MỤC LỤC A PHẦN MỞ ĐẦU 3 1 Tính cấp thiết của đề tài 3 2 Mục tiêu, nhiệm vụ của tiểu luận 4 3 Kết cấu của tiểu luận 5 B NỘI DUNG 6 CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ BẢN CHẤT CO.
Trang 1MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 3
1.Tính cấp thiết của đề tài 3
2.Mục tiêu, nhiệm vụ của tiểu luận 4
3.Kết cấu của tiểu luận 5
B NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI 6
1.1 Quan niệm về bản chất con người của những nhà triết học trước Mác 7
1.2.Quan niêm của Mác về bản chất con người 7
1.2.1.Con người là thực thể sinh học – xã hội 9
1.2.2.Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội 11
1.2.3 Con người vừa là chủ thể của lịch sử, vừa là sản phẩm của lịch sử 11
CHƯƠNG 2: PHÁT HUY CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC 12
C KẾT LUẬN 18 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
Trong chiều dài của bánh xe lịch sử, con người dần khám phá được hằng trăm nghìn những điều mới lạ trong và ngoài Trái Đất Con người say mê tìm hiểu cấu tạo của mọi vật xung quanh, về những dải ngân hà, về những điều kì bí Nhưng khi nhìn lại, bản chất con người là một sinh vật kì bí hơn cả Chính vì thế, em lựa chọn nghiên cứu về đề tài “Bản chất con người” Vấn đề về con người đã được tiến hành nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau, song những lĩnh vực đó mới chỉ nghiên cứu những mặt riêng biệt, cụ thể về con người ( ví dụ: sinh học nghiên cứu các quy luật sinh lý , toán học nghiên cứu tư duy logic … ) Riêng với triết học ,
vì có đặc trưng của tư duy triết học là sự phản ánh của tư duy con người đối với chính bản thân mình , có đối tượng nghiên cứu là những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội nên vấn đề về “Bản chất con người” được nghiên cứu một cách bao quát và đầy đủ nhất Hơn nữa, với triết học Mác – Lênin, lần đầu tiên, vấn đề con người được giải quyết một cách đúng đắn trên quan điểm biên chứng duuy vật
1 Tính thiết lập của đề tài
Nguồn lực con người luôn có vai trò quan trọng với sự phát triển của mỗi quốc gia Đặc biệt là trong bối cảnh thế kỉ
Trang 3XXI, khi thế giới đang dần chuyển sang nền kinh tế tri thức, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, nguồn lực con người ngày càng thể hiện vai trò quyết định của nó Phát triển nguồn lực con người là xu hướng phát triển của thế giới, đó cũng là con đường phát triển tất yếu của Việt Nam để tiến tới hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa” Thực tế đã chứng tỏ rằng nếu không có nguồn nhân lực chất lượng thì nền kinh tế của Việt Nam chưa thể thoát khỏi sự nghèo nàn, lạc hậu
Với những yêu cầu cấp thiết đó, trong công cuộc hiện đại hóa đất nước, chúng ta cần phải xem xét, đánh giá nguồn nhân lực hiện tại ở Việt Nam đang bộc lộ những ưu điểm gì, tồn tại những hạn chế nào để xây dựng chính sách phát triển bền vững, nâng cao chất lượng lao động, phát huy sức mạnh của nhân tố con người để phục vụ tốt nhất cho mục tiêu công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước Và tư tưởng Mác-Lênin là cơ sở, là nền tảng để xây dựng nên những chính sách, tầm nhìn chiến về nguồn lực con người ở Việt Nam
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của tiểu luận
Mục tiêu của đề tài là đưa ra cái nhìn tổng quát về thực trạng nguồn lực con người ở Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp phát huy thế mạnh, khắc phục hạn chế nhân tố con người Việt Nam
Trang 4Bài tiểu luận tập trung triển khai, phân tích 2 nội dung chủ yếu:
- Cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác- Lênin về con người
- Đặc điểm nguồn lực con người tại Việt Nam
3 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, tiểu luận được kết cấu thành 2 chương, 4 tiết
Chương 1: Quan điểm của triết học Mác – Lênin về con
người và bản chất con người
Chương 2: Liên hệ vấn đề này với việc xây dựng con người
mới ở Việt Nam hiện nay
Trang 5B NỘI DUNG CHƯƠNG I: QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ BẢN CHẤT
CON NGƯỜI.
