Tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tôn giáo.” Theo Ngô Đức Thịnh thì: “Tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
_
VĂN HÓA VIỆT NAM
(Học kỳ I nhóm 2, năm học 2021 – 2022)
Đề bài: TÍN NGƯỠNG VĂN HÓA DÂN GIAN VIỆT NAM – NHẬT BẢN
SINH VIÊN THỰC HIỆN:
1 Vũ Thị Ngọc Quỳnh A39652
2 Triệu Thị Tuyển A39653
3 Lê Thị Quỳnh A39894
4 Ngô Thu Hà A39950
5 Vũ Thị Phương Thảo A39978 Giảng viên hướng dẫn: TS Trần Tiến Khôi
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN 3
CHƯƠNG II: TÍN NGƯỠNG VĂN HÓA VIỆT NAM 4
2.1 Tín ngưỡng phồn thực 4
2.1.1 Nguồn gốc 4
2.1.2 Biểu hiện 4
2.2.3 Ý nghĩa 5
2.2 Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên 5
2.2.1 Nguồn gốc 5
2.2.2 Biểu hiện 5
2.2.3 Ý nghĩa 7
2.3 Tín ngưỡng sùng bái con người 7
2.3.1 Nguồn gốc chung 7
2.3.2 Biểu hiện 7
CHƯƠNG 3: TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN NHẬT BẢN 9
3.1.Thờ nhân thần 9
3.1.1 Thờ cúng Tổ tiên 9
3.1.2 Thất Phúc Thần 9
3.2 Thờ tự nhiên thần 11
3.2.1 Nữ Thần Amaterasu 11
3.2.2 Thần Fujin và Raijin 11
3.3 Thờ sinh vật 11
3.4 Tín ngưỡng phồn thực 12
3.5 Lễ chùa đầu năm Hatsumode 13
3.6 Nghi lễ cầu mùa màng bội thu ở Nhật Bản 13
3.6.1 Lễ hội cấy lúa ở Mibu - tỉnh Hiroshima 13
3.6.2 Lễ hội Zuiki Matsuri 14
CHƯƠNG 4: SO SÁNH TÍN NGƯỠNG VĂN HÓA DÂN GIAN VIỆT NAM - NHẬT BẢN 14
4.1 Điểm tương đồng giữa hai quốc gia Việt Nam - Nhật Bản 14
4.2 Điểm khác biệt giữa hai quốc gia Việt Nam - Nhật Bản 15
4.2.1 Thờ cúng Tổ tiên 15
4.2.2 Hình tượng Nữ thần 15
Trang 34.2.3 Niềm tin về tín ngưỡng 16
4.2.4 Kết luận 17
CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN
Theo định nghĩa của Bách Khoa Tự Điển Toàn thư mở Wikipedia thì: “Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới
và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng Tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo Điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo ở chỗ, tín ngưỡng mang tính dân tộc, dân gian nhiều hơn tôn giáo; tín ngưỡng có tổ chức không chặt chẽ như tôn giáo Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có một số đặc điểm chung còn tôn giáo thì thường là không mang tính dân gian Tín ngưỡng không có một hệ thống điều hành và tổ chức như tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc Tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tôn giáo.”
