranh và mở rộng thị trường và nó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của đồng vốn
Ngoài ra hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của các doanh nghiệp còn chịu tác động của yếu tố rủi ro bao gồm các rủi ro từ phía thị trường và những rủi ro bất khả kháng như: hoả hoạn, lũ lụt
-Về chủ quan: có nhiều nhân tố chủ quan thuộc về bản thân doanh nghiệp ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp như:
+ Đặc điểm sản phẩm và chu kỳ sản xuất sản phẩm: sản phẩm của doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Vị thế của sản phẩm trên thị trường, tính cạnh tranh…ảnh hưởng đến sản lượng sản phẩm tiêu thụ Qua đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Sản phẩm mà doanh nghiệp lựa chọn kinh doanh có đặc tính riêng của nó Nếu chu kỳ sản xuất dài
Trang 13doanh nghiệp sẽ bị ứ đọng vốn gây khó khăn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động Nếu chu kỳ sản xuất ngắn, thời gian luân chuyển vốn nhanh, vòng quay vốn cao, hiệu quả sử dụng vốn tăng lên Do vậy, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ thị trường đồng thời không ngừng đổi mới công nghệ sản xuất làm giảm chu kỳ sản xuất sản phẩm
+ Các yếu tố về vốn của doanh nghiệp:
Việc bố trí cơ cấu vốn đầu tư: nếu sự bố trí giữa vốn cố định và vốn lưu động và tỷ trọng của từng khoản mục trong từng loại vốn chưa hợp lý, chưa phù hợp với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp thì hiệu quả sử dụng vốn kém là không tránh khỏi
+ Việc xác định nhu cầu vốn: nếu xác định nhu cầu vốn không chính xác thì dẫn tới tình trạng thừa vốn hoặc thiếu vốn, cả hai trường hợp đều ảnh hưởng không tốt tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
+Việc xác định nhu cầu vốn: nếu xác định nhu cầu vốn không chính xác thì dẫn tới tình trạng thừa vốn hoặc thiếu vón, cả hai trường hợp đều ảnh hưởng không tốt tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
+Việc tổ chức sử dụng vốn kinh doanh trong từng khâu: hiệu quả sử dụng vốn sẽ cao nếu như vốn kinh doanh trong từng khâu được tổ chức hợp lý và sử dụng có hiệu quả Ngược lại nếu doanh nghiệp sử dụng vốn lãng phí chẳng hạn như: mua các loại vật tư không đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, kém phẩm chất hay không huy động cao độ tài sản cố định vào sản xuất kinh doanh sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
+ Trình độ quản lý của doanh nghiệp: nếu trình độ quản lý yếu kém có thể dẫn tới tình trạng vốn bị ứ đọng, vật tư hàng hoá chậm luân chuyển, hoạt động kinh doanh thua lỗ kéo dài, vốn bị thâm hụt sau mỗi chu kỳ sản xuất
Trang 143 Một số biện pháp giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Để phát triển vốn là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.Nó đòi hỏi ở mỗi đơn vị cơ sở phải sử dụng vốn có hiệu quả, thường xuyên duy trì và phát triển năng lực sản xuất của mình trong quá trình sản xuất kinh doanh Để sử dụng vốn một cách có hiệu quả người ta chia vốn thành hai
bộ phận: vốn cố định và vốn lưu động
3.1 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định
Do đặc điểm TSCĐ là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh song vẫn giữ nguyên hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu, còn giá trị lại chuyển dịch dần vào giá trị sản phẩm.Vì vậy ta cần phải chú ý tới các vấn đề sau :
- Phải đánh giá đúng giá trị của tài sản cố định tạo điều kiện phản ánh chính xác tình hình biến động của vốn lưu động, quy mô vốn phải bảo toàn Điều chỉnh kịp thời giá trị của tài sản cố định để tạo điều kiện tính đúng, tính đủ chi phí khấu hao, không để mất vốn cố định
