Lợi ích về tài sản: Lợi ích về tài sản mà các chủ thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình đạt được có thể là tài sản trong khối tài sản chung của vợ chồng; khoản tiền cấp dưỡng
Trang 1CHƯƠNG I.
KHÁI NIỆM VÀ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT HNGĐ
I Khái niệm, đặc điểm của hôn nhân.
1 Khái niệm:
- Hôn nhân là quan hệ vợ chồng được xác lập sau khi kết hôn
- Hôn nhân là sự liên kết giữa 2 người khác giới tính
- Hôn nhân dựa trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và bình đẳng
- Mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình
2.2 Các chức năng cơ bản của gia đình
Chức năng sinh đẻ (sinh sản)
Gia đình là một hình thức tổ chức đời sống chung của xã hội loài người mà trong đódiễn ra quá trình tái sản xuất sinh học nhằm duy trì và phát triển nòi giống
Chức năng giáo dục
Gia đình thực hiện chức năng giáo dục đối với các thế hệ kế tiếp bắt đầu từ khi mỗithành viên được sinh ra cho đến khi trưởng thành và thậm chí cho đến suốt đời Giáodục trong gia đình có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách
cá nhân, cần kết họp giữa giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường và giáo dục ngoàicộng đồng trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ
Chức năng kinh tế
Mỗi gia đình phải tự tổ chức đời sống vật chất của các thành viên trong gia đình, thỏamãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên đó Trong điều kiện phúclợi xã hội của quốc gia còn hạn chế thì việc thực hiện chức năng kinh tế của gia đìnhrất có ý nghĩa trong việc đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân
3 Khái niệm Luật HNGĐ Việt Nam.
3.1 Khái niệm:
Trang 2Khái niệm luật hôn nhân và gia đình có thể được hiểu đơn giản là hệ thống quy tắc
ứng xử được pháp luật ban hành nhằm điều chỉnh mối quan hệ trong gia đình sao chophù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội
3.2 Đối tượng điều chỉnh, đặc điểm của luật HNGĐ.
Đối tượng điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam là các quan hệ xã hộiphát sinh trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, cụ thể là các quan hệ về nhân thân vàquan hệ về tài sản phát sinh giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và các con, giữa nhữngngười thân thích ruột thịt khác
3.3 Phương pháp điều chỉnh.
Phương pháp điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình là những biện pháp, cách thứctác động của các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình tới các quan hệ xã hộithuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình phù hợp với ý chí của Nhà
4.2 Các nguyên tắc cơ bản
4.2.1 Nguyên tắc HN tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng.Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ được hiểu là mỗi bên nam nữ được tự mình quyết địnhviệc kết hôn Mọi hành vi cưỡng ép két hôn, lừa dối để kết hôn, cản trở việc kết hôn tựnguyện, tiến bộ đều bị coi là vi phạm pháp luật Khi vợ chồng đang chung sống hòathuận, hạnh phúc thì không ai có thể buộc họ ly hôn Nhưng khi cuộc sống chung của
vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và bản thân vợ, chồng mong muốn được chấm dứt cuộcsống chung thì họ có quyền yêu cầu ly hôn Việc kết hôn dựa trên cơ sở tình yêu giữanam và nữ, việc ly hôn dựa trên thực chất quan hệ vợ chồng không thể tiếp tục tồn tại.4.2.2 Nguyên tắc không phân biệt đối xử trong hôn nhân
4.2.3 Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của cha, mẹ con và các thành viên khác trong gia đình, nhằm XD gia đình ấm no, hạnh phúc, tiến bộ
4.2.4 Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, quyềnlợi của bà mẹ và trẻ em
Trên cơ sở Hiến pháp, Luật Hôn nhân và gia đình quy định cha mẹ có nghĩa vụ nuôidạy con; con cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng ông bà, cha mẹ; cácthành viên khác trong gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau
Trang 3Đe bảo vệ quyền lợi của con, Luật Hôn nhân và gia đình quy định các nghĩa vụ củacha mẹ đối với con và khẳng định quyền bình đẳng giữa con trai, con gái, con đẻ, connuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú.