Theo Ngô Đức Thịnh thì: “Tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây là niềm tin của tín ngưỡng là niềm tin vào “cái thiêng” Do vậy, niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng như giống đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm ”
Theo Trần Ngọc Thêm thì: “Tổ chức đời sống cá nhân là bộ phận thứ hai trong văn hóa tổ chức cộng đồng Đời sống mỗi cá nhân trong cộng đồng được tổ chức theo những tập tục được lan truyền từ đời này sang đời khác (phong tục) Khi đời sống và trình độ hiểu biết còn thấp, họ tin tưởng và ngưỡng mộ vào những thần thánh do họ tưởng tượng ra (tín ngưỡng) Tín ngưỡng cũng là một hình thức tổ chức đời sống cá nhân rất quan trọng Từ
tự phát lên tự giác theo con đường quy phạm hóa thành giáo lý, có giáo chủ, thánh đường… tín ngưỡng trở thành tôn giáo Ở xã hội Việt Nam cổ truyền, các tín ngưỡng dân gian chưa chuyển được thành tôn giáo theo đúng nghĩa của nó - mới có những mầm mống của những tôn giáo như thế - đó là Ông
Bà, đạo Mẫu Phải đợi khi các tôn giáo thế giới như Phật, Đạo, Kitô giáo…
đã được du nhập và đến thời điểm giao lưu với phương Tây, các tôn giáo dân tộc như: Cao Đài, Hòa Hảo mới xuất hiện”
Trang 4 Kết luận: Như vậy có thể xem tín ngưỡng là một hệ thống niềm tin vào những điều siêu nhiên và có thể phát triển để trở thành tôn giáo Tuy nhiên cần phân biệt giữa tín ngưỡng, tôn giáo và mê tín dị đoan
CHƯƠNG II: TÍN NGƯỠNG VĂN HÓA VIỆT NAM
2.1 Tín ngưỡng phồn thực
2.1.1 Nguồn gốc
Ngay từ đầu, duy trì và phát triển sự sống là một nhu cầu thiết yếu nhất của con người nhất là lối văn hóa nông nghiệp Để duy trì sự sống cần mùa màng tươi tốt, để phát triển sự sống cần con người sinh sôi Từ thực tiễn đó, tư duy cư dân nông nghiệp Nam - Á đã phát triển theo 2 hướng Những trí tuệ sắc sảo đi tìm quy luật khách quan để lý giải hiện thực - triết lý âm dương Còn những người có trình
độ hạn chế thì nhìn thấy ở hiện thực một sức mạnh siêu nhiên, bởi vậy mà sung bái
nó như thần thánh, kết quả là xuất hiện tín ngưỡng phồn thực (Phồn = nhiều, thực = nảy nở)
2.1.2 Biểu hiện
Ở Việt Nam, tín ngưỡng phồn thực từng tồn tại suốt chiều dài lịch sử với hai dạng biểu hiện thờ cơ quan sinh dục và thờ hành vi giao phối
Thờ cơ quan sinh dục: Việc thờ cơ quan sinh dục nam nữ được gọi là thờ sinh thực khí ( sinh = đẻ, thực = nảy nở, khí = công cụ ) Đây là hình thái đơn giản của Tín ngưỡng phồn thực, phổ biến ở các nền văn hóa nông nghiệp Tượng đá hình nam nữ với bộ phận sinh dục phóng to hàng nghìn năm TCN được tìm thấy ở Văn Điển, Sa Pa
Ở các nhà mồ Tây Nguyên thường có các tượng người với bộ phận sinh dục phóng to
Ở Phú Thọ, Hà Tĩnh và nhiều nơi khác có tục thờ cúng nõ nường (nõ = cái nêm tượng trưng cho sinh thực khí nam; nường - nang, mo nang tượng trưng cho sinh thực khí nữ)
Ở hội làng Đồng Kỵ (Bắc Ninh) có tục rước sinh thực khí bằng gỗ rồi đem đốt thành tro chia cho mọi người đem rắc ra ruộng
Ở Phú Thọ, Bắc Ninh, Hà Tây thường có tục rước 18 bộ sinh thực khí vào hội làng Khi đám rước kết thúc, mọi người tranh nhau cướp vì tin rằng sẽ đem lại may mắn
Trang 5 Ở chùa Dạm ( Bắc Ninh ) có 1 cột đá hình sinh thực khí nam có chạm nổi hình rồng thời Lý Ngư phủ ở Sở đầm Hòn Đỏ thờ 1 kẽ nứt trên tảng
đá gọi là Lỗ Lường
Thờ hành vi giao phối: Bên cạnh việc thờ sinh thực khí, cư dân trồng lúa nước với lối tư duy coi trọng quan hệ còn có tục thờ hành vi giao phối, tạo nên 1 dạng tín ngưỡng phồn thực độc đáo, phổ biến ở khu vực Đông Nam Á
