1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa DNNN tại văn phòng công ty Giao nhận kho vận ngoại thương ở Hà Nội.DOC

94 568 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp thúc đẩy cổ phần hóa DNNN tại văn phòng công ty Giao nhận kho vận ngoại thương ở Hà Nội
Tác giả Lê Thị Thu Ngọc
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Đức Hiển
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài chính doanh nghiệp
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 460 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải pháp thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa DNNN tại văn phòng công ty Giao nhận kho vận ngoại thương ở Hà Nội

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ DNNN 3

1.1 Doanh nghiệp Nhà nước: 3

1.1.1 Khái niệm DNNN: 3

1.1.2 Vai trò của DNNN trong nền kinh tế: 3

1.1.3 Vai trò chủ đạo của DNNN đi về đâu? 5

1.2 CPH DNNN: 8

1.2.1 Khái niệm CPH DNNN: 8

1.2.2 Bản chất của CPH DNNN: 9

1.2.3 Tác động của CPH DNNN: 13

1.3 Các hình thức và quy trình CPH DNNN: 16

1.3.1 Các hình thức CPH DNNN: 16

1.3.2 Quy trình tiến hành CPH: 16

1.4 Quá trình CPH DNNN ở Việt Nam: 25

1.4.1 Những kết quả chủ yếu đạt được từ CPH DNNN: 25

1.4.2 Những tồn tại, hạn chế của quá trình CPH DNNN: 30

1.5 Nhân tố ảnh hưởng tới tiến trình CPH DNNN: 34

1.5.1 Nhân tố chủ quan: 34

1.5.2 Nhân tố khách quan: 37

Trang 2

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ DNNN TẠI CÔNG TY GIAO NHẬN KHO VẬN NGOẠI THƯƠNG

VIETRANS 39

2.1 Giới thiệu chung về công ty Giao nhận kho vận ngoại thương VIETRANS 39

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty VIETRANS: 39

2.1.2 Cơ cấu tổ chức và nguồn lực của công ty VIETRANS : 44

2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của công ty: 48

2.1.4 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh: 50

2.1.5 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty từ năm 2006 đến 2008 52

2.2 Thực trạng quá trình CPH DNNN tại công ty VIETRANS: 59

2.2.1 Quy trình CPH DNNN tại công ty VIETRANS: 59

2.2.2 Đánh giá chung về quả trình CPH DNNN tại công ty VIETRANS: .65

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THỨC ĐẨY QUÁ TRÍNH CPH DNNN TẠI VĂN PHÒNG CÔNG TY GIAO NHẬN KHO VẬN NGOẠI THƯƠNG VIETRANS Ở HÀ NỘI 70

3.1 Định hướng, kế hoạch sắp xếp, đổi mới DNNN của Chính phủ và Bộ công thương: 70

3.1.1 Định hướng, kế hoạch sắp xếp, đổi mới DNNN của Chính phủ: 70

3.1.2 Kế hoạch đẩy mạnh công tác sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thuộc Bộ thương mại 74

3.2 Giải pháp thúc đẩy cổ phần hóa DNNN tại văn phòng công ty Giao nhận kho vận ngoại thương ở Hà nội: 78

3.2.1 Quán triệt tư tưởng, chủ trương cổ phần hóa cho cả ban lãnh đạo lẫn cán bộ công nhân viên trong văn phòng công ty: 78

Trang 3

3.2.2 Hoàn thiện việc xác định giá trị doanh nghiệp khi tiến hành cổ

phần hóa và giải quyết những tồn đọng về mặt tài chính: 79

3.2.3 Tạo môi trường pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho tổ chức và hoạt động của công ty sau cổ phần hóa: 81

3.3 Một số kiến nghị: 82

3.3.1 Đối với Bộ công thương: 82

3.3.2 Đối với Chính phủ: 83

3.3.3 Đối với các cơ quan chức năng có liên quan khác: 88

KẾT LUẬN 89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 4

VIETRANS Công ty Giao nhận kho vận ngoại thương

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ

Nội dung Chương 1

Bảng 1.1 Tình hình CPH DNNN từ năm 1992 đến tháng 8- 2008

Bảng 1.2 Số liệu các DNNN tiến hành CPH

Chương 2

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ cơ cầu tổ chức của công ty VIETRANS

Bảng 2.1 Kết quả kinh doanh của Vietrans qua các năm 2006-2008

Bảng 2.2 Kết quả kinh doanh của văn phòng công ty VIETRANS

Bảng 2.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty CP VIETRANS

Miền Nam

Trang 5

CPH DNNN là một chủ trương lớn và đúng đắn của Đảng, Nhà nước tatrong quá trình đổi mới doanh nghiệp Nhà nước Tuy nhiên trong quá trìnhthực hiện cổ phần hóa DNNN còn tồn tại nhiều nhiều vấn đề dẫn tới việc cổphần hóa không đạt được mục tiêu như mong muốn.

Công ty Giao nhận kho vận ngoại thương là một DNNN trực thuộc Bộcông thương cũng không nằm ngoài diện cổ phần hóa của Nhà nước Cổ phầnhóa đã được tiến hành ở một số chi nhánh của công nhưng còn tồn tại nhiềukhó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Trong thời gian tới sẽ tiếp tụctiến hành cổ phần hóa các bộ phận còn lại của công ty, để tiến trình cổ phầnhóa diễn ra nhanh chóng và hiệu quả công ty cần có một kế hoạch thực hiệnđồng bộ, rõ ràng nhằm tránh những sai lầm, thiếu sót trước đây Nhận thức

Trang 6

phòng công ty VIETRANS được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo – Ths.Nguyễn Đức Hiển và các anh chị phòng Kế toán tổng hợp của công ty em đã

chọn đề tài “Giải pháp thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa DNNN tại văn phòng công ty Giao nhận kho vận ngoại thương ở Hà Nội” làm đề tài cho

luận văn tốt nghiệp của mình

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về CPH DNNN.

Chương 2: Thực trạng quá trình CPH DNNN tại công ty giao nhận kho

vận ngoại thương VIETRANS

Chương 3: Giải pháp thức đẩy quá trình CPH DNNN tại văn phòng

công ty giao nhận kho vận ngoại thương VIETRANS ở Hà Nội

Do thời gian thực tập cũng như trình độ nghiên cứu còn nhiều hạn chếnên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong muốn nhậnđược những ý kiến đóng góp của thầy cô để luận văn của em được hoàn thiệnhơn và có chất lượng tốt hơn

Hà Nội, ngày 7 tháng 4 năm 2009

Sinh viên

Lê Thị Thu Ngọc

Trang 7

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ

CỔ PHẦN HOÁ DNNN 1.1 Doanh nghiệp Nhà nước:

1.1.1 Khái niệm DNNN:

Luật DNNN năm 2003 đã có định nghĩa về DNNN khá khái quát, chínhxác phù hợp với cách tiếp cận của nhiều nước cũng như thực tiễn vận độngcủa nền kinh tế đất nước: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn

bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hìnhthức công ty Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”

DNNN có những đặc điểm sau:

- Trong từng DNNN vốn do Nhà nước đầu tư

- DNNN hoạt động trên cả lĩnh vực kinh doanh và công ích

Do nhiều nguyên nhân khác nhau hoạt động kinh doanh của hầu hết cácDNNN là kém hiệu quả, đặc biệt tại các nước đã từng áp dụng cơ chế kếhoạch hoá tập trung Dưới thể chế kinh tế này các ngành, các đơn vị, cácdoanh nghiệp mất đi quyền tự chủ trong kinh doanh, sinh ra ỷ lại vào Nhànước Diều này dẫn đến đầu tư nhiều mà không hiệu quả, nhiều doanh nghiệpthua lỗ kéo dài, thất thoát tài sản Nhà nước gây khủng hoảng kinh tế

1.1.2 Vai trò của DNNN trong nền kinh tế:

Kinh tế Nhà nước được xác định là đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng kinh

tế và giải quyết những vấn đề xã hội, là nhân tố mở đường cho sự phát triểnkinh tế “là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước địnhhướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế” Kinh tế nhà nước bao gồm: các DNNN,

Trang 8

Nhà nước và các tài sản thuộc sở hữu Nhà nước như đất đai, ngân sách, phầnvốn của Nhà nước góp vào doanh nghiệp cổ phần hay liên doanh với cácthành phần kinh tế khác Trong đó DNNN là lực lượng nòng cốt, lực lượngchủ đạo của nền kinh tế DNNN có những vai trò chủ yếu sau đây:

- DNNN có vai trò quan trọng trong việc xây dựng hạ tầng cho nền kinh

tế do tác động của quy luật giá trị, việc đầu tư vào hạ tầng như hệ thống giaothông, thông tin, liên lạc, các dịch vụ công ích như điện, xây dựng hạ tầng,vận tải hành khách và hàng hoá thường ít được các doanh nghiệp quan tâm.Hơn nữa, đối với các doanh nghiệp thì các dự án đầu tư vào các lĩnh vực nêutrên thường vượt ngoài khả năng tài chính, kỹ thuật và công nghệ Chính vìvậy DNNN được coi là giải pháp cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng ở nhiềuquốc gia, nhất là ở các quốc gia đang phát triển, thiếu vắng những doanhnghiệp tư nhân có tiềm lực kinh tế và kỹ thuật đủ mạnh DNNN được giaophó vai trò khá lớn trong việc đảm bảo các hàng hoá, dịch vụ thiết yếu hoặcnhạy cảm của nền kinh tế mà các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tếkhác không thể đảm nhiệm vì nhiều lý do khác nhau

- DNNN phải tạo ra được nguồn thu cho ngân sách để phát triển kinh tế

xã hội

- DNNN có vai trò to lớn trong việc điều tiết nền kinh tế Nhờ vào sự tồntại của thành phần kinh tế công cùng với tiềm lực to lớn của nó, Nhà nước cóthể tác động tới sự phát triển của nền kinh tế theo những chiều hướng hoặctheo những chính sách thích hợp với lợi ích quốc gia trong từng giai đoạn cụthể

- Thúc đẩy và đảm bảo việc làm cũng là một trong những vai trò quantrọng của DNNN

Trang 9

- Giảm đói nghèo là vai trò được các quốc gia đang phát triển kỳ vọngnhất từ các DNNN Mang tính xã hội hoá cao, nắm giữ những lĩnh vực thenchốt của nền kinh tế, được Nhà nước bao cấp nhiều mặt nên DNNN cần phảitrở thành động lực của việc xoá đói giảm nghèo.