Để bảo vệ quyền lợi của cha mẹ và các thành viên khác trong gia đình, đảm bảo chocha mẹ, ông bà được quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng khi tuổi già sức yếu, Luật Hônnhân và gia đình quy định các nghĩa vụ của con, cháu đối với cha mẹ, công bà và củacác thành viên khác trong gia đình
Nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em được cụ thể hóa trong các chế định của Luật Hônnhân và gia đình như: Ket hôn; ly hôn; quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con; xácđịnh cha, mẹ, con; cấp dưỡng
4.2.5 Nguyên tắc thực hiện kế hoạch hoá gia đình
4.2.6 Nguyên tắc kế thừa, phát huy truyền thống văn hoá đạo đức tốt đẹp của VN vềHNGĐ
CHƯƠNG II QUAN HỆ PHÁP LUẬT HNGĐ
1 Khái niệm, đặc điểm của quan hệ pháp luật HNGĐ
Quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình có những đặc điểm cơ bản sau:
- Quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình thông thường chỉ phát sinh giữa các thànhviên gia đình với nhau và tồn tại trong một phạm vi hẹp là gia đình Vì vậy, các chủthể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình thông thường là thành viên của một giađình
- Quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình mang tồn tại lâu dài và bền vững, không thểxác định được thời hạn trước Trong một số trường hợp, quan hệ pháp luật hôn nhân vàgia đình tồn tại ngay cả khi hôn nhân hoặc gia đình không còn tồn tại
- Các chủ thể trong quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình gắn bó với nhau bởi yếu tốtình cảm hoặc huyết thống Trong phần lớn các trường hợp, yếu tố tình cảm hoặc huyếtthống quyết định việc phát sinh, thay đổi hay chẩm dứt quan hệ pháp luật hôn nhân vàgia đình
- Nội dung chính của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình là các quyền và nghĩa vụnhân thân Các quyền và nghĩa vụ tài sản luôn gắn liền với các quyền và nghĩa vụ nhânthân của các chủ thể mà không thể chuyển giao cho người khác Các quyền và nghĩa
Trang 4vụ tài sản phát sinh, tồn tại hay chấm dứt phụ thuộc vào các quyền và nghĩa vụ nhânthân.
- Quan hệ tài sản trong quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình không mang tính chấtđền bù và ngang giá Nghĩa vụ của các chủ thể đối với nhau không thể tính cân bằng.Khi một chủ thể thực hiện nghĩa vụ tài sản thì không phụ thuộc vào việc trước đây họ
có được hưởng quyền hay không hoặc được hưởng quyền như thế nào
- Các chủ thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình thông thường tự nguyện thựchiện các quyền và nghĩa vụ của mình Thông thường, các quy phạm pháp luật hồnnhân và gia đình không quy định biện pháp chế tài
2 Các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật HNGĐ.
2.1 Chủ thể.
- Chủ thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình là cá nhân tham gia vào quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình có quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định
- Chủ thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình có năng lực pháp luật và năng lực hành vi:
+ Năng lực pháp luật: là khả năng cá nhân có quyền và nghĩa vụ hôn nhân và gia đình, các quyền và nghĩa vụ
đó được Nhà nước công nhận và ghi nhận trong PL ( Các quyền và nghĩa vụ đó là: Quyền được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; quyền được xác định cha, mẹ, con; quyền được kết hôn; quyền được nhận con nuôi hoặc quyền được làm con nuôi; quyền ly hôn )
+ Năng lực hành vi: là khả năng bằng các hành vi của mình, chủ thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ hồn nhân
và gia đình đã được pháp luật quy định (Năng lực hành vi của chủ thể phụ thuộc rất lớn vào độ tuổi và khả năng nhận thức của chủ thể Khi chủ thệ đạt độ tuổi nhất định do pháp luật quy định và có khả năng nhận thức thì chủ thể đó có năng lực hành vi hôn nhân và gia đình, về nguyên tắc, độ tuổi có năng lực hành vi là tuổi thành niên Tuy nhiên, trong một số trường hợp pháp luật quy định độ tuổi
có năng lực hành vi của công dân có thể sớm hơn hoặc muộn hơn Chẳng hạn, người từ đủ chín tuổi
ứở lên làm con nuôi phải được sự đồng ý của người đó Hoặc nam từ hai mươi tuổi trở lên mới được kết hôn )
2.2 Nội dung của quan hệ PL HNGĐ
- Nội dung của quan hệ PL HNGĐ chính là quyền và nghĩa vụ hôn nhân và gia đình