Trên nắp thạp đồng tìm được ở làng Đào Thịnh, xung quanh hình mặt trời là tượng 4 đôi nam nữ đang giao phối Ở chân thạp đồng khắc hình những con thuyền nối đuôi nhau khiến cho 2 con cá sấu - rồng chạm nhau trong tư thế giao hoan
Ở các nhà mồ Tây Nguyên dựng những tượng nam nữ giao phối hình chim thú, cóc giao phối tìm thấy khắp nơi Vào lễ hội đền Hùng, thanh niên nam nữ múa từng đôi, tay cầm vật biểu trưng cho sinh thực khí
Ở sở đầm Hòn Đỏ, khi không đánh được cá, người cầm đầu tới cầu xin
và cầm vật tượng trưng cho sinh thực khí nam rồi đâm vào Lỗ Lường 3 lần Chày và cối là bộ công cụ tượng trưng cho sinh thực khí nam và
nữ, còn việc giã gạo là tượng trưng cho hành động giao phối Trên các trống đồng khắc rất nhiều hình nam nữ giã gạo từng đôi
2.2.3 Ý nghĩa
Vai trò của Tín ngưỡng Phồn thực trong đời sống người Việt cổ lớn tới mức chiếc trống đồng - biểu tượng sức mạnh và quyền lực của người xưa Đồng thời cũng là biểu tượng toàn diện của tín ngưỡng phồn thực Hình dáng trống đồng phát triển từ chiếc cối giã gạo Cách đánh trống mô phỏng động tác giã gạo Tâm mặt trống là hình mặt trời với những tia sáng biểu hiện cho sinh thực khí nam ở giữa các tia sáng là 1 hình lá với khe ở giữa biểu trưng cho sinh thực khí nữ - xung quanh mặt trống thường gắn các tượng cóc, cũng là 1 dạng biểu trưng của tín ngưỡng phồn thực Tiếng trống mô phỏng tiếng sấm, mang theo mùa mưa, mùa màng tốt tươi cũng mang ý nghĩa trên
2.2 Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
2.2.1 Nguồn gốc
Sùng bái tự nhiên là giai đoạn tất yếu trong quá trình phát triển của con người Với người Việt Nam sống bằng nghề nông nghiệp lúa nước, thì sự gắn bó, phụ thuộc với tự nhiên lại càng dài lâu và bền chặt Việc đồng thời phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau của tự nhiên dẫn đến hậu quả trong lĩnh vực tư duy là lối tư duy tổng hợp và trong lĩnh vực tín ngưỡng là tín ngưỡng đa thần, tính chất âm tính của văn hóa nông nghiệp dẫn đến hệ quả trong lĩnh vực quan hệ xã hội là lối sống
Trang 6thiên về tình cảm , trọng phụ nữ và trong lĩnh vực tín ngưỡng là tình trạng lan tràn các nữ thần Và vì cái đích mà người Việt Nam hướng tới là sự phồn thực cho nên
nữ thần của ta không phải là các cô gái trẻ đẹp mà là các Bà mẹ, các Mẫu
2.2.2 Biểu hiện
Thờ Bà Trời, Bà Đất, Bà Nước – những nữ thần cai quản các hiện tượng tự nhiên, quan trọng nhất, thiết thân nhất đối với cuộc sống của người làm nông nghiệp lúa nước Về sau, tuy do ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa gốc du mục nên có thêm Ngọc Hoàng, Thổ Công, Hà Bá, Tuy nhiên các bà vẫn song song tồn tại
Bà trời Mẫu Thượng Thiên (còn gọi là Mẫu Cửu Trùng hay Cửu Thiên Huyền Nữ, ở Huế là Thiên Mụ, Thiên Yana) Nhiều nhà, ở góc sân vẫn
có một bàn thờ lộ thiên gọi là bàn thờ Bà Thiên (hay bà Thiên Đài)
Bà Đất tồn tại dưới tên mẹ Đất Bà Đất còn tồn tại dưới tên gọi Mẹ Đất (Địa Mẫu)
Bà nước dưới tên gọi bà thủy Bà Nước Có nơi Bà Nước tồn tại dưới dạng nữ thần khu vực như Bà Chúa Xứ, Bà Chúa Sông, Bà Chúa Lạch
Ba bà này tồn tại dưới dạng tín ngưỡng Tam Phủ
Tiếp theo Trời- Đất- Nước là các bà Mây - Mưa - Sấm - Chớp - những hiện tượng tự nhiên có vai trò hết sức to lớn trong cuộc sống của cư dân nông nghiệp lúa nước Đến khi đạo Phật vào Việt nam, nhóm nữ thần Mây - Mưa
