(Luận văn thạc sĩ) Dạy học theo chương trình hóa môn công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương Tỉnh Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Dạy học theo chương trình hóa môn công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương Tỉnh Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Dạy học theo chương trình hóa môn công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương Tỉnh Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Dạy học theo chương trình hóa môn công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương Tỉnh Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Dạy học theo chương trình hóa môn công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương Tỉnh Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Dạy học theo chương trình hóa môn công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương Tỉnh Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Dạy học theo chương trình hóa môn công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương Tỉnh Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Dạy học theo chương trình hóa môn công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương Tỉnh Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Dạy học theo chương trình hóa môn công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương Tỉnh Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Dạy học theo chương trình hóa môn công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương Tỉnh Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Dạy học theo chương trình hóa môn công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương Tỉnh Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Dạy học theo chương trình hóa môn công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương Tỉnh Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Dạy học theo chương trình hóa môn công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương Tỉnh Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Dạy học theo chương trình hóa môn công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương Tỉnh Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Dạy học theo chương trình hóa môn công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương Tỉnh Bình Dương(Luận văn thạc sĩ) Dạy học theo chương trình hóa môn công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương Tỉnh Bình Dương
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 08 năm 2014
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Minh Vương
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Toàn đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tác giả từ khi hình thành ý tưởng đề tài đến suốt quá trình thực hiện và hoàn chỉnh luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô Ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học, Viện Sư phạm kỹ thuật, và toàn thể Quý Thầy Cô trực tiếp giảng dạy lớp cao học ngành Lý luận và phương pháp dạy học khóa 20 năm học 2012 - 2014 của trường Đại học sư phạm kỹ thuật TP Hồ Chí Minh, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành khóa học tại trường
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến tập thể Quý Thầy Cô Ban giám hiệu, tổ bộ môn
Lý – Công nghệ và các em học sinh khối 11, 12 năm học 2013 – 2014 của trường THPT chuyên Hùng Vương, tỉnh Bình Dương đã nhiệt tình ủng hộ, tham gia cuộc khảo sát và tạo điều kiện thuận lợi để tác giả có thể hoàn thành luận văn đúng tiến độ Cuối cùng, tác giả xin cảm ơn sự quan tâm, động viên từ những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt thời gian vừa qua
Tp Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 08 năm 2014
Người thực hiện
Nguyễn Minh Vương
Trang 3TÓM TẮT LUẬN VĂN
Hiện nay tình trạng chung của các trường phổ thông là chạy đua theo thành tích, nên giáo viên và học sinh thường chỉ chú trọng những môn thi tốt nghiệp hay đại học là chính Do đó, các môn học khác được coi là môn phụ và thường bị xem nhẹ, vì vậy