- Năng lực pháp luật và năng lực hành vi là cơ sở làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ hôn nhân và gia đình cho mỗi chủ thể Khi các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình thì sẽ có các quyền và nghĩa vụ nhân thân và quyền và nghĩa vụ tài sản
+ Quyền và nghĩa vụ nhân thân là yếu tố tinh thần, tình cảm phát sinh giữa các chủ thể
+ Quyền và nghĩa vụ tài sản là lợi ích vật chất phát sinh giữa các chủ thể, bao gồm quyền sở hữu tài sản giữa
vợ và chồng, quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng giữa các chủ thể
Quyền và nghĩa vụ tài sản luôn gắn liền với nhân thân của mỗi chủ thể và không thể chuyển dịch cho
Trang 5 Lợi ích nhân thân: Lợi ích nhân thân là lợi ích căn bản nhất mà các chủ thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình hướng tới và đạt được Đó là lợi ích về tinh thần, là yếu tố tình cảm như: Họ tên, dân tộc, quốc tịch, quyền làm cha (mẹ), tình yêu thương, sự quan tâm, chăm sóc, tình cảm thuỷ chung giữa
vợ và chồng
Lợi ích về hành vi: Là tổng hợp các hành vi do một bên chủ thể thực hiện và bên kia hưởng quyền trong một khoảng thời gian dài, là một quá trình liên tục được coi là khách thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình Lợi ích về hành vi có thể được thể hiện bằng hành động như tổng hợp các hành
vi thể hiện tình yêu thương, sự quan tâm, chăm sóc giữa cha mẹ và con, giữa vợ và chồng Bên cạnh
đó, lợi ích về hành vi cũng có thể được thể hiện bằng không hành động như: Cha mẹ không được hành
hạ, ngược đãi con
Lợi ích về tài sản: Lợi ích về tài sản mà các chủ thể của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình đạt được có thể là tài sản trong khối tài sản chung của vợ chồng; khoản tiền cấp dưỡng giữa cha, mẹ và con
3 Căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt, phục hồi quan hệ HNGĐ
3.1 Khái niệm:
- Sự biến pháp lý: là sự kiện có tính chất tự nhiên xảy ra không phụ thuộc vào ý chí của con người, trong những trường hợp nhất định làm xuất hiện, thay đổi hoặc làm chấm dứt quan hệ pháp luật Ví dụ: động đất, mưa bão, lũ lụt, lốc xoáy làm chết người, phá huỷ tài sản của công dân
+ Sự biến tuyệt đối: là những sự kiện xảy ra trong thiên nhiên thời gian phụ thuộc vào ý muốn của con người.
Ví dụ: thiên tại, hạn hán, động đất, núi lửa,…
+ Sự biến tương đối: là những sự kiện xảy ra trong thực tế do hành vi của con người nhưng quá trình phát sinh thay đổi chấm dứt không phụ thuộc vào ý thức người đó.
Ví dụ: một người đi rừng đốt lửa để sưởi ấm không may làm cháy rừng.
- Hành vi pháp lý: là hành vi thực hiện một sự kiện thực tế, cụ thể theo ý chí của con người làm xuất hiện, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật
3.2 Phân loại sự kiện pháp lý
- Căn cứ vào vào mối liên hệ giữa sự kiện thực tế xảy ra với ý chí của thể tham gia quan hệ pháp luật, sự kiện pháp lí được chia thành hai loại: sự biến và hành vi
Trang 6 Sự biến: là những sự kiện pháp lí xảy ra và hậu quả của nó nằm ngoài ý chí của chủ thể quan hệ pháp luật Đó là những hiện tượng tự nhiên như thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh, sinh tử mà sự xuất hiện của chúng đã làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể theo quy định pháp luật Những hình tự như thế phải xảy ra trong xã hội, gắn liền với đời sống của con người mới dẫn tới hậu quả pháp lý Thiên tai xảy ra ở những nơi hoang vắng, không có người ở, thì chỉ là sự kiện thực tế mà thôi Có những hiện tượng tự nhiên như mưa, gió, nhật thực, nguyệt thực, hoa quả đâm chồi nảy lộc vào mùa xuân thì không phải là sự kiện pháp lí vì không dẫn tới hậu quả pháp lý nào
Hành vi: là sự kiện pháp lí xảy ra do ý chí của chủ thể quan hệ pháp luật Đó là những hành vi xử
sự do chính con người thực hiện và theo quy định của pháp luật, chủ thể hoàn toàn có thể nhận thức được hậu quả của nó Do đó, chỉ có những chủ thể có khả năng nhận thức bình thường mới có hành vi pháp lý Người mất trí có thể có hành động gây thiệt hại nghiêm trọng cho người khác ( trường hợp người con bị bệnh tâm thần đốt nhà của cha mẹ mình chết người làm) làm chấm dứt quyền sở hữu và các tài sản bị hư hại, chấm dứt quyền sống quyền gia đình cùng người thân đã tử vong nhưng đây không phải là hành vi mà chỉ là sự biến pháp lý.