- Tăng cường sự phát triển kinh tế quốc dân và củng cố chủ quyền quốcgia là vai trò khá phổ biến của DNNN

- DNNN được giao sứ mệnh trở thành hình mẫu về hiệu quả sản kinh doanh, mô hình giải quyết các vấn đề an sinh xã hội cho người lao động

xuất-1.1.3 Vai trò chủ đạo của DNNN đi về đâu?

Thực tiễn hoạt động của DNNN ở Việt Nam hàng chục năm qua chothấy mặc dù DNNN được giao phó vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dânsong hoạt động của chúng còn tồn tại nhiều điểm bất cập DNNN chiếm phầnvốn đầu tư chủ yếu từ ngân sách, đội ngũ nhân lực được đào tạo cũng tậptrung chủ yếu trong các DNNN Các DNNN chiếm lĩnh những lĩnh vực quantrọng của nền kinh tế như dầu khí, vận tải, bưu chính, điện, khai khoáng vànhiều ngành dịch vụ chiến lược khác như bảo hiểm, ngân hàng Tuy nhiên,thế mạnh và vai trò của DNNN không được duy trì một cách bền vững do sự

xơ cứng trong cơ chế quản lý, cùng hậu quả của nền kinh tế kế hoạch hoá tâptrung DNNN càng ngày càng trở nên kém hiệu quả, thể hiện:

Thứ nhất, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thấp, cả nước hiện cònkhoảng 2.700 DNNN Trong đó, số doanh nghiệp kinh doanh có lãi chiếm78%, doanh nghiệp thua lỗ chiếm 15,1%, doanh nghiệp hòa vốn chiếm 6,9%.Tuy nhiên, theo Bộ Tài chính, nếu tính đủ chi phí phát sinh trong kỳ theo quyđịnh như khấu hao tài sản cố định, trích dự phòng nợ phải thu khó đòi… thì

số doanh nghiệp lỗ và không có lãi sẽ cao hơn Trong 5 năm qua, số nợ phải

Trang 10

8,7%/năm Tính đến 31/12/2005, tổng số nợ phải thu của DNNN là 166.359

tỷ đồng thì số nợ khó đòi là 3.757 tỷ đồng; tổng số nợ phải trả là 449.195 tỷđồng thì số nợ quá hạn là 5.548 tỷ đồng Tỷ lệ nợ trên vốn của DNNN nhìnchung còn quá cao Đặc biệt, nhiều công ty có số nợ phải trả gấp 5 lần vốnnhà nước tại công ty Có công ty vay gấp hơn 20 lần vốn tự có nên khả năngthanh toán nợ rất thấp, rủi ro cao

Thứ hai, thiết bị công nghệ lạc hậu: máy móc thiết bị của Việt Nam đượcnhập từ nhiều nguồn nhưng đa phần thuộc thế hệ đã lạc hậu theo điều tra của

Bộ khoa học- công nghệ và môi trường (1996) thì máy móc công nghệ củaViệt Nam đã lạc hậu so với thế giới từ 10- 20 năm, có thiết bị được sản xuất

từ năm 1930, có 38% thiết bị thuộc diện thanh lý, 52% đã qua duy tu bảodưỡng

Thứ ba, số lao động dôi dư quá lớn: tình trạng lao động dôi dư, lao độngkhông được đào tạo cơ bản nhiều làm tăng chi phí tiền lương, bảo hiểm, bảo

hộ lao động, chi trợ cấp mất việc làm đồng thời ảnh hưởng đến việc đổi mớithiết bị công nghệ

Thứ tư, công tác quản lý của doanh nghiệp còn nhiều yếu kém, cơ chếquản ý còn nhiều bất cập và sơ hở, những tồn tại tài chính không được xử lýdứt điểm luôn là gánh nặng cho doanh nghiệp

Những biểu hiện này cho thấy hiệu quả và vai trò của DNNN với tư cách

là động lực phát triển kinh tế ngày càng trở nên mờ nhạt Thêm vào đó là sựthua lỗ triền miên của DNNN đã khiến ngân sách quốc gia không còn đủ sức

để bao cấp và duy trì hoạt động của chúng DNNN từ chỗ là trụ cột trong nềnkinh tế quốc dân trở thành một gánh nặng đẩy lùi sự phát triển của nền kinh

tế

Nguyên nhân của tình trạng này là do:

Trang 11

Thứ nhất, do sự can thiệp quá sâu của Nhà nước vào hoạt động sản xuấtkinh doanh của DNNN thực tế này khiến các DNNN khó trở thành một chủthể kinh tế độc lập, có quyền tự chủ, điều mà bất cứ chủ thể nào tham gia cácquan hệ kinh tế, thương mại đều rất cần.

Thứ hai, sự xung đột giữa các mục tiêu đặt ra cho kinh tế Nhà nước.phần lớn DNNN được giao thực hiện các mục tiêu kinh tế song cũng cókhông ít những mục tiêu khác hoặc mang tính chất chính trị, quân sự, an ninhquốc phòng hoặc mang tính chất xa hội Việc thực hiện một lúc nhiều mụctiêu khác nhau khiến DNNN dễ rơi vào tình trạng lúng túng

Thứ ba, thiếu sự đầu tư cho việc tăng năng suất lao động Năng suât laođộng là yếu tố sống còn của doanh nghiệp trong bất cứ nền kinh tế nào, bất cứquốc gia nào Năng suất lao động phụ thuộc vào sự thay đổi công nghệ tiêntiến một cách thường xuyên, vào cơ chế quản lý năng động mà những điểmnày thì DNNN khó có được do bị kiểm soát bởi hệ thống quản lý nhiều tầngcấp, quan liêu và mệnh lệnh

Thứ tư, thiếu cơ chế kích thích thích hợp đối với không chỉ người laođộng mà cả đối với những người quản lý DNNN Sự ràng buộc bởi chế độlương, bảng lương quy định làm cho tất cả đều thực hiện công việc của mìnhmột cách cầm chừng, thụ động vì không có động cơ vật chất thôi thúc

Cuối cùng là các DNNN thiếu khả năng cạnh tranh Điều này thể hiện ởchỗ giá cả hàng hoá, dịch vụ của các DNNN đều cao hơn nhiều so với cácdoanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tư nhân hay hỗn hợp

Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong đókhẳng định vai trò chủ đạo không thể thiếu của thành phần kinh tế Nhà nước

mà nòng cốt là DNNN Để DNNN thực hiện được sứ mệnh của mình chúng ta

Trang 12

chủ trương đổi mới về mọi mặt của Nhà nước đã được đẩy mạnh trong đóCPH là một trong những giải pháp cơ bản nhằm cải cách khu vực kinh tếquốc doanh Với chủ trương xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ đi đôivới hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tếnói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng không ngừng được nâng cao.

