1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh " Tại công ty TNHH Hà Thịnh pdf

76 481 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH Hà Thịnh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 616,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được tiếp nhận về thực tập và tìm hiểu thực tế tại công ty TNHH Hà Thịnh, em nhận thấy kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh giữ vai trò rất quan trọng trong toàn bộ công tác k

Trang 2

Lời nói đầu

Trong nền kinh tế hiện nay nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp Việt Nam đã và đang có những bước phát triển mạnh mẽ cả về hình thức quy mô và hoạt động sản xuất kinh doanh Cho đến nay cùng với chính sách mở cửa các doanh nghiệp đã góp phần quan trọng trong việc thiết lập nền kinh tế thị trường trên đà ổn định và phát triển

Cùng với sự đi lên của đất nước quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng mở rộng và nâng cao Mọi doanh nghiệp dù kinh doanh các mặt hàng khác nhau theo bất kỳ hình thức nào cũng đều phải quan tâm đến hiệu quả kinh tế Đó là điều kiện cơ bản để doanh nghiệp tồn tại và phát triển

Nhưng vấn đề quan trọng là làm thế nào để đạt tối đa hiệu quả kinh doanh Đây cũng chính là câu hỏi làm các nhà doanh nghiệp phải suy nghĩ Để kinh doanh có hiệu quả đòi hỏi các nhà doanh nghiệp phải nắm bắt được cơ hội kinh doanh, đồng thời để đảm bảo thắng lợi bền vững trong cạnh tranh Muốn vậy họ phải biết giữ uy tín, biết người biết mình trên mọi phương diện

Chính vì thế quá trình tiêu thụ hàng hoá có vị trí đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp, góp phần đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Được tiếp nhận về thực tập và tìm hiểu thực tế tại công ty TNHH Hà Thịnh, em nhận thấy kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh giữ vai trò rất quan trọng trong

toàn bộ công tác kế toán của doanh nghiệp Do đó em đã chọn đề tài: "Kế toán bán hàng

và xác định kết quả kinh doanh " Tại công ty TNHH Hà Thịnh cho chuyên đề tốt

nghiệp của mình

Trang 3

Nội dung chuyên đề gồm 3 phần:

Phần thứ nhất : Lý luận chung về công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh

doanh trong doanh nghiệp thương mại

Phần thứ hai: Thực trạng tổ chức công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh

doanh tại công ty TNHH Hà Thịnh

Phần thứ ba: Một số ý kiến nhằm góp phần hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác

định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH Hà Thịnh

Trang 4

Phần I:

Lý luận chung về công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong

doanh nghiệp thương mại

I/ đặc điểm kinh doanh thương mại có ảnh hưởng đến kế toán bán hàng và xác định kết

quả kinh doanh

Nền kinh tế nước ta là một tổng thể nền kinh tế quốc dân thống nhất Nó bao gồm nhiều ngành và mỗi ngành thực hiện một chức năng nhất định Trong đó thương mại cũng

là một ngành kinh tế quốc dân rất quan trọng

Các ngành ra đời và phát triển trong nền kinh tế quốc dân là do sự phân công lao động xã hội Chuyên môn hoá sản xuất đã làm tăng thêm lực lượng sản xuất xã hội và là một trong những động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật Chính yếu tố chuyên môn hoá sản xuất đã đặt ra sự cần thiết phải trao đổi các sản phẩm giữa người sản xuất và người tiêu dùng Mối quan hệ trao đổi tiền- hàng đó chính là lưu thông hàng hoá

Quá trình lưu thông hàng hoá tất yếu đòi hỏi một sự hao phí lao động nhất định trong quan hệ trao đổi hàng hoá trực tiếp giữa người sản xuất với người tiêu dùng và cả trong việc thực hiện những hoạt động mua và bán giữa họ với nhau, lao động đó là cần thiết và

có ích cho xã hội Nếu như mọi chức năng lưu thông đều do người sản xuất và người tiêu dùng thực hiện thì việc chuyển hoá lao động xã hội sẽ bị hạn chế, năng xuất lao động thấp, hiệu quả lao động không cao Vì vậy đã thúc đẩy sự ra đời của ngành lưu thông hàng hoá Các ngành thương mại và kinh doanh thương mại có một số đặc điểm riêng biệt sau:

- Đặc diểm về hoạt động: hoạt động kinh tế cơ bản của kinh doanh thương mại và lưu chuyển hàng hoá Lưu chuyển hàng hoá là sự tổng hợp các hoạt động thuộc các quá trình mua và bán, trao đổi và dự trữ hàng hoá

- Đặc điểm về hàng hoá: Hàng hoá trong kinh doanh thương mại gồm các loại vật

tư, sản phẩm có hình thái vật chất hay không có hình thái mà doanh nghiệp mua về với mục đích để bán

Trang 5

- Đặc điểm về phương thức lưu chuyển hàng hoá: Lưu chuyển hàng hoá trong kinh doanh thương mại có thể theo một trong hai phương thức là bán buôn và bán lẻ Bán buôn hàng hoá là bán cho người kinh doanh chứ không bán thẳng tới tay người tiêu dùng Còn bán lẻ là bán tới tận tay người tiêu dùng từng cái, từng ít một

- Đặc điểm về tổ chức kinh doanh: tổ chức kinh doanh thương mại có thể theo nhiều mô hình khác nhau như tổ chức công tác bán buôn, bán lẻ, Công ty kinh doanh tổng hợp, Công ty môi giới, Công ty xúc tiến thương mại

- Đặc điểm về sự vận động của hàng hoá: Sự vận động của hàng hoá trong kinh doanh thương mại cũng không giống nhau Do đó chi phí thu mua và thời gian lưu chuyển hàng hoá khác nhau giữa các loại hàng

Như vậy, có thể nói chức năng của thương mại là tổ chức và thực hiện việc mua bán, trao đổi hàng hoá, cung cấp các dịch vụ nhằm phục vụ sản xuất cho đời sống nhân dân Từ khi thương mại ra đời thì việc luân chuyển hàng hoá diễn ra nhanh hơn và nền kinh tế cũng diễn ra sôi động hơn rất nhiều Doanh nghiệp thương mại qua hoạt động kinh doanh của mình vừa thực hiện giá trị của hàng hoá, vừa có tác dụng tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông Như vậy sản xuất và lưu thông gắn bó chặt chẽ với nhau tạo nên một chu trình kín, chu trình này chính là chu trình tái sản xuất xã hội ở các doanh nghiệp thương mại quá trình này bao gồm hai khâu là mua và bán hàng hoá Tiêu thụ hàng hoá là một khâu tất yếu trong quá trình lưu thông hàng hoá, là một yếu tố của quá trình tái sản xuất Đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ, tăng khối lượng hàng tiêu thụ nhằm đáp ứng yêu cầu thị trường

là một chức năng cơ bản của các doanh nghiệp thương mại

Với nền kinh tế thị trường thì chỉ tiêu thụ được hàng hoá đồng thời chưa đủ để khẳng định được doanh nghiệp đó làm ăn như thế nào, mà chỉ tiêu đánh giá cuối cùng là kết quả kinh doanh Nhưng thông qua tiêu thụ thì mới xác định được kết quả kinh doanh và thị trường hàng hoá là cơ sở để xác định kết quả

Với những đặc điểm và chức năng riêng biệt của ngành thương mại như trên sẽ có ảnh hưởng đến công tác kế toán nói chung và công tác hạch toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh nói riêng

II/ yêu cầu và ý nghĩa của việc tổ chức công tác kế toán bán hàng trong doanh nghiệp

tHương mại

Trang 6

Để thực hiện được quá trình bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp phải phát sinh các khoản chi phí làm giảm lợi ích kinh tế trong thời kỳ dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ vào tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ làm giảm vốn chủ sở hữu Đồng thời, doanh nghiệp cũng thu đựơc các khoản doanh thu và thu nhập khác, đó là tổng giá trị các lợi ích kinh tế thu được trong kỳ phát sinh từ các hoạt động góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu

Sau một quá trình hoạt động, doanh nghiệp xác định được kết quả của từng hoạt động; trên cơ sở so sánh doanh thu, thu nhập với chi phí của từng hoạt động Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp phải được phân phối và sử dụng theo đúng mục đích phù hợp với

cơ chế tài chính qui định cho từng loại hình doanh nghiệp cụ thể

Để đáp ứng được những điều trên kế toán cần phải lưu ý những yêu cầu sau:

- Xác định đúng thời điểm hàng hoá được coi là tiêu thụ để kịp thời lập báo cáo bán hàng và phản ánh doanh thu Báo cáo thường xuyên kịp thời tình hình bán hàng và thanh toán với khách hàng chi tiết theo từng loại, từng hợp đồng kinh tế nhằm giám sát chặt chẽ hàng bán về số lượng, chất lượng thời gian đôn đốc thu tiền khách hàng nộp tiền về quỹ

- Tổ chức hệ thống chứng từ ban đầu và trình tự luân chuyển chứng từ hợp lý Các chứng từ ban đầu phải đầy đủ hợp pháp, luân chuyển khoa học hợp lý không quá phức tạp mà vẫn đảm bảo yêu cầu quản lý, nâng cao hiệu quả công tác kế toán

- Xác định đúng và tập hợp đầy đủ chi phí bán hàng phát sinh trong quá trình tiêu thụ hàng hoá cũng như chi phí quản lý doanh nghiệp, phân bổ hợp lý chi phí cho hàng còn lại cuối kỳ và kết chuyển chi phí cho hàng tiêu thụ trong kỳ để xác định kết quả kinh doanh chính xác

2 khái niệm và ý nghĩa

a Khái niệm

Trang 7

Bán hàng (tiêu thụ) có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau song có thể hiểu theo bán hàng là quá trình các doanh nghiệp thực hiện việc chuyển hoá vốn sản xuất kinh doanh của mình từ hình thái hàng hoá sang hình thái giá trị, thực hiện giá trị sử dụng của hàng hoá thông qua quan hệ trao đổi

Theo quan điểm của hiệp hội kế toán quốc tế thì tiêu thụ hàng hoá, lao vụ dịch vụ là việc chuyển quyền sở hữu sản phẩm, hàng hóa, lao vụ dịch vụ đã thực hiện cho khách hàng, đồng thời thu được tiền hàng hoặc được quyền thu tiền bán hàng Bán hàng là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất-kinh doanh, đây là quá trình chuyển hoá vốn từ hình thái vốn sản phẩm, hàng hoá sang hình thái vốn tiền tệ hoặc vốn trong thanh toán

Như vậy, tiêu thụ là khâu quan trọng của hoạt động thương mại doanh nghiệp, tức là thực hiện mục đích của sản xuất và tiêu dùng, đưa sản phẩm hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng Tiêu thụ là khâu trung gian, là cầu nối giữa một bên là sản xuất, một bên là tiêu dùng Ngày nay, tiêu thụ được hiểu theo nghĩa rộng hơn, tiêu thụ là quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu, từ việc nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu khách hàng, tổ chức mua hàng và xuất bán theo yêu cầu của khách hàng nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất Qua tiêu thụ mới khẳng định được năng lực kinh doanh của doanh nghiệp Sau tiêu thụ doanh nghiệp không những thu hồi được tổng chi phí bỏ ra mà còn thực hiện được một phần giá trị thặng dư Phần thặng dư này chính là phần quan trọng đóng góp vào ngân sách Nhà nước, mở rộng quy mô kinh doanh

Tuy nhiên mục tiêu của các doanh nghiệp không phải là tiêu thụ được nhiều hàng hoá

mà từ những hoạt động này phải đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp Đây mới chính là điều mà các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm, kết quả của hoạt động tiêu thụ có vị trí quyết định sự tồn tại, phát triển hay suy thoái của doanh nghiệp

 Doanh thu bán hàng: là tổng giá trị được thực hiện do việc bán hàng hoá, cung cấp lao

vụ, dịch vụ cho khách hàng Tổng số doanh thu bán hàng là số tiền ghi trên hoá đơn bán hàng trên hợp đồng cung cấp lao vụ dịch vụ

Doanh thu bán hàng sẽ được ghi nhận khi tất cả các điều kiện sau được thoả mãn:

- Doanh nghiệp đã trao toàn bộ cho người mua phần lớn rủi ro cũng như những lợi ích của việc sở hữu tài sản đó

Trang 8

- Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý tài sản như là người sở hữu tài sản đó và không còn nắm giữ quyền điều khiển có hiệu lực đối với tài sản đó

- Giá trị của khoản doanh thu được xác định một cách chắc chắn

- Tương đối chắc chắn rằng doanh nghiệp sẽ thu được các lợi ích kinh tế từ giao dịch đó

- Chi phí phát sinh và sẽ phát sinh trong giao dịch đó được xác định một cách chắc chắn

Theo chuẩn mực này, quyết định việc đánh giá xem lúc nào là lúc doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích của việc sở hữu sang cho người mua cần phải xác định cho từng trường hợp của mỗi giao dịch Nếu như doanh nghiệp vẫn còn chịu các rủi

ro lớn của việc sở hữu tài sản thì giao dịch không được coi là một hoạt động bán hàng và doanh thu khi đó không được ghi nhận mà ngược lại doanh thu được ghi nhận chỉ khi tương đối chắc chắn rằng doanh nghiệp sẽ thu được các lợi ích đem lại từ giao dịch đó Với mỗi phương thức bán hàng thì thời điểm ghi nhận doanh thu được quan niệm khác nhau:

- Trong trường hợp bán lẻ hàng hoá, thì thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm nhận báo cáo bán hàng của nhân viên bán hàng

- Trong trường hợp gửi đại lý bán hàng thì thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm nhận được báo cáo bán hàng của bên đại lý gửi

- Trường hợp bán buôn qua kho, bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức giao trực tiếp thì thời điểm bán hàng hoá được xác nhận là tiêu thụ và doanh thu được ghi nhận là khi đại diện bên mua ký nhận đủ hàng đã thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận nợ

- Trường hợp bán buôn qua kho, bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức chuyển hàng thì thời điểm ghi nhận doanh thu là khi thu tiền của bên mua nhận được hàng

và chấp nhận thanh toán

Như vậy, xét trên phạm vi nhất định thì khái niệm tiêu thụ của kế toán nước ta đã có nhiều đổi mới tích cực trên cơ sở vận dụng kế thừa có chọn lọc chuẩn mực kế toán quốc tế

để ngày càng phù hợp với điều kiện kinh tế của Việt Nam

 Giảm giá hàng bán: là số tiền giảm trừ cho khách hàng ngoài hoá đơn hay hợp đồng cung cấp dịch vụ do các nguyên nhân như hàng kém phẩm chất, không đúng quy cách,

Trang 9

giao hàng không đúng thời hạn Ngoài ra tính vào khoản giảm giá hàng bán còn bao gồm khoản thưởng cho khách hàng do trong một khoảng thời gian nhất định đã tiến hành mua một khối lượng lớn hàng hoá trong một đợt và khoản giảm trừ trên giá bán thông thường vì mua khối lượng lớn hàng hoá trong một đợt (bớt giá)

 hàng bán bị trả lại: Là số hàng đã được coi là tiêu thụ (đã chuyển giao quyền sở hữu, đã thu tiền hay được người mua chấp nhận) nhưng bị người mua từ chối trả lại cho người bán không tôn trọng hợp đồng kinh tế đã ký kết nhưng không phù hợp yêu cầu, tiêu chuẩn, quy cách kỹ thuật, hàng kém phẩm chất Tương ứng với hàng bán bị trả lại là giá vốn hàng bán bị trả lại cùng với thuế gtgt đầu ra phải nộp cửa hàng đã bán bị trả lại

 Doanh thu thuần: là số chênh lệch giữa tổng doanh thu với các khoản giảm giá, chiết khấu thương mại, doanh thu của số hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu

 Giá vốn hàng bán: Là trị giá vốn của sản phẩm, vật tư, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ tiêu thụ Đối với lao vụ, dịch vụ tiêu thụ giá vốn là giá thành sản xuất hay chi phí sản xuất Với vật tư tiêu thụ, giá vốn là giá thực tế ghi sổ, còn với hàng hoá tiêu thụ giá vốn bao gồm trị giá mua của hàng tiêu thụ cộng với chi phí thu mua phân bổ cho hàng tiêu thụ

Việc xác định giá vốn cho hàng bán ra là hết sức quan trọng, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay còn nhiều biến động thì các doanh nghiệp càng phải quan tâm trong việc lựa chọn phương pháp xác định giá vốn thích hợp cho mình sao cho có lợi nhất mà vẫn phản ánh đúng được trị giá vốn của hàng hoá theo quy định của bộ tài chính

 Lợi nhuận gộp: Là chỉ tiêu phản ánh số chênh lệch giữa doanh thu thuần với giá vốn hàng bán phát sinh trong kỳ báo cáo

 Chi phí bán hàng: Là một bộ phận của chi phí lưu thông phát sinh dưới hình thái tiền tệ để thực hiện các nghiệp vụ bán hàng hoá kinh doanh trong kỳ báo cáo Chi phí bán hàng bao gồm những khoản chi phí phát sinh có liên quan đến hoạt động tiêu thụ như: chi phí nhân viên bán hàng, vận chuyển bao bì, hoa hồng trả cho đại lý

 Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là một loại chi phí thời kỳ, được tính đến khi hạch toán lợi tức thuần của kỳ báo cáo Chi phí doanh nghiệp phản ánh các khoản chi phí cho quản lý văn phòng và các khoản chi phí kinh doanh không gắn được với các địa chỉ cụ thể

Trang 10

trong cơ cấu tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp như: chi lương nhân viên quản lý, đồ

dùng văn phòng, chi tiếp khách, công tác phí

b ý nghĩa

Thực chất của việc tổ chức công tác kế toán tài chính trong các DN là việc tổ chức

thực hiện ghi chép, phân loại, tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh theo

những nội dung công tác kế toán bằng phương pháp khoa học của kế toán, phù hợp với

chính sách chế độ quản lý quy định, phù hợp với đặc điểm tình hình cụ thể của DN để phát

huy chức năng, vai trò quan trọng của kế toán trong quản lý vĩ mô và vi mô nền kinh tế

Tổ chức công tác kế toán ở DN tạo điều kiện cung cấp thông tin kinh tế chính xác,

kịp thời, phục vụ cho việc điều hành quản lý kinh tế, tài chính của DN; đảm bảo việc ghi

chép, phản ánh và quản lý chặt chẽ tài sản, tiền vốn của DN; tính toán, xác định đúng đắn

kết quả hoạt động SXKD; đảm bảo thực hiện được đầy đủ chức năng, nhiệm vụ và những

yêu cầu của kế toán

III/ Nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh

Kế toán bán hàng là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá Thông

qua tiêu thụ, doanh nghiệp mới có nguồn để trang trải chi phí bỏ ra Trên cơ sở đó mở rộng

hoạt động kinh doanh của mình Việc doanh nghiệp lựa chọn các kênh tiêu thụ hợp lý tạo

điều kiện cho doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh, tăng tốc độ vòng quay của vốn thực hiện

được mục đích kinh doanh của doanh nghiệp là lợi nhuận và làm thế nào để tạo ra được

nhiều lợi nhuận càng tốt Nó là mối quan tâm của các doanh nghiệp, điều đó lại phụ thuộc

vào việc tổ chức kiểm soát các khoản thu, các khoản chi phí và xác định, tính toán kết quả

của các hoạt động kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp

Như vậy, tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả kinh doanh có ý nghĩa sống còn đối

với sự tồn tại của doanh nghiệp Vì vậy kế toán bán hàng là khâu rất quan trọng, nó liên

quan đến nhiều khâu của công tác kế toán, do đó kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh

doanh cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Phản ánh, ghi chép đầy đủ kịp thời và chi tiết sự biến động của từng loại thành

phẩm, hàng hoá ở cả trạng thái: hàng đi đường, hàng trong kho, trong quầy, hàng gia công,

hàng gửi đại lý nhằm đảm bảo chỉ tiêu số lượng, chất lượng, chủng loại và giá trị

Trang 11

- Phản ánh và ghi chép đầy đủ kịp thời và chính xác các khoản doanh thu, các khoản giảm trừ doanh thu và chi phí của từng hoạt động trong doanh nghiệp, đồng thời theo dõi

và đôn đốc các khoản phải thu của khách hàng

- Phản ánh và tính toán chính xác kết quả của từng hoạt động, giám sát tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và tình hình phân phối kết quả các hoạt động

- Cung cấp các thông tin kế toán phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính và định kỳ phân tích hoạt động kinh tế liên quan đến quá trình bán hàng, xác định và phân phối kết quả

Iv/ nội dung Tổ chức công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh ở doanh nghiệp thương mại

1 Kế toán doanh thu bán hàng

Trong quá trình bán hàng bao gồm: Một là doanh nghiệp xuất giao hàng cho người mua và hai là người mua trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán

Trên thực tế hai giai đoạn này lại ít khi trùng nhau mà nó tuỳ thuộc vào các quy định trong hợp đồng kinh tế, các phương thức bán hàng Mà phương thức bán hàng là một vấn

đề hết sức quan trọng trong khâu bán hàng, để đẩy nhanh được tốc độ tiêu thụ, ngoài công việc nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã thì doanh nghiệp phải lựa chọn cho mình những phương pháp tiêu thụ hàng hoá sao cho có hiệu quả là điều tối quan trọng trong khâu lưu thông, hàng hoá đến tay người tiêu dùng một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất Việc áp dụng linh hoạt các phương thức tiêu thụ góp phần thực hiện được kế hoạch tiêu thụ của doanh nghiệp

Có nhiều phương thức bán hàng trong các doanh nghiệp cụ thể:

 Đối với phương thức giao bán trực tiếp thu tiền ngay: Quá trình tiêu thụ kết thúc khi giao hàng xong, trường hợp này giao hàng đồng nhất với thu tiền vì cả giao hàng và thu tiền cùng xảy ra

Kết thúc tiêu thụ là khi người mua ứng trước tiền hàng cho doanh nghiệp, lúc đó doanh nghiệp giao hàng cho người mua

 Trường hợp xuất hàng gửi đi bán: doanh nghiệp phải chờ sự chấp nhận của người mua, đến khi người mua trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán, lúc đó mới được coi là kết thúc bán hàng

Trang 12

 Bán hàng theo phương thức gửi đại lý, ký gửi: Bên bán xuất giao cho các đơn vị, cá nhân làm đại lý Số hàng gửi giao cho đại lý vẫn thuộc quyền sở hữu của đơn vị, chỉ khi nào nhận thông báo của các đại lý thì số hàng gửi bán đại lý mới chính thức coi là tiêu thụ

 Phương thức bán hàng trả góp: bán hàng trả góp là việc bán hàng thu tiền nhiều lần Sản phẩm hàng hoá khi giao cho người mua thì được coi là tiêu thụ, người mua sẽ thanh toán lần đầu ngay tại thời điểm mua một phần, số tiền thanh toán chậm phải chịu một tỷ lệ lãi nhất định

 Phương thức hàng đổi hàng: Để thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời giải quyết lượng hàng tồn kho, các doanh nghiệp có thể đổi sản phẩm hàng hoá của mình để nhận các loại sản phẩm khác, sản phẩm khi bàn giao cho khách hàng chính thức gọi là tiêu thụ

Tóm lại, khi mà nền kinh tế càng phát triển thì càng xuất hiện nhiều phương thức bán hàng khác nhau, mỗi phương thức đều có ưu điểm và nhược điểm của nó Do đó, mỗi doanh nghiệp căn cứ vào đặc điểm hàng hoá, quy mô, vị trí của doanh nghiệp mình mà lựa chọn những phương thức bán hàng sao cho thích hợp, sao cho chi phí thấp nhất mà vẫn đạt hiệu quả tối ưu

1.1 Chứng từ kế toán và tài khoản kế toán

a Chứng từ kế toán

Khi phát sinh các nghiệp vụ về bán hàng kế toán phải lập, thu thập đầy đủ các chứng

từ phù hợp theo đúng nội dung quy định của nhà nước nhằm đảm bảo cơ sở pháp lý để ghi

sổ kế toán (việc lập, thu nhận, luân chuyển chứng từ kế toán phải tuân thủ theo quyết định

số 1141TC/CĐKT ngày 01/11/1995 của Bộ Tài Chính)

Căn cứ vào chế độ chứng từ kế toán, doanh nghiệp xác định những chứng từ sử dụng phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp, đảm bảo đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế tài chính, quản lý quá trình bán hàng, xác định chính xác kết quả bán hàng Đồng thời doanh nghiệp phải xây dựng và quy định trình tự, luân chuyển, kiểm tra, xử lý chứng từ và lưu trữ chứng từ một cách khoa học hợp lý

Các chứng từ chủ yếu được sử dụng trong kế toán bán hàng:

- Hoá đơn gtgt

- Phiếu xuất kho

Trang 13

- Phiếu thu tiền mặt

- Giấy báo có của ngân hàng

- Các tài liệu, chứng từ thanh toán khác

- Chứng từ tính thuế

b Tài khoản kế toán bán hàng:

 Tài khoản 511- “Doanh thu bán hàng”: Dùng để phản ánh doanh thu bán hàng thực

tế của doanh nghiệp thực hiện trong một kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh

 Tài khoản 512- “Doanh thu bán hàng nội bộ”: Phản ánh doanh thu về bán sản phẩm, hàng hoá, lao vụ dịch vụ giữa các đơn vị trong cùng công ty

 Tài khoản 531- “Hàng bán bị trả lại”: Phản ánh doanh thu hàng bán bị trả lại do vi phạm cam kết hay vi phạm hợp đồng

 Tài khoản 532- “Giảm giá hàng bán”: Phản ánh toàn bộ các khoản giảm giá hàng bán cho khách hàng trên giá bán đã thoả thuận Được hạch toán vào tài khoản này bao gồm các khoản bớt giá, hồi khấu, giảm giá đặc biệt do những nguyên nhân thuộc về người bán

 Tài khoản 632- “Giá vốn hàng bán”: Phản ánh trị giá vốn hàng đã tiêu thụ trong kỳ bao gồm trị giá mua của hàng tiêu thụ và chi phí mua phân bổ cho hàng tiêu thụ

 Tài khoản 156- “hàng hoá”: Dùng để phản ánh trị giá thực tế hàng hoá tại kho tại quầy, chi tiết theo từng kho quầy, từng loại, nhóm hàng hoá

- 1561-“Giá mua hàng hoá”

- 1562- “Chi phí thu mua hàng hoá”

 Tài khoản 157- “ Hàng gửi bán” dùng phản ánh trị giá hàng bán, sản phẩm đã gửi đi hoặc chuyển đến cho khách hàng; sản phẩm hàng hoá nhờ bán đại lý, ký gửi chưa được chấp nhận thanh toán

 Tài khoản 911 – “ Xác định kết quả kinh doanh” Dùng để xác dịnh kết quả từng hoạt động (hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính, hoạt động bất thường)

1.2 Trình tự hạch toán

Trang 14

TK156 TK632 TK511,512 TK111,112,131 (1)

Trang 15

2.1 kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp

Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp được tính vào giá thành sản phẩm hàng hoá tiêu thụ, tức là phân bổ (kết chuyển) cho số sản phẩm hàng hoá tiêu thụ trong kỳ gánh chịu

Do vậy khi kế toán xác định kết quả kinh doanh cần phải xác định được chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp là bao nhiêu, tính toán phân bổ ( kết chuyển) cho sản phẩm hàng hoá tiêu thụ trong kỳ như thế nào?

 Chi phí bán hàng là chi phí lưu thông và chi phí tiếp thị, phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, lao vụ dịch vụ

Theo quy định hiện hành chi phí bán hàng bao gồm: chi phí nhân viên, chi phí vật liệu bao bì, chi phí dụng cụ đồ dùng, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền khác

 Chi phí quản lý doanh nghiệp là những chi phí chi cho việc quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và phục vụ chung khác liên quan đến hoạt động của cả doanh nghiệp Theo quy định hiện hành, chi phí quản lý doanh nghiệp được phân thành các loại sau: chi phí nhân viên quản lý, chi phí vật liệu quản lý, chi phí đồ dùng văn phòng, chi phí khấu hao tscđ, thuế phí và lệ phí, chi phí dự phòng, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền khác

Để hạch toán hai tài khoản chi phí này kế toán sử dụng hai tài khoản:

- Tài khoản 641- chi phí bán hàng

- Tài khoản 642 - chi phí quản lý doanh nghiệp

Trang 16

Cả hai tài khoản này đều được mở chi tiết theo từng nội dung chi phí Cuối kỳ kế

toán kết chuyển chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp vào bên nợ tài khoản

911để xác định kết quả kinh doanh

 Trình tự kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp được thể hiện qua sơ

TK 133

TK333

(6)

Trang 17

(1)Tiền lương, các khoản phụ cấp (nếu có) trích BHXH, BHYT, KPCĐ phải trả cho cnv bán hàng, nhân viên đóng gói

(2) Trích khấu hao TSCĐ của bộ phận bán hàng và dùng chung cho doanh nghiệp

(3) Chi phí dịch vụ thuê ngoài ( điện, nước, điện thoại, fax ) phục vụ cho khâu bán hàng (4)Các khoản thu thực tế phát sinh làm giảm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp (nếu có )

(5)K/c chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp

(6)Các khoản thuế (nhà đất, môn bài ) phải nộp nhà nước

 Như vậy, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là chi phí chung liên quan đến những đối tượng nên phải phân bổ cho những đối tượng trong những trường hợp cần thiết theo những tiêu chuẩn hợp lý, tiêu chuẩn được sử dụng để phân bổ có thể là giá vốn hàng bán, doanh thu hàng bán ra

2.2 Kế toán giá vốn hàng bán

Giá vốn hàng bán dùng để phản ánh trị giá vốn hàng bán thực tế trong kỳ

Để hạch toán tài khoản chi phí này kế toán sử dụng tài khoản:

Tài khoản 632 – giá vốn hàng bán

Cuối kỳ kế toán kết chuyển giá vốn hàng bán vào bên nợ tài khoản 911 để xác định kết quả kinh doanh

 Trình tự kế toán giá vốn hàng bán được thể hiện qua sơ đồ sau:

TK 154,155,156,157 TK632 TK155, 156

(1) ( 4)

Trang 18

TK241,154

(3)

(1) Phản ánh trị giá vốn hàng hoá, thành phẩm đã tiêu thụ

(2) Khoản hao hụt mất mát sau khi trừ vào phần bồi thường

(3) Chi phí xây dựng, chế tạo TSCĐ vượt trên mức bình thường không được tính vào nguyên giá TSCĐ

(4) Hàng bán bị trả lại nhập kho

(5) K/C trị giá vốn hàng đã tiêu thụ trong kỳ

2.3 Kế toán xác định kết quả kinh doanh

Kết quả kinh doanh là kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động khác của doanh nghiệp sau một thời kỳ nhất định, biểu hiện bằng số tiền lỗ hay lãi Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả hoạt động tài chính và kết quả bất thường

Theo quy định của chế độ kế toán hiện hành kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

là số chênh lệch giữa doanh thu thuần với trị giá vốn hàng bán của sản phẩm, hàng hoá, lao

vụ dịch vụ, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp Hoặc nó là phần chênh lệch giữa thu nhập và chi phí của hoạt động tài chính, hoạt động khác trong một thời kỳ của doanh nghiệp

Như vậy, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp cần được phân biệt và tổ chức theo dõi, tính toán phản ánh riêng cho từng loại hoạt động, thậm chí riêng cho từng loại sản phẩm, từng ngành hàng, từng loại lao vụ, dịch vụ

Trang 19

a Tổ chức tài khoản kế toán để xác định kết quả kinh doanh

Để xác định kết quả kinh doanh kế toán sử dụng 2 tài khoản, TK911-“xác định kết quả kinh doanh”, và TK421-“lợi nhuận chưa phân phối” để phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác tại doanh nghiệp trong một kỳ hạch toán

b Trình tự hạch toán xác định kết quả kinh doanh

Kế toán hạch toán trên các tài khoản liên quan

 Tài khoản 511- “doanh thu bán hàng”

 Tài khoản 632-“giá vốn hàng bán”

 Tài khoản 641 –“chi phí bán hàng”

 Tài khoản 642 –“chi phí quản lý doanh nghiệp”

Để kết chuyển sang TK911 xác định kết quả kinh doanh theo sơ đồ sau :

TK632 TK911 TK511

(1) (3)

Trang 20

(1) Kết chuyển giá thực tế hàng hoá tiêu thụ trong kỳ

(2) Phân bổ, kết chuyển chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp cho sản phẩm, hàng hoá tiêu thụ

(3) Kết chuyển doanh thu thuần bán hàng

(4) Kết chuyển thu nhập hoạt động tài chính và hoạt động khác

(5)Kết chuyển chi phí về hoạt động tài chính và hoạt động khác

(6)Kết chuyển lỗ

(7)Kết chuyển lãi

Trang 21

I/ Đặc điểm tình hình chung của Công ty TNHH Hà Thịnh

1 quá trình hình thành và phát triển của Công ty

Công ty TNHH Hà Thịnh, ngày 27 tháng 04 năm 2004 Công ty đã được phòng đăng

kí kinh doanh thuộc Sở Kế hoạnh và Đầu tư Hà Nội cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh Công Ty TNHH số: 0103017013

Nghành nghề kinh doanh chính trong Công ty là:

- Chủ yếu là xuất nhập khẩu các mặt hàng thủ công mĩ nghệ

- Tuy nhiên sản xuất các mặt hàng như thảm cói, làn mây, mành tre, thêu… cũng là một nghành sản xuất trong Công ty

- Công ty còn nhận gia công chế biến các sản phẩm như ghép đĩa sứ làm đáy của các loại làn, giỏ, khay

Trụ sở chính của Công ty đóng tại: số 51 ngõ 36 Phố Đào Tấn,

Phường Cống Vị, Quận Ba Đình, TP Hà Nội

Sau một thời gian kinh doanh, mở rộng và phát triển, trụ sở của Côngty chưa đáp ứng được yêu cầu về diện tích đất, Công ty đã chuyển địa điểm xưởng sản xuất về đóng tại: số 12 ngõ TT 164 Đường Hoàng Quốc Việt, Quận Cầu Giấy, TP Hà Nội

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, Công ty TNHH Hà Thịnh lúc đầu kinh doanh trong phạm vi trong nước nhưng mở rộng giữa các tỉnh thành Thu mua sản phẩm thô hay các sản phẩm thủ công mĩ nghệ ở khắp các tỉnh thành trên đất nước Sau đó mang

về gia công và chế biến để sản phẩm được thị trường chấp nhận Công ty lại mang những sản phẩm tới bán tại một số khu du lịch của Việt Nam, tại các siêu thị…

Hiện nay sản phẩm đồ thủ công của Công ty Hà Thịnh đã có mặt tại một số quỗc

Trang 22

gia lớn và được người nước ngoài hết sức ưa chuộng Các sản phẩm của Công ty đem lại không những phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của con người mà còn đem lại giá trị về tinh thần rất lớn và một ý nghĩa nhân văn sâu sắc “Quảng bá những hình ảnh tươi đẹp của con người Việt Nam thông qua những sản phẩm lưu niệm, trang trí thô mộc giản dị nhưng tinh tuý và đầy sáng tạo”

Chỉ mới thành lập được hơn 4 năm nhưng với sự nỗ lực các cô chú anh chị cán bộ quản lí nhân viên Công ty đã khẳng định được mình và tìm được chỗ đứng trên thị trường trong và ngoài nước

Ta có thể xem một số các chỉ tiêu về kết quả kinh doanh của Công ty qua bảng sau đây:

So sánh

Số tuyệt đối

Số tương đối(%) 1.Tổng doanh

Trang 23

Qua các chỉ tiêu ở bảng trên ta thấy : Doanh thu năm 2007 tăng so với năm 2006 là 3.551.118.936 đồng với tỷ lệ tương ứng là 155,15%, doanh thu có tăng nhưng chi phí cũng tăng theo cụ thể là: chi phí năm 2007 tăng lên 2.909.800.696 đồng so với năm 2006 tương ứng với tỷ lệ tăng 132,44%

Về lợi nhuận năm 2006 là 91.743.867 đồng sang năm 2007 là 733.062.107 đồng như vậy lợi nhuận tăng 641.318.240 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 699,03%

Năm 2007 công ty có số vốn lưu động nhiều hơn so với năm 2006 là

2.212.668.039 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 41,73% Đồng thời số vốn cố định năm

2007 tăng so với năm 2006 là 1.368261.963 đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng là 14,17 %

Số người lao động trong Công ty năm 2007 nhiều hơn so với năm 2006 là 10 người tương ứng với tỷ lệ tăng là 7,41%

Tuy nhiên, tiền lương lao động trong Công ty tăng, cụ thể là năm 2007 so với năm

2006 tăng 50.000 đồng/người /tháng, tương ứng với tỷ lệ tăng 5% Như vậy, thu nhập của người lao động trong Công ty các năm đều tăng và đây cũng là động lực để khuyến khích mọi người làm việc hăng say, nhiệt tình và có hiệu quả hơn

Nhìn chung, ta thấy tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty không được tốt lắm Công ty cần phải khắc phục những chỉ tiêu chưa đạt yêu cầu và phát huy những thế mạnh của Công ty Trong thời gian tới Công ty có thể tăng thu nhập bằng cách đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao tay nghề của người lao động và mở rộng qui mô sản xuất

2.Chức năng, nhiệm vụ của Công ty

Công ty TNHH Hà Thịnh là một Công ty có đầy đủ tư cách pháp nhân, có tài sản và con dấu riêng, thực hiện chế độ hạch toán kinh doanh độc lập nên Công ty phải đảm bảo các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình là không trái với pháp luật, thực hiện mọi chế

độ kinh doanh theo luật Thương mại Việt Nam, chịu mọi trách nhiệm về hành vi kinh doanh Trên cơ sở đó, Công ty TNHH Hà Thịnh có những chức năng và nhiệm vụ như sau:

- Tổ chức sản xuất các mặt hàng thủ công mĩ nghệ

- Tổ chức thu mua từ các chân hàng, các Công ty để xuất khẩu

- Tổ chức xuất khẩu trực tiếp các mặt hàng thủ công mĩ nghệ, đồ dệt gia dụng và các loại mặt hàng khác được Chính phủ cho phép

- Tổ chức sản xuất hàng thêu tại Công ty

Trang 24

- Tổ chức tiêu thụ mặt hàng nhập khẩu, gồm các mặt hàng phục vụ sản xuất như: nguyên vật liệu, thiết bị phục vụ sản xuất gia công chế biến hàng xuất khẩu của Công ty và các ngành sản xuất khác trong nước

- Nhận xuất khẩu và nhập khẩu uỷ thác cho các doanh nghiệp trong nước và quốc

tế, tham gia liên doanh và liên kết các mặt hàng nhập khẩu và tiêu thụ trong nước

- Thực hiện hoạt động kinh doanh an toàn và có lãi, đảm bảo thu nhập và nâng cao đời sống cho cán bộ, công nhân viên trong Công ty

3 Đặc điểm về tổ chức sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý của Công ty

a Đặc điểm về tổ chức sản xuất kinh doanh

Công ty TNHH Hà Thịnh là một công ty chuyên XNK thủ công mĩ nghệ

Nghành nghề kinh doanh chính trong Công ty là:

- Chủ yếu là xuất nhập khẩu các mặt hàng thủ công mĩ nghệ

- Tuy nhiên sản xuất các mặt hàng như thảm cói, làn mây, mành tre, hàng thêu… cũng là một ngành sản xuất trong Công ty

- Công ty còn nhận gia công chế biến các sản phẩm như ghép đĩa sứ làm đáy của các loại làn, giỏ, khay

Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ là sự hoà trộn của tính văn hoá dân tộc, của tính nhân văn với sự đa dạng trong sắc màu và chất liệu tạo ra sản phẩm nên hàng TCMN không chỉ đáp ứng nhu cầu sử dụng trong cuộc sống hàng ngày mà còn là những tinh hoa văn hoá phục vụ đời sống tinh thần Mỗi sản phẩm mỹ nghệ đều mang một giá trị nghệ thuật mang tinh hoa truyền thống của mỗi địa phương hay của mỗi quốc gia và do bàn tay khéo léo của con người tạo ra Chính vì vậy, nhiều khi người ta mua bán, tiêu dùng các sản phẩm mỹ nghệ không chỉ đơn thuần là để thoả mãn nhu cầu vật chất mà cao hơn là xuất phát từ nhu cầu giao lưu văn hoá giữa các dân tộc muốn tìm hiểu, văn hoá của các dân tộc khác nhau thông qua các sản phẩm mĩ nghệ của mỗi dân tộc trên thế giới

b Tổ chức bộ máy của Công ty TNHH Hà Thịnh

b.1) Mô hình bộ máy quản lý

Trang 25

Tr ¦ ëng Phßng Tµi ChÝ nh, Marketting, XNK, Kinh Doanh

KÕ To¸n Thñ Kho,

Thñ Quü

Qu¶n Lý C«ng Nh©n, B¶o VÖ

Mô Hình Tổ Chức Bộ Máy Của Công ty TNHH Hà Thịnh

b.2) Nguyên tắc hoạt động

Trang 26

- Công tác hạch toán kế toán trong công ty áp dụng hình thức kế toán vừa tập trung, vừa phân tán

- Các trưởng phòng chi nhánh là người chịu trách nhiệm trước GĐ về toàn bộ hoạt động của phòng và chi nhánh, trực tiếp chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc chấp hành pháp luật

b.3) Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý

Đa phần thành viên trong Công ty là giới trẻ bởi ít có sự phân công cấp bậc, quan trọng là phát huy được sự sáng tạo của mỗi thành viên Chính tuổi đời trẻ trung, sự sáng tạo nhiệt thành đã rất phù hợp với nghành nghề kinh doanh đầy sức sáng tạo của Công ty

Ban lãnh đạo tập trung ở những thành viên có tuổi đời từ bốn năm trở lên, chính

sự chín chắn, bề dày kinh nghiệm cao Công ty đã được phát triển không ngừng

Đứng đầu là giám đốc Công ty do hội đồng thành viên bầu ra Giám đốc là, người đại diện pháp nhân của Công ty và chịu trách nhiệm trước cấp chủ quản và pháp luật về điều hành hoạt động của Công ty Giám đốc có quyền điều hành cao nhất trong một Công

ty, có quyền khen thưởng và kỉ luật

Các bộ phận chuyên môn nghiệp vụ của Công ty có chức năng tham mưu việc cho Ban giám đốc trong công việc quản lý, điều hành công việc mà từng bộ phận phụ trách

Mỗi phòng ban có một chức năng riêng như:

Phòng kinh doanh: gồm có nhân viên Kinh doanh và nhân viên Marketting Nhân viên kinh doanh thường không hoạt động cố định, thường xuyên lưu động trên địa bàn các tỉnh, thu thập các vật liệu, sản phẩm mẫu Sau quá trình đánh giá, cân nhắc, lựa chọn Ban

Trang 27

giám đốc sẽ quyết định sử dụng vật liệu sản phẩm để sản xuất hay loại bỏ Nhân viên marketting đưa ra các chiến lược trong kinh doanh như các chiến lược quảng cáo, giảm giá, bán hàng…

Phòng kinh doanh giúp ban giám đốc tổ chức, quản lý, chỉ đạo, điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn Công ty trên các lĩnh vực:

+ Trưởng phòng Marketting, Trưởng phòng xuất – nhập - khẩu, Trưởng phòng kinh doanh tham mưu cho giám đốc trong lĩnh vực quản lý chỉ đạo điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo kinh doanh có hiệu quả Lập kế hoạch chỉ đạo và thực hiện công tác nhập khẩu, xuất khẩu, đi sâu khai thác tiềm năng của những sản phẩm có giá trị kinh tế cao Chỉ đạo tổ chức mạng lưới kinh doanh phù hợp với nhu cầu thị trường và định hướng phát triển của Công ty

+ Quản lý văn phòng, quản lý công nhân: Là bộ phận trực tiếp theo dõi giám sát chỉ đạo, sắp xếp phân công lao động hợp lý, tổ chức khai thác và sử dụng cơ sở vật chất, lao

Trang 28

động có hiệu quả Thường xuyên báo cáo về tình hình người lao động và những vấn đề liên

quan đến công việc diễn ra trong Công ty với cấp trên Theo dõi tiến độ công việc, chú

trọng đào tạo tay nghề của công nhân viên trong Công ty

Yếu tố then chốt nhất trong một doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả đang và đã

trên đà phát triển không phải là sự thúc giục chỉ đạo công nhân viên phải hoàn thành tốt

công việc được giao, mà chính sự quan tâm giúp đỡ tạo điều kiện tốt của Ban lãnh đạo với

nhân viên Công ty của mình sẽ là động lực để họ tự phấn đấu và có trách nhiệm trong công

việc Trang bị thật đầy đủ về cơ sở vật chất kỹ thuật, công cụ lao động đảm bảo an toàn

cho người lao động trong quá trình sản xuất Quan tâm đến công tác khuyến khích lợi ích

vật chất cho người lao động qua hình thức tiền lương, tiền thưởng Nếu công tác này được

quan tâm, chú trọng sẽ thu hút và khai thác mọi tiềm năng sức sáng tạo của người lao

động, đồng thời không ngừng nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm tăng

cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, đẩy mạnh hiệu quả sản xuất kinh

doanh góp phần vào sự phát triển doanh nghiệp

4 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán trong Công ty

a.Tổ chức bộ máy kế toán và chức năng của từng bộ phận

* Sơ đồ bộ máy kế toán

Bộ máy kế toán của công ty nằm trong phòng tài chính-kế hoạch gồm: 7 người

(1)Kế toán trưởng kiêm trưởng phòng tài chính - kế hoạch, 2 phó phòng, 3

nhân viên, và 1 thủ kho kiêm thủ quỹ Mỗi người trong phòng đều được bố chí đảm nhiệm

một phần công việc khác nhau của kế toán Được minh hoạ theo sơ đồ sau:

Kế TOáN TRƯởNG

TRƯởNG PHòNG TCKH

Trang 29

- Kế toán công nợ (phó phòng tài chính- kinh doanh) có nhiệm vụ chủ yếu theo dõi các khoản công nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh, giải quyết các vụ việc còn tồn đọng trước đây để tìm ra những chỗ sai của công việc kế toán những năm trước

- Kế toán tổng hợp (phó phòng tài chính- kinh doanh) đảm nhận khá nhiều công việc kế toán, theo dõi hầu hết các nghiệp vụ phát sinh, trực tiếp ghi vào các sổ liên quan, cuối kỳ tổng hợp số liệu để giúp kế toán trưởng lập báo cáo tài chính

- Kế toán thanh toán do một nhân viên trong phòng đảm nhiệm, có nhiệm vụ theo dõi quá trình thanh toán các hoạt động kinh doanh của các phòng, mở theo yêu cầu của từng phòng khi có hợp đồng mua bán Đồng thời theo dõi tiền gửi, tiền vay của công ty, chịu trách nhiệm rút tiền khách hàng trả từ ngân hàng về các phòng kinh doanh

KếTOáN THANH TOáN

KếTOáN CÔNGNợ P.PHòNG TC-KH

KếTOáN TIềN LƯƠNG

Kế toán vật

Trang 30

- kế toán tiền lương đảm nhiệm cả công ty theo dõi quá trình nhập xuất hàng hoá trong công ty, tính lương cho cán bộ công nhân viên và phụ trách các phần hành công việc của máy vi tính như soạn thảo các văn bản, lưu trữ tài liệu, số liệu kế toán trên máy, quản lý theo dõi tiến độ thực hiện các hợp đồng xuất - nhập khẩu

- Kế toán vật tư có nhiệm vụ phản ánh đầy đủ kịp thời số hiện có và tình hình biến động của các loại vật tư cả về giá trị và hiện vật, tính toán chính xác giá gốc hoặc giá thành thực

tế của từng loại vật tư Kiểm tra giám sát tình hình thực hiện kế hoạch mua dự trữ và sử dụng từng loại vật tư

- Thủ quỹ kiêm thủ kho có nhiệm vụ thu, chi tiền mặt cho các đối tượng sử dụng theo phiếu thu, phiếu chi đã được người có thẩm quyền ký duyệt, trông gửi bảo quản hàng hoá, nguyên vật liệu ở kho, xuất và nhập kho hàng khi có phiếu xuất, phiếu nhập kho

- Phòng tài chính - kinh doanh của công ty chịu trách nhiệm hạch toán toàn bộ các nghiệp

vụ kinh tế phát sinh trực tiếp tại công ty và tổng hợp toàn bộ số liệu liên quan tới các hoạt động trong Công ty

Như vậy, công ty TNHH Hà Thịnh đã áp dụng hình thức kế toán vừa tập trung vừa phân tán áp đụng hình thức kế toán này, bảo đảm công tác kế toán đầy đủ, kịp thời phục vụ cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả

b Hệ thống sổ sách, chứng từ, báo cáo mà công ty đang sử dụng

- Công ty áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên để hạch toán hàng tồn kho

Công ty áp dụng hình thức kế toán Nhật ký chung

- Hệ thống tài khoản kế toán mà công ty đang sử dụng là hệ thống tài khoản doanh nghiệp ban hành theo quy định 1141/TC/CĐKT ngày 01/11/1995 của bộ trưởng bộ tài chính, các tài khoản tổng hợp mở chi tiết thành các tài khoản cấp hai phù hợp với yêu cầu quản lý của công nhân

- Hệ thống sổ được sử dụng trong công ty là các sổ nhật ký chuyên dùng, sổ cái các tài khoản, sổ theo dõi các quá trình nhập - xuất, các sổ chi tiết

Đối với kế toán chi tiết, hệ thống sổ sách kế toán mà công ty đang sử dụng không hoàn toàn thống nhất với mẫu biểu do bộ tài chính ban hành mà chủ yếu căn cứ vào định khoản

cụ thể và kinh doanh thực tế lâu năm mở các sổ chi tiết cho công ty

- Hệ thống báo cáo công ty đang sử dụng gồm:

Trang 31

Báo cáo kết quả kinh doanh

Báo cáo chi phí kinh doanh

Bảng cân đối kế toán

Thuyết minh báo cáo tài chính

c Hình thức kế toán của doanh nghiệp

DN phải căn cứ vào hệ thống tài khoản kế toán, chế độ, thể lệ kế toán của Nhà nước, căn cứ vào quy mô, đặc điểm hoạt động SXKD, yêu cầu quản lý, trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán cũng như điều kiện trang bị phương tiện, kỹ thuật tính toán, xử lý thông tin mà lựa chọn vận dụng hình thức kế toán và tổ chức hệ thống sổ kế toán nhằm cung cấp thông tin kế toán kịp thời, đầy đủ, chính xác và nâng cao hiệu quả công tác kế toán Hiện nay, trong các DNSX thường sử dụng các hình thức kế toán sau:

- Hình thức kế toán chứng từ ghi sổ (CTGS)

- Hình thức kế toán Nhật ký- chứng từ (NKCT)

- Hình thức kế toán Nhật ký chung (NKC)

- Hình thức kế toán Nhật ký- sổ cái

Mỗi hình thức kế toán đều có hệ thống sổ sách kế toán chi tiết, sổ kế toán tổng hợp

để phản ánh, ghi chép, xử lý và hệ thống hoá số liệu thông tin cung cấp cho việc lập báo cáo tài chính

Hiện nay Công ty TNHH Hà Thịnh đang sử dụng hình thức kế toán Nhật Ký Chung

Đặc điểm của hình thức này là:

- Tất cả các nghiệp vụ Kinh tế Tài chính phát sinh để phải được ghi vào sổ Nhật

ký, mà trọng tâm là sổ Nhật Ký Chung, theo trình tự thời gian phát sinh và định khoản kế toán của nghiệp vụ đó, sau đó lấy số liệu trên các sổ nhật ký để ghi vào Sổ Cái theo từng nghiệp vụ phát sinh

- Cuối tháng phải lập bảng cân đối tài khoản để kiểm tra tính chính xác của việc ghi sổ kế toán

- Sử dụng hình thức này có ưu điểm là đơn giản, dễ làm, dễ hiểu, thuận tiện cho việc phân công và chuyên môn hóa cán bộ kế toán, quan hệ kiểm tra, đối chiếu số liệu chặt chẽ

- Bên cạnh đó hình thức này cũng có những nhược điểm đó là khối lượng công việc

Trang 32

ghi chép kế toán nhiều, việc kiểm tra đối chiếu số liệu bị dồn vào cuối tháng; mặt khác dễ phát sinh trùng lặp trong quá trình ghi sổ nếu như việc phân công lập sổ Nhật Ký Chung không rõ ràng

* Sơ đồ và trình tự ghi sổ kế toán theo Hình thức Nhật ký chung

Trang 33

Bá o Cá o

T ài Chính

G H I C H ú :

Ghi hàng ngàyGhi cuối thá ng, hoặc định k ỳ

Q uan hệ đối chi ếu

Bảng tổng hợ p chi ti ết

Sơ Đồ Tổng Hợp Bộ Mỏy Kế Toỏn trong Cụng ty TNHH

Trang 34

1 Đặc điểm kế toán bán hàng và tình hình quản lý bán hàng ở công ty TNHH Hà Thịnh

a Đặc điểm hàng hoá của công ty TNHH Hà Thịnh

Hàng hoá của công ty TNHH Hà Thịnh bao gồm nhiều loại như hàng thêu, thảm cói, mành tre, hàng dệt kim Vì là một công ty xuất – nhập - khẩu cho nên hàng hoá của Công

ty rất đa dạng Công ty gia công hàng xuất khẩu theo các đơn đặt hàng của các hãng nước ngoài và cả các hãng trong nước

Mặt khác trong các đơn đặt hàng lại có nhiều loại hàng, chính điều đó đòi hỏi kế toán bán hàng phải nhanh nhạy nắm bắt chi tiết từng loại mặt hàng

VD: Một hãng ở Anh đặt hàng thêu ELENKA với các loại hàng như :

Với cách khoán gọn hàng theo từng công đoạn như vậy giúp cho Công ty sớm hoàn thành hàng hoá và giao hàng hoá theo đúng thời gian quy định

Trong bài viết này em chỉ xin đề cập chủ yếu đến việc tổ chức công tác kế toán bán hàng

và tiêu thụ hàng thêu xuất khẩu ở công ty TNHH Hà Thịnh Vì các mặt hàng xuất khẩu đa dạng nhiều chủng loại, nhiều mặt hàng, vì thế em chỉ xin đề cập đến một số loại hàng để làm cơ sở nghiên cứu cho chuyên đề của mình

Như: hàng thêu ELENKA-Anh chủ yếu xuất khẩu phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của các nước Anh, Pháp, Đức, do đó khi đến hạn giao hàng theo hợp đồng của đơn đặt hàng, phòng bán hàng sẽ lập “hoá đơn (gtgt)” và “phiếu xuất kho”, đánh thứ tự cho các hoá đơn

từ đầu tháng đến cuối tháng và chuyển đến phòng tài vụ duyệt thanh toán

Sau khi lập “hoá đơn (gtgt)” và “phiếu xuất kho” nhân viên phòng bán hàng có nhiệm vụ

đi cùng khách hàng xuống kho nhận hàng, đóng gói rồi chuyển giao tới địa điểm giao

Trang 35

Liên 2: Giao cho khách hàng

Liên 3: Chuyển cho phòng kế toán

Hoá đơn (gtgt)

Liên 1: lưu

Mẫu số 01 gtkt – 3ll Bc/99-b ngày 02 tháng 08 năm 2007

Đơn vị bán hàng: Công ty TNHH Hà Thịnh

Trang 36

Địa chỉ: 164 Đường Hoàng Quốc Việt- Cầu Giấy- Hà Nội Số tài khoản

Điện thoại : 7930482 ms: 0100106881

Họ tên người mua hàng :Khách Anh Ellenka

Đơn vị : hđ3030( gia công )

Địa chỉ Số tài khoản:

Thuế xuất GTGT:% Tiền thuế GTGT 0

TổNG CộNG TIềN THANH TOáN: 18.806.760

Số tiền viết bằng chữ: Mười tám triệu tám trăm linh sáu ngàn bảy trăm sáu mươi đồng chẵn

Người mua hàng Kế toán trưởng Thủ trưởng đơn vị

Ký tên Ký tên Ký tên

Đơn vị :Công Ty TNHH Hà Thịnh

Địa chỉ : 164 Đường Hoàng Quốc Việt- Cầu Giấy- Hà Nội

phiếu xuất kho mẫu số : 02-vt

Ngày 02tháng 08 năm 2007 (QĐ:1141-TC/QĐ/CĐKT)

Trang 37

Phụ trách cung tiêu (Ký, họ tên)

Người nhận (Ký, họ tên)

Thủ kho (Ký, họ tên)

* Phương pháp lập: Hoá đơn (gtgt) và phiếu xuất kho

- Cột số lượng:Căn cứ vào số lượng hàng thực tế công ty giao bán cho (bộ phận) anh và đóng theo kiện tuỳ theo yêu cầu

Trang 38

- Cột đơn giá: ghi số tiền công gia công mà công ty và (bộ phận) Anh đã ký hợp đồng

- Cột thành tiền: được tính bằng: Thành tiền =Số lượng x đơn giá

Khi giao hàng cho khách hàng theo hợp đồng đã ký kết, thủ kho lập “Hoá đơn (GTGT)” và “phiếu xuất kho” để theo dõi số lượng hàng hoá mà khách hàng đã đặt hàng

và đơn giá chính là gia công cho một sản phâm đã hoàn thành Đây chính là căn cứ để tính

ra số tiền khách hàng phải thanh toán cho công ty Đồng thời hàng ngày căn cứ vào “Hoá đơn (gtgt)” và “phiếu xuất kho”, thủ kho ghi vào “thẻ kho” và”sổ xuất hàng hoá” của từng hàng

Định kỳ từ 5-7 ngày thủ kho chuyển “hoá đơn (gtgt)” và “phiếu xuất kho” lên cho phòng kế toán và đối chiếu với “sổ chi tiết hàng hoá” ở phòng kế toán

Ngày đăng: 23/03/2014, 04:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng cân đối  số       phá t si nh - LUẬN VĂN: Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh " Tại công ty TNHH Hà Thịnh pdf
Bảng c ân đối số phá t si nh (Trang 33)
Hình thức thanh toán ......       ms....... - LUẬN VĂN: Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh " Tại công ty TNHH Hà Thịnh pdf
Hình th ức thanh toán ...... ms (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w