- Căn cứ vào hậu quả pháp lý, sự kiện pháp lí được chia thành ba loại:
Sự kiện pháp lí làm phát sinh quan hệ pháp luật Ví dụ sự kiện một ngừơi chết
làm phát sinh quan hệ thừa kế, việc kết hôn dẫn đến hình thành quan hệ hôn nhân.
Sự kiện pháp lí làm thay đổi quan hệ pháp luật Ví dụ việc vợ chồng thỏa thuận
phân chia tài sản làm thay đổi tình trạng xã hữu tài sản trong hôn nhân; dù rằng quan
hệ hôn nhân vẫn tiếp tục được duy trì; việc sáp nhập doanh nghiệp A và doanh nghiệp Bcó thể làm thay đổi chủ thể và cả một số nội dung của quan hệ hợp đồng còn dang
dở mà bên A đã ký kết và đã chuyển giao cho B tiếp tục thực hiện
Sự kiện pháp lí làm chấm dứt quan hệ pháp luật Ví dụ sự kiện chị X bị tai nạn
chết sẽ làm chấm dứt quan hệ hôn nhân gia đình, quan hệ xã hội, quan hệ lao động có liên quan đến chị X Vậy việc ông Y trả nợ sẽ làm chấm dứt quan hệ hợp đồng vay tài sản với chủ nợ
CHƯƠNG III KẾT HÔN VÀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT
1 Kết hôn
1.1 Khái niệm kết hôn
Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định củaLuật Hôn nhân và gia đình về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính
1.2 Các điều kiện kết hôn
Điều kiện kết hôn là điều kiện do pháp luật quy định mà các bên nam, nữ cần phải có mới có quyền được kết hôn Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quyđịnh nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
– Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
– Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
– Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
– Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn như sau:
Trang 7+ Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
+ Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
+ Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như
vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
+ Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
Lưu ý: Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính
2 Đăng ký kết hôn
2.1 Thẩm quyền đăng ký kết hôn và cấp giấy chứng nhận kết hôn
- Thẩm quyền đăng ký kết hôn
Với hai công dân Việt Nam
Quy định tại Điều 17 Luật hộ tịch năm 2014:
1 Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ thực hiện đăng
ký kết hôn
2 Giấy chứng nhận kết hôn phải có các thông tin sau đây:
a) Họ, chữ đệm và tên; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú; thông tin về giấy tờ chứng minh nhân thân của hai bên nam, nữ;
b) Ngày, tháng, năm đăng ký kết hôn;
c) Chữ ký hoặc điểm chỉ của hai bên nam, nữ và xác nhận của cơ quan đăng ký hộ tịch
Như vậy trong trường hợp hai công dân Việt Nam đăng ký kết hôn thì thẩm quyềnđăng ký là UBND cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ thực hiện đăng kýkết hôn
Với công dân Việt Nam và người nước ngoài
Theo quy định tại Luật hộ tịch 2014 bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 thì thẩmquyền đăng ký kết hôn với người nước ngoài được quy định như sau :
« Điều 37 Thẩm quyền đăng ký kết hôn
1 Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam cư trú
ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau; giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài
2 Trường hợp người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có yêu cầu đăng ký kết hôn tại Việt Nam thì Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của một trong hai bên thực hiện đăng ký kết hôn
= > Thẩm quyền đăng ký sẽ thuộc về Ủy ban nhân dân cấp quận (huyện) sẽ có thẩmquyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài
Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài là cơ quan đăng
ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài
Trang 8và trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên Sau khi nhận Giấy chứng nhận kết hôn, hai bên là vợ chồng của nhau trước pháp luật
Nghi thức kết hôn khác như tiến hành kết hôn tại nhà thờ hoặc làm lễ cưới theo phong tục mà không đăng kí kết hôn tại cơ quan đăng kí kết hôn không làm phát sinh quan hệ vợ chồng trước pháp luật Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình đều không có giá trị pháp lý Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng Vợ chồng đã ly hôn muốn kết hôn lại với nhau cũng phải đăng ký kết hôn
2.3 Thủ tục đăng ký kết hôn
Căn cứ pháp luật
Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn (Khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014)
Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định cụ thể về điều kiện kết hôn:
“1 Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này
2 Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.”