Để đáp ứng được yêu cầu này, CPH DNNN được coi là một giải pháp quantrọng và triệt để nhằm tạo ra sự chuyển biến cơ bản trong việc thay đổi cơ cấukinh tế, đổi mới, nâng cao năng lực của các DNNN ở Việt Nam Điều này đãđược khẳng định qua Nghị quyết Đại hội VIII ,IX và tiếp tục được khẳng địnhtrong báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của Đạihội Đảng X

1.2 CPH DNNN:

1.2.1 Khái niệm CPH DNNN:

CPH DNNN là việc chuyển doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước (đơn

sở hữu) thành công ty cổ phần (đa sở hữu), sự chuyển đổi này được thể hiện ởhai mặt căn bản sau:

- Chuyển hoá quyền sở hữu từ đơn sở hữu sang đa sở hữu, điều này kéotheo sự thay đổi quyền quản lý, quyền sử dụng và tạo nên sự gắn kế chặt chẽgiữa ba tuyến liên quan đến tái sản của doanh nghiệp là Nhà nước, người laođộng và Nhà đầu tư bên ngoài doanh nghiệp

- Thay đổi quy chế hoạt động của doanh nghiệp từ chỗ hoàn toàn bị Nhànước chi phối sang tự chủ kinh doanh theo quy định của pháp luật

Việc CPH một bộ phận DNNN ở nước ta có những nét đặc thù, đó làCPH những doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, mà thực chất là CPH một

bộ phận doanh nghiệp thuộc sở hữu xã hội, sở hữu toàn dân mục tiêu cơ bản

Trang 13

của việc chuyển một bộ phận DNNN thành công ty cổ phần là nhằm hoànthiện quan hệ sản xuất cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sảnxuất, nâng cao hiệu quả của các DNNN Cụ thể, tìm ra một hình thức quản lýphù hợp, vừa phát huy quyền làm chủ của người lao động vừa đảm bảo quản

lý một cách có hiệu quả tài sản của doanh nghiệp Đồng thời nâng cao hiệuquả hoạt động của DNNN, giảm thâm hụt ngân sách Nhà nước, xoá bỏ độcquyền đối với một số DNNN, buộc các doanh nghiệp phải phát huy năng lựccạnh tranh để nâng cao hiệu quả so với kinh tế tư nhân và thu hút các nhà đấu

tư nhân vào các ngành, các lĩnh vực mà sự độc quyền của Nhà nước khôngcòn cần thiết Nhà nước hướng tới tập trung vào những ngành then chốt, mũinhọn, đòi hỏi hàm lượng vốn và khoa học - kỹ thuật cao để nâng cao sức cạnhtranh các sản phẩm của đất nước trên thị trường quốc tế cũng như tập trungvào ổn định nền kinh tế vĩ mô CPH sẽ tạo ra khả năng huy động vốn của toàn

xã hội, tạo thêm việc làm, nâng cao sức cạnh tranh và làm thay đổi cơ cấuDNNN Trong bối cảnh nền kinh tế vẫn còn đang trì trệ,CPH tạo ra sự ổn định

về mặt xã hội, thực hiện sự phân phối có lợi cho những người có thu nhậpthấp

- Tư nhân hoá

Trang 14

- Cho thuê DNNN

- Bán DNNN

- Cho phép doanh nghiệp tư nhân cạnh tranh với DNNN trong cùngngành

- Phương thức BOT trong xây dựng hạ tầng và công ích

- Thuê tư nhân quản lý DNNN

- Giảm các cổ phần Nhà nứơc trong các doanh nghiệp thuộc các ngành

có tính cạnh tranh và khuyến khích sự tham gia của nguồn vốn không phải từNhà nước

- Chia nhỏ hoặc sát nhập DNNN tuỳ theo tính chất và mục tiêu của việc

cơ cấu lại

- Thành lập các doanh nghiệp công tư hợp danh

Nhìn chung, cải cách DNNN theo hình thức nào cũng đều nhằm mụcđích thị trường hoá DNNN thị trường hoá DNNN là quá trình chuyển việcphân bổ nguồn lực được thực hiện bằng phương thức quản lý Nhà nước sang

cơ chế điều chỉnh thị trường, chuyển một phần tài sản DNNN thành phi Nhànước, được thể hiện ở 4 khía cạnh:

- Cải cách quản lý vĩ mô đối với DNNN theo định hướng thị trường

- Đa dạng hoá tài sản của DNNN

- Hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN phải được thực hiện theocác nguyên tắc thị trường

- Hình thành cơ chế loại bỏ các DNNN yếu kém ra khỏi thị trường

Trong tất cả các giải pháp cải cách DNNN nêu trên thì tư nhân hoá vàCPH được áp dụng phổ biến nhất giữa tư nhân hoá và CPH có những điểm

Trang 15

chung rất cơ bản, chính vì vậy nhiều người cho rằng CPH là một dạng tư nhânhoá hay CPH là tư nhân hoá từng phần Xét ở những góc độ hình thức nhấtđịnh thì có vẻ như quan điểm này đúng Tư nhân hoá là việc chuyển tài sản từthành phần kinh tế công sang thành phần kinh tế tư CPH được thực hiệnthông qua việc chia vốn của một số DNNN nhất định ra thành các cổ phần vànhững cổ phần này được bán cho nhà đầu tư bên ngoài doanh nghiệp, ngườilao động trong doanh nghiệp và một phần do Nhà nước sở hữu Do đó, CPH

đã biến DNNN thành sở hữu chung của những người nắm giữ cổ phần củadoanh nghiệp Như vậy, có thể nói CPH chính là tư nhân hoá một phầnDNNN Tuy nhiên, giữa chúng vẫn có những điểm khác nhau rất cơ bản sauđây:

- Thứ nhất, tư nhân hoá được coi là một chính sách và mục tiêu của nó làhạn chế đến mức tối đa thành phần kinh tế công trong khi đó CPH chỉ đượccoi là một giải pháp thực hiện

- Thứ hai, tư nhân hoá được thực hiện dưới nhiều phương thức khácnhau, trong đó có cả phương thức phi quốc hữu hoá, tức trả lại cho chủ cũnhững tài sản đã bị quốc hữu hoá, kể cả toàn bộ doanh nghiệp đang hoạtđộng CPH trong khi đó chỉ thực hiện thông qua việc DNNN tiến hành pháthành cổ phiếu ra công chúng lần đầu

- Thứ ba, tác động của hai giải pháp này hoàn toàn khác nhau về cả mức

độ lẫn tính chất Tư nhân hoá dẫn đến thay đổi hình thức sở hữu của cácDNNN, còn CPH có tác dụng làm giảm sở hữu của Nhà nước trong DNNN.Với tư cách là một chính sách, tư nhân hóa tác động đến toàn bộ nền kinh tế,còn CPH với tư cách là một giải pháp thực hiện chính sách này tác động chủyếu đến các DNNN bị CPH

Trang 16

- Thứ tư, tư nhân hoá thường được tiến hành trên cơ sở của luật về tưnhân hoá CPH được thực hiện dựa trên cơ sở của luật công ty hiện hành.CPH không xoá bỏ hoàn toàn sở hữu Nhà nước mà chỉ giảm mức độ sởhữu, tức là chỉ có sự thay đổi về lượng chứ không có sự thay đổi về chất củacác cơ sở kinh tế này Xét một cách khái quát, CPH có một số ưu thế nhấtđịnh sau:

- CPH không làm thay đổi một cách cơ bản kết cấu sở hữu của nền kinh

tế Vì vậy, nền tảng kinh tế của xã hội vẫn có thể không thay đổi lớn khi tiếnhành CPH

- Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DNNN CPH sẽ được tăng lên và

từ đó có thể làm cho chúng có khả năng thực hiện tốt hơn vai trò của mình

- CPH làm phát sinh nhiều công ty cổ phần có sự tham gia của sở hữuNhà nước Công ty cổ phần là chủ thể tích cực của nền kinh tế thị trường và

sự có mặt đông đảo của các công ty này sẽ có tác động tốt tới nền kinh tế

- Do chỉ giảm bớt mức độ sở hữu của Nhà nước trong các DNNN CPH

mà không loại chúng ra khỏi nền kinh tế nên CPH không làm nảy sinh vấn đềviệc làm ở mức độ lớn

- CPH có thể mang lại sự gia tăng vốn đầu tư của DNNN thông qua việchuy động vốn từ các cổ đông- các chủ sở hữu mới của doanh nghiệp CPH

Dĩ nhiên, như bất cứ hiện tượng kinh tế- xã hội nào khác, CPH cũngchứa đựng những hạn chế của nó Hạn chế cơ bản nhất của CPH xét ở yêu cầuphát triển kinh tế thị trường là khó có thể nhanh chóng tạo ra nền tảng thíchhợp cho nền kinh tế thị trường mà theo quan điểm phổ biến ở phương Tây làchủ yếu dựa vào thành phần kinh tế tư nhân Đối với Việt Nam, do đặc trưngcủa nền kinh tế, do chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã

Trang 17

hội chủ nghĩa, CPH được coi là giải pháp tối ưu cho quá trình sắp xếp, đổimới, nâng cao hiệu quả của DNNN

Sỡ dĩ CPH được coi là giải pháp cải cách triệt để đối với DNNN vì nógiải quyết được căn nguyên của những yếu kém trong tổ chức quản lý và hoạtđộng của DNNN- đó là vấn đề sở hữu Những giải pháp cải cách DNNN khácchỉ động chạm đến cơ chế quản lý theo hướng tăng cường quyền tự chủ củaDNNN trong một hoặc một số lĩnh vực cụ thể CPH chấp nhận sự dung hoàcủa nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong bản thân các thực thể kinh tế vi

mô mà trước hết trong các doanh nghiệp

1.2.3 Tác động của CPH DNNN:

CPH có vai trò to lớn trong việc đổi mới DNNN, nhất là ở nền kinh tếchuyển đổi từ cơ chế kế hoach hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam Tác dụng của CPH thể hiện ở một sốkhía cạnh sau đây:

- CPH có tác dụng làm cho sở hữu trong doanh nghiệp trở nên đa dạnghơn Chính vì vậy nó giải quyết được khá triệt để vấn đề sở hữu trong DNNNvốn gây ra những vướng mắc về hiệu quả và sự kém năng động trong sản xuấtkinh doanh

- CPH có tác dụng trong việc xã hội hoá tư liệu sản xuất trong các doanhnghiệp thuộc sở hữu một chủ Như vậy, các thực thể kinh tế vi mô cũng trởnên đa sở hữu như bản thân nền kinh tế vĩ mô Điều này tạo nên sự tươngthích nhất định của các giải pháp quản lý vĩ mô và vi mô

- CPH tạo cho những người lao động cơ hội thực sự làm chủ doanhnghiệp nếu như họ mong muốn bằng việc sở hữu cổ phần trong doanh nghiệp,người lao động có thể tham gia vào viẹc quyết định các vấn đề quan trọng của

Trang 18

nghĩa rất lớn trong việc nâng cao tính chủ động, tích cực của người lao độngkhông chỉ đối với các vấn đề của doanh nghiệp mà cả đối với các vấn đề kinhtế- chính trị xã hội của đất nước.