- Tổ chức tốt công tác đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản cố định, xem xét kỹ hiệu quả của dự án đầu tư
Chỉ nên tiến hành đầu tư, mua sắm máy móc thiết bị khi thực sự cần thiết Máy móc thiết bị đầu tư phải đảm bảo đáp ứng được yêu cầu công nghệ sản xuất sản phẩm đồng thời phù hợp với trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật
- Quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả tài sản cố định trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Thực hiện phân loại cũng như phân cấp tài sản cố định, tiến hành giao tài sản cố định cho từng bộ phận, từng cá nhân một cách rõ ràng và có chế độ thưởng phạt hợp lý nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của người lao động trong quá trình bảo quản, quản lý và sử dụng
- Thực hiện tốt chế độ bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên và sửa chữa lớn tài sản cố định, tránh tình trạng tài sản cố định hỏng hóc trước thời hạn hoặc hư hỏng bất thường gây thiệt hại cho công tác sản xuất
Trang 15- Huy động tối đa tài sản cố định hiện có vào sản xuất kinh doanh Không ngừng nâng cao cường độ sử dụng máy móc thiết bị, tăng khối lượng sản phẩm sản xuất nhằm tăng nhanh vòng quay vốn đồng thời giảm chi phí tài sản cố định trên một sản phẩm, từ đó góp phần hạ giá thành, trên cơ sở đó mà giảm giá bán và nâng cao sức cạnh tranh
- Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân
sử dụng, vận hành máy móc thiết bị Các bộ phận tăng cường kiểm tra, giám sát đối với việc thực hiện nghiêm chỉnh quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, nâng cao thời gian làm việc của máy móc thiết bị
Thực hiện khấu hao tài sản cố định và sử dụng quỹ khấu hao một cách hợp lý: lựa chọn phương pháp khấu hao tài sản cố định phù hợp và tính đúng, tính đủ hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình của tài sản cố định
- Đối với quỹ khấu hao: Mục đích chính của quỹ khấu hao là dùng để thực hiện tái đầu tư tài sản cố định, nhưng khi chưa có nhu cầu, doanh nghiệp có thể linh hoạt sử dụng nguồn vốn này vào hoạt động đầu tư tài chính ngắn hạn như cho vay, mua cổ phiếu, trái phiếu, gửi Ngân hàng nhằm tăng thêm thu nhập và
mở rộng quỹ khấu hao
3.2 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
- Xác định chính xác nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Việc xác định chính xác nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo cung ứng đầy đủ, kịp thời cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, hạn chế tình trạng thiếu vốn gây gián đoạn sản xuất hoặc thừa vốn dẫn đến vốn ứ đọng, gây lãng phí, kém hiệu quả
- Tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động ở cả 3 khâu: dự trữ, sản xuất và lưu thông Xây dựng cơ cấu vốn lưu động hợp lý theo xu hướng tăng cường vốn lưu động cho khâu sản xuất, giảm vốn ở khâu dự trữ và tiêu thụ
+ ở khâu dự trữ: đảm bảo chặt chẽ ngay từ khâu ký kết hợp đồng cung ứng nguyên vật liệu sao cho đúng chất lượng, đủ số lượng và giá cả hợp lý, thực hiện tốt chế độ bảo quản nhằm đảm bảo phẩm chất và tránh thất thoát Nếu nguồn cung cấp
Trang 16nguyên vật liệu phong phú và tương đối ổn định thì nên giảm số ngày dự trữ và mức
dự trữ nguyên vật liệu
+ Trong khâu sản xuất: rút ngắn chu kỳ sản xuất, cụ thể là rút ngắn thời gian làm việc trong quy trình công nghệ và thời gian gián đoạn trong chu kỳ sản xuất Cần tăng cường kỷ luật sản xuất, có những biện pháp sử dụng đòn bẩy kinh tế để khuyến khích người lao động nâng cao năng suất lao động, phát huy sáng kiến và tích cực tìm ra các giải pháp để tận dụng phế liệu, giảm đến mức thấp nhất tỷ lệ vật