mà chất lượng các môn phụ này thường thấp Suy nghĩ trên hết sức sai lầm vì nội dung mỗi môn học đều góp phần vào việc tạo ra những con người phát triển toàn diện Môn Công nghệ 11 có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn lao động Nhưng đa số giáo viên giảng dạy môn này rất sơ sài, không chú trọng đến việc đổi mới phương pháp và học sinh cũng chỉ học qua loa để đối phó Trước tình hình đó tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “Dạy học theo chương trình hóa môn Công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương, tỉnh Bình Dương” với mong muốn nâng cao chất lượng môn học nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung Nội dung đề tài gồm ba chương chính:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của dạy học theo chương trình hóa môn Công nghệ 11
Tác giả đã trình bày khái quát về lịch sử vấn đề nghiên cứu, một số khái niệm liên quan, hoạt động tự học, phương tiện dạy học và phân tích để làm rõ phương pháp dạy học theo chương trình hóa
- Chương 2: Thực trạng dạy học môn Công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương
Tác giả đã tìm hiểu về mục tiêu, đặc điểm nội dung môn Công nghệ 11 Sau đó tác giả đã tiến hành gửi các bảng câu hỏi khảo sát đến giáo viên và học sinh để tìm hiểu thực trạng về phương pháp, phương tiện sử dụng, mức độ hứng thú của học sinh…đối với môn Công nghệ 11 tại trường
- Chương 3: Dạy học theo chương trình hóa môn Công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương, tỉnh Bình Dương
Tác giả đã tiến hành xây dựng qui trình mẫu cho ba bài giảng trong chương V, VI phần động cơ đốt trong, sau đó biên soạn giáo án và thiết kế phiếu học tập để giảng dạy Tiếp theo, tác giả đã tiến hành tổ chức dạy thực nghiệm sư phạm, tổng hợp kết quả thu được cho thấy chất lượng môn học tăng lên khá rõ
Trang 4ABSTRACT
Nowadays, the general situation of high schools is running after the achievement,
so teachers and students often focus on core subjects, which are compulsory in the National Examination or in University Entrance Examination, and other subjects are considered as minor subjects, which are often disregarded Therefore, the results of these minor subjects are a little low In fact, these viewpoints are completely wrong because each subject contributes to training well-developed students Technology in the eleventh grade plays a very important role in improving the quality of the labor force, but most technology teachers did not spend much time on preparing the lesson
as well as taught it without care In addition, they did not focus on innovating the method, and student were not interested in this subject and learnt it perfunctorily Due
to the situation above, the researcher has selected the topic of the study “Teaching technology of the eleventh grade at Hung Vuong high school in Binh Duong province according to the programmed instruction” to improve the quality of technology in particular and the quality of education in general The study comprises three main chapters in sequence as follows:
- Chapter 1: Theoretical information about programmed instruction
The researcher made generalizations about the problem of the study, some concepts relevant to self-taught activities as well as means of teaching and learning and analyzed theory to clarify the programmed instruction
- Chapter 2: Current teaching on technology in the eleventh grade at Hung Vuong High School
The researcher investigated for the objectives, the specific content of technology in the eleventh grade Then, the researcher sent sets of questionnaires for teachers and for students to gain information about teaching and learning methods, teaching and learning aids, and the students’ attitude towards the technology in the eleventh grade
at Hung Vuong High School
- Chapter 3: Programmed instruction in technology in the eleventh grade at Hung Vuong High School