- CPH có tác dụng rất lớn đối với việc thực hiện mục tiêu tăng trưởngkinh tế: một thực tế khó có thể phủ nhận là tốc độ và tính bền vững của sựtăng trưởng kinh tế ở nước ta phụ thuộc rất nhiều vào khu vực kinh tế Nhànước với tỷ trọng vốn cũng như các nguồn lực khác được đầu tư, quy mô laođộng, tiềm năng về khoa học công nghệ, chát xám và ưu thế về thị trường củakhu vực kinh tế Nhà nước hơn hẳn so với các thành phần kinh tế khác, tăngtrưởng kinh tế của khu vực này là một yếu tố quyết định trực tiếp đến sự tăngtrưởng của toàn bộ nền kinh tế Cụ thể, quá trình CPH đã sàng lọc và đào thảinhững doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, tạo môi trường cạnh tranh giữa cácdoanh nghiệp và động lực phát triển; CPH là giảm số lượng các DNNN thuầntuý, tức là doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước sẽ giảm bớt được một khoản bổsung vốn từ ngân sách Nhà nước cho những doanh nghiệp này để dành đầu tưvào các nhu cầu phát triển khác; thông qua CPH Nhà nước thu được một phầngiá trị tài sản Nhà nước trước đây giao cho các doanh nghiệp quản lý nhưng

sử dụng kém hiệu quả; cũng với việc giảm số lượng DNNN sẽ làm giảm nhucầu hỗ trợ và ưu đãi về tín dụng Nhà nước, làm giảm áp lực lên các ngân hàngthương mại quốc doanh và các quỹ tín dụng Nhà nước, tạo cơ hội cho cácdoanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác tiếp cận được với các nguốnvốn vay, tạo tính bình đẳng trên thị trường; CPH DNNN gắn liền với sự xuấthiện hàng loạt các công ty cổ phần, cùng với sự phát triển của thị trườngchứng khoán sẽ giúp các nguồn lực trong xã hội sẽ được sử dụng một cáchhiệu quả hơn; cuối cùng, CPH giúp các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả hơn vàchính chúng sẽ tạo ra áp lực cạnh tranh mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp

Trang 19

khác trong nền kinh tế, từ đó tạo ra một vòng xoáy thúc đẩy toàn nền kinh tếphát triển.

- CPH DNNN ở nước ta có tác dụng to lớn trong việc đẩy lùi tình trạnglãng phí, tham nhũng đang khá phổ biến trong các DNNN và những cơ chếquản lý chúng Các DNNN sau CPH sẽ trở thành công ty cổ phần, được đăng

ký hoạt động theo luật doanh nghiệp Khi đó sẽ không tồn tại cơ chế chủ quản

và cũng không còn cơ chế “xin- cho” đối với doanh nghiệp nữa mọi hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị chi phối bởi các quy luật thịtrường và pháp luật

- CPH tác động tới các vần đề xã hội ở nhiều phương diện, ảnh hưởngtrực tiếp đến quyền lợi của nhiều đối tượng xã hội, làm phát sinh những mốiquan hệ mới ảnh hưởng của CPH có thể rất tích cực song cũng có thể chứađựng những yếu tố tiêu cực nếu không được xử lý đúng

- CPH và thị trường chứng khoán có mối quan hệ mật thiết với nhau.Hoạt động CPH của các DNNN cung cấp hàng hoá cho thị trường chứngkhoán, làm hàng hoá trên thị trường thêm phong phú, ngược lại sự phát triểncủa thị trường chứng khoán có tác dụng thúc đẩy quá trình CPH, làm gia tăng

số cổ đông tiềm tàng cho các DNNN CPH, hỗ trợ DNNN trong các khía cạnhnhư định giá doanh nghiệp, tư vấn phát hành, bão lãnh phát hành Ngoài ravới sự phát tiển của thị trường chứng khoán các DNNN sau khi CPH phảithực hiện chế độ tài chính công khai, minh bạch từ đó hoạt động sẽ hiệu quảhơn

Những tác động nói trên của CPH đối với các DNNN đã khẳng định tínhđúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình sắp xếp, đổi mới lạiDNNN Đường đi đã được xác định rõ ràng để đạt được thành công chúng ta

Trang 20

1.3 Các hình thức và quy trình CPH DNNN:

1.3.1 Các hình thức CPH DNNN:

Hình thức CPH công ty Nhà nước được đưa ra trong nghị định109/2007/NĐ- CP của Chính phủ ngày 26/6/2007 về việc chuyển doanhnghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần như sau:

- Giữ nguyên vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổphiếu thu hút thêm vốn bên ngoài áp dụng đối với những doanh nghiệp CPH

có nhu cầu tăng thêm vốn điều lệ Mức vốn huy động thêm tuỳ thuộc vào quy

mô và nhu cầu vốn của công ty cổ phần Ưu điểm của hình thức này là quy

mô được mở rộng nên nó phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ

- Bán một phần vốn vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợpvừa bán bớt một phần vốn Nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăngvốn điều lệ cách làm này thường được áp dụng ở các doanh nghiệp có quy

mô lớn vì các doanh nghiệp đó không dễ dàng trong việc huy động nhữngnguốn vốn lớn từ bên ngoài

- Bán toàn bộ vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừabán toàn bộ vốn Nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để thu hút vốn Hìnhthức này có mức độ CPH cao nhất, theo đó Nhà nước không còn tham gia vàoviệc điều hành, quản lý doanh nghiệp nữa mà chuyển giao hẳn cho các thànhphần kinh tế khác sở hữu và điều hành Các doanh nghiệp nhỏ, làm ăn thua lỗhay không thuộc lĩnh vực Nhà nước cần nắm quyền kiểm soát thường tiếnhành CPH theo hình thức này

1.3.2 Quy trình tiến hành CPH:

Căn cứ Nghị định 109/2007/NĐ- CP ngày 26/06/2007 của Chính phủ vềviệc chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần, Thông

Trang 21

tư 146/2007/TT- BTC ngày 06/12/2007 của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiệnNghị định 109/2007/NĐ- CP ngày 26/06/2007 của Chính phủ về việc chuyểndoanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần, quy trình chuyểndoanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần bao gồm các bướccông việc sau:

Bước 1 Xây dựng Phương án CPH.

1 Thành lập Ban chỉ đạo CPH và tổ giúp việc.

1.1 Cơ quan quyết định CPH ra quyết định thành lập Ban chỉ đạo CPHđồng thời với Quyết định CPH doanh nghiệp

1.2 Trưởng Ban chỉ đạo lựa chọn và ra quyết định thành lập Tổ giúpviệc CPH trong thời gian 5 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định thành lậpBan chỉ đạo CPH

2 Chuẩn bị hồ sơ tài liệu:

Trong thời gian tối đa 10 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định thànhlập Tổ giúp việc CPH, Ban chỉ đạo có trách nhiệm chỉ đạo Tổ giúp việc cùngvới doanh nghiệp tiến hành:

2.1 Lựa chọn phương pháp, hình thức xác định giá trị doanh nghiệp, lựa

chọn thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp phù hợp với điều kiện của doanhnghiệp và các văn bản hướng dẫn có liên quan đến CPH

2.2 Chuẩn bị đầy đủ các tài liệu sau:

- Các Hồ sơ pháp lý về thành lập doanh nghiệp

- Các Hồ sơ pháp lý về tài sản của doanh nghiệp (bao gồm cả diện tíchđất được giao hoặc thuê)

Trang 22

- Hồ sơ về công nợ (đặc biệt là các khoản nợ tồn đọng, các khoản nợ đã

xử lý theo chế độ trước thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp)

- Hồ sơ về tài sản không cần dùng, vật tư, hàng hoá ứ đọng, kém, mấtphẩm chất (nếu có), tài sản hình thành từ nguồn quỹ khen thưởng phúc lợi

- Hồ sơ về các công trình đầu tư xây dựng cơ bản dở dang (kể cả cáccông trình đã có quyết định đình hoãn)

- Hồ sơ về các khoản vốn đầu tư dài hạn vào doanh nghiệp khác như:góp vốn liên doanh, góp vốn cổ phần, góp vốn thành lập công ty trách nhiệmhữu hạn và các hình thức đầu tư dài hạn khác

- Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán thuế của công ty đến thời điểmxác định giá trị doanh nghiệp

- Lập dự toán chi phí cổ phần hóa theo chế độ quy định

3 Kiểm kê, xử lý những vấn đề về tài chính và tổ chức xác định giá trị

3.2 Xác định giá trị doanh nghiệp:

Ban chỉ đạo CPH lựa chọn (hoặc đấu thấu lựa chọn) tổ chức định giá để

giao cho doanh nghiệp ký kết hợp đồng định giá hoặc giao cho Tổ giúp việc,doanh nghiệp tự xác định giá trị doanh nghiệp