- Sấm - Chớp này được nhào nặn thành hệ thống Tứ Pháp: Pháp Vân (thần Mây) thờ ở chùa Bà Dâu, Pháp Vũ (thần mưa) thờ ở chùa Bà Đậu, Pháp Lôi (Thần Sấm) thờ ở chùa Bà Tướng, Pháp Điện (Thần Chớp ) thờ ở chùa Bà Dàn Lòng tin của nhân dân vào hệ thống Tứ Pháp mạnh đến nỗi vào thời
Lý, nhiều lần triều đình đã phải rước tượng Pháp Vân về Thăng Long cầu đảo, thậm chí rước theo đoàn quân đi đánh giặc
Người Việt còn thờ các hiện tượng tự nhiên khái quát như không gian và thời gian Thần không gian được hình dung theo nguyên lý Ngũ Hành Nương Nương Ngũ Phương chi thần coi sóc trung ương và bốn hướng; Ngũ Đạo chi thần trông coi các ngả đường Theo địa chỉ, người ta thờ thần thời gian là Thập Nhị Hành Khiển (12 vị thần, mỗi vị coi sóc một năm theo
Tí, Sửu, Dần, Mão, ) Thời gian kéo dài, bảo tồn sự sống vô tận nên 12 nữ thần này đồng thời có trách nhiệm coi sóc việc sinh nở – đó là Mười Hai Bà Mụ
Trong mảng tín ngưỡng sùng bái giới tự nhiên còn có việc Thờ Động vật: Chim, rắn, cá sấu chính là những loài phổ biến hơn cả ở vùng sông nước, và
do vậy, thuộc loại động vật được sùng bái hàng đầu Người Việt có câu: nhất điểu, nhì xà, tam ngư, tứ tượng Thiên hướng nghệ thuật của loại hình
Trang 7văn hóa nông nghiệp còn đẩy các con vật này lên mức biểu trưng: Tiên, Rồng Theo truyền thuyết thì tổ tiên người Việt thuộc “họ Hồng Bàng” và là
“giống Rồng Tiên” Thực vật thì được tôn sùng nhất là cây Lúa: khắp nơi
dù là vùng người Việt hay vùng các dân tộc – đều có tín ngưỡng thờ Thần
Thờ Thực vật: tôn sùng nhất là cây Lúa: Khắp nơi – dù là vùng người Việt hay vùng các dân tộc – đều có tín ngưỡng thờ Thần Lúa, Hồn Lúa, Mẹ Lúa, Thứ đến các loài cây xuất hiện sớm ở vùng này như cây Cau, cây
Đa, cây Dâu, quả Bầu,
2.2.3 Ý nghĩa
Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên là một tín ngưỡng dân gian thuần Việt, có lịch
sử lâu đời của người Việt, biến chuyển thích ứng với sự thay đổi của xã hội Tín ngưỡng thờ Mẫu hướng đến cuộc sống thực tại của con người với ước vọng sức khỏe, tài lộc, may mắn, là một nhu cầu trong đời sống tâm linh của người Việt, mang lại cho họ sức mạnh, niềm tin và có sức thu hút mọi tầng lớp trong xã hội Tâm là giá trị cốt lõi của tín ngưỡng thờ Mẫu Mẫu dạy con người sống hướng thiện, có cái tâm trong sáng, biết đối nhân xử thế, thờ phụng ông bà tổ tiên và biết
ơn những người có công với dân, với nước
2.3 Tín ngưỡng sùng bái con người
2.3.1 Nguồn gốc chung
Con người có cái vật chất và tinh thần, cái tinh thần là cái khó nắm bắt và được trừu tượng hóa, thần thánh hóa gọi là "linh hồn", và linh hồn trở thành đầu mối của tín ngưỡng Người Việt và một vài dân tộc Đông Nam Á đã chia linh hồn thành hồn và vía Có ba hồn là tinh, khí, thần Đàn ông có bảy vía là bảy lỗ trên mặt: hai tai , hai mắt, hai lỗ mũi, hai cái miệng Đàn bà có chín vía: giống đàn ông
và có thêm chỗ sinh sản và chỗ cho con bú Hồn và vía giải thích các hiện tượng như trẻ con hay đau ốm, ngủ mê, ngất, chết Vía phụ thuộc vào thể xác: có người lành vía, dữ vía, yếu vía, nặng vía, độc vía, vía nặng, vía nhẹ Khi gặp phải độc vía nếu chạm vía phải đốt vía, trừ vía, giải vía Hồn độc lập với thể xác (hồn người này
có thể nhập vào xác của người khác)
2.3.2 Biểu hiện
Thờ cúng tổ tiên: Khi chết thì cả vía và hồn đều lìa khỏi xác mà đi Xác mất
đi nhưng linh hồn vẫn còn tồn tại và phù hộ độ trì cho con cháu từ đó có tục thờ cúng tổ tiên