The researcher conducted a sample for three lessons in part V, part VI - combustion engine, then compiled a lesson plan and designed handouts for teaching Next, an experiment was carried out, and the researcher analyzed the data The result of the study showed that the quality of this subject increased significantly
Trang 5MỤC LỤC
TRANG
LÝ LỊCH KHOA HỌC i
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
TÓM TẮT LUẬN VĂN v
MỤC LỤC vii
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT xi
DANH SÁCH CÁC BẢNG xii
DANH SÁCH CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ xiii
MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2
4 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3
a Khách thể nghiên cứu 3
b Đối tượng nghiên cứu 3
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
6 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 3
7 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
8 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DẠY HỌC THEO CHƯƠNG TRÌNH HÓA MÔN CÔNG NGHỆ 11 5
1.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 8
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 10
1.2.1 Chương trình 10
1.2.2 Phương pháp dạy học 12
Trang 61.3 CƠ SỞ PHÁP LÝ 13
1.4 HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC 15
1.4.1 Một số khái niệm về tự học 15
1.4.2 Đặc điểm hoạt động tự học 17
1.4.3 Tổ chức hoạt động tự học cho học sinh 19
1.5 PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC 21
1.5.1 Định nghĩa 21
1.5.2 Phân loại PTDH 22
1.5.3 Tính chất PTDH 25
1.5.4 Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học 26
1.5.5 Cơ sở chung để lựa chọn phương tiện dạy học 27
1.6 DẠY HỌC THEO CHƯƠNG TRÌNH HÓA 27
1.6.1 Đại cương về phương pháp dạy học theo chương trình hóa 27
1.6.2 Đặc điểm của dạy học theo chương trình hóa 28
1.6.3 Cấu trúc của chương trình dạy 29
1.6.4 Các kiểu chương trình dạy 30
1.6.5 Qui trình xây dựng bài dạy theo dạy học chương trình hóa 33
1.6.6 Phương tiện dạy học theo chương trình hóa 35
1.6.7 Ưu điểm và hạn chế của dạy học theo chương trình hóa 36
Kết luận chương 1 38
Chương 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 11 TẠI TRƯỜNG THPT CHUYÊN HÙNG VƯƠNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG 39
2.1 TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG THPT CHUYÊN HÙNG VƯƠNG 39
2.1.1 Lịch sử hình thành 39
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 40
2.1.3 Thành tích đạt được 40
2.2 MÔN CÔNG NGHỆ 11 42
2.2.1 Vị trí môn Công nghệ 11 42
2.2.2 Đặc điểm nội dung môn Công nghệ 11 42
Trang 72.2.3 Mục tiêu chương trình môn Công nghệ 11 44
2.2.4 Chương trình môn Công nghệ 11 45
2.3 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 11 TẠI TRƯỜNG THPT CHUYÊN HÙNG VƯƠNG 46
2.3.1 Mục đích khảo sát 46
2.3.2 Nội dung khảo sát 46
2.3.3 Đối tượng khảo sát 46
2.3.4 Kỹ thuật khảo sát 47
2.3.5 Tiêu chí đánh giá 47
2.3.6 Phân tích thực trạng tổ chức dạy học môn Công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương 48
Kết luận chương 2 61
Chương 3: DẠY HỌC THEO CHƯƠNG TRÌNH HÓA MÔN CÔNG NGHỆ 11 TẠI TRƯỜNG THPT CHUYÊN HÙNG VƯƠNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG 62 3.1 NỘI DUNG CHƯƠNG “ĐỘNG CƠ ĐỐT TRONG” 62
3.1.1 Mục tiêu của chương 62
3.1.2 Cấu trúc nội dung các bài dạy trong chương 63
3.2 QUI TRÌNH XÂY DỰNG BÀI GIẢNG MÔN CÔNG NGHỆ 11 THEO DẠY HỌC CHƯƠNG TRÌNH HÓA 64
3.2.1 Bài “Nguyên lý làm việc của động cơ đốt trong” 64
3.2.2 Bài “Thân máy và nắp máy” 67
3.2.3 Bài “Cơ cấu trục khuỷu thanh truyền” 69
3.3 TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO CHƯƠNG TRÌNH HÓA MÔN CÔNG NGHỆ 11 71
3.4 KIỂM NGHIỆM, ĐÁNH GIÁ: 84
3.4.1 Mục đích thực nghiệm 84
3.4.2 Đối tượng thực nghiệm 84
3.4.3 Thời gian, địa điểm thực nghiệm 84
3.4.4 Cách tiến hành thực nghiệm 84
Trang 83.4.5 Tiêu chí và thang đo thực nghiệm 85
3.4.6 Kết quả 85
Kết luận chương 3 97
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHẦN PHỤ LỤC 104
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Phân loại PTDH dựa vào nhận thức trực quan 24
Bảng 2.1: Thành tích trường THPT chuyên Hùng Vương qua các năm 41
Bảng 2.2: Danh sách các lớp được chọn khảo sát 46
Bảng 2.3: Danh sách giáo viên tham gia khảo sát 47