1 Hồ sơ đăng ký kết hôn
Luật Hộ tịch 2014 và Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định cụ thể về hồ sơ đăng ký kếthôn bao gồm:
* Giấy tờ phải xuất trình
– Hộ chiếu hoặc chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân hoặc các giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng để chứng minh về nhân thân của người có yêu cầu đăng ký kết hôn
Trong giai đoạn chuyển tiếp, người yêu cầu đăng ký hộ tịch phải xuất trình giấy tờ chứng minh nơi cư trú
– Trích lục ghi chú ly hôn đối với trường hợp công dân Việt Nam đăng ký thường trú tại địa bàn xã làm thủ tục đăng ký kết hôn, đã được giải quyết việc ly hôn trước đó tại
cơ quan có thẩm quyền nước ngoài
* Giấy tờ phải nộp
– Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu Hai bên nam, nữ có thể khai chung vào một Tờ khai đăng ký kết hôn;
Trang 9– Bản chính Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền cấp trong trường hợp người yêu cầu đăng ký kết hôn không đăng ký thường trú tại địa bàn xã làm thủ tục đăng ký kết hôn
– Trường hợp người yêu cầu đăng ký kết hôn đang công tác, học tập, lao động có thời hạn ở nước ngoài thì phải nộp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài cấp
Hồ sơ, thủ tục đăng ký kết hôn
sơ bổ sung, hoàn thiện theo quy định; trường hợp không thể bổ sung, hoàn thiện hồ sơ ngay thì phải lập thành văn bản hướng dẫn, trong đó nêu rõ loại giấy tờ, nội dung cần
bổ sung, hoàn thiện, ký, ghi rõ họ, chữ đệm tên của người tiếp nhận
– Hồ sơ sau khi đã được hướng dẫn mà không được bổ sung đầy đủ, hoàn thiện thì người tiếp nhận từ chối tiếp nhận hồ sơ và lập văn bản từ chối tiếp nhận hồ sơ, trong
đó ghi rõ lý do từ chối, ký, ghi rõ họ, chữ đệm, tên của người tiếp nhận
– Ngay sau khi tiếp nhận đủ hồ sơ hợp lệ, nếu thấy đủ điều kiện kết hôn theo quy định,công chức tư pháp – hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đồng ý giải quyết thì công chức tư pháp – hộ tịch ghiviệc kết hôn vào Sổ đăng ký kết hôn, hướng dẫn hai bên nam, nữ ký vào Giấy chứng nhận kết hôn, cùng hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổchức trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ
Thủ tục kết hôn bao gồm những gì?
* Lưu ý:
+ Trường hợp người yêu cầu nộp giấy tờ là bản sao được cấp từ sổ gốc hoặc bản sao được chứng thực từ bản chính thì người tiếp nhận hồ sơ không được yêu cầu xuất trìnhbản chính; nếu người yêu cầu chỉ nộp bản chụp và xuất trình bản chính thì người tiếp nhận hồ sơ kiểm tra, đối chiếu bản chụp với bản chính và ký vào bản chụp xác nhận vềviệc đã đối chiếu nội dung giấy tờ đó, không được yêu cầu người đi đăng ký nộp bản sao có chứng thực giấy tờ đó
+ Trường hợp pháp luật quy định xuất trình giấy tờ khi đăng ký hộ tịch, người tiếp nhận có trách nhiệm kiểm tra giấy tờ xuất trình, đối chiếu với thông tin trong Tờ khai
và trả lại cho người xuất trình, không được yêu cầu người đăng ký hộ tịch nộp thêm bản sao giấy tờ đó Người tiếp nhận có thể chụp 01 bản giấy tờ xuất trình hoặc ghi lại thông tin của giấy tờ xuất trình để lưu hồ sơ
+ Người tiếp nhận có trách nhiệm tiếp nhận đúng, đủ hồ sơ đăng ký hộ tịch theo quy định của pháp luật hộ tịch, không được yêu cầu người đăng ký hộ tịch nộp thêm giấy
tờ mà pháp luật hộ tịch không quy định phải nộp
Trang 103 Kết hôn trái pháp luật
3.1 Khái niệm
Căn cứ theo khoản 6 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này
Điều kiện để được đăng ký kết hôn?
Điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau: (1) Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này
(2) Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính
chồng;
Do đó, nếu có sự vi phạm một trong những khoản thuộc Điều 8 trên thì được coi là kếthôn trái pháp luật
3.2.Căn cứ để hủy kết hôn trái pháp luật
Trên cơ sở yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án xem xét và xử lý việc kết hôn trái pháp luật Khi hủy việc kết hôn trái pháp luật phải dựa trên những căn cứ sau:
- Nam, nữ kết hôn khi chưa đến tuổi kết hôn luật định;
- Việc kết hôn không đảm bảo sự tự nguyện;
- Người mất năng lực hành vi dân sự nhưng vẫn kết hôn;
- Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác;
- Những người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc những người có họ trong phạm vi bađời kết hôn với nhau;
- Cha mẹ nuôi kết hôn với con nuôi; những người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi,cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng mà lại kết hôn với nhau;
- Hai người cùng giới tính kết hôn với nhau
Như vậy, chỉ cần có một dấu hiệu vi phạm nêu trên thì Tòa án đã có căn cứ để xử hủy việc kết hôn trái pháp luật Do vậy, khi nhận được đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải kiểm tra, xác minh cụ thể để xử lý việc kết hôn trái pháp luật theo đúng quy định của pháp luật
3.3 Thẩm quyền giải quyết
Về thẩm quyền hủy hôn, căn cứ theo khoản 1 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quyđịnh về những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án trong đó có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
Đồng thời theo điểm g, khoản 2, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:
Trang 11Tòa án nơi việc đăng ký kết hôn trái pháp luật được thực hiện có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
Như vậy, Tòa án nhân dân cấp huyện nơi đăng ký kết hôn trái pháp luật sẽ là cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc hủy hôn
3.4 Chủ thể có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật
Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định những người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật:
Điều 10 Người có thẩm quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
1 Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật này
2 Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, cóquyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy địnhtại các điểm a, c và d khoản 1 Điều 8 của Luật này:
a) Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
d) Hội liên hiệp phụ nữ
3 Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật thì có
quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật
Như vậy, có những người có quyền yêu cầu bao gồm:
- Bản thân người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn tự mình yêu cầu hoặc có quyền đề nghị cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định;
- Nếu việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm các điểm a,c, d khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì các cơ quan, cá nhân, tổ chức sau có quyền yêu cầu:
- Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con,người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;
- Cơ qua quản lý nhà nước về gia đình;
- Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
- Hội liên hiệp phụ nữ
3.5 Hậu quả pháp lý của hủy kết hôn trái pháp luật
Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về hậu quả pháp lý của việc hủy kếthôn trái pháp luật như sau:
“1 Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng
2 Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn
Trang 123 Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật này.”
– Về nguyên tắc, Nhà nước không thừa nhận hai người kết hôn trái pháp luật là vợ chồng Vì vậy, khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên nam, nữ đã kết hôn trái pháp luật phải chấm dứt ngay quan hệ vợ chồng
– Về quan hệ giữa cha mẹ và con được xây dựng dựa trên quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng, không phụ thuộc vào việc cha mẹ có kết hôn hợp pháp hay không Vì vậy khi Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật thì vấn đề con cái được giải quyết như trong trường hợp vợ chồng ly hôn (Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi
ly hôn) Như vậy, khi tòa án tuyên bố hủy việc kết hôn trái pháp luật thì cha, mẹ có thể thỏa thuận với nhau về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào điều kiện thực
tế của cha mẹ nhằm đảm bảo sự phát triển tốt nhất về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con