Nghĩa hẹp: Là sự thờ cúng cha, mẹ, ông, bà, tổ tiên (những người đã chết ) cùng huyết thống, những người có công sinh thành và nuôi dưỡng con cháu
Trang 8 Nghĩa rộng: không chỉ trong phạm vi huyết thống từ gia đình đến họ tộc mà con người còn mở rộng ra cả tổ tiên làng xã và đất nước
Nguồn gốc của thờ cúng tổ tiên: Là đặc trưng của thời kì lịch sử ở chế
độ thị tộc phụ quyền Gắn với sự tồn tại của linh hồn con người sau khi mất Coi tổ tiên là động vật, thực vật, sự vật đến việc thừa nhận tổ tiên đích thực của con người là sản phẩm của sự kết hợp giữa 3 yếu tố cơ bản
ý thức về linh hồn bất tử, tổ tiên Tôn Ten, tổ tiên của con người và ý nghĩa là sự che chở cho gia đình
Biểu hiện của thờ cúng tổ tiên: Mang sắc thái riêng so với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Hán, nó ăn sâu vào tâm linh của người Việt
Có tính lịch sử, sức sống lâu bền, mang tính phổ quát Thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam thể hiện 3 cấp độ: gia đình, làng xã và quốc gia Thờ vua - thần vừa mang tính huyết thống vừa mang tính xã hội Ý nghĩa của thờ cúng
tổ tiên: vừa đáp ứng nhu cầu tâm linh, vừa thể hiện đạo lý làm người
Trong gia đình, ngoài thờ tổ tiên, người Việt Nam còn thờ Thổ Công - một dạng mẹ đất Là vị thần coi gia cư, định đoạt phúc họa cho một gia đình Sống ở đâu thì Thổ Công ở đó: "đất có Thổ Công, sông có Hà Bá" Mối quan hệ giữa Thổ Công và ông bà tổ tiên trong gia đình rất thú vị: Thổ Công định đoạt phúc họa cho cả nhà nên là vị thần quan trọng nhất, nhưng ông bà sinh thành ra gia đình nên được tôn kính nhất Để không làm mất lòng ai, người Việt xếp cho ông, bà tổ tiên ngự tại bàn thờ tôn kính nhất -gian giữa, Thổ Công thì -gian bên trái
Trong phạm vi thôn xã thì quan trọng nhất là thờ Thành Hoàng, trong một ngôi làng thì Thành Hoàng là một vị thần cai quản, che chở, định đoạt phúc họa cho dân làng đó Không làng nào là không có Thành Hoàng Cái lệ làng quan trọng đến mức vua Lê Thánh Tông sai triều đình sưu tầm và biên soạn
ra thần tích của Thành Hoàng các làng để vua ban sắc phong trần Đó thể là thiên thần, nhiên thần hay nhân thần và cũng có khi là người có công lập ra làng xã hoặc là những người chết bất đắc kỳ tử Có ý nghĩa: là công cụ tinh thần biểu hiện quyền uy tối thượng của nhà vua Là một loại tín ngưỡng đặc sắc nhất, phản ánh rõ đời sống hiện thực của cộng đồng làng, xã Là bộ sưu tập văn hóa thể hiện chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc vậy nên cần khuyến khích những yếu tố tích cực, định hướng vào việc bồi dưỡng tình cảm trong sáng, lành mạnh của con người
Tín ngưỡng thờ quốc tổ và quốc mẫu: mảnh đất Phong Châu (Phú Thọ) ở
đó có đền thờ các vua hùng trên núi Hy Cương và đền thờ Âu Cơ
Trong nhà thờ gia tiên, trong làng thờ Thành Hoàng, thì trong nước người Việt Nam thờ vua tổ- vua Hùng Người Việt Nam còn có một tín ngưỡng
Trang 9đặc biệt là thờ cúng Tứ bất tử: Thánh Gióng, Tản Viên, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh Như vậy, tục thờ Tứ bất tử là một giá trị văn hóa tinh thần rất đẹp của dân tộc ta, đó là đặc trưng được chắc lọc trong suốt chiều dài lịch sử biểu trưng cho sức mạnh của cộng đồng, để làm ruộng và đánh giặc, cho khát vọng xây dựng một cuộc sống vật chất phồn vinh và tinh thần hạnh phúc
CHƯƠNG 3: TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN NHẬT BẢN
3.1.Thờ nhân thần
3.1.1 Thờ cúng Tổ tiên
(際_sai) dùng để chỉ toàn bộ các nghi thức thờ cúng tổ tiên của người Nhật