Bảng 2.4: Mức độ yêu thích môn Công nghệ 11 48
Bảng 2.5: Mức độ vận dụng kiến thức, kỹ năng môn Công nghệ 11 49
Bảng 2.6: Khả năng lĩnh hội kiến thức của học sinh 50
Bảng 2.7: Nhận xét của học sinh về cách tổ chức dạy học của GV Công nghệ 52
Bảng 2.8: Đánh giá về phương tiện đồ dùng dạy học môn Công nghệ 53
Bảng 2.9: Phương pháp giáo viên sử dụng dạy môn Công nghệ 11 54
Bảng 2.10: Phương tiện sử dụng trong giảng dạy môn Công nghệ 56
Bảng 2.11: Sự quan tâm của Ban giám hiệu đối với môn Công nghệ 57
Bảng 3.1: Mức độ hiểu bài tại lớp 86
Bảng 3.2: Mức độ ôn bài cũ 87
Bảng 3.3: Mức độ hứng thú đối với môn Công nghệ 11 88
Bảng 3.4: Mức độ chuẩn bị bài mới 89
Bảng 3.5: Điểm đánh giá tiết dạy của các giáo viên dự giờ 90
Bảng 3.6: Kết quả điểm số của học sinh ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 91
Bảng 3.7: Thống kê tần số xuất hiện điểm theo các mức 92
Bảng 3.8: Phân phối tần số xuất hiện điểm của học sinh 93
Bảng 3.9: Tổng hợp các tham số đặc trưng nhóm thực nghiệm 93
Bảng 3.10: Tổng hợp các tham số đặc trưng nhóm đối chứng 94
Bảng 3.11: Phần trăm tần suất điểm số học sinh của lớp TN và lớp ĐC 96
Trang 11DANH SÁCH CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ
TRANG
Sơ đồ 1.1: Các liều kiến thức của chương trình 30
Sơ đồ 1.2: Chương trình kiểu đường thẳng 30
Sơ đồ 1.3: Chương trình kiểu phân nhánh 32
Sơ đồ 1.4: Qui trình xây dựng bài dạy theo chương trình hóa 35
Hình 2.1: Trường THPT chuyên Hùng Vương tỉnh Bình Dương 39
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức trường THPT chuyên Hùng Vương 40
Biểu đồ 2.1: Mức độ yêu thích môn Công nghệ 11 48
Biểu đồ 2.2: Mức độ vận dụng kiến thức, kỹ năng môn Công nghệ 11 49
Biểu đồ 2.3: Khả năng lĩnh hội kiến thức của học sinh 51
Biểu đồ 2.4: Nhận xét của học sinh về cách tổ chức giảng dạy của GV 52
Biểu đồ 2.5: Đánh giá về phương tiện đồ dùng dạy học môn Công nghệ 54
Biểu đồ 2.6: Phương pháp giáo viên sử dụng dạy môn Công nghệ 11 55
Biểu đồ 2.7: Phương tiện sử dụng trong giảng dạy môn Công nghệ 56
Biểu đồ 2.8: Sự quan tâm của Ban giám hiệu đối với môn Công nghệ 58
Biểu đồ 3.1: Mức độ hiểu bài tại lớp 86
Biểu đồ 3.2: Mức độ ôn bài cũ 87
Biểu đồ 3.3: Mức độ hứng thú đối với môn Công nghệ 11 88
Biểu đồ 3.4: Mức độ chuẩn bị bài mới 89
Biểu đồ 3.5: Tần số xuất hiện điểm số theo các mức độ giỏi, khá, trung bình 92
Biểu đồ 3.6: Đường tần suất hội tụ của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 96
Trang 12MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay, trước sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin, liên minh kinh tế giữa các khu vực trên thế giới cũng phát triển vô cùng mạnh mẽ Sự ra đời ngày càng nhiều và tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của các công
ty xuyên quốc gia đã chỉ ra xu hướng phát triển chung của nền kinh tế thế giới hiện nay đó là quốc tế hóa nền kinh tế toàn cầu Không một quốc gia nào, dù lớn hay nhỏ,
dù thuộc hệ thống kinh tế xã hội nào, có thể tồn tại mà không chịu tác động của xu hướng ấy
Trước tình hình đó Việt Nam cũng không ngoại lệ, hiện là một nước đang phát triển Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại đại hóa nền kinh tế, từng bước hội nhập nền kinh tế toàn cầu, mở rộng quan hệ giao lưu, hợp tác với các nước trên thế giới, đặt ra cho mình những định hướng phát triển phù hợp với xu hướng mới Đại hội lần thứ X và Đại hội lần thứ XI , Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua mục tiêu đến năm 2020 sẽ đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại, đây là một mục tiêu chiến lược nhằm thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh chóng Và một trong những yếu tố quan trọng, giúp chúng ta
có thể đạt được mục tiêu đề ra là vai trò của nguồn nhân lực Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người đủ trình độ, đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì cũng không thể phát triển được Như vậy, làm sao để tạo ra nguồn nhân lực chất lượng đảm bảo cho
sự phát triển bền vững của đất nước, đó chính là nhiệm vụ lâu dài của nền giáo dục