Trang 23

Trường hợp Tổ chức tư vấn có chức năng định giá thì có thể thuê trọngói: lập phương án CPH, xác định giá trị doanh nghiệp, tổ chức bán cổ phần 3.3 Ban chỉ đạo thẩm tra kết quả kiểm kê, phân loại tài sản và kết quảxác định giá trị doanh nghiệp, báo cáo cơ quan quyết định giá trị doanhnghiệp và Bộ Tài chính

Thời gian để hoàn tất các công việc tại điểm 3.1, 3.2, 3.3 không quá 90ngày làm việc kể từ ngày chuẩn bị xong hồ sơ tài liệu đối với các tập đoànkinh tế, tổng công ty, công ty mẹ; không quá 60 ngày đối với các trường hợpcòn lại

3.4 Quyết định và công bố giá trị doanh nghiệp:

Trong thời gian không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báocáo của Ban chỉ đạo CPH, cơ quan quyết định giá trị doanh nghiệp phải raquyết định công bố giá trị doanh nghiệp CPH

4 Căn cứ thời điểm quyết định công bố giá trị doanh nghiệp, doanh

nghiệp lập:

- Danh sách người lao động có tên trong danh sách thường xuyên củadoanh nghiệp tại thời điểm quyết định công bố giá trị doanh nghiệp để xácđịnh số cổ phần dự kiến người lao động được mua ưu đãi

- Lập danh sách lao động thường xuyên làm việc tại công ty tại thời điểmquyết định công bố giá trị doanh nghiệp, phân loại lao động theo các đốitượng: hợp đồng không xác định thời hạn, hợp đồng có thời hạn từ 1-3 năm,danh sách lao động dôi dư…

5 Hoàn tất Phương án CPH:

5.1 Lập Phương án CPH:

Trang 24

Căn cứ quy định hiện hành và tình hình thực tế của doanh nghiệp, Banchỉ đạo xem xét quyết định thuê tổ chức tư vấn hoặc giao cho Tổ giúp việc vàdoanh nghiệp lập Phương án CPH với các nội dung chính sau:

a) Giới thiệu về công ty, trong đó mô tả khái quát về quá trình thành lậpcông ty và mô hình tổ chức của công ty; tình hình và kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh của công ty trong 3 - 5 năm liền kề trước khi CPH

b) Đánh giá thực trạng của công ty ở thời điểm xác định giá trị doanhnghiệp, bao gồm:

- Thực trạng về tài sản (bao gồm cả diện tích đất được giao hoặc thuê)

- Thực trạng về tài chính, công nợ

- Thực trạng về lao động

- Những vấn đề cần tiếp tục xử lý

c) Phương án sắp xếp lại lao động:

- Số lao động có tên trong danh sách thường xuyên ở thời điểm có quyếtđịnh công bố giá trị doanh nghiệp

- Số lao động tiếp tục tuyển dụng

- Số lao động dôi dư và phương án giải quyết theo từng đối tượng

d) Phương án hoạt động sản xuất kinh doanh trong 3 - 5 năm tiếp theo,trong đó nêu rõ:

- Phương án cơ cấu lại doanh nghiệp khi chuyển thành công ty cổ phần:sắp xếp lại các bộ phận trong doanh nghiệp, đổi mới ngành nghề kinh doanh;đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh

Trang 25

- Kế hoạch sản xuất kinh doanh của các năm tiếp theo về sản phẩm, sảnlượng, thị trường, lợi nhuận … và các giải pháp về vốn, nguyên liệu, tổ chứcsản xuất, lao động tiền lương, …

cổ phần bán cho các nhà đầu tư chiến lược (kèm theo danh sách) và số cổphần dự kiến bán đấu giá cho các nhà đầu tư thông thường

- Phương thức phát hành cổ phiếu theo quy định (đấu giá trực tiếp tạicông ty, hoặc đấu giá tại các tổ chức tài chính trung gian, hoặc đấu giá tạitrung tâm giao dịch chứng khoán)

e) Dự thảo Điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần theo cácquy định của Luật doanh nghiệp và các văn bản pháp luật hiện hành

5.2 Hoàn thiện Phương án CPH

a) Căn cứ quyết định công bố giá trị doanh nghiệp CPH, Tổ giúp việccùng với doanh nghiệp phối hợp với tổ chức tư vấn (nếu có) hoàn thiệnPhương án CPH và gửi tới từng bộ phận trong công ty để nghiên cứu trướckhi tổ chức hội nghị công nhân viên chức (bất thường)

b) Tổ chức Hội nghị công nhân viên chức (bất thường) để lấy ý kiến

hoàn thiện phương án CPH

Trang 26

c) Sau Hội nghị công nhân viên chức, Tổ giúp việc, doanh nghiệp phốihợp với tổ chức tư vấn (nếu có) hoàn thiện Phương án CPH để trình cơ quan

có thẩm quyền phê duyệt

d) Ban chỉ đạo thẩm định phương án CPH báo cáo cơ quan quyết địnhCPH phê duyệt

Thời gian để hoàn tất các nội dung quy định tại điểm 5.2 bước nàykhông quá 20 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định công bố giá trị doanhnghiệp CPH

5.3 Phê duyệt phương án CPH

Cơ quan quyết định CPH xem xét ra quyết định phê duyệt phương ánCPH trong thời gian không quá 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báocáo của Ban chỉ đạo

Bước 2 Tổ chức bán cổ phần.

1 Ban chỉ đạo CPH lựa chọn phương thức bán cổ phần theo quy định.

2 Tổ chức bán cổ phần:

2.1 Tổ chức bán đấu giá cho các nhà đầu tư thông thường:

a) Đối với trường hợp bán đấu giá trực tiếp tại doanh nghiệp:

Ban chỉ đạo CPH và doanh nghiệp tổ chức bán đấu giá cổ phần cho nhàđầu tư

b) Đối với trường hợp bán cổ phần tại tổ chức tài chính trung gian:

- Ban chỉ đạo lựa chọn tổ chức tài chính trung gian giao cho doanhnghiệp ký hợp đồng

- Ban chỉ đạo và doanh nghiệp phối hợp với tổ chức tài chính trung gianthực hiện việc bán cổ phần theo quy định

Trang 27

c) Đối với trường hợp bán cổ phần tại Sở giao dịch chứng khoán, Trungtâm giao dịch chứng khoán.

Ban chỉ đạo cổ phần hóa được quyền đăng ký với cơ quan quyết địnhCPH về thời gian dự kiến bán cổ phần, số lượng cổ phần dự kiến bán để cơquan quyết định CPH quyết định việc lựa chọn tổ chức bán cổ phần, đăng ký

kế hoạch đấu giá với Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứngkhoán đồng thời báo cáo Bộ Tài chính để quyết định thời gian đấu giá cổphần của doanh nghiệp

2.2 Trên cơ sở giá đấu thành công bình quân của các nhà đầu tư thôngthường, Ban chỉ đạo CPH:

- Chỉ đạo doanh nghiệp bán cổ phần ưu đãi cho người lao động và tổchức công đoàn tại doanh nghiệp (nếu có)

- Tiến hành bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược hoặc thương thảo vớicác nhà đầu tư chiến lược đã được lựa chọn

3 Tổng hợp kết quả bán cổ phần báo cáo cơ quan quyết định CPH.

4 Báo cáo cơ quan quyết định CPH ra quyết định điều chỉnh quy mô, cơ

cấu cổ phần của doanh nghiệp CPH đối với trường hợp không bán cổ phầncho các đối tượng theo đúng phương án CPH được duyệt

(Thời gian thực hiện Bước 2 không quá 3 tháng kể từ khí có quyết địnhphê duyệt phương án CPH)

Bước 3 Hoàn tất việc chuyển doanh nghiệp thành công ty cổ phần.

1 Đại Hội đồng cổ đông lần thứ nhất.

Ban Chỉ đạo CPH chỉ đạo Tổ giúp việc và doanh nghiệp tổ chức Đại Hộiđồng cổ đông lần thứ nhất để thông qua Điều lệ tổ chức và hoạt động, phương

Trang 28

án sản xuất kinh doanh, bầu Hội đồng quản trị, ban Kiểm soát và bộ máy điềuhành công ty cổ phần.