1.1 Quan niệm về bản chất con người của những nhà
triết học trước Mác
Các nhà triết học cổ điển Đức trước kia nói chung, từ Cartơ đến Heghen nói riêng đã phát triển quan điểm triết học về con người theo hướng của chủ nghĩa duy tâm Heghen quan niệm con người là sản phẩm của ý niệm, tức là con người do thần thánh hoặc thượng đế sinh ra, cuộc sống con người do đấng tối cao sắp đặt Đối lập với Hêghen, Phơbách lại đưa ra quan điểm duy vật, cho rằng con người không phải là nô lệ của thượng
đế hay tinh thần tuyệt đối, mà là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả của quá trình phát triển của tự nhiên,
là cái cao quý nhất mà giới tự nhiên có Ông đã sử dụng thành tựu của khoa học tự nhiên để chứng minh mối liên hệ không thể chia cắt của tư duy với những quá trình vật chất diễn ra trong cơ thể con người, song khi giải thích con người trong mối liên hệ cộng đồng thì Phơbách lại rơi vào lập trường của chủ nghĩa duy tâm
Các quan niệm nói trên đều tuyệt đối hóa mặt tinh thần hoặc thể xác con người, tuyệt đối hóa mặt sinh học mà không thấy mặt xã hội của con người Chủ nghĩa Mác đã kế thừa và khắc phục những mặt hạn chế
Trang 6đó, đồng thời phát triển những quan niệm về con người
đã có trong các học thuyết triết học trước đây để đưa ra quan niệm về bản chất con người
1.2 Quan niêm của Mác về bản chất con người.
Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người
trong lịch sử triết học Với triết học Mác – Lênin, lần đầu tiên vấn đề con người được giải quyết một
cách đúng đắn trên quan điểm biên chứng duy vật Theo C.Mác, con người là một sinh vật có tính xã hội ở trình độ cao nhất của giới tự nhiên và lịch sử xã hội, là chủ thể của lịch sử, sáng tạo nên tất cả thành tựu của văn minh và văn hóa
1.2.1 Con người là thực thể sinh học – xã hội.
Dựa trên kết quả của những thành tựu của khoa học tự nhiên, triết học Mác khẳng định: Con người vừa là sản phẩm phát triển lâu dài của giới tự nhiên,vừa là sản phẩm hoạt động chính của bản thân con người Con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học
và yếu tố xã hội Là thực thể sinh học, con người là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên (theo thuyết tiến hóa của ĐacUyn) Vì con người là sản phẩm của quá trình tiến hóa tự nhiên nên con người là một bộ phận tất yếu, không tách rời của giới tự nhiên Ph.Angghen cho rằng : “Bản thân cái sự kiện là con người từ loài động vật mà ra, cũng đã quyết định việc con người không bao giờ hoàn toàn thoát ly khỏi những đặc tính vốn có của con vật” Hay nói cách
Trang 7khác, Tiền đề vật chất đầu tiên quyết định cho sự tồn tại của con người là giới tự nhiên
Con người là một bộ phận của giới tự nhiên và đồng thời giới tự nhiên cũng là “thân thể vô cơ của con người” Con người tồn tại được trước tiên phải có cơ thể sống, trong khi đó, cơ thể sống là một bộ phận của
tự nhiên, là sản phẩm của sự tiến hóa lâu dài của giới
tự nhiên Mặt khác, con người phải đấu tranh để sinh tồn và chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên, các quy luật sinh học (Ví dụ: quy luật sinh tử, quy luật về quan hệ giữa cơ thể và môi trường, quy luật dinh dưỡng, quy luật di truyền và biến dị, quy luật đồng hóa, dị hóa…) Tuy nhiên, con người không chỉ sống dựa vào tư nhiên mà còn cải biến tự nhiên dựa trên các quy luật khách quan, đây cũng là một trong những điểm đặc biệt để phân biệt con người với các loài vật khác
Tuy nhiên, chúng ta không được tuyệt đối hóa điều đó Các đặc tính sinh học, bản năng sinh học hay sự sinh tồn thể xác không phải là những cái duy nhất quy định bản chất con người, mà chúng ta còn phải nhắc đến phương diện xã hội Bởi lẽ, đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài vật là phương diện