Trang 13thiết đối với các trường phổ thông là phải tích cực tiến hành công tác hướng nghiệp một cách thường xuyên, nhằm giúp học sinh chuẩn bị mọi mặt, sẵn sàng tham gia vào hoạt động lao động sản xuất sau khi ra trường Qua đó cho thấy, các môn học ở phổ thông cũng không kém phần quan trọng điển hình là môn Công nghệ, một môn học cung cấp cho học sinh nhiều kiến thức bổ ích, liên quan đến rất nhiều ngành nghề khác nhau trong đời sống xã hội Tuy nhiên, điều đáng buồn là từ trước đến giờ môn Công nghệ chỉ được coi như là một môn phụ, ít được nhà trường quan tâm và đầu tư đổi mới phương pháp
Tại trường THPT chuyên Hùng Vương cũng vậy, tuy là trường chuyên nhưng việc dạy và học môn Công nghệ cũng không được giáo viên và học sinh quan tâm nhiều Trong những năm học qua, giáo viên trường thường chỉ giảng dạy theo phương pháp truyền thống Thầy đọc – trò chép mà chưa thực sự quan tâm đến những lợi ích mà môn học này mang lại cho các em học sinh sau này Chính vì những bất cập tồn tại nói trên, yêu cầu phải đổi mới phương pháp nhằm nâng cao chất lượng môn học này
là điều vô cùng cần thiết
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tác giả chọn đề tài “Dạy học theo chương trình hóa môn Công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương, tỉnh Bình Dương” để nghiên cứu đề xuất dạy học theo chương trình hóa trong nhà trường, nhằm nâng cao chất lượng môn Công nghệ 11 nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Dạy học theo chương trình hóa môn Công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương, tỉnh Bình Dương nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu lý luận về dạy học theo chương trình hóa và dạy học môn Công nghệ
11
- Khảo sát thực tiễn về hoạt động dạy học môn Công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương, tỉnh Bình Dương
Trang 14- Dạy học theo chương trình hóa môn Công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương, tỉnh Bình Dương
- Kiểm nghiệm, đánh giá tính khả thi của đề xuất
4 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
a Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học của giáo viên và học sinh đối với môn Công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương, tỉnh Bình Dương
b Đối tượng nghiên cứu
Dạy học theo chương trình hóa môn Công nghệ 11
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: sử dụng các phương pháp đọc tài liệu, nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu lý luận liên quan đến dạy học theo chương trình hóa
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp điều tra: tiến hành điều tra bằng phiếu câu hỏi khảo sát với giáo viên
và học sinh trong trường Qua đó, tìm hiểu về thực trạng việc dạy học môn Công nghệ
11 tại trường
+ Phương pháp quan sát: tham gia dự giờ một số tiết dạy của giáo viên môn Công nghệ 11, phát phiếu đánh giá tiết dạy cho các giáo viên dự giờ đánh giá và thu lại phiếu để tổng hợp, phân tích số liệu từ đó tìm hiểu về thực trạng dạy học môn Công nghệ 11 ở trường THPT chuyên Hùng Vương, tỉnh Bình Dương
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm có đối chứng: được tiến hành theo một qui trình xác định trên hai nhóm thực nghiệm và đối chứng, nhằm so sánh hiệu quả giữa phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học theo chương trình hóa
- Phương pháp thống kê toán học
6 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Hiện nay, môn Công nghệ 11 hầu như được đưa vào giảng dạy chính qui đại trà ở các trường phổ thông, tuy nhiên hiệu quả từ môn học này vẫn chưa được như mong muốn Nếu dạy học theo chương trình hóa môn Công nghệ 11 thì sẽ phát huy tính
Trang 15tích cực, tự giác học tập của học sinh và hình thành năng lực tự học, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy
7 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Vì lý do thời gian và năng lực có hạn nên tác giả chỉ tập trung nghiên cứu đề xuất dạy học theo chương trình hóa chương V, VI phần “Động cơ đốt trong” môn Công nghệ lớp 11