2 Căn cứ vào kết quả Đại Hội đồng cổ đông lần thứ nhất, Hội đồng quản

trị công ty cổ phần thực hiện đăng ký kinh doanh, nộp con dấu của doanhnghiệp cũ và xin khắc dấu của công ty cổ phần

(Thời gian để hoàn tất các nội dung quy định tại điểm 1, điểm 2 Bước 3không quá 30 ngày )

3 Lập báo cáo tài chính tại thời điểm công ty cổ phần được cấp giấy

chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu, thực hiện quyết toán thuế, quyết toánchi phí CPH, báo cáo cơ quan quyết định CPH

Nộp tiền thu từ CPH về Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty, công ty mẹ,công ty nhà nước hoặc Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp tại Tổng công tyĐầu tư và kinh doanh vốn nhà nước

4 Công ty cổ phần mua hoặc in tờ cổ phiếu cấp cho các cổ đông theo

quy định hiện hành

5 Tổ chức ra mắt công ty cổ phần và thực hiện bố cáo trên phương tiện

thông tin đại chúng theo quy định

Trường hợp doanh nghiệp xác định sẽ thực hiện niêm yết ngay trên thịtrường chứng khoán thì lập bộ hồ sơ xin cấp phép niêm yết gửi Bộ Tài chính(Uỷ ban chứng khoán Nhà nước) theo quy định hiện hành

6 Tổ chức bàn giao giữa doanh nghiệp và công ty cổ phần.

Trong quá trình thực hiện, cơ quan quyết định CPH, Ban chỉ đạo CPH,

Tổ giúp việc và doanh nghiệp có thể tiến hành đồng thời nhiều bước một lúc

để đẩy nhanh tiến độ CPH công ty nhà nước

Trang 29

1.4 Quá trình CPH DNNN ở Việt Nam:

Trong nền kinh tế thị trường, CPH là một giải pháp khai thác triệt đểtiểm năng của các thành phần kinh tế việc CPH các DNNN là một trongnhững vấn đề căn bản của cải cách và đổi mới DNNN ở Việt Nam Điều này

đã được khẳng định qua Nghị quyết Đại hội VIII, IX và tiếp tục được khẳngđịnh trong Đại hội Đảng lần thứ X; trong đó, nhấn mạnh: tiếp tục đẩy mạnhsắp xếp, đổi mới nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của DNNN

1.4.1 Những kết quả chủ yếu đạt được từ CPH DNNN:

Tiến trình CPH DNNN đã được thực hiện ở nước ta hơn 17 năm qua vàđạt được những thành công nhất định

- Số lượng doanh nghiệp CPH tăng lên: CPH các DNNN được tiến hànhthí điểm từ tháng 6 năm 1992, tính đến hết tháng 6 năm 2007 cả nước đã CPHđược 3680 doanh nghiệp và bộ phận DNNN Trong đó, doanh nghiệp thuộccác ngành công nghiệp, giao thông, xây dựng chiếm 66,15%; ngành thươngmại, dịch vụ chiếm 27.6%; ngành nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 6.25% Phântheo chủ sở hữu, doanh nghiệp thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương chiếm 61.7%; thuộc các bộ, ngành chiếm 29%; thuộc các tổng công ty

91 chiếm 9,3% Phân theo quy mô vốn, doanh nghiệp có vốn Nhà nước dưới

10 tỷ đồng chiếm 79,9%; trên 10 tỷ đồng chiếm 20,1% Lạm phát cao vàkhủng hoảng tài chính toàn cầu từ giữa năm 2007 kéo dài sang năm 2008 đãtác động bất lợi đến nền kinh tế nước ta và làm chậm tiến độ CPH DNNN

Trang 30

Nguồn: Báo cáo của Ban đổi mới DNNN

Nếu tính cả doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp được CPH thì tínhđến ngày 30/6/2008 cả nước có 3786 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp

đã CPH Tổng số vốn điều lệ khi CPH là 106 nghìn tỷ đồng, trong đó Nhànước nắm giữ 50%, người lao động nắm giữ 11% và nhà đầu tư bên ngoàinắm giữ 39% vốn điều lệ Quá trính CPH DNNN đã thu về khoảng 78 nghìn

tỷ đồng cho Nhà nước và các doanh nghiệp Trong đó, phần thu do chênh lệchgiữa giá bán cổ phiếu so với mệnh giá khoảng 54 ngìn tỷ đồng Các doanhnghiệp CPH đều là các doanh nghiệp nhỏ, vừa và Nhà nước nắm giữ 50% vốn

cổ phần Còn về số lượng doanh nghiệp chưa CPH tính đến hết tháng 9 năm

2008 cả nước còn 2176 doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước với tổng số vốnkhoảng 200.000 tỷ đồng, trong đó có 1546 doanh nghiệp hoạt động sản xuấtkinh doanh, 355 doanh nghiệp quốc phòng an ninh và sản xuất công ích, 295nông, lâm trường

- Các doanh nghiệp CPH có quy mô ngày càng lớn hơn và mở rộng sangcác lĩnh vực ngành nghề trước đây Nhà nước còn nắm giữ 100% vốn như:

Trang 31

điên lực, bưu chĩnh viễn thông, hàng không, hàng hải, dầu khí, tài chính, bảohiểm, Năm 2006, hoàn thành việc thí điểm CPH 3 tổng công ty Nhà nước làxuất nhập khẩu xây dựng, thương mại và xây dựng, điện tử tin học Thủtướng Chính phủ cũng đã phê duyệt danh sách 71 tập đoàn, tổng công ty Nhànước sẽ thực hiện CPH trong giai đoạn tới.

- Hình thức CPH phong phú phù hợp với thực tiễn Căn cứ thực tế vànhu cầu thu hút vốn để đầu tư, Chính phủ đã cho phép triển khai áp dụng cáchình thức CPH khác nhau, trong đó phổ biến nhất là bán một phần vốn Nhànước hiện có tại doanh nghiệp kết hợp phát hành thêm cổ phiếu (hình thứcnày chiếm 69,4%), hình thức bán toàn bộ vốn Nhà nước hiện có tại doanhnghiệp (chiếm 15,5%), hình thức giữ nguyên vốn Nhà nước phát hành thêm

cổ phiếu (chiếm 15,1%) Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối (từ 54% vốnđiều lệ trở lên) chiếm 34% doanh nghiệp đã CPH, đây là những doanh nghiệp

có vốn tương đối lớn, hoạt động kinh doanh có hiệu quả và một số doanhnghiệp chưa bán được hết cổ phần theo phương án duyệt ban đầu

- CPH giúp hình thành và phát triển các loại hình doanh nghiệp có nhiềuchủ sở hữu Từ chính sách CPH DNNN và trong thực tế đã hình thành các cổđông chiến lược góp phần tạo ra năng lực mới,mở rộng thị trường, tăng tièmlực tài chính để mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng trình độ quản lý, đổi mớicông nghệ Việc đa dạng hoá sở hữu DNNN đã góp phần giảm gánh nặng chongân sách Nhà nước, tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động tiếp cận cácnguồn vốn của xã hội phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, tăng cường

sự kiểm tra giám sát của xã hội đối với hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp

- CPH đã trở thành giải pháp cơ bản và quan trọng nhắm cơ cấu lạiDNNN Qua CPH đã giảm mạnh những DNNN quy mô nhỏ, thua lỗ và thuộc

Trang 32

các ngành, lĩnh vực Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn, góp phần quantrọng cơ cấu lại DNNN, để DNNN tập trung hơn vào những ngành, lĩnh vựcthen chốt của nền kinh tế Số lượng DNNN đã giảm từ 12.000 doanh nghiệpvào năm 1993 xuống còn 5.655 doanh nghiệp năm 2000, 4.296 doanh nghiệpnăm 2005 và 2176 tháng 9/2008 Nợ xấu của các DNNN khi CPH được xử lýmột bước cơ bản, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực sự lành mạnh về tàichính khi hoạt động với hình thức công ty cổ phần Trong quá trình CPHDNNN từ năm 2002 trở lại đây có 154 doanh nghiệp có khó khăn trong cáckhoản nợ xấu được xử lý giãn nợ, khoanh nợ, xoá nợ thuế và các khoản phảinộp ngân sách Nhà nước với tổng số tiền là 314,91 tỷ đồng Chính phủ đã chophép xử lý nợ tồn đọng vay các ngân hàng thương mại trên 19 nghìn tỷ đồng.Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng đã tiếp nhận nợ và tài sản loại trừ của1.222 doanh nghiệp với giá trị 1.411 tỷ đồng; trong đó, đã xử lý nợ cho 331doanh nghiệp với giá trị 390 tỷ đồng, giá trị thu hồi 125 tỷ đồng.

- CPH đã huy động thêm vốn của xã hội đầu tư vào phát triến sản xuất,kinh doanh, đa dạng hoá sở hữu Nhờ CPH vốn Nhà nước tại DNNN tuy chưatính giá trị quyến sử dụng đất nhưng nhìn chung được đánh giá lại kháchquan, chính xác hơn; đồng thời đã huy động thêm được 25.600 tỷ đồng củacác cá nhân, tổ chức ngoài xã hội để đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sảnxuất kinh doanh, nâng cao năng lực và sức cạnh tranh của doanh nghiệp QuaCPH, Nhà nước cũng thu về được khoảng 19.500 tỷ đồng để đầu tư vào mụctiêu khác Phần vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp CPH được bảo toàn nhờhiệu quả sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp CPH ngày càng tăng

- CPH tạo cơ sở thúc đẩy hình thành và phát triển thị trường chứngkhoán Việt Nam Phương thức CPH từng bước được đổi mới, sát với thịtrường, gắn với việc niêm yết trên thị trường chứng khoán để tăng tính minhbạch, thúc đẩy sự luân chuyển linh hoạt của vốn cổ phần trên thị trường

Trang 33

chứng khoán Đến nay đã có 193 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứngkhoán, quy mô thị trường chứng khoán năm 2006 đã đạt 22,7% GDP, đếnthàng 5 năm 2007 đã đạt 32,8% GDP Một sồ lượng lớn các DNNN đượcCPH đã cung cấp hàng hoá cho thị trường chứng khoán phát triển.