tư hao hụt trong quá trình sản xuất và tỷ lệ phế phẩm
+ Trong khâu lưu thông: tổ chức tốt công tác tiêu thụ và thanh toán tiền hàng Định kỳ tháng, quý, năm doanh nghiệp xác định khoản chênh lệch giá trị tài sản lưu động thực tế tồn kho, lập quỹ dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Chú trọng đến công tác Marketing, tìm hiểu kỹ nhu cầu thị trường và ước lượng khả năng tiêu thụ dể đảm bảo sản xuất luôn ăn khớp với quá trình tiêu thụ sản phẩm, tránh tình trạng ứ đọng vốn thành phẩm
Tăng cường công tác tiếp thị, thông tin quảng cáo giới thiệu sản phẩm và có chính sách khuyến khích tiêu thụ như thực hiện khuyến mại, chiết khấu, giảm giá đối với khách hàng, đặc biệt là khách hàng mua với khối lượng lớn và khách hàng quen
áp dụng các biện pháp tích cực để thu hồi công nợ, tránh tình trạng vốn bị ứ đọng quá lớn trong khâu thanh toán
- Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
Việc kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên và có hệ thống ngay từ khâu mua sắm, dự trữ nguyên vật liệu cho đến khâu tiêu thụ sản phẩm và theo dõi khả năng chi trả của khách hàng nhằm giúp doanh nghiệp phát hiện kịp thời và sớm khắc phục những thiếu sót, yếu kém trong công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động
- Cuối cùng, đối với bộ phận vốn nhàn rỗi cần được sử dụng một cách linh hoạt thông qua các hình thức đầu tư ra bên ngoài như đầu tư góp vốn liên doanh, đầu tư vào tài sản tài chính hoặc cho vay nhằm thu lợi tức tiền vay
Trang 181 Khái quát về Công ty TNHH Tân Thành
1.1Sự hình thành và phát triển của Công ty Tân Thành:
Công ty TNHH Tân Thành được thành lập vào ngày 16\2\1993 theo quyết định số 166/TC/UBTH của Sở kế hoạch và đầu tư Thanh Hóa với ngành nghề kinh doanh ban đầu gồm các ngành:
-Sản xuất vật liệu xây dựng -Kinh doanh than mỏ -Vận tải hàng hoá bằng ô tô
Tháng 11/1994 bổ xung ngành xây dựng công trình giao thông, thuỷ lợi và dân dụng
Năm 2000 bổ xung thêm ngành kinh doanh xăng dầu, khí hóa lỏng, kinh
Phòng
kỹ thuật
XN
Xây
Dựng
XN khai thác
mỏ
XN
kd Xăng
XN triết nạp ga
Đội
xe
Trang 192:Khái quát về Xý ngiệp Xây Dựng Tân Thành
2.1 Các lĩnh vực ngành nghề chính:
- Xây dựng các công trình giao thông, các công trình công nghiệp, các công trình dân dụng
- Xây dựng các công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ
- Thi công nền móng các công trình xây dựng cơ bản
- Gia công, cơ khí và sửa chữa máy thi công
- Vận tải phục vụ xây dựng công trình
2.2 Quy mô sản xuất:
- Tổngvốn: 61.587,835 triệu (đồng)
- Số lượng công trình: Xí nghiệp đã thi công, đại tu sửa chữa, nâng cấp gần
200 công trình lớn nhỏ
2.3 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Xí nghiệp
2.4Các khó khăn, thuận lợi của Xí nghiệp trong giai đoạn hiện nay:
+ Khó khăn:
- Do đặc thù của ngành xây dựng cơ bản là nhiệm vụ không cố định một nơi
Vì vậy cán bộ công nhân viên của Xí nghiệp hoạt động rất phân tán, nên việc
Giám đốc
Phòng vật tư
Đội
thi
Đội thi
Đội thi
Đội thi
Đội thi
Trang 20chỉ huy và điều hành sản xuất trực tiếp của Xí nghiệp đến các đơn vị gặp không ít khó khăn, nhất là các công trình ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, thông tin liên lạc còn nhiều han chế nhất là trong mùa mưa lũ
- Nhiều công trình thiếu vốn, chậm vốn ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất, kế hoạch đầu tư chiều sâu và thu nhập của người lao động