8 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của dạy học theo chương trình hóa môn Công nghệ 11 Chương 2: Thực trạng dạy học môn Công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương, tỉnh Bình Dương
Chương 3: Dạy học theo chương trình hóa môn Công nghệ 11 tại trường THPT chuyên Hùng Vương, tỉnh Bình Dương
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DẠY HỌC THEO CHƯƠNG
TRÌNH HÓA MÔN CÔNG NGHỆ 11
1.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Trên thế giới
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, dù ở bất kì hình thái xã hội nào thì vai trò của giáo dục cũng luôn được con người quan tâm hàng đầu Ý thức được tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển của xã hội, các nhà giáo dục trên thế giới luôn nghiên cứu để tìm ra phương pháp dạy học hiệu quả nhằm giúp người học chủ động chiếm lĩnh tri thức, phát huy tối đa năng lực cá nhân của người học Trong bối cảnh
đó, dạy học theo chương trình hóa đã ra đời và nó đã nâng hoạt động giảng dạy lên một tầm cao mới
Cách đây khoảng 90 năm phương pháp dạy học theo chương trình hóa đã ra đời, nhưng từ khi khoa học điều khiển và tin học phát triển thì các nhà giáo dục mới ấn tượng thực sự về hiệu quả của phương pháp này mang lại Dạy học theo chương trình hóa lấy tên gọi từ khái niệm “chương trình” của máy tính, vận dụng vào dạy học để chỉ sự xây dựng chương trình học cho người học một cách đặc biệt Đó là hình thức học nhằm điều khiển tối ưu việc học của cá nhân học sinh thông qua việc tích cực, chủ động học tập theo chương trình mà giáo viên đã thiết kế
Một trong những người nghiên cứu đầu tiên về dạy học theo chương trình hóa là nhà tâm lý học người Ba Lan Stanistaw – Trebixky vào những năm 20 Đến năm
1924, vận dụng lý thuyết dạy học theo chương trình L Pressey đã sáng chế ra máy dạy học đầu tiên dựa trên hệ thống câu hỏi trắc nghiệm Chiếc máy này sẽ cho học sinh biết kết quả lựa chọn của mình là đúng hay sai thông qua các câu hỏi trắc nghiệm, nếu trả lời đúng máy sẽ tự động chuyển sang câu hỏi tiếp theo, nếu sai thì vẫn giữ nguyên màn hình câu hỏi cũ Khi học tập với máy, học sinh không đơn thuần chỉ là nghe, nhìn hay đọc chép một cách thụ động, mà còn phải chủ động suy nghĩ để tìm
Trang 17ra đáp án của câu hỏi bằng những kiến thức vừa học Những câu trả lời của học sinh
dù đúng hay sai đều được lưu lại để làm cơ sở cho việc cải tiến, điều chỉnh các câu hỏi trắc nghiệm phù hợp với khả năng nhận thức của người học Qua đó, L Pressey
đã chỉ rõ việc dạy học tự động sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc củng cố ngay kiến thức mà học sinh vừa học, giúp mỗi học sinh có thể học tập theo nhịp độ riêng của cá nhân, rèn luyện tính tích cực, chủ động trong hoạt động học tập
Năm 1950 B.F Skinner một trong những bậc thầy về thuyết hành vi đã đưa ra khái niệm về dạy học theo chương trình hóa thu hút được sự chú ý của hầu hết các nhà khoa học thời bấy giờ Lý thuyết của Skinner so với các nhà nghiên cứu trước có hai điểm nổi bật: Thứ nhất Ông đã đưa ra chương trình kiểu đường thẳng gồm một chuỗi liên tiếp các bước học tập cần phải hoàn thành để đạt được mục tiêu mong muốn, nghĩa là tài liệu dạy học phải được thiết kế cẩn thận, theo trật tự logic, kiến thức bài trước là nền tảng cho việc học kiến thức bài tiếp theo Thứ hai, Ông muốn học sinh
tự đưa ra câu trả lời riêng của bản thân chứ không nên thừa nhận những câu trả lời
mà giáo viên soạn trước, người học phải nhớ lại kiến thức và diễn đạt theo ngôn ngữ của bản thân chứ không đơn thuần chỉ là học thuộc lòng Từ đó, Ông đã vận dụng quan điểm mới của mình vào chiếc máy dạy học với chương trình được thiết kế gồm chuỗi liên tiếp các bước nhỏ và hệ thống câu hỏi mà đáp án phải do học sinh tự điền vào chỗ trống để hoàn chỉnh nội dung
Năm 1959, trong quá trình nghiên cứu về dạy học theo chương trình hóa A Crowder
đã nhận ra rằng: sai lầm trong học tập của học sinh cần phải được hướng dẫn để họ