xã hội của nó Con người là một thực thể xã hội có các hoạt động xã hội mà điển hình chính là hoạt động lao động Chính nhờ lao động mà con người có khả năng vượt qua loài động vật để tiến hóa và phát triển thành người Con người sống bằng lao động sản xuất, bằng việc cải tạo tự nhiên, sáng tạo ra các vật phẩm để thỏa
Trang 8mãn nhu cầu của mình Vì vậy, ta hoàn toàn có thể khẳng định: Lao động là điều kiện kiên quyết, cần thiết
và chủ yếu quyết định sự hình thành và phát triển của con người Mặt khác, tính xã hội của con người chỉ có trong “xã hội loài người”, con người không thể tách khỏi xã hội và đó là điểm cơ bản làm cho con người khác với con vật Hoạt động của con người gắn liền với các quan hệ xã hội không chỉ phục vụ cho con người
mà còn cho xã hội như ngôn ngữ giao tiếp, lương tâm,
ý thức con người,…… Xã hội biến đổi thì mỗi con người cũng do đó mà cũng có sự thay đổi tương ứng và ngược lại, sự phát triển của mỗi cá nhân là tiền đề cho
sự phát triển của xã hội
Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội Hai mặt này vừa đối lập nhau, vừa quy định ràng buộc và làm tiền đề cho nhau, trong đó mặt tự nhiên quyết định sự tồn tại của con người, còn mặt xã hội quyết định bản chất con người
1.2.2 Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ
xã hội.
Có thể nói, con người vượt lên thế giới loài vật trên cả
ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan
hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người
Cả ba mối quan hệ đó đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa người với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên luận đề nổi tiếng trong tác phẩm
Trang 9Luận cương về Phoiơbắc: "Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội ” Mác cho rằng xem xét yếu tố cấu thành bản chất con người phải vạch ra bản chất con người trong tính hiện thực của nó Đây là một luận đề hết sức khoa học, đầy đủ Luận đề khẳng định rằng, không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội Con người luôn luôn cụ thể, xác định, sống trong một điều kiện lịch sử
cụ thể nhất định, một thời đại nhất định Khi nói con người thì không phải là nói con người trong trạng thái
tự nhiên thuần tuý, mà là con người hoạt động thực tiễn Thông qua hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi đời sống xã hội đồng thời cũng biến đổi chính bản thân mình Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó (như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội ), con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình Tất cả các quan hệ đó đều góp phần vào việc hình thành bản chất con người, tùy theo thời gian cường độ tác động mà mức độ ảnh hưởng khác nhau, nhưng suy cho cùng thì các quan hệ kinh tế hiện tại, trực tiếp, ổn định sẽ giữ vai trò quyết định Đây là phát hiện có giá trị to lớn của Mác về bản chất con người Trong điều kiện đó sự tác động giữa con người và hoàn cảnh cụ thể tạo nên những bản sắc riêng của con người mỗi thời đại
Trang 10Điều cần lưu ý là luận đề trên khẳng định bản chất xã hội không có nghĩa là phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người Song, ở con người, mặt tự nhiên tồn tại trong sự thống nhất với mặt xã hội; ngay cả việc thực hiện những nhu cầu sinh vật ở con người cũng đã mang tính xã hội Quan niệm bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội mới giúp cho chúng ta nhận thức đúng đắn, tránh khỏi cách hiểu thô thiển về mặt tự nhiên, cái sinh vật ở con người
1.2.3 CON NGƯỜI VỪA LÀ CHỦ THỂ CỦA LỊCH
SỬ, VỪA LÀ SẢN PHẨM CỦA LỊCH SỬ.