+ Thuận lợi:
- Có sự quan tâm của Công ty
- Có sự quan tâm của các ngành, các cấp từ tỉnh đến các địa phương
- Nội bộ Xí nghiệp luôn có tinh thần đoàn kết, xây dựng Xí nghiệp ngày càng phát triển vững mạnh
- Đội ngũ cán bộ công nhân viên của Xí nghiệp luôn có tinh thần nhiệt tình, có phẩm chất và năng lực tốt đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới
Ii: Thực trạng quản lý và sử dụng vốn tại Xí nghiệp xây dựng tân thành
1 Thực trạng về cơ cấu vốn kinh doanh và nguồn vốn của Xí nghiêp Xây Dựng Tân Thành
1.1 Cơ cấu vốn kinh doanh ở Xí nghiệp xây dựng Tân Thành:
Để xem xét công tác quản lý, sử dụng vốn cũng như hiệu quả sử dụng vốn của
Xí nghiệp trong những năm gần đây ta không thể không quan tâm đến tỷ trọng của từng bộ phận vốn và công dụng kinh tế của chúng Muốn thuận lợi trong công tác quản lý và đánh giá người ta thường phân chia vốn kinh doanh thành hai bộ phận: Vốn cố định và vốn lưu động Cơ cấu vốn kinh doanh của Xí nghiệp xây dựng trong
2 năm gần đây được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Cơ cấu vốn kinh doanh của Xí nghiệp xây dựng tân thành
Trang 212 Nợ phải trả bq 35.582.28
5 68,4 44.706.155 72,59 9.123.870 25,64
Nguồn: trích từ số liêu sổ kế toán
* Cơ cấu vốn kinh doanh:
Qua số liệu trên cho ta thấy 2 năm gần đây tỷ trọng vốn lưu động của Xí nghiệp luôn chiếm khoảng trên 80% tổng số vốn kinh doanh còn vốn cố định chỉ chiếm dưới 20% Kết cấu vốn này được giải thích là hợp lý bởi vì sản phẩm của nghành xây dựng chính là công trình và hạng mục công trình nên cần sử dụng tỷ trọng lớn các khoản dự trữ, nguyên vật liệu và giá trị các công trình dở dang đang thi công còn vốn cố định chỉ cần một lượng nhất định nào đó Tuy vậy, tác động của
2 bộ phận vốn trên đối với kết quả kinh doanh của Xí nghiệp là không thể coi nhẹ bất
cứ bộ phận nào được bởi vì:
Trang 22Tài sản cố định của Xí nghiệp ngoài bộ phận nhà kho, trụ sở chính, các thiết bị văn phòng, thiết bị phục vụ cho quản lý và đi lại thì phần lớn chính là các máy móc, thiết bị, dụng cụ sử dụng cho thi công các công trình như: máy cắt, máy hàn, máy đầm, máy trộn bê tông Mà như ta biết một doanh nghiệp xây dựng nếu thiếu các thiết bị máy móc này thì hoạt động của doanh nghiệp sẽ bị đình trệ Mặt khác, nếu vốn lưu động không đủ đáp ứng cho nhu cầu về các khoản: nguyên vật liệu, chi phí lương cho công nhân, tiến hành thủ tục làm hồ sơ thầu, mua thầu xây dựng đối với các công trình thì dù có máy móc thiết bị hiện đại cũng không thể tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả được Chính vì vậy việc tìm các giải pháp để tăng hiệu quả
sử dụng từng bộ phận vốn góp phần tăng hiệu quả sử dụng tổng vốn kinh doanh cũng như tăng hiệu quả kinh doanh nói chung của Xí nghiệp là rất cần thiết
Đối với tài sản cố định cần nâng cao dần tỷ trọng vốn cố định trong tổng vốn kinh doanh bằng cách đổi mới một số máy móc đã lạc hậu, chất lượng thi công kém bởi những máy móc hiện đại hơn, có chất lượng thi công các công trình cao hơn Biện pháp này sẽ giúp cho những công trình và hạng mục công trình do Xí nghiệp thi công có chất lượng tốt hơn nâng cao uy tín của Xí nghiệp trên thị trường Đây chính là một trong những vấn đề cần quan tâm của Xí nghiệp trong những năm tới
* Nguồn hình thành vốn kinh doanh:
Qua số liệu trên ta thấy: nguồn vốn nợ phải trả chiếm tỷ trọng rất cao
trong tổng số nguồn vốn của Xí nghiệp (72,59% năm 2002), còn nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ 27,41% năm 2002