– Về tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng được giải quyết theo sự thỏa thuận của các bên, nếu không thỏa thuận được thì tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật (Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định về việc giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn) Về nguyên tắc, tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc về người đấy Khi Tòa án chia tài sản chung, phải tính tới công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung, đồng thời ưu tiên bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ
và trẻ em
– Vì pháp luật không thừa nhận quan hệ vợ chồng đối với những trường hợp kết hôn trái pháp luật, nên các bên trong quan hệ này không được hưởng thừa kế của nhau nếu như chia di sản thừa kế theo pháp luật trong trường hợp một trong hai bên chết Tuy nhiên, vì quan hệ giữa cha mẹ với con cái không phụ thuộc vào quan hệ hôn nhân của cha mẹ có hợp pháp hay không, nên trong trường hợp này con vẫn có quyền được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế nếu như cha, mẹ chết
3.6 Các trường hợp kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn và biện pháp xử lý
Các trường hợp như: Kết hôn giả tạo; tảo hôn; cưỡng ép, lừa dối kết hôn; kết hôn với người đang có chồng, có vợ; kết hôn giữa những người cùng dòng máu
về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng… cũng bị coi là kết hôn trái pháp luật
XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH
- Vi phạm tuổi kết hôn: Khoản 2 Điều 47 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày
24/09/2013 của Chính phủ quy định phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Tòa án nhân dân buộc chấm dứt quan hệ đó
- Vi phạm các trường hợp cấm kết hôn: Điểm a, d, đ, e khoản 1 Điều 48 Nghị
định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/08/2015 của Chính phủ quy định phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi:
Trang 13+ Đang có vợ hoặc có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa
có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
+ Kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
+ Kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi;
+ Kết hôn giữa những người từng là cha, mẹ nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng Điểm b, khoản 2 Điều 48 Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015 quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi kết hôn với người có cùng dòng máu về trực hệ
3 XỬ LÝ HÌNH SỰ
- Vi phạm sự tự nguyện khi kết hôn:
Điều 181 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:
“ĐIều 181 Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện,
tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện
Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm”
- Vi phạm tuổi kết hôn:
Điều 183, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội tổ chức tảo hôn
“Điều 183 Tội tổ chức tảo hôn
Người nào tổ chức việc lấy vợ, lấy chồng cho những người chưa đến tuổi kết hôn, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm”
a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.”
Trang 14Điều 184 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về Tội loạn luân
“Điều 184 Tội loạn luân
Người nào giao cấu với người mà biết rõ người đó cùng dòng máu về trực hệ,
là anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”
CHƯƠNG IV: QUAN HỆ VỢ CHỒNG
1 Nghĩa vụ và quyền về nhân thân giữa vợ và chồng
1.1.Nghĩa vụ và quyền về nhân thân
Quyền và nghĩa vụ về nhân thân của vợ, chồng được pháp luật Hôn nhân gia đinh quy định như sau:
Về các quyền và nghĩa vụ nhân thân thể hiện tính dân chủ, bình đẳng giữa vợ, chồng:
Vợ,chồng có quyền bình đẳng trong việc lựa chọn chỗ ở, nơi cư trú Căn cứ theo Điều 20 Luật hôn
nhân gia đình “Việc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng do vợ chồng thỏa thuận, không bị ràng buộc
bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính.”; Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ
danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau (Điều 21); Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau (Điều 22); Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ tạo điều kiện, giúp đỡ nhau chọn nghề nghiệp; học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội (Điều 23)
1.2 Đại diện cho nhau giữa vợ và chồng
Luật hôn nhân và gia đình 2014 là quy định cụ thể về các căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng như sau:
“1 Việc đại diện giữa vợ và chồng trong xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch được xác định theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan
2 Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch
mà theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng
3 Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bênkia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thì người đó phải
tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ có liên quan.”