Trong nhà của người Nhật thông thường có một gian Butsudan, ở đó người Nhật còn đặt bàn thờ để thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ, những người đã khuất có cùng quan hệ huyết thống
Gia đình cử tang cho người đã mất trong vòng 49 ngày và sau đó người chết được xem là đã về với linh hồn tổ tiên khác
Từ đó người ta làm lễ giỗ hàng năm cho đến lần giỗ thứ 33 thì kết thúc
Những thời điểm thờ cúng Tổ tiên:
Ngày giỗ: có thể làm tại nhà hoặc ở chùa
Ngày Tết: đêm giao thừa người ta chuẩn bị 1 mâm cỗ thịnh soạn
Lễ hội Obon: Khoảng thời gian từ 13-15/7 âm lịch
Ngoài ra: viếng mộ và lãm lễ cúng linh hồn Tổ tiên vào các ngày Xuân phân 21/3 và Thu phân 23/9
Bàn thờ Butsudan (Bàn thờ Phật ở tư gia)
Thờ Phật, ông bà
Khám nhỏ có cửa mở đóng
Sơn màu đen chạy chỉ, hoa văn nhũ vàng
Giữa: tranh tượng Phật
Bên cạnh: bài vị thờ tổ tiên để tên thụy, pháp danh
2 chén cơm nén, 1 trong 2 chén cắm đôi đũa
Cúng: bánh trai và rau, trừ cá thịt
Không dùng miệng thổi tắt nến mà dùng tay hay quạt tay
3.1.2 Thất Phúc Thần
Trang 10Thất Phúc Thần (七福神- Shichifukujin): Là bảy vị thần may mắn trong thần thoại và văn hóa dân gian Nhật Bản Mỗi vị thần đều mang một ý nghĩa khác nhau Thất Phúc Thần được cho là xuất hiện sau thời Chiến quốc (bắt đầu từ giữa thế kỷ
15 đến giữa thế kỷ 16) để thể hiện mong ước thái bình của dân chúng Theo người Nhật, các vị thần tiên này sẽ xuống trần vào đêm giao thừa và ở lại trong 3 ngày đầu năm mới Người ta thường mô tả Thất phúc thần cùng đi trên một chiếc thuyền chất đầy châu báu gọi là "Takarabune" (Bảo thuyền) Thất Phúc Thần sẽ ghé thăm các khu làng vào dịp Tết đến và phát quà cho những người xứng đáng Trẻ con thì được nhận lì xì có trang trí hình chiếc thuyền Takarabune Vì thế, để đem lại điều tốt lành, người lớn thường tặng cho trẻ em những bức tranh vẽ hoặc phong bao lì xì có hình bảy vị thần ngồi trên thuyền.Thất Phúc Thần bao gồm 6 nam thần và 1 nữ thần Trong đó:
+ Daikokuten (大黒天 ): hiện thân của thần Ấn Độ Mahakala Đây là vị thần của sự giàu có, đại diện cho nông nghiệp và vụ mùa bội thu Daikokuten cũng là vị thần đứng đầu trong Thất Phúc Thần Tay phải mang theo cây búa của sự giàu có, có thể ban điều ước Trên vai mang một túi báu vật lớn Thần Daikokuten có nước da ngăm đen, thường đứng hoặc ngồi trên hai bao gạo
+ Thần Hotei (布袋): là hiện thân của Phật Di Lặc, ông luôn mang bên mình cái túi to, nên được gọi là Bố Đại Ông là vị thần của tài sản, vận mệnh gia đình, hòa bình và yên ổn, bất lão và trường thọ
+ Juroujin (寿老人): đây là vị thần xuất hiện với bộ râu tóc trắng, tay chống trượng, tay ôm trái đào Đây là vị thần mang lại sự trường thọ
+ Fukurokuju ( 福 禄 寿 ): tên của vị thần này được ghép từ "fuku" - hạnh phúc, "roku" - giàu có và "ju" - trường thọ Thần Fukurokuju là vị thần của trí tuệ, hạnh phúc, phú quý và trường thọ
+ Bishamonten (毘沙門天): thần Bishamon được du nhập từ văn hóa Ấn Độ,
là thần chiến tranh và tượng trưng cho chính nghĩa Ông mặc áo giáp, tay cầm vũ khí và một ngọn tháp thu nhỏ Đây là ngọn tháp của cải mà ông đi ban phát cho con người
+ Benzaiten (弁才天/弁財天 ): đây là vị nữ thần duy nhất trong Thất Phúc Thần Bà là hiện thân của thần Ấn Độ Saraswati, đại diện cho tri thức, nghệ thuật và sắc đẹp Thần Benzaiten thường gắn liền với biển và thường được
mô tả với dáng vẻ đang cưỡi trên hoặc đi cùng một con rồng biển Trong một
số truyền thuyết, bà kết hôn với một con rồng biển, cứu lấy hòn đảo