Như vậy vốn kinh doanh của Xí nghiệp chủ yếu bằng vốn vay và số vay ngày càng gia tăng, điều này phản ánh nhu cầu về vốn của Xí nghiệp là rất lớn Mà máy móc thiết bị của Xí nghiệp đều nhập từ nước ngoài nên Xí nghiệp không thể trông chờ vào nguồn vốn tự bổ sung của công ty mà phải tìm mọi cách để huy động vốn
Trang 23Điều này chứng tỏ Xí nghiệp ngày càng có uy tín và khả năng huy động vốn trên thị trường Việc tăng các khoản nợ phải trả này là do các khoản nợ ngắn hạn chiếm 100% trong tổng nợ phải trả mà chủ yếu là vay ngắn hạn ngân hàng để thoả mãn nhu cầu về vốn sản xuất kinh doanh hay bổ sung vào vốn lưu động
Năm 2001 vốn chủ sở hữu là 16.439.138 nghìn đồng, năm 2002 là 16.881.680 nghìn đồng tăng 442.5425 nghìn dồng so với năm 2001 tỷ lệ tăng tương ứng là 2,69% Như ta dã biết vốn chủ sở hữu tăng chủ yếu là do vốn tự bổ sung mà vốn tự
bổ sung được lấy từ quỹ phát triển kinh doanh mà quỹ này được trích từ lợi nhuận
để lại cho doanh nghiệp Như vậy với việc tăng vốn tự bổ sung chứng tỏ sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp đạt hiệu quả và từ hiệu quả đạt được Xí nghiệp lại tiếp tục đầu tư để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh nhằm làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh trong kỳ tới Để thấy được mức độ độc lập hay phụ thuộc của Xí nghiệp với các chủ nợ, Xí nghiệp đã sử dụng hệ số nợ để phản ánh
Qua chỉ tiêu này ta thấy cứ 1 đồng tài sản của Xí nghiệp thì có 0,726 đồng là
do vay nợ mà có Trong các khoản vay này chủ yếu là vay ngắn hạn điều này cho thấy vốn vay chủ yếu được bổ sung vào vốn lưu động Như vậy trên phương diện lý thuyết thì hệ số nợ càng gần 1 thì rủi ro về tài chính của Xí nghiệp càng lớn Thực tế cho thấy hệ số nợ của Xí nghiệp lớn nhưng lượng vốn của Xí nghiệp chiếm dụng lại
Trang 24rất nhiều Do vậy, ta chưa thể kết luận được mức độ rủi ro về tài chính mà Xí nghiệp gặp phải là cao Để có kết luận chính xác mức độ độc lập tự chủ của Xí nghiệp như thế nào? và có đủ khả năng đảm bảo về mặt tài chính hay không? Phần tiếp theo sẽ giải quyết vấn đề này
Có điểm đáng chú ý là các khoản nợ của Xí nghiệp đều là các khoản nợ ngắn hạn, điều này có thể được giải thích là bởi vì Xí nghiệp không sử dụng vốn để đầu
tư thay đổi tài sản cố định nên không sử dụng đến nợ dài hạn
Đây là một vấn đề cần khắc phục trong thời gian tới để có hướng đi mới huy động được vốn nhiều hơn có thể đáp ứng được các nhu cầu của khách hàng về chất lượng công trình, hạng mục công trình nhờ thay đổi máy móc nâng cao công nghệ thi công Mặt khác điều này cũng thể hiện rằng lượng vốn mà Xí nghiệp cần ngày càng tăng do vậy phải dùng nợ ngắn hạn để bù đắp Do vậy, nguồn vốn ngắn hạn do vay nợ có vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu nguồn vốn sản xuất kinh doanh của
Xí nghiệp Việc quản lý và sử dụng số vốn này phải được phân bổ cho hợp lý để có thể thu hồi vốn trả nợ, thanh toán các khoản chi phí sử dụng vốn, nộp nghĩa vụ thuế cho Nhà nước mà vẫn thu được lợi nhận cho doanh nghiệp thì mới là sử dụng vốn
có hiệu quả
- Hệ số tự tài trợ giảm là do trong năm 2002 tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu giảm đi Điều này cho thấy tính tự chủ về tài chính của Xí nghiệp có xu hướng giảm, rủi ro về tài chính tăng lên
Qua phân tích, đánh giá trên thì ta thấy vốn kinh doanh của Xí nghiệp phát triển rất tốt, quy mô kinh doanh của Xí nghiệp ngày càng được mở rộng và phát triển Vốn chủ sở hữu được tăng lên nhưng không đáng kể Song, nếu chỉ dừng lại phân tích ở đây thì vẫn chưa biết được sự biến động về vốn lưu động và vốn cố định như thế nào? và nguồn gốc sự tăng giảm đó là do đâu? Vì vậy ta cần phải phân tích sâu hơn