Thứ hai, khoản 1 Điều 25 Luật hôn nhân và gia đình có quy định và việc đại
diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh: “Trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung thì người trực tiếp kinh doanh là người đại diện cho bên kia trong quan hệ kinh doanh đó, trừ trường hợp trước khi tham gia quan hệ kinh doanh,
vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc Luật này và các luật liên quan có quy định khác
Trang 152 Nghĩa vụ và quyền tài sản giữa vợ và chồng
2.1 Quyền sở hữu tài sản của vợ và chồng
Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì quyền sở hữu là những quyền dân sự đối với tài sản và Điều 158 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác nhận:
“Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật”
* Quyền chiếm hữu
Theo quy định tại Điều 186 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội Điều này được hiểu theo một cách đơn giản và thông thường nhất là sự nắm giữ, quản lý cũng như chi phối đối với một hay nhiều tài sản Quyền chiếm hữu sẽ có hai loại đó là chiếm hữu ngay tình (chiếm hữu có căn cứ pháp luật) và việc chiếm hữu không ngay tình (chiếm hữu không có căn cứ pháp luật)
* Quyền sử dụng
Theo quy định tại Điều 189 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quyền sử dụng là quyền trong việc khai thác công dụng, cũng như hưởng các hoa lợi, lợi tức của tài sản Có thể hiểu một cách đơn giản, quyền sử dụng của chủ sở hữu tài sản là việc khai thác cũng như việc hưởng lợi ích từ khối tài sản khai thác được trong phạm vi pháp luật cho phép Về nguyên tắc, chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của ngườikhác
* Quyền định đoạt
Quyền định đoạt là một trong các quyền năng của chủ sở hữu để quyết định số phận của tài sản Căn cứ theo Điều 192 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quyền địnhđoạt là quyền thực hiện việc chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở
hữ, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản
Chủ sở hữu tài sản thực hiện quyền định đoạt của mình trên hai phương diện: Thứ nhất, định đoạt về số phận thực tế của tài sản như tiêu dùng hết, hủy bỏ hoặc từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản; thứ hai, định đoạt về số phận pháp lý của tài sản là việc làm chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản từ người này sang người khác
2.1.1 Tài sản chung của vợ, chồng
Điều 33 Tài sản chung của vợ chồng
1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng
và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
Trang 16Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của
vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng
2 Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng
3 Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang
có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”
2.1.2 Tài sản riêng của vợ, chồng
Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014
“Khi hôn nhân tồn tại, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn
bộ tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thoảthuận được thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.” và “Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh
từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng"
+ Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung
2.2 Quyền thừa kế tài sản của vợ chồng
2.3 Quan hệ cấp dưỡng giữa vợ và chồng
Theo khoản 24 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014, Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này
Điều 115 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ
và chồng được thực hiện trong trường hợp: ” Khi ly hôn nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình.”
Theo đó, khi ly hôn nếu một bên vợ hoặc chồng có khó khăn, túng thiếu và có lý
do chính đáng thì bên còn lại có nghĩa vụ cấp dưỡng tùy thuộc vào khả năng củamình Bên nào có yêu cầu nghĩa vụ cấp dưỡng thì bên đó có nghĩa vụ phải
chứng minh được sự khó khăn, túng thiếu của mình
3 Chấm dứt quan hệ vợ chồng
3.1 Các trường hợp chấm dứt quan hệ vợ chồng
Chấm dứt hôn nhân là gì ?
Trang 17Chấm dút hôn nhân có nghĩa là chấm dứt các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và về tàisản giữa vợ chồng Trường hợp chấm dứt hôn nhân do một trong hai vợ chồng chết hoặc bị toà án tuyên bố là đã chết thì người vợ hoặc chồng còn sống có quyền được thừa kế di sản của người chết hoặc bị coi là đã chết
Các trường hợp chấm dứt quan hệ hôn nhân
Vợ chồng ly hôn
Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án
Đối với quyền ly hôn thì:
Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn
Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ
Để bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ và đứa trẻ, pháp luật quy định chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinhcon hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi
Một bên hoặc cả hai vợ chồng chết
Khi vợ hoặc chồng chết, quan hệ hôn nhân chấm dứt, các quyền và nghĩa vụ nhân thân
và tài sản giữa vợ và chồng chẩm dứt một cách tự động
Một bên hoặc cả hai vợ chồng bị toà án tuyên bố là đã chết
– Khi Tòa án tuyên bố vợ hoặc chồng là đã chết thì hôn nhân của họ châm dứt Quyền
và nghĩa vụ nhân thân và tài sản giữa vợ và chồng chấm dứt
– Trong trường hợp người vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết lại trở về hoặc
có tin tức xác thực là người đó còn sống, thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người
có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó
Về quan hệ tài sản của người bị tuyên bổ là đã chết trở về với người vợ hoặc chồng: Trong trường hợp hôn nhân được khôi phục thì quan hệ tài sản được khôi phục kể từ thời điểm quyết định của Tòa án hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực Tài sản của vợ chồng có trước khi Tòa án tuyên bố vợ hoặc chồng là đã chết mà đã được chia thì việc chia tài sản đó vẫn có hiệu lực Trong trường hợp hôn nhân không được khôi phục thì tài sản có được trước khi quyết định của Tòa án về việc tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực mà chưa chia được giải quyết như chia tài sản khi ly hôn