- CPH mang lại cho doanh nghiệp cơ chế quản lý năng động hơn, có hiệuquả, thích nghi với nền kinh tế thị trường Chuyển sang hình thức công ty cổphần, doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường, tự chủ, tự chịu tráchnhiệm trước pháp luật và trước cổ đông về hoạt động và kết quả hoạt độngsản xuất, kinh doanh Công ty cổ phần đã thực hiện tốt các biện pháp tiếtkiệm, đẩy mạnh sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; xây dựng mới các nội quy,quy chế hoạt động; có cơ chế hạch toán, phân phối rõ ràng; thực hiện tinhgiản bộ máy quản lý, hợp lý hoá các bộ phận snả xuất, kinh doanh từ đó nângcao iệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh của doanh nghiệp

- CPH tạo điều kiện pháp lý và vật chất để người lao động nâng cao vaitrò làm chủ trong doanh nghiệp Thông qua CPH một bộ phận quan trọngngười lao động ở DNNN CPH trở thành cổ đông, là người chủ thực sự phầnvốn góp của mình ở doanh nghiệp

- Việc kiểm tra, giám sát của người lao động, cổ đông và xã hội đối vớicông ty cổ phần, nhất là những công ty đã niêm yết trên thị trường chứngkhoán là biện pháp có hiệu quả làm cho tài chính của công ty cổ phần đượcminh bạch, công khai

- Thông qua CPH góp phần tập trung vốn của Nhà nước (sau CPH) vàocác tập đoàn kinh tế, các tổng công ty Nhà nước và tổng công ty đầu tư vàkinh doanh vốn Nhà nước đã phần nào khắc phục tình trạng vốn Nhà nướcđầu tư từ chỗ dàn trải, phân tán vào tất cả các lĩnh vực, ngành nghề sang đầu

Trang 34

tư có trọng tâm, trọng điểm, hướng vào các lĩnh vực, ngành nghề then chốtcủa nền kinh tế.

- CPH đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanhnghiệp Nhìn chung các doanh nghiệp sau CPH hoạt động hiệu quả hơn Theobáo cáo của các bộ, ngành, điạ phương về kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh của 850 doanh nghiệp CPH đã hoạt động trên một năm cho thấy: vốnđiều lệ bình quân tăng lên 44%; daonh thu bình quân tăng 23,6%; lợi nhuậnthực hiện bình quân tăng 139,76%; trên 90% số doanh nghiệp sau CPH hoạtđộng kinh doanh có lãi; nộp ngân sách tăng 24,9%; thu nhập của người laođộng bình quân tăng 12%; số lao động tăng bình quân 6,6%; cổ tức bình quânđạt 17,11%

Tóm lại, CPH DNNN được thực hiện thận trọng theo đúng quan điểm,chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước và về cơ bản đã đạt được mụctiêu đề ra, đem lại lợi ích cho Nhà nước, cho doanh nghiệp, người lao độngtrong doanh nghiệp và cả các cổ đông khác của doanh nghiệp Thực tế đó đãchứng minh rằng chủ trương của Đảng và Nhà nước ta vế CPH DNNN làhoàn toàn đúng đắn

1.4.2 Những tồn tại, hạn chế của quá trình CPH DNNN:

Bên cạnh những thành công như trên việc thực hiện chủ trương CPHDNNN ở nước ta cũng bộc lộ khá nhiều hạn chế:

- Tiến độ CPH chậm, chưa đạt kế hoạch đề ra Tuy đạt được những kếtquả đáng ghi nhận nêu trên nhưng so với yêu cầu và mục tiêu của Nghị quyếtTrung ương 3, Trung ương 9 (khoá IX), Nghị quyết Đại hội X của Đảng thìviệc sắp xếp, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp mà trọng tâm là CPH DNNNvẫn còn chậm, nhất là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính,

Trang 35

ngân hàng Những số liệu dưới đây cho thấy việc thực hiện CPH luôn thấphơn chỉ tiêu đề ra.

Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2007

- Cơ cấu vốn điều lệ: tỷ lệ cổ phần do Nhà nước giữ ở các doanh nghiệp

đã cổ phần hóa như sau: nắm giữ cổ phần chi phối trên 50% ở 33% số doanh nghiệp; dưới 50% số vốn ở 37% số doanh nghiệp và không giữ lại tỷ lệ % vốn

nào ở gần 30% số doanh nghiệp Xem xét cụ thể hơn có thể thấy: số vốn nhànước đã được cổ phần hóa chỉ mới chiếm 12%, và ngay trong số vốn này,Nhà nước vẫn nắm khoảng 40%, vì thế số vốn mà Nhà nước cổ phần hóađược bán ra ngoài mới chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (khoảng 3,6%) Với cơ cấuvốn nhà nước đã cổ phần hóa như trên có thể thấy bức tranh cổ phần hóadoanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay và hiểu rõ hơn khái niệm cổ phần

“chi phối” của nhà nước

- Việc xác định giá trị tài sản của các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế,

sơ hở: giá trị doanh nghiệp chưa được tính đúng và thống nhất; giá trị thươnghiệu, lợi thế kinh doanh, nguồn nhân lực tại doanh nghiệp chưa được xem xétđánh giá đầy đủ, và nhất là chưa xác định đúng giá trị quyền sử dụng đất đểđưa vào giá trị doanh nghiệp khi CPH đã làm thất thoát lớn tài sản của Nhànước, làm lợi cho một số người, tạo nên bức xúc xã hội

- Các hoạt động bổ trợ cho quá trình CPH doanh nghiệp như kiểm toán,

tư vấn, các định chế tài chính trung gian, thị trường chứng khoán chưa được

Trang 36

chưa thực sự chủ động lựa chọn đơn vị tư vấn, xác định giá trị tài sản, xâydựng phương án CPH, phương án phát triển sau CPH.

- Mục tiêu thu hút các nguồn vốn xã hội vào sản xuất, kinh doanh khiCPH DNNN đạt được còn thấp Chủ trương bán cổ phần ưu tiên cho đối tácchiến lược là chiến lược đúng đắn, tuy nhiên việc triển khai còn lúng túng,thiếu hướng dẫn cụ thể xác định đối tác chiến lược Vì vậy, chưa thu hút đượccác cổ đông có tiềm lực lớn về vốn, khoa học công nghệ, có uy tín và quan hệquốc tế rộng tham gia vào CPH DNNN Do đó, sau CPH các doanh nghiệp cóquy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, uy tín thương hiệu chưa có nhiều thay đổi,nhiều doanh nghiệp năng suất lao động và sức cạnh tranh chưa cao, một sốdoanh nghiệp còn thua lỗ

- CPH chưa thực hiện tốt mục tiêu tạo sự gắn bó, phát huy tinh thần làmchủ của người lao động trong doanh nghiệp Điều đáng quan tâm là tình trạngnhiều người lao động trong doanh nghiệp đã bán cổ phần ưu đãi được mua,thậm chí bán trước khi được mua nhưng chưa có cách khắc phục tình trạngnày Điều này không những không tạo được sự gắn bó, phát huy quyền làmchủ của người lao động trong doanh nghiệp mà còn tạo khả năng tập trungvốn vào tay một số người, lãnh đạo doanh nghiệp, CPH có xu hướng tư nhânhoá

- Quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp sau CPH vẫn cồn tồn tại nhiềubất cập Vai trò của các cơ quan Nhà nước đối với doanh nghiệp sau CPH đãthay đổi tuy nhiên nhiều vấn đề liên quan đến quản lý Nhà nước đối với công

ty sau CPH vẫn chưa được giải đáp rõ ràng Các biện pháp trong cải cách vàquản lý DNNN còn thiên về khu vực DNNN có 100% vốn hoạt động theo luậtDNNN, chưa chú trọng tới các doanh nghiệp sau CPH

Trang 37

- Hiện đang có tình trạng chưa phân định rõ ràng và nhận thức đúng vềngười đại diện sở hữu cổ phần Nhà nước và người trực tiếp quản lý cổ phầnNhà nước tại công ty cổ phần Vì vậy, dẫn đến tình trạng không thống nhấttrong cử người đaị diện, cử người không đủ thẩm quyền, dẫn đến quyết địnhcủa hội đồng quản trị công ty chậm, triển khai quyết định chậm, lỡ thời cơkinh doanh của công ty, Nhà nước chưa có tiêu chí đánh giá, chế độ ràngbuộc về quyền lợi, trách nhiệm của người đại diện quản lý cổ phần Nhà nước.