Lịch sử là quá trình đan xen, nối tiếp nhau với tất cả những bảo tồn và biến đổi xảy ra trong quá trình ấy Lịch sử là hoạt động có ý thức của chính bản thân con người Con người tách khỏi động vật như thế nào thì
họ bước vào lịch sử như thế ấy Lịch sử xã hội loài người hình thành khi con người biết chế tạo ra công cụ lao động, từ đó không còn lệ thuộc vào tự nhiên, tách mình ra khỏi thế giới loài vật, chuyển sang thế giới loài người và lịch sử xã hội bắt đầu Để tồn tại và phát triển, con người phải lao động, tạo ra của cải vật chất
để nuôi sống mình và xã hội Sản xuất ra của cải vật chất là đặc trưng riêng chỉ có ở con người Đó là quá trình lao động có mục đích và không ngừng sáng tạo của con người, tạo của cải vật chất đảm bảo cho sự tồn tại của xã hội và thúc đẩy xã hội phát triển Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội Vì thế, con người là chủ thể
Trang 11sáng tạo nên các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội cũng như là động lực của các cuộc cách mạng xã hội
Có thể nói, con người là chủ thể của lịch sử
Con người làm ra lịch sử, nhưng không phải làm theo ý muốn tùy tiện của mình mà phải dựa trên những điều kiện có sẵn do quá khứ để lại Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của
sự tiến hóa lâu dài của giới hữu sinh Con người tồn tại
và phát triển trong một hệ thống môi trường xác định,
là sản phẩm của lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội Con người sống, hoạt động trong một xã hội nhất định, một thời đại nhất định, trong những điều kiện lịch sử nhất định, nghĩa là những con người cùng với xã hội mình khai thác thiên nhiên, sinh hoạt xã hội, phát triển ý thức Trên thực tế, con người lại là những con người ở những thời đại khác nhau, các dân tộc khác nhau, các giai cấp, các nhóm xã hội khác nhau, nên trong họ, cái
tự nhiên tồn tại trong sự tác động của cái xã hội Như vậy, con người vừa là sản phẩm của lịch sử, vừa là chủ thể của lịch sử
CHƯƠNG II: PHÁT HUY CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐẤT
NƯỚC
Trải qua quá trình hội nhập nền kinh tế nước nhà với nền kinh tế quốc tế, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh
Trang 12và triển vọng nhất Thế nhưng, chỉ tăng trưởng kinh tế nhanh thôi là chưa đủ Một nền kinh tế phát triển bền vững đòi hỏi phải tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Mà thực hiện các chính sách xã hội chính là đầu tư vào nhân tố con người Hay nói cách khác, muốn đất nước có thể phát triển bền vững thì phải tập trung vào phát triển nhân tố con người
Thực chất, khái niệm nhân tố con người là sự tiếp tục triển khai quan điểm của triết học Mác - Lênin Xuất phát từ quan điểm của Mác cho thấy, khi là một thực thể tự nhiên - xã hội, con người nói chung biểu hiện ra trên nhiều phương diện Chẳng hạn, con người tồn tại với tư cách là một nguồn tài nguyên đặc biệt - tài nguyên con người; con người tồn tại với tư cách là một nguồn lực đặc biệt - nguồn lực con người, hoặc tồn tại với tư cách là một nhân tố thúc đẩy đời sống kinh tế -
xã hội gọi là nhân tố con người…
Vậy, chúng ta nên khai thác, tìm hiểu, phát triển và phát huy nhân tố con người như thế nào để phát triển đất nước bền vững ?
Khi đi sâu vào khai thác nhân tố con người trong công cuộc phát triển đất nước, ta phải đặt nó trong mối quan
hệ với cộng đồng và xã hội Muốn duy trì cuộc sống của mình, con người phải lao động và liên hệ với những người khác Đời sống con người về bản chất là
có tính xã hội Theo C.Mác:“Trong tính hiện thực của
nó, bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ
xã hội” Mối quan hệ giữa con người và xã hội rất chặt