Trang 25sản xuất kinh doanh Do vậy, quản lý vốn cố định được coi là trọng điểm của công tác tài chính doanh nghiệp
Để quản lý vốn cố định có hiệu quả ta cần xem xét cơ cấu tài sản cố định của
Xí nghiệp qua số liệu biểu 2:
Bảng 2: Cơ cấu tài sản cố định
Đơn vị tính: 1000đ
Stt Chỉ tiêu
Đầu năm Cuối năm Chênh lệch
Số tiền % Số tiền % Số tiền %
Trang 26Nguồn: Trích từ số liệu sổ kế toán của công ty Tân Thành
Qua số liệu bảng 2 cho thấy quy mô TSCĐ ngày càng tăng chứng tỏ Xí nghiệp tích cực đầu tư đổi mới trang thiết bị, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh của mình và chiếm 100% tổng giá trị TSCĐ đang dùng Thực tế cho thấy kết cấu này khá hợp lý, toàn bộ TSCĐ của Xí nghiệp được huy động cho mục đích sản xuất kinh doanh, số TSCĐ chưa cần dùng và không cần dùng chờ thanh lý là hoàn toàn không có
Năm 2002 tổng nguyên giá TSCĐ tăng thêm là 17.026.236 nghìn đồng với tỷ
lệ tăng là 46,13% Như vậy,việc đầu tư thêm nhiều loại tài sản phục vụ cho sản xuất kinh doanh đã làm tăng quy mô vốn kinh doanh nói chung và vốn cố định nói riêng tăng lên đáng kể Trong năm, Xí nghiệp đã mạnh dạn đầu tư vào dự án nâng cao năng lực thiết bị thi công với những máy móc thiết bị hiện đại thay thế dần những máy móc thiết bị cũ kỹ, lạc hậu, năng suất thấp
Song, để biết rõ cơ cấu tài sản cố định (tức là hình thức mua sắm thiết bị) như thế nào trong năm qua và nguyên nhân làm tăng tài sản cố định, do đó cần tìm hiểu sâu hơn, dựa vào bảng 2 ta thấy nguyên giá của TSCĐ tăng lên là do:
- Nguyên giá của nhà cửa, vật kiến trúc dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh tăng 579.229 nghìn đồng với tỷ lệ tăng tương ứng là 5,43% Việc tăng nguyên giá này là do trong năm Xí nghiệp đã xây dựng thêm một số văn phòng
- Nguyên giá của máy móc thiết bị và dụng cụ quản lý dùng cho sản xuất kinh doanh cũng tăng lên cụ thể là máy móc thiết bị tăng 13.818.234 nghìn đồng tương ứng với 61,2%,dụng cụ quản lý tăng 32.020 nghìn đồng tỷ lệ tăng tương ứng là 8,85% việc tăng nguyên giá này là do trong năm Xí nghiệp đã đầu tư mua sắm thêm máy móc thiết bị mới và một số công cụ quản lý mới như mua thêm máy vi tính cho phòng kế toán, máy kiểm tra chất lượng cho phòng kỹ thuật
- Nguyên giá của phương tiện vận tải tăng 2.550.939 nghìn đồng với tỷ lệ tăng
là 86.94%
Trang 27Như vậy năm 2002, máy móc thiết bị chiếm tỷ trọng cao nhất chứng tỏ Xí nghiệp đã đầu tư thêm máy móc thiết bị phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh Điều này rất có lợi cho Xí nghiệp trong thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay
1.3 Tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động:
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của TSCĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông,
nó là điều liện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất Do đó việc quản lý vốn lưu động có hiệu quả có ý nghĩa rất lớn đối với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp
Để quản lý vốn lưu động có hiệu quả ta cần xem xét tình hình cơ cấu vốn lưu động của Xí nghiệp qua bảng sau:
Bảng 3: Cơ cấu vốn lưu động của Xí nghiệp
4 Hàng tồn kho 6.251.004 12,82 6.291.411 12,11 40.407 0,56
5 TSLĐ khác 868.097 1,77 1.436.482 2,77 568.385 65,48
Trang 28Nguồn : Số liệu từ sổ kế toán của Xí nghiệp Xây Dựng Tân Thành
Qua số liệu bảng trên ta thấy:
Số vốn lưu động của Xí nghiệp năm 2002 đã tăng 3.164.798 nghìn đồng với tỷ
lệ tăng tương ứng là 6,49% so với năm 2001 Nguyên nhân dẫn tới sự tăng giảm của VLĐ chủ yếu là do sự biến động của vốn bằng tiền, các khoản phải thu và hàng tồn kho, cụ thể:
* Vốn bằng tiền:
Vốn bằng tiền năm 2002 tăng so với năm 2001 là 14.465.152 nghìn đồng Nguyên nhân là do trong năm Xí nghiệp đã nghiệm thu một số công trình và khách hàng trả nợ của những năm trước Và đây cũng là thuận lợi của Xí nghiệp trong việc thanh toán các khoản nợ nhưng để xét khả năng Xí nghiệp có thể thanh toán được các khoản nợ hay không ta sẽ đi sâu phân tích ở phần sau (hệ số thanh toán)
* Các khoản phải thu:
Năm 2002 giảm so với năm 2001 là 11.909.152 nghìn đồng tương ứng với tỷ
lệ giảm là 32,17% Cho thấy Xí nghiệp gặp thuận lợi trong việc thu hồi các khoản
nợ Về các khoản phải thu thì các Công ty xây dựng nói chung và Xí nghiệp Xây dựng Tân Thành của công ty Tân Thành nói riêng khó điều chỉnh được vì đây chính là những khoản bên A (chủ công trình) phải trả thì đã được quy định rõ từng thời hạn trong bản hợp đồng xây dựng rồi Đây chính là tình trạng Xí nghiệp bị chiếm dụng vốn tạm thời một cách hợp pháp trong thời hạn của hợp đồng xây dựng Chứng tỏ Xí nghiệp đã làm tốt công tác thu hồi vốn Đây là dấu hiệu tốt cho Xí nghiệp vì nó làm tăng khả năng thanh toán của Xí nghiệp và bớt đi một phần vốn
“chết” cho Xí nghiệp Tuy nhiên ta vẫn thấy rằng các khoản phải thu của Xí nghiệp vẫn còn rất lớn do đó Xí nghiệp cần phải thu hồi vốn tốt hơn nữa các khoản nợ của khách hàng để tránh tình trạng bị chiếm dụng vốn lâu dài và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của Xí nghiệp
* Hàng tồn kho:
Trang 29Qua bảng trên ta thấy năm 2001 lượng dự trữ hàng tồn kho là 6.251.004 nghìn đồng chiếm 12,82 % trong tổng vốn lưu động, năm 2002 tăng so với năm 2001 là 40.407 nghìn đồng và tỷ lệ tăng tương ứng là 0,65% Với mức dự trữ này có gây ứ đọng vốn và phát sinh ra chi phí lưu kho
Tuy nhiên nếu dự trữ hàng tồn kho quá ít sẽ làm cho hoạt động của Xí nghiệp
bị ngừng trệ không cung ứng kịp nguyên vật liệu làm gián đoạn công trình từ đó sẽ ảnh hưởng đến tiến độ thi công, mất uy tín với khách hàng Vì vậy Xí nghiệp cần xác định mức tồn kho an toàn để tránh rủi ro và các chi phí không cần thiết mà vẫn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra một cách nhịp nhàng liên tục
Mức tồn kho
an toàn =
Nhu cầu dự trữ tồn kho trong ngày x
Số ngày tồn kho an toàn dự kiến Tài sản lưu động khác: trong hai năm gần đây tăng cụ thể là năm 2002 tăng so với năm 2001 là 568.385 nghìn đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 65,48%
Như vậy qua sự phân tích trên ta có thể tìm được nguyên nhân làm tăng vốn lưu động, đồng thời biết được kết cấu vốn lưu động, xác định được tình hình phân
bổ và tỷ trọng mỗi loại vốn bị chiếm dụng trong các giai đoạn luân chuyển
2 Thực trạng tình hình tài chính của Xí nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường một doanh nghiệp có thể giao dịch với nhiều đối tác kinh doanh Do vậy các giao dịch kinh tế tài chính thường phát sinh các khoản phải thu, phải trả mà cần phải có một thời gian nhất định mới thanh toán được Phân tích tình hình thanh toán của Xí nghiệp Xây dựng Tân Thành chính là xem xét sự biến động của các khoản phải thu, phải trả từ đó tìm ra nguyên nhân các khoản nợ chưa đòi được của Xí nghiệp hoặc nguyên nhân các khoản nợ đến hạn chưa đòi được để tìm hiểu thêm ta phân tích tình hình tài chính của Xí nghiệp qua bảng dưới đây: