1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Văn hóa gia đình và gia tộc việt nam qua tư liệu hán nôm phần 2

102 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn hóa gia đình và gia tộc Việt Nam qua tư liệu Hán Nôm phần 2
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Văn hóa Việt Nam
Thể loại Điều tra nghiên cứu
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo chồng như cuội theo trăng, Chớ nên sứa vượt qua đăng không lành.. Một nhà cùng bạn làm dâu, Việc làm cũng phải trông nhau chớ hùa.. Việc người ta chớ có bàn, Việc mình ta phải nỏ na

Trang 1

Tỉ tê thóc mách gót đầu kể ra

Khi còn ở với mẹ cha, Phải chăm chút lắm mới là đạo con Dẫu sao chớ mỏi chớ mòn, Sớm trưa vật lạ của ngon khuyên mời Bữa ăn đứng lại gần nơi,

Thức gì cho biết tính người là ưa

Áo quần nên giặt thời thưa, Nhắc mình tắm gội chớ chờ người sai Sẵn sàng chỉ cuốn kim cài, Phòng khi sứt gấu sờn vai đính vào Của gì người đã ước ao, Mấy sông cũng lội, mấy sào cũng lôi

Trang 2

Đá kia khi đổ mồ hôi, Thuốc thang chực mọc nằm ngồi nâng niu

Phải khi giận dữ trăm chiều, Đánh ra cửa trước, bước vào cửa sau

Rằng mình phải trái chắc đâu, Chớ cầm con mắt chớ cau lông mày

Quạt nồng đắp lạnh cho hay,

Ăn sau dậy trước một ngày chớ sai

Mười phần hiếu vẹn cả mười, Bên chồng cũng phải một bài như nhau

Đến khi bước về làm dâu, Đất lề quê thói cơ màu phải trông

Trước tiên chiều bác mẹ chồng, Tính người mặn nhạt lạ lùng dễ đâu

Gặp người khe khắt cơ cầu, Phải mau tiếng dạ, phải mau việc làm

Dầu canh dầu cháo dầu cơm,

Lọ là tôi tớ cứ nom ý người

Già thì xấu nết nhiều lời,

….mà mắng mỏ cũng tươi cũng lành(1) Chồng yêu mình một biết mình, Đừng vênh váo mặt ra hình trêu ngươi

Dầu sao cũng tử tế lời, Chớ ngoảnh cổ lại nói lời thị phi

Phu thê là đạo xướng tuỳ,

Xỏ chân lỗ mũi kể chi người xằng

Trang 3

Theo chồng như cuội theo trăng, Chớ nên sứa vượt qua đăng không lành

Dù chồng là đấng học hành, Tìm thầy tìm bạn tập tành văn chương Chớ nên hoa nguyệt thói thường,

Để công đèn sách trễ tràng vì ai

Hoặc chồng là kẻ dông dài, Khi rồi ta sẽ liệu bài can ngay

Dần dần êm đẹp là hay,

Hễ già néo lắm thì dây không còn

Đành hanh đâu có người khôn, Hay gì những thói đa ngôn lăng loàn Chồng yêu ơn đội muôn vàn, Càng thêm kính trọng, dám lờn dám khinh ? Nhà mình phú quí hiển vinh,

Chồng nghèo cũng chớ oán mình thờ ơ

Dù mình hay tám ngàn tư, Trăm năm chẳng khỏi cậy nhờ phu quân Tuổi cao mà số muộn mằn,

Tìm người sửa túi nâng khăn đỡ mình

Dù chàng ba bảy tiểu tinh(2), Mấy con thì cũng con mình, con ai ?

Sợ chồng mà lại thương người, Khôn mừng, dại dạy chớ hoài chấp chi Ghen tuông nào có hay gì,

Tan nhà mang tiếng bất nghì vào thân

Trang 4

Sao bằng tu lấy chữ nhân, Hiền lành có đức để phần mai sau

Những người độc dữ hiểm sâu, Gương treo tày liếp trên đầu ta trông

Anh em vây cánh nhà chồng, Trời cho càng lắm càng đông càng mừng

Nhẽ nào mặt vực mày lưng, Rút dây chẳng sợ động rừng khéo thay

Lại còn những thói ghét lây, Tối tăm rỉ rót đặt bày truyền ra

Vì đâu máu mủ nên xa, Tội trời ai chịu lặng mà nghĩ xem

Nhờ con chị cũng con em,

Lá lành đùm rách chớ hiềm đầy vơi

Lời rằng sẩy đó ra thời, Của anh của chú cũng người nhà ta

Khó hèn số phận sinh ra, Cùng bất đắc dĩ ai mà muốn chi

Ma chay giỗ tết việc gì, Mình giầu cũng chớ suy bì với ai

Ngón tay còn có ngắn dài,

So tày… đưa lời nhọc ra(3), Chị em con gái ruột rà, Yêu nhau như thể cành hoa trong lòng

Nhớn khôn ai cũng theo chồng, Mỗi người một xứ dễ cùng với nhau

Trang 5

Một nhà cùng bạn làm dâu, Việc làm cũng phải trông nhau chớ hùa Khác nào như thể chơi đùa,

Thắng người một chút chớ hồ thi gan Việc người ta chớ có bàn,

Việc mình ta phải nỏ nang trong nhà Khi anh em rể đến nhà,

Dẫu thân cho lắm chớ hoà đấy đây Kẻo mà mẹ nó dì mày,

Tiếng đời cửa miệng biết ngày nào phai Trong nhà tôi tớ con trai,

Bảo gì chớ có rỉ tai nói cười

Tay đưa chớ giáp tận nơi, Lửa gần rơm đã có lời dạy xưa

Nhẽ nào vô ý làm ngơ,

Áo quần lẫn vắt mà lơ đễnh chừng Đêm đi không đuốc thì đừng, Kẻo mang tăm tối truyền xằng tiếng oan Ngay cho chết cũng là gian,

Trong mà giữ nhẽ ai bàn chẳng ghi Quanh co dối trá hay chi, Dấu voi khôn kín đường đi hay cùng Một mai chẳng việc bưng bồng, Nhất sự bất tín ai hòng còn nghe

Phải nên một mực giữ dè, Như dao chém đá chớ hề lôi thôi

Trang 6

Vàng rau buôn đứng bán ngồi, Được vốn thì bán không thôi chớ thề

Hơi đồng chớ thấy thì mê,

Mà liều cắt tóc học nghề lái trâu

Dù ai vay mượn luỵ cầu,

Có cho không chớ đừng màu nói chua

Lời nói chẳng mất tiền mua, Nói cho sinh oán sinh thù chẳng nên

Cành cao cành thấp quí quyền, Được hơn tấm lụa quan tiền chi chăng

Ai khen cũng chớ vội mừng,

Ai chế biết tỏ cũng đừng cậy răng

Rằng hay rằng dỡ cũng rằng, Hơi đâu mà giận người dưng thêm gầy

Có thì buộc chỉ cổ tay, Không thì tự khắc một ngày một không

Can chi ra mặt động lòng, Càng thêm những chuyện thẹn thùng hay chi

Dù ai xâm phạm điều gì, Cũng đừng nói kẻ vô tri hoài lời

Dẫu sao cũng rởn cũng cười,

Ai đòi mạo lịch có người trông ra

Chửi con đừng có chua ngoa, Động đến ông vải ông bà không nên

Những người lăng mạ tổ tiên, Phép vua có thấy dễ toàn được danh

Trang 7

Chửi cho có ngọn có cành, Suy ra mình lại chửi mình khôn sao Tôi đòi con cháu người nào, Tội thì đánh sẽ dơ cao gọi là

Phòng khi hoặc nhỡ tay ra, Xưa nay cả giận vẫn là mất khôn

Thế thường nói chết thì chôn, Phép tư đã vậy lại còn phép công

Giận ai trước phải nhẫn lòng, Chớ cho như lửa đùng đùng cháy lên Tính thì biết bớt cho quen, Đừng như thói cũ có phen mua sầu

Dù ai xô xát cãi nhau, Cũng đừng lửa cháy thêm dầu chẳng nên Việc chi ân nghĩa giả đền,

Chớ lời lật lọng khỏi rên quên thầy Việc làm ăn sáng học hay, Sáng tai họ điếc tai cày ai ưa

Đồ ăn thức đựng sớm trưa, Trông nom kẻo mất biết ngờ cho ai Phải điều mất của dại đời, Khi làm mượn mõ luỵ người mất công Của ai kính biếu thì trông,

Của tuy không mấy nhưng lòng hẳn hoi Mong sao ăn chả trả bùi,

Có đi có lại thiệt thòi quản bao

Trang 8

Gục đầu vai vướng nhẽ nào, Ghét người yêu của có vào không ra

Còn như việc vặt trong nhà, Thuận lời ta sẽ kể qua cho tường

Làm ăn phải biết phép thường, Chín tương hai muối như đường có ca

Vò tương chớ để trong nhà,

Đè sâu nén chặt dưa cà kẻo hư

Cơm cho ráo cháo cho dừ, Mắm bưng rượu nút chớ ngơ bỏ liều

Đồ ăn mèo đậy chó treo, Bình vôi dao nhọn để treo vách nhà

Cất đèn để đĩa riêng ra, Hoả lò thiêu nước cũng là cầm riêng

Buồng the bếp nước cho siêng, Chắc gì đầy tớ giữ gìn được nghiêm

Cửa thì then khoá cho êm, Bếp khi đứng dậy vùi riêng than vào

Lôi thôi lổng chổng thấp cao, Nhỡ khi lửa cháy dỡ sao được mình

Đấu thăng đong bán cho bình, Đong sao bán vậy chớ rình dối ai

Kẻo mà mang lấy tội trời, Lường thưng tráo đấu muôn đời khá đâu

Người chăm nhà quét đèn lau, Sinh con mặt sáng làu làu như gương

Trang 9

Vun thu thóc rụng cơm vương, Của trời như thể ngọc vàng dễ đâu Tuy cho bạc dát tiền xâu, Trong tay chớ nghĩa rằng giầu mà hoang Việc gì rộng hẹp tuỳ đường,

Đừng co quắp lắm ra phường nhỏ nhen Còn ra đeo dắt giữ gìn,

Phòng khi sa sút khỏi phiền luỵ ai

Dù ta phải luỵ đến người, Dẫu cho đỉnh chút muôn đời chớ quên Cho ai của đáng trăm nghìn, Cũng như bỏ đó mong đền ơn chi

Dù ai phụ bạc điều gì, Biết con người ấy bất nghì thời thôi Khỏi vòng quen thói cong đuôi, Nói càng thêm oán chuyện rồi kể chi Thiệt hơn cũng chớ suy bì, Người mà chẳng biết chứng tri đã trời Chớ quen chùi mỏ đi chui, Say mê cờ bạc kề đùi chốn đông

Chớ rằng thua chẳng mấy đồng, Mưa dầm cũng ướt nữa chồng cậy ai Thua vào đỏ mặt tía tai,

Mong ngồi mà gỡ người ngoài khó coi Đói ăn qua bữa thì thôi,

Lọ là thịt đốt cua nhồi làm chi

Trang 10

Mặc thường vải lụa tuỳ nghi, Hoa hiên trứng sáo cứ gì mới nghiêm

Sao cho đói sạch rách thơm, Sao cho khỏi tiếng kẻ tham mới là

Hơn nhau một chút nết na, Hình dung xấu tốt mẹ cha sinh thành

Những phường má phấn mi xanh, Càng thêm dạng dại dị hình khó coi

Nghiêm trang chín chắn thì thôi, Đói no cho sạch đứng ngồi cho tươi

Chớ trông lén chớ cươi ruồi,

Hễ mình lơ lẳng là người đong đưa

Mặc người đi sớm về trưa, Chuyện đâu bỏ đó chớ thừa hoài hơi

Nữa khi lôi lắng đến người, Đôi co mách lẻo chúng cười người chê

Hoặc người chèo hát hội hè, Cũng đừng nô nức bạn bè đua nhau

Cái hay có gói được đâu, Việc làm khuya sớm dễ hầu cậy ai

Dù ai khéo dụ khéo mời, Thì ta sẽ liệu tìm lời viện đi

Đúc chuông tô tượng việc chi, Cúng giàng sẽ gửi cô dì cũng xong

Chớ nhe thầy bói cô đồng, Chắc gì mất của quên công thêm rày

Trang 11

Bệnh thì lấy thuốc làm thày, Dẫu sao giải kết lỗi may ở trời

Khoe khôn khoe khéo đầy người, Việc nhà thì nhác việc người thì ưa Nghề riêng học lắm cũng thừa, Tương cà dưa mắm hễ vừa là hay

Biết đường kim chỉ vá may, Cơm canh nấu nướng liệu tay có chừng Bánh trong bánh lọc mọi đường, Nhất là biết được không đành cũng xong Chăn tằm thực có lắm công,

Đến khi ăn rỗi chớ mong nằm ngồi, Liền tay che gió xua ruồi, Đêm ngày cơm đứng dám ngồi được ru Cửi canh tay khổ tay go,

Kén bông mau đổ tính cho rõ ràng Ngắn dài chắp nhặt tấc gang, Đầu đầy cuối rốt chớ vương bỏ liều Ruộng nương cánh thấp cánh cao, Phải ghi nếp tẻ bằng nào gần xa

Cắt về liền để giống ra, Cho riêng ngăn nắp chớ hoà lộn đô Gạo thơm ăn chớ xô bồ, Phòng khi giỗ tết khỏi lo đến mình Giàu thì ngũ đỉnh tam sinh(4), Khó thì đĩa muối lưng canh cũng là

Trang 12

Quỉ thần hâm hưởng không xa,

Hễ lòng thành kính người là giám lâm

Những ngày mồng một hôm rằm, Cùng thời tế lễ chớ chăm gần chồng

Gái đâu có gái lạ lùng, Nhí nha nhí nhảnh má hồng quanh năm

Chớ rằng vắng vẻ tối tăm, Hai vai đã có người cầm cổ tay

Họ chồng tiền hũ thóc cây,

Ai nay chẳng chuộng ai rầy chẳng ưa

Những là rễ má dây mơ, Khó hèn cũng chớ thờ ơ rẻ hình

Nhà minh phu quí phụ vinh,

Họ hàng có đến thì mình mới hay

Học gì những thói thày lay, Cao kì bắc bậc mặt mày đầy vơi

Của đời thì lại trả đời,

Hễ ai nhân đức thì trời độ cho

Phải chăm cứu giúp đỡ bù, Những người đói rách quê mùa yếu đau

Tuy không làm quán bắc cầu, Tiếng tình tinh đã trên đầu rạng soi

Nhãn tiền thử ngẫm mà coi, Nhà nào bạc ác có hồi lại tan

Của mà có đức mới bền, Chắc gì tiền thóc muôn vàn đề đa

Trang 13

Còn khi khách đến chơi nhà,

Ra vào khép nép chớ hoà tả tơi

Bảo ban tôi tớ nhẹ lời, Chớ trông đối mặt chớ cười động gan Dẫu đương trăm giận nghìn ghen, Xót thương để dạ chớ bàn nữa sao Chửi mèo mắng chó rêu rao, Mình tuy lòng thực khách nào ngồi yên Trà thang chớ ngại rằng phiền, Chiều chồng cho được bạn hiền là may Cho ai thóc mượn tiền vay,

Cũng như của gửi chồng nay ăn đường Còn như thai nghén cưu mang, Ngủ thường chớ chán ăn thường chớ no Chớ cả giận chớ cười to,

Chớ ngồi chỗ lệch chớ dò chỗ sâu Chớ mang nặng chớ vịn cao, Vật gì mất máu tơ hào chớ ăn

Nực đừng hóng gió cởi trần, Rét đừng sưởi lửa trùm chăn quá chừng Chớ vội bước, chớ văng mình, Chăm làm việc nhẹ cũng đừng ngơi tay Thường tươi mặt chớ cau mày,

Hễ ngoài ba tháng chớ hay gần chồng Đến khi dỡ dáo trong lòng, Chớ nghe người nhủ mà long dạ mình

Trang 14

Như hoa đến độ thời sinh, Kẻo mang lấy sự chẳng lành tại ai

Sinh ra dầu gái dầu trai, Gái thì canh cửi mà trai sách đèn

Ngây thơ đã phải tập rèn,

Hễ mà biết nói phải liền dạy răn

Chớ nên rậm rịch áo quần, Chớ cho nũng nịu nết ăn nết hờn

Cột vào khuôn phép rồi quen,

Lọ là mặc đẹp ăn ngon mời hào

Trước là tiền mất tật đeo, Sau là quen thói mĩ miều hư thân

Cây non phải liệu uốn dần,

Cả cành mới uốn thêm phần khó ra

Một mai mất nết mất na,

Ai ai cũng nói đến nhà có con

Hiếm hoi càng phải cho đòn,

Có một mà xấu dễ còn cậy đâu

Bảo cho đến đũa đến đầu, Sinh con hồ dễ ai hầu chẳng thương

Còn khi bước chân ra đường, Sao cho từ tốn dịu dàng khoan thai

Tay khép áo nón che vai, Phòng khi gặp kẻ vô loài tơ vương

Cậu cô chú bác họ hàng, Gặp người ta sẽ lánh đàng chào thưa

Trang 15

Thấy ai gánh nặng đội to, Miệng xin tay cất đón cho đỡ người Đàn ông gặp kẻ người ngoài, Chớ trông đối mặt chớ cười khoảng không

Hễ tai nghe tiếng lạ lùng, Làm thinh bước rảo qua vòng thời thôi Chớ hề giả miếng giả môi,

Mất công sinh việc hoá lôi lắng nhiều Chị em cô cháu dập dìu,

Trình qua rồi sẽ liệu chiều tháo lui

Chốn đông cầu quán chớ ngồi, Trông cho đến chợ mua rồi kẻo trưa Cũng tiền con cá mớ dưa, Của ôi của héo ai ưa ai dùng

Làm người có mắt thời trông, Buồm the thúng đậy giữ phòng kẻ gian Đừng nên trò truyện lan can, Tính mua cho đủ mà toan đường về Chớ nên quà bánh ngồi lê, Nhà mong con khóc bạn chê hay gì Nay nhân thi Hội mới về(5), Ngồi rồi thử đặt một bài mà chơi

Nôm na có bấy nhiêu lời,

Ai khen cũng vậy ai cười mặc ai

Trang 16

Chú thích:

(1) Dấu ba chấm: chỉ chữ bị mất nét, không đọc được

(2) Tiểu tinh: vợ hầu

(3) Dấu ba chấm: chỉ hai chữ bị mất nét, không đọc được

(4) Ngũ đỉnh: thời xưa việc tế lễ ở nhà quan đại phu phải dùng đến năm cái vạc để nấu ăn Tam sinh: Ba vật dùng để cúng tế: bò, heo, dê

(5) Nay nhân thi Hội mới về: câu này cho biết một chút về tác giả là người có trình độ học vấn cao, đi thi Hội mới về

Trang 17

BÚT HƯƠNG TRAI KHUÊ HUẤN CA

Đàn bà chốn thôn quê không biết chữ, bồng bế con trẻ thường hát những bài quốc âm Có bài lành mạnh, có bài phóng túng, vào tai thấm lòng, há không lợi hại sao? Do vậy (ta) làm năm bài ca quốc âm, lệnh cho bọn trẻ nhỏ trong nhà đọc thuộc những lời lẽ tốt đẹp trước vào như lời dạy của người thày con gái vậy

Năm Tân Dậu, niên hiệu Tự Đức (1861), Nguyễn Hoà Hương, hiệu Bút Hương Trai, người Tràng An viết

Nữ nhi(2) nết đủ trăm đường,

Trước tiên điều hiếu, đạo thường xưa nay

Công cha đức mẹ cao dầy, Cưu mang trứng nước(3) bù trì ngây thơ

Sinh nuôi khó nhọc đến giờ, Trưởng thành con phải biết thờ hai thân

Thức khuya dậy sớm cho cần, Quạt nồng đắp lạnh(4) giữ phần đạo con

Mỗi ngày cơm nước canh ngon, Dịu dàng nét mặt, nỉ non tiếng bầy

Viếng thăm nâng giấc chẳng rời,

Ở sao cho được lòng người yêu thương

Trang 18

Dầu khi mưa nắng chẳng thường, Chăm cơm cháo lại trà thang đêm ngày

Khi thường chấy giận liền tay, Hầu khi tắm gội, trực khi ra ngoài

Chớ nhàm, chớ thẹn mà sai, Đấng thân ta phải là ai ngại gì

Chẳng suy khi mới lọt lòng,

Ai nâng sài lể(5) ai bồng hôi tanh

Nuôi con cho đến trưởng thành,

Kể ra khí lực công trình biết bao

Đền ơn báo nghĩa dường nào, Trông ra trời đất, nghĩ vào tấm thân

Hai bên cha mẹ bằng cân, Đạo làm con gái là phần đạo dâu

Nhẽ trời báo ứng riêng đâu, Trước làm dâu cũng mai sau mẹ chồng

Trang 19

Bài thứ hai

Khuyên phụng thờ chồng, nói về lẽ trinh tiết, thuận tòng thì đem lời dậy của thánh hiền mà bảo ban con gái

Này ca khuê huấn thứ hai,

Nữ nhi lọ phải sắc tài mới hơn

Quý điều nết ở cho ngoan,

Có trinh(6) có thuận(7) muôn vàn giá cao

Còn khi tơ đỏ(8) chưa trao, Nói năng cẩn thận, ra vào đoan trang

Chớ tham là lượt phấn son,

Áo quần cho sạch, cho thơm cũng là

Giữ gìn miệng thế đàn hoà, Tính tình cho nhiệm(9), nết na cho thìn(10) Thấy trai mắt chớ chăm nhìn,

Hễ nghiêm nét mặt thì êm lòng tà

Nước trong gương sạch mình tà,

Đố ai ghẹo nguyệt trêu hoa được mình

Đến khi trời kết duyên lành,

Mẹ cha định liệu, mối manh thông lời

Ba sinh(11) ước nguyện dám lời,

Trăm năm cầm sắt(12), muôn đời lửa hương(13) Tòng phu(14) phải giữ mực thường,

Dầu khôn, dầu dại lời chàng dám quên

Khôn thì nội trợ cho nên, Dại thì khéo dỗ, khéo khuyên lấy chồng

Trang 20

Học chi những đứa ngu muông, Mày lăng mặt vược(15), ở không đạo hằng

Giữ rằng “giới kính vô vi”(16), Chữ rằng “phu xướng, phụ tuỳ”(17) xưa nay

Mạnh Quang(18) tài sắc tiếng lừng,

Thờ chồng cơm cũng tay nâng ngang mày

Đàn bà nhu nhiệm(19) mới hay, Yên bề gia thất(20), lời bề như tôn(21) Con nhà sĩ tộc, nha môn(22), “Tam tòng”(23) giữ lấy, gia ngôn thánh hiền(24)

Trang 21

Gẫm xem thế tục buồn rầu,

So tày nhỏ nhặt, cơ cầu viển vông

Anh em khí huyết nhà chồng, Đem lời xui xiểm, nỡ lòng quai li(26) Cũng vì khác máu tranh khi, Khó ai vay mượn, giàu ai hơn mình

Lại còn lắm nỗi chênh vênh, Nói năng chẳng nhẫn xiết đinh ít nào

Tỉ tê bên gối ngọt ngào, Xui chồng nên nỗi đồng bào lìa xa

Đàn ông đâu đến thế mà, Bởi chưng miệng lưỡi đàn bà mới kinh

Cho nên dị mộng(27) rành rành, Quái gia nhân lại hoạ ra quái mình

Thi đào nhị khúc vui qui(28), Trước tiên vịnh chữ “nghi kỳ giai nhân”(29) Làm người phải biết khuyên răn, Chớ theo thói dữ, lỗi chăng đạo trời

Nghi gia mà được như lời, Mới khen tiên nữ hơn người thế nhân

Trang 22

Mấy người tráo đấu lừa thưng, Mấy người miệng sứa, lưỡi lằn hay đâu

Cát hung(30) hoạ phúc cơ mầu(31),

Thần minh(32) soi xét trên đầu cũng minh

Tham chi ít lợi xiết đinh,

Mà mang nghiệp giận vào mình như chơi

Hay chi sóng gió những lời, Đong đưa mà hoá ra người chẳng hay

Khuyên con giữ lấy điều này, Rằng tín, rằng nghĩa chớ sai tính lành

Trước là tích phúc cho mình, Sau là tạo phúc để dành cho con

Trang 23

Nhẽ đâu ghen ghét người ta, Dưới màn tích để mặt hoa âu sầu

Người xưa đâu có thế này, Người nay chẳng nghĩ cho sâu vì tình

Chồng tôn thì vợ mới vinh,

Có hầu có hạ thì mình mới sang

Sao không rửa sạch thói thường, Đem người thuở trước khuê hương sánh vào

Vương phi là bậc thanh cao,

Mà khi hạ giá(36) thế nào khe rung

Hậu phi là vị chính cung,

Mà thương chúng thiếp cũng không vò dầy

Thi nhân khen ngợi tiếng thơm, Bút hoa truyền dõi, thiên thu chưa mòn

Huống chi phẩm giá con con, Lại còn gióng riết, lại còn ghen tuông

Trang 24

Khuyên cho nghỉ nghị lo lường, Chớ đem hiền nữ mà nhường cổ nhân

Phát phu(37) ai cũng ra thân,

Tính thiên(38) ai cũng ra gần như nhau

Ấy trong khuê huấn năm ca, Buồng hương nhớ lấy lời nhà Bút Hương

Chú thích:

1 Khuê huấn: Lời dạy chốn phòng khuê – nơi con gái ở Ý chỉ dậy cho con gái trong nhà

2 Nữ nhi: Đàn bà con gái

3 Cưu mang trứng nước: Công mang nặng đẻ đau

4 Quạt nồng đắp lạnh: Ngày xưa, người con có hiếu với cha mẹ thì mùa hè trước khi cha mẹ đi ngủ thì phải quạt cho mát để cha mẹ ngủ, mùa đông phải vào nằm cho

ấm chăn chiếu trước rồi mới mời cha mẹ nằm

5 Sài lể: Tức sài lở, bệnh chốc lở trên đầu trẻ em

6 Trinh: Chỉ con gái chưa thất tiết

7 Thuận: Phục theo

Trinh, thuận chỉ người vợ có tiết thảo và phục tùng theo chồng

8 Tơ đỏ: Nguyên từ hai chữ “xích thằng” theo truyền thuyết Trung Quốc, Vy Cố đời Đường nằm mộng gặp một người già dưới bóng trăng nói rằng: trong túi có cái dây đỏ để buộc chân những cặp vợ chồng với nhau, chỉ nhân duyên do trời định

Cả câu “khi còn tơ đỏ chưa trao” chỉ người con gái khi chưa lấy chồng

9-10 Nhiệm, Thìn: Là những từ cổ chỉ sự rất cẩn thận, cố tránh khỏi mọi sơ suất dù là nhỏ

11 Ba sinh: Theo giáo lý đạo Phật, người ta chết đi rồi sống lại sống kiếp khác, cứ như thế mãi, không thoát khỏi vòng sống chết Ba sinh là ba kiếp sống liên tiếp: kiếp trước, kiếp này, kiếp sau Ba sinh cũng thường được dùng khi muốn nói đến mối duyên nợ ràng buộc hai người, mối duyên nợ từ kiếp trước truyền lại

12 Cầm sắt: Đàn sắt và đàn cầm Đàn sắt đời cổ có 50 dây, về sau sửa lại còn 25 dây Đàn cầm đời cổ có 5 dây, về sau sửa lại còn 7 dây Hai thứ đàn này thường được đánh hòa âm với nhau, “trăm năm cầm sắt” chỉ cảnh vợ chồng suốt đời hoà hợp

13 Lửa hương: Hương và lửa đốt cúng thần linh mà thề nguyền với nhau, ở đây chỉ tình nghĩa vợ chồng

14 Tòng phu: Theo chồng

15 Mày lăng mặt vược: Mày con cá lăng và con cá vược Chỉ mày, mặt ngang ngạnh như con cá lăng, cá vược

Trang 25

16 “Giới kính vô vi”: Chỉ thái độ nghiêm trang, kính cẩn không trái ý chồng

17 “Phu xướng, phụ tùy”: Chồng xướng vợ theo

18 Mạnh Quang: Tên người con gái đời Hán Theo Hán Thư, nàng Mạnh Quang là

người rất tôn trọng chồng, mỗi bưa dọn cơm cho chồng ăn, nàng thường đặt thức

ăn vào khay rồi nâng ngang mày dâng cho chồng, mắt không dám nhìn lên

19 Nhu nhiệm: Nhún nhường, cẩn thận

20 Gia thất: Nhà cửa, vợ chồng

21 Nhi tôn: Con cháu

22 Sĩ tộc, nha môn: Chỉ dòng dõi kẻ sĩ theo đạo Nho

23 Tam tòng: Xưa, con gái ở nhà thì theo cha, lấy chồng thì theo chồng, chồng chết thì theo con

24 Gia ngôn thánh hiền: Lời lẽ tốt đẹp của bậc thánh hiền

25 Nghi gia: Hoà thuận nhà cửa Kinh Thi có câu “chi tử vu quy, nghi kỳ thất gia” (Cô gái ấy về nhà chồng vừa độ tuổi xây dựng cửa nhà)

26 Quai li: Ngang trái xa lìa

27 Dị mộng: Mộng tưởng khác

28 “Thi Đào nghị khúc vu quy”: Do bài thơ Đào yêu trong Kinh Thi Bài thơ gồm ba

chương khen ngợi người con gái lập gia đình, trong có đoạn “Đào chi yêu yêu, Kì diệp trăn trăn, chi tử vu quy, nghi kỳ gia nhân” (Cây đào tơ xinh tươi, lá đơm xum xuê, nàng ấy đi lấy chồng, hoà thuận với người trong nhà)

29 “Nghi kỳ gia nhân”: Xem 25

30 Cát hung: Tốt xấu

31 Cơ mầu: Sự vận động biến hoá mầu nhiệm của tạo hoá (theo triết học duy tâm cổ của phương Đông)

32 Thần minh: Bậc cao minh không ai sánh kịp

33 Từ ái: Lòng yêu thương

34 Khiêm cung: Nhún mình xuống thấp mà kính cẩn, nói đức tính người nhu thuận

35 Kiêu kiển: Ngạo mạn ngất ngưởng

36 Hạ giá: Công chúa hạ mình xuống lấy con quan

37 Phát phu: Tóc, da

38 Tính thiên: Tính trời Quan niệm, sinh ra ai cũng được trời bẩm sẵn tính nết gần như nhau

Trang 26

TÂN NỮ HUẪN Biểu dâng thư

Bề tôi là Trịnh Giản, kính cẩn tâu việc soạn sách tân biên, xin được

bệ hạ soi xét

Nay ngưỡng thấy, sao khuê rực sáng, cung vua an hoà, nhà vua đương thì tuổi trẻ mạnh mẽ, nối sáng đời trước ở trong vận văn minh, một người tạo nền giáo hoá, khắp cõi đều theo, cúi xin bệ hạ vừa làm bậc vua vừa làm bậc thầy Sợ hãi lời vua vĩ đại, làm cho dân đông rồi lại giúp dân giàu và dạy dân(1), tuần tự nhắc lại lời thánh nhân dẫn dụ, có giáo hoá để hun đúc thành khuôn phép Phong tục ấy thật thuần hậu tốt đẹp, sáng luân lý bởi học, chở được đạo vì văn Trộm nghĩ, phô bày nền giáo hoá ở sự khoan dung, so với việc chính hình mà càng thêm trọng, việc lập ngôn là bất hủ, cùng với công đức mà truyền lại lâu dài, muốn thứ tự ở luân thường, cuối cùng sao phân chia nam nữ? Chỉ trên cổ vũ, dưới lấy đó mà theo

Kính nghĩ, hoàng đế bệ hạ sáng suốt khiêm nhường, vui hoà tốt đẹp thuận theo, thực đúng là dòng đích thánh thần truyền nối, hun đúc tinh tuý hơn ba trăm năm, bao hàm cả tài năng văn võ ngang dọc, rủ áo chắp tay ở ngôi trời tới nay đã tám năm, thái bình hiếm có ở phương Đông mà nhà vua vẫn giữ trị vì ở chính phương Nam bằng phép vô vi Chấp kinh mà càng dụng quyền, đổi mới mà vẫn giữ nếp cũ Mới lên ngôi mà đã ngự xe sang phương Bắc, sông đưa núi đón, vừa giao thiệp lân bang đã xuống thuyền sang bên Tây, biển lặng sông trong Kéo dài phúc của sinh linh xã tắc, bậc quân trưởng lại nhân hiền, cơ đồ quốc gia bền vững mãi như bàn thạch, ngôi thái tử sớm dĩnh ngộ Bảo tồn quốc tuý, thận trọng giữ gìn mối bang giao, thể dụng bề tôi, thương xót nhân dân, tôn sùng Nho, Đạo Mở rộng thịnh điển, từng cử hành tế trời đất, kính thiên địa, hiếu tổ tông Lúc nhàn rỗi thường xem thi phú để bổ ích tinh thần, tăng cường trí lực Điều hay dở biết khắp nơi đồng cỏ thì hạ chỉ xuống hương thôn, phong tục được đổi mới Ý nguyện sâu xa dâng lên sân rồng thì sắc truyền trực tiếp nhanh như điện Khẩn thiết truyền

bá dụ thanh liêm, khuyên răn quan lại Ân cần suy rộng mà trước tác thành sách, lưu tâm tới học giới Bảo rằng sách giáo khoa còn nhiều khuyết điểm, như luân lý chăng, tiếc là chưa phổ thông được hết

Trang 27

Bảo rằng Nho sĩ không thiếu kẻ hay văn thì ai là người nghiên cứu, khuyến khích việc sao thảo biên tập? Mở rộng lời dạy về chuẩn tắc của nhà vua, nhóm họp sĩ dân trong vòng quan cảm mà mài dũa Thần tài đức hèn mọn, kiến văn nông cạn, nhờ vào sự truyền lại của các đời, làm lụng trên ruộng nương quý hiếm, ghi nhớ công ơn khai phá của tiền nhân Ngược về trước, tổ tỉ của thần xuất thân từ dòng dõi lá ngọc cành vàng của hoàng phái, tưởng nhớ đời trước luôn lo làm hưng thịnh cho đời sau Tổ tông của thần đã được hưởng phúc vĩnh hằng với nhà Lê, tình cờ giành được chút khoa bảng, sợ hãi mỗi khi vô tình nghĩ đến khoa

cử, yên phận tạm giữ chức quan thấp, khẳng khái không khuất trí trên đường làm quan, có điều làm xấu hổ đến cha mẹ, luôn lo lắng không giữ được Học cốt ở nghĩa lý, tính tình bẩm sinh là trung thành, nhạt nhẽo với danh lợi, rũ bỏ ngoài vòng gió bụi Cũng suy nghĩ rộng ra thế giới,

vả dân vật luôn mang trong lòng Từng hoạch định kế sách, trần thuật lại lời nói xưa, rộng khen chính phủ Hoặc có khi luận văn bàn việc, hay

bị người khác bài xích, mặc kệ lời ong tiếng ve mà không quan ngại May nhóm hội được lòng yêu mến của hải nội, mừng gặp được cơ tiến hoá của nhân quần Nhờ Đại Pháp dần dần mở rộng, dẫn đường nước Nam ta lặng lẽ tiến lên, đặc biệt chấn hưng nền giáo dục, mở mang xây dựng học đường, không chỉ có con trai ngày ngày tiến bộ, mà cả giới nữ lưu cũng được khích lệ Phá tan địa ngục hắc ám, cùng đua lên lên vũ đài, phóng đuốc sáng trí tuệ rực rỡ, đều bước lên thêm đạo lớn Kia mênh mang mà đông đúc, sĩ tử áo xanh đua như sấm dậy Đây nền nã

mà chan chan, học mang áng quần thoa Đông Á, từ xưa chưa từng thấy, bây giờ mới có

Nhưng ngẫm thấy phép văn thâm thuý, mùi đạo tầm thường, hớt được thứ văn minh cặn bã bề ngoài, lại làm mất đi cái cốt tuỷ tinh tuý của luân lý Cạnh tranh với sự tổn hại của nạn “mạn tàng dã dung”(2), bành trướng sự tung hoành của phong trào tự do bình đẳng, dẫn đến phóng đãng vượt khỏi khuôn phép, sao có thể thức tỉnh được kỉ cương? Huống mỗi khi thấy đám sĩ phu có học lại đảo lộn luân thường, rồi lại sao, hạng dân thường vô học lại ào ào mê đắm Nhân nghĩa đạo đức rẻ mạt như cán cờ mao, nhờn cợt dâm ô, ham thích như ăn thịt Cảm xúc vì suy tính cặn kẽ, nhân nhàn mà thư thả mở tới những điều xa xôi, soạn

làm Nam diễn âm, nhan đề là Tân nữ huấn Việc tham khảo Âu Mĩ,

nghĩa châm chước cổ kim, hiệp vần điệu để tiện ca ngâm, lại phân thành

Trang 28

đoạn cho rõ ràng mạch lạc Lời dạy xưa giam hãm khuôn khổ cũ, tiểu tiết thì chi li, đại thể thì sơ lược, hiềm vì ngôn từ quê mùa mà ý tứ còn hàm hồ Nay biên soạn lại, bắt chước văn thời mới, thác theo lối Tân thư, tham bác Hán tự, ngôn từ chuộng linh hoạt mà sự lí rộng mở lớn lao, hay nêu sự khen chê, chỉ cốt lấy công bình làm chuẩn, nghị luận phát minh mong ngay thẳng, thoả đáng Từng tiết viện dẫn có ý đánh thức nam giới, song song đối chiếu với nữ lưu Dù vốn lấy khuôn phép để răn hàng nữ, đồng thời lại có thể dùng châm biếm bên nam, đem dùng

để duy trì phong hoá, phù giúp xây dựng cương thường Tất lòng thành son sắt tinh bạch chốn quê mùa xin dâng hiến, cúi mong đoái tới xem xét Nhặt nhạnh cả những lời của kẻ hái rau kiếm củi, hoặc thích hợp với lòng nhà vua, mong được đội ơn dung nạp, để bổ sung chút ít vào thế đạo Xin cho phép thi hành, ban làm sách giáo khoa, khiến cho khắp hệ ban nhẩm đọc, truyền xuống hương thôn làm ca khúc, lệnh cho ngâm nga Nơi gia đình cốt nhục giúp nhau chiếu đọc, ngày ngày để tai mắt đến, lâu rồi sẽ thấm dần, ngõ hầu có thể biến thói xấu của chôn nanh chuột sừng chim(3) thành phong hoá của nơi “lân chỉ quan thư”(4) Thành sầu mài kiếm sắc để vén toang màn u mê, như biển lớn lượt buồm từ ái

để vượt qua kiếp trầm luân Người vui hoà mục, đời hưởng thái bình thì may lắm, may lắm!

Tân nữ huấn đề từ(5)

Trời sinh vạn vật người là quí, tính xưa bẩm thụ vốn thuần mĩ, không so con gái cùng con trai, đều là quốc dân nhất phần tử(6) Bởi từ lọt lòng cất tiếng oe, đã xếp kề vai gánh trần lụy Trách nhiệm đàn bà nặng nề thay, há những chủ trương việc trung quĩ(7) Nước ta con cháu dòng họ Hùng, trong áng quần thoa cũng anh nghị(8) Kìa bà Nhị Trưng con lạc tướng, một thanh thần kiếm tráng dân khí(9) Kìa bà Triệu Ẩu người Cửu Chân, một dải nghĩa kì quét quốc xỉ, bao nhiêu vận mệnh của giang sơn, đều nhờ một tay bà ấm hoa(10) Ai chỉ cầu đá khuyên chồng học, vợ quan Nghi Lê truyện Việt sử(11) Ai đốt tro lụa dạy con liêm, mẹ quan Án Nam bà Bùi thị(12) Bao nhiêu hạnh phúc của gia đình đều trong một tay gái kinh kỉ(13) Trượng phu trượng phụ khác gì đâu, anh hùng anh thư(14) cũng thế nhỉ Đã đành tư chất sẵn thông minh, cũng nhờ học vấn nên tài trí Thử hỏi nữ xưa học thế nào? Nhà có nhà không như mặc ý Tiểu học minh tâm năm ba thiên, viết lách cốt đủ chữ biên kí

Trang 29

Nữ huấn diễn ca một vài bài, làm ăn cốt theo cách cơ chỉ Ví không đẻ vào nhà giàu sang, còn đời nào biết mùi bút giấy Thương thay phận gái hèn mạt gì, nỡ đem nhân cách tự phóng khí(15) Không bằng nuôi lợn sao cho đương, người có lương tâm luống ngẫm nghĩ Làn sóng tự do đâu trương lên, ào ào lai láng bể Âu Mĩ Thuận gió Bắc sang cõi Á Đông, nữ quyền như thể ngọn thủy triều, nhờ cách học giới dựng qui trình, đem nền phụ đức làm thành luỹ Bình đẳng nhận nhầm vẻ văn minh, có biết tổn mất ruột lí luận Không phải không trường không học đâu, Pháp văn phần nhiều nghĩa thâm thuý Không phải không sách không xem đâu, quốc văn phần nhiều truyện du hí Giáo dục nữ giới chưa phổ thông, trình độ quốc dân còn ấu trĩ Ai dốc nhiệt huyết thương giống nòi, lo đường phong hoá ngày đồi huỷ(16), cắp bút thay gươm lên pháp đàn, vắt mực ra máu giữ quốc huý Quan huấn Lạc Đình(17) bậc lão thành, bén bề đạo đức chán danh lợi Gặp buổi tân cựu đương giao thời, muốn trước gia tộc biết tự trị Soạn bộ Nữ huấn tân diễn âm, tham chước cổ kim có nguyên uỷ Mười tám tiết mục rất bao la, nghị luận chiết trung chẳng thiên ỷ(18) Chẳng những làm gương áng nữ lưu, gần chốn thôn quê xa thành thị, lại khả thằng mực(19) bên nam giới, ngoài ra tiếp vật trong xử kỉ Thời vận quốc văn nên khuyếch trương, bút mực nhà Nho có giá trị

(Nam Định tổng đốc, Nhâm Thìn khoa, Phó bảng Phạm Văn Thụ đốn thư(20)

Rộng trong trời đất hoá sinh, Giống người rất quí rất linh mọi loài

Ngôi tham đứng ở tam tài(21), Phật tiên thần thánh chẳng ngoài chữ tâm

Song mê tối lại trách nhầm, Đem làm hình việc thú cầm không xa

Ngẫm suy bởi có mình ta, Truyền ngàn muôn kiếp thực là trọng thay

Phải tu phải học mới hay, Hiền ngu thiện ác xưa nay tỏ tường

Trang 30

Sáng luân lí giữ cương thường, Dèm người ắt trước biết đường tu thân

Dẫu rằng bực thượng đại nhân, Học càng thêm rộng tinh thần trí khôn

Người phàm lận đận hôn hôn(22), Bằng không có học lại còn biết chi

Vậy nên tiên giác tiên tri, Đặt ra giáo pháp học qui dạy người

Thay trời dựng mối cầm quyền, Chuông kêu đuốc dọi khắp miền thế gian

Biến phàm cốt hoá linh đan(23), Văn minh lối mở, dã man buông lìa

Học thì có ích như kia, Đều nên trai gái há chia hay hèn

Nhà nhân nghiên bút sách đèn, Trạng bên nữ giới đòi phen nghĩ lường

Trải xem các nước Tây phương, Học hành gái cũng như trường con trai

Mặt hoa da tuyết chen vai, Cao minh nào kém chi tài tu mi(24)

Bể Đông nước Nhật ngày ni, Duy Tân tiến bộ một thì rất mau

Phong trào say đắm phái Âu, Phú cường kĩ xảo năm châu tiếng lừng

Cũng vì giáo dục chấn hưng, Học đường khắp nước như rừng thịnh sao

Trang 31

Gái sinh mấy tuổi nhà nao, Đến năm lên sáu bắt vào học ban

Sinh đồ lũ lượt chan chan, Tản đi như nước hợp đàn như mây

Việc văn sánh với bên Tây, Không ai chẳng học xem rày cạnh tranh Nước Nam ta cõi ly minh(25),

Rồng tiên nữ tú nam thanh giống nhà Phiên dao văn hiến Trung Hoa, Thư hương một mạch sắc da cũng loài Những chăm học chỉ bên trai, Chẳng cần bề gái nỡ hoài đẩy đi

Rằng học cũng chẳng làm chi, Đến nhà khuê các Lễ Thi cũng nhầm Hoạ chăng gia huấn minh tâm, Đọc ngâm vài quyển vịnh ngâm mấy bài Trai tuy kinh sử dùi mài,

Tưởng mong cực điểm ắt ngoài khoa danh Còn dư thôn dã thị thành,

Tính so thức tự trăm thành vài phân(26) Ước mười mấy triệu quốc dân, Ngu gần hèn yếu, khôn gần điêu ngoan Tổng coi xã hội nhân đoàn,

Rượu trà cờ bạc bạn gian chơi bời

Thông minh chính trực có người, Chẳng qua trăm một ngàn mười thế thôi

Trang 32

Gái thì bỉ lậu hẹp hòi, Xướng tuỳ cần kiệm ỷ noi thói lề

Phố phường cho đến nhà quê, Cốt chăm buôn bán với nghề làm ăn

Quê càng cục súc tham thần, Thân hình nhem nhuốc, áo quần tả tơi

Ai không đạp đất đội trời, Gái bề trai vẫn cả đời kém thua

Đền chừng những sự tranh đua, Ghen tuông chửi ví chanh chua thề nguyền

Ai mà trinh tín thảo hiền, Tính người cũng tại tự nhiên thiên thành

Ai mà tài cán tinh nhanh, Chồng con no ấm gia đình vẻ vang

Những không học thức mở mang, Nông bên tư tưởng hẹp đường kinh doanh

Ví nay các nước văn minh,

Ta còn trình độ thanh danh kém nhiều

Gặp sinh đời thịnh hi triều(27), Bang giao Đại Pháp vì yêu có lòng

Ngày càng bảo hộ gia công, Rộng khơi thuỷ lục giao thông xa thuyền

Khéo khơi hoá lộ tài nguyên, Công thương tiện lợi bạc tiền thêm gia

Sửa sang rộng rãi thực thà,

Mà chưng văn học lại là chăm hơn

Trang 33

Học trường thêm dựng rộng ơn, Nức lòng trai gái nhiên nhiên học hành Tính ngay một xứ Hà thành, Các trường kể nữ học sinh mấy ngàn Hải Nam cũng đã rộng màn, Lại đem khai hoá Bắc san dần dần

Học thì chẳng những học văn,

Nữ công vả mới di luân cũng tường Được nhờ nhà nước khuyếch trương, Muốn dòng khăn yếm ngang hàng cân đai Chỉn hiềm tư cách kém trai,

Mà đương phong khí sơ khai còn chày Lại lo khó được điều hay,

Mà điều dở dễ hoá ngay thêm càng Chỉ chăm phấn sức điểm trang, Gấm là trắng luốt bạc vàng dòng gia

Ấy là sang trọng vinh hoa,

Ấy là đài các ấy loài phong lưu

Giai nhân nào phải thế đâu, Cốt chưng lấy đức làm đầu mới công Mạn tàng vả lại dã dong(28), Phòng khi dâm đạo tệ phong lưu hành Hồng nhan như mã mong manh, Thứ công tử bột các anh khác gì

Vả xem tính chất nữ nhi, Sáng khôn thì ít, ngu ngây thì nhiều

Trang 34

Lại hay thiên chấp những điều, Lại thường tự hoại tự liều đến thân

Còn nhà bách tính thứ dân, Lắm người cùng khổ nhiều phần xót xa

Những phiền vì nỗi thất gia, Ngờ đâu sự học biết là làm sao

Mặt trời soi sáng từ cao, Bóng dương chưa dễ thấu vào hang sâu

Gió xuân mưa hoá nhiệm mầu, Chốn cùng hang thẳm cũng lâu thấm nhuần

Mừng may bốn bể Bắc lân(29), Bình hoà sắp thấy chuyển vần hội nay

Lang Sa quí quốc giàu thay,

Đã hay bênh vực lại hay giữ giàng

Giang sơn mong mới vững vàng, Sinh linh mong cả giàu sang vui lời

Người muôn nhà đủ nơi nơi,

Đã giàu mà dạy thế thì dễ ru

Thảo lư tài thức thiển vu(30), Tấm thành trộm hiến gia du miếu đường(31) Nghĩ làm khuyên giới mấy chương, Gọi Tân nữ huấn lời thường quốc âm

Điệu vần để tiện ca ngâm, Nhẽ cầu châm chước cổ kim đương vừa

Xem qua Nữ tắc thuở xưa, Những điều dạy bảo ngăn ngừa xiết bao

Trang 35

Nào là phận gái làm sao, Nào là bề gái thế nào vân vân

Kể đà tường tận cho thuần, Mười phần trân trọng mười phần đinh ninh Song le phù ức quá tình,

Xét so cái nhẽ công bình chẳng cân

Quá chừng bó buộc cấm ngăn, Quá chừng bức bối lần chần khó theo

Nghĩ nên tổn ích ít nhiều, Bắt câu tiểu kỉ lấy điều đại cương

Lại tham Âu Mĩ liệt cường, Dựng tiêu khuê khổn(32) treo gương thoa quần

Trang 36

Tiết đệ nhất: Nói học

Làm người muốn được thành nhân, Trước nên sự học ấy cần lắm thay

Gì bằng có chữ là hay, Năm lên bảy tám vào ngay giáo trường

Âu văn Hán tự so lường, Tuỳ tâm tuỳ lực đôi đường cũng xong

Cho con đi học có công, Thời con ắt phải có lòng siêng năng

Chị em mong được cho bằng, Không theo lũ trẻ nhung nhăng nhăn đùa

Sách vở giấy bút nài mua, Cơm ăn áo mặc bốn mùa mẹ cha

Sự nhà cửa nỗi gần xa, Hãy còn thơ bé chưa là lo âu

Tháng ngày có đợi ta đâu, Nhỏ mà chẳng học rồi sau nữa hoài

Chính nên cố gắng dùi mài, Chớ nay xin phép mà mai hẹn lần

Nữ công kim chỉ thì thân, Áng trai đánh bóng đánh quần lảng đi

Mượn ai bằng có sách gì, Xem xong đem giả y kì hẳn hoi

Lươm bươm rách nát khó coi, Lại như để mới người đòi làm thinh

Trang 37

Hoặc của người nhận của mình,

Ấy là vô hạnh vô tình khả chê

Chữ là toạ vật tinh hoa, Văn thư kính cẩn giấy lề tiếc yêu

Chớ nên ô uế phí phao,

Hễ trong sĩ hạnh lục vào âm công(33) Thánh nhân báo mộng vương công, Giáng sinh văn chính ấy ông Tăng hiền(34) Học không thông miệng hư truyền, Nghĩa là bắt chước quyền quyền mới hay Người hay sự tốt xưa nay,

Nói hay nết tốt ta liền phục ưng

Ăn chơi những chuyện dửng dưng, Phong tình tiểu thuyết cũng đừng xem mê Bạn hiền chẳng cậy chẳng nề,

Trang 38

Dẫu rằng ăn mặc loàng xoàng,

Tư dung họ phải son vàng mới hay

Học cho giỏi nết cho ngay, Bằng lòng cha mẹ mà thầy cũng vinh

Vừa nay đương độ thanh xuân, Chỉn mong tiến tới thành danh có ngày

Ấy là học chữ đã hay, Cốt trưng minh lí(35) gốc này tu thân

Trang 39

Tiết thứ hai: Nói tu thân mà trước chính tâm

Cái thân bảo trọng trăm phần, Muôn vàng chưa dễ mấy phần đổi thay

Có mệnh phải tu cho hay, Sửa mình ắt lấy lòng ngay làm đầu

Chẳng là uốn nắn cưỡng đâu, Lương tâm nguyên tự cơ mầu thiên sinh(36)

Ở trong một tấm hư linh(37),

Mà ngoài vạn trạng thiên hình hoá ra

Nhỏ vừa một tấc chẳng qua, Lớn thì vũ trụ bao la không cùng

Khác nào một mảnh gương trong, Bụi dơ phất rửa lại không tối nhoà

Y như kim chỉ nam xa, Cũng như tiêu chính ấy là bóng theo(38)

Cứ ngay ngắn chớ quăn que, Vội vàng biến cố hiểm nguy chẳng dời

Hoặc mà sợ hãi ưu nghi(39), Ghét yêu mừng giận lòng ni không tà

Ngũ thường cũng ở lòng ta,

Mà trăm đức hạnh cũng là đấy thôi

Lòng người cốt trước nhân nghì, Trí tín cùng với lễ nghi đó mà

Lượng khoan dung dạ xót xa, Chẳng làm mỗi ác ấy là chữ nhân

Trang 40

Nghĩa là sự lí cho phân,

Có điều khảng khái có phần kích dương(40)

Lễ thì phép tắc tốn nhường, Chẳng làm ngỗ nghịch hoành cường hung hăng Trí thì biện biệt phải chăng,

Băng hồ trong sánh thu trăng rạng cùng

Thực tin ngay thẳng một lòng,

Ấy là chữ tín hoà trong ngũ hành(41) Chân nguyên thuần tuý tinh anh, Chẳng chia trai gái rành rành ấy nao

Chính lòng vậy sửa mình sao, Sửa thì những sự thế nào ấy vay

Ngày đăng: 14/12/2022, 22:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w