- Vấn đề chuyển nhượng cổ phần của người lao động và yêu cầu “CPHkhông được biến thành tư nhân hoá”: ngay sau khi CPH đã diễn ra tình trạngchuyển nhượng cổ phần của người lao động, đặc biệt là đối với những ngườilao động nghèo chuyển nhượng cổ phần ưu đãi của mình cho người khác.Việc chuyển nhượng này mặc dù hợp pháp nhưng có ảnh hưởng đến mục tiêucủa CPH là đảm bảo mọi người lao động có cổ phần để tạo động lực, gắntrách nhiệm của người lao động với doanh nghiệp, không được biến CPHthành tư nhân hoá Đã có những trường hợp một nhóm nhỏ cổ đông thâu tóm

cổ phần công ty, kiểm soát công ty, thực chất đó là tư nhân hoá công ty

- Chính sách và quy trình cổ phần hóa ở nước ta, trên thực tế, vẫn dựa

trên tư duy cũ Vì vậy, từ khâu định giá tài sản doanh nghiệp, cho đến tổ chức

quản lý sau khi doanh nghiệp đã cổ phần hóa đều tồn tại nhiều vấn đề Việc

giải quyết vấn đề tài chính trước, trong và sau khi cổ phần hóa còn nhiều bất

cập như:

Xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa chưa đúng, gây nên thất

thoát và lãng phí tài sản nhà nước trong và sau quá trình cổ phần hóa Việcxác định giá trị doanh nghiệp trải qua hai giai đoạn khác nhau Trong giaiđoạn chưa có Nghị định 187: việc xác định giá trị doanh nghiệp do một Hộiđồng hoặc doanh nghiệp tự đảm nhận Điều đó dẫn đến việc xác định thấp

Trang 38

hoặc quá thấp giá trị doanh nghiệp, do đó, phần lớn cổ phần rơi vào tay mộtnhóm người Trong giai đoạn sau khi có Nghị định 187: sự thất thoát tài sảnnhà nước đã được hạn chế, nhưng lại nảy sinh tình trạng liên kết, gian lậntrong đấu thầu.

Việc xử lý các khoản nợ tồn đọng gây nhiều khó khăn Tính đến ngày

31-12-2005, dư nợ cho vay đối với các công ty cổ phần vào khoảng 51.603 tỉđồng Đặc biệt, việc xử lý nợ xấu đã mất rất nhiều thời gian do thiếu sự phốihợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ngành ngân hàng, thuế, tài chính

Chất lượng định giá doanh nghiệp của nhiều tổ chức cung ứng dịch vụ

thẩm định giá trị có độ tin cậy thấp Mặt khác, quy chế lựa chọn, giám sát

hoạt động tư vấn và xác định giá trị doanh nghiệp chưa được quy định rõ,chưa gắn trách nhiệm của tổ chức tư vấn, định giá với việc bán cổ phần

Quy trình cổ phần hóa (từ xây dựng đề án đến thực hiện đề án) chưa sátthực tế, còn rườm rà, phức tạp nên đã kéo dài thời gian cổ phần hóa Bìnhquân thời gian để thực hiện cổ phần hóa một doanh nghiệp mất 437 ngày,tổng công ty mất 554 ngày Sau khi cổ phần hóa, rất nhiều doanh nghiệp vẫnhoạt động như cũ; quản lý nhà nước vẫn chi phối mọi hoạt động, kể cả trongcác doanh nghiệp mà vốn nhà nước chưa tới 30% vốn điều lệ doanh nghiệp;

bộ máy quản lý cũ trong nhiều doanh nghiệp vẫn chiếm giữ đến 80%

1.5 Nhân tố ảnh hưởng tới tiến trình CPH DNNN:

Trang 39

lớn đến nền kinh tế vĩ mô, đời sống của nhân dân mà Nhà nước cần nắm cổphần chi phối đặc biệt là các doanh nghiệp trong các ngành như điện lực, xâydựng, vận tải, hàng không, hàng hải, viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm… thìtiền trình cổ phần hóa gặp nhiều khó khăn, và thực hiện chậm do quy mô củanhững doanh nghiệp này lớn, ảnh hưởng sâu rộng đến nền kinh tế Trong giaiđoạn đầu ta tập trung cổ phần hóa các DNNN thuộc các lĩnh vực kinh tếkhông trọng điểm, giai đoạn này đối tượng cổ phần hóa được mở rộng ra cáclĩnh vực quan trọng của nền kinh tế nên tiến trình cổ phần hóa phải thực hiệnthận trọng hơn và cũng gặp nhiều khó khăn hơn.

Thứ hai, tình hình tài chính của doanh nghiệp Những doanh nghiệp cótình hình tài chính tốt, hoạt động có lãi, không có nợ xấu và có triển vọngphát triển trong tương lai thường tiến hành cổ phần hóa dễ dàng và nhanhchóng hơn so với doanh nghiệp nợ tồn đọng nhiều, hoạt động thua lỗ, không

có thị trường phát triển Vì các doanh nghiệp có tình hình tài chính tốt sẽ thuhút được đông đảo sự tham gia của các nhà đầu tư đặc biệt là các nhà đầu tưchiến lược khi tiến hành cổ phần hóa, và quá trình xác định giá trị doanhnghiệp cũng được tiến hành nhanh chóng do không gặp khó khăn trong việc

xử lý các vấn đề tài chính Thực tế các DNNN thực hiện cổ phần hóa ở nước

ta trong thời gian qua chủ yếu là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, hoạt độngthua lỗ, tình hình tài chính còn nhiều bất cập đây là một trong những lý dokhiến tiến trình cổ phần hóa thực hiện chậm

Thứ ba là giá trị của doanh nghiệp cổ phần hóa gồm cả tài sản hữu hình

và tài sản vô hình DNNN có tài sản hữu hình là những trang thiết bị cũ haymới, trình độ công nghệ như thế nào sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc sản xuất

ra các sản phẩm và dịch vụ trong tương lai, đồng thời cũng ảnh hưởng đếnkhả năng cạnh tranh của chúng trên thị trường về mặt chi phí sản xuất và chất

Trang 40

hưởng đến dòng doanh thu và lợi nhuận mong đợi sẽ kiếm được trong tươnglai Tài sản vô hình là các mối quan hệ hợp tác, các nguồn lực và đặc quyềnkinh doanh, hợp đồng thuê bao, bằng phát minh sáng chế, bản quyền, nhãnhiệu hàng hóa, là những yếu tố tác động đến khả năng sinh lợi của doanhnghiệp Bên cạnh đó yếu tố nhân sự cũng được kể đến khi định giá doanhnghiệp, vấn đề con người trong lao động sản xuất và hoạt động quản lý cực kỳquan trọng, quyết định lợi thế nhiều mặt của doanh nghiệp và một lẽ dĩ nhiên

là doanh nghiệp có giá trị lớn sẽ hấp dẫn nhà đầu tư hơn các doanh nghiệp cógiá trị bé

Thứ tư, tác động từ ban lãnh đạo DNNN Đây là yếu tố tác động khôngnhỏ đến tiến trình cổ phần hóa ở nước ta Trong thực tế ban lãnh đạo doanhnghiệp chưa thực sự quyết tâm tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp mà mìnhđang quản lý Nguyên nhân là họ sợ lợi ích của mình bị đe dọa do nhận thứckhông đúng về cổ phần hóa Họ lo rằng khi công ty chuyển sang hình thứccông ty cổ phần vị trí quản lý của họ sẽ không còn được đảm bảo từ đó sinh ratâm lý chần chừ, né tránh, chờ đợi người khác làm trước,thiếu chủ động thựchiện

Nhân tố chủ quan cuối cùng từ phía doanh nghiệp cổ phần hóa là nhậnthức của cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp Thực tế là đại bộ phậnngười lao động trong chưa thấy rõ bản chất, vai trò và lợi ích của việc cổ phầnhóa DNNN đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của bản thân họnói riêng Do thiếu sót trong việc tuyên truyền về cổ phần hóa DNNN chongười lao động nên quả trình thực hiện cổ phần hóa không nhận được sự ủng

hộ cũng như tham gia tích cực từ phía người lao động

Ngày đăng: 02/09/2012, 11:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 Tình hình CPH DNNN từ năm 1992 đến tháng 8- 2008 - Giải pháp thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa DNNN tại văn phòng công ty Giao nhận kho vận ngoại thương ở Hà Nội.DOC
Bảng 1.1 Tình hình CPH DNNN từ năm 1992 đến tháng 8- 2008 (Trang 4)
Bảng 1.1: Tình hình CPH DNNN từ năm 1992 đến tháng 8- 2008 - Giải pháp thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa DNNN tại văn phòng công ty Giao nhận kho vận ngoại thương ở Hà Nội.DOC
Bảng 1.1 Tình hình CPH DNNN từ năm 1992 đến tháng 8- 2008 (Trang 30)
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cầu tổ chức của công ty VIETRANS - Giải pháp thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa DNNN tại văn phòng công ty Giao nhận kho vận ngoại thương ở Hà Nội.DOC
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ cơ cầu tổ chức của công ty VIETRANS (Trang 50)
Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh của Vietrans qua các năm 2006-2008 - Giải pháp thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa DNNN tại văn phòng công ty Giao nhận kho vận ngoại thương ở Hà Nội.DOC
Bảng 2.1 Kết quả kinh doanh của Vietrans qua các năm 2006-2008 (Trang 60)
Bảng 2.2 : Kết quả kinh doanh của văn phòng công ty VIETRANS - Giải pháp thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa DNNN tại văn phòng công ty Giao nhận kho vận ngoại thương ở Hà Nội.DOC
Bảng 2.2 Kết quả kinh doanh của văn phòng công ty VIETRANS (Trang 61)
Bảng 2.3: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty - Giải pháp thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa DNNN tại văn phòng công ty Giao nhận kho vận ngoại thương ở Hà Nội.DOC
Bảng 2.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w