tự khắc phục, tạo điều kiện cho việc sắp xếp, liên kết kiến thức đã học để giải quyết nhiệm vụ học tập Theo Crowder, khi thiết kế chương trình, nếu lượng thông tin trong mỗi bước quá lớn thì sẽ rất khó cho giáo viên trong việc xây dựng chương trình kiểu đường thẳng Vì vậy, phương án mà Ông đưa ra là khi thiết kế chương trình dạy học, ngoài việc biên soạn câu trả lời giáo viên sẽ cung cấp thêm các thông tin kiến thức bổ sung, để sau khi trả lời nếu đúng học sinh sẽ biết được vì sao mình chọn đúng, và nếu trả lời sai thì họ sẽ nhận được những kiến thức bổ sung giải thích nguyên nhân sai
Trang 18lầm nhằm khắc phục trong lần chọn tiếp theo Crowder gọi chương trình dạy học như trên là dạy học theo chương trình hóa kiểu phân nhánh
Và đến năm 1970, khi mà các trường học phần lớn được trang bị hệ thống máy vi tính là thời kì đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của dạy học theo chương trình Các chương trình được thiết kế để học sinh có thể học tập trên máy vi tính bằng các phần mềm hỗ trợ giáo dục với những tính năng vượt trội về màu sắc, âm thanh, đa phương tiện
Ngoài ra cũng có khá nhiều đề tài nghiên cứu sinh liên quan đến dạy học theo chương trình hóa như:
Năm 1971, Joseph Lee Humphrey đã nghiên cứu về dạy học theo chương trình hóa với tên đề tài “An inquiry into programmed instruction as a pedagogical technique in accounting education” Tác giả đã làm rõ mức độ có thể ứng dụng dạy học theo chương trình hóa vào giảng dạy kế toán, cũng như giải thích nguyên nhân tại sao cần phải sử dụng dạy học theo chương trình hóa trong lĩnh vực kế toán Qua đó, tác giả
đã rút ra được ưu nhược điểm của phương pháp để làm cơ sở cho việc sử dụng dạy học theo chương trình hóa như là một công cụ sư phạm dùng trong dạy học chuyên ngành kế toán Có thể nói đề tài đã có những đóng góp quan trọng, là tiền đề cho việc nghiên cứu ứng dụng dạy học theo chương trình hóa cho nhiều lĩnh vực khác về sau Năm 2003, Stephen C Scherer đã nghiên cứu về dạy học theo chương trình hóa với
đề tài “Reinforcement and punishment during programmed instruction” Tác giả đã nghiên cứu đến các yếu tố làm tăng cường động cơ học tập của học sinh khi học tập với chương trình hóa, cũng như đưa ra các hình phạt nhằm răng đe việc học sinh trả lời cẩu thả các câu hỏi mang tính đối phó trong khi học Kết quả cho thấy, việc áp dụng các hình phạt khi dạy học theo chương trình hóa đã làm cho học sinh học tập nghiêm túc và hiệu quả hơn Tuy nhiên, đề tài cũng còn hạn chế khi chưa xét đến việc đưa ra các hình phạt quá nhiều sẽ làm cho học sinh có cảm giác nản lòng khi học Năm 2005, Reinaldo L.Canton trường đại học miền nam Florida đã có đề tài nghiên cứu về dạy học theo chương trình hóa “Effects of constructed response contingencies
in web-based programmed instruction on graphing compared to cued-text
Trang 19presentation of the same information” Trong đề tài này, tác giả đã xây dựng tài liệu dạy học theo chương trình hóa trên website và sau đó tiến hành thực nghiệm để khảo sát kết quả học tập của hai nhóm sinh viên Một nhóm học với tài liệu in trên giấy, nhóm còn lại học trên web với các bước học tập được lập trình theo trình tự logic Kết quả nghiên cứu cho thấy sinh viên đã thể hiện được tính tích cực, chủ động thông qua việc học với chương trình dạy trên web rất nhiều so với những sinh viên học với tài liệu trên giấy Tuy nhiên, đề tài này chỉ thích hợp khi mà các trường học được trang bị đầy đủ các máy vi tính có kết nối mạng internet do đó khó áp dụng đại trà.
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, dạy học theo chương trình hóa được đề cập đến vào đầu những năm
90 Tuy nhiên, việc vận dụng phương pháp này cũng chưa được phổ biến rộng rãi
Từ đó, các nhà giáo dục trong nước đã tham gia nghiên cứu nhằm triển khai phương pháp dạy học này trong nhà trường nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác giảng dạy
- Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Kỳ trong giáo trình “Phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm”[18] tác giả cho rằng phương pháp dạy học
không phải chỉ là việc giáo viên giảng bài và học sinh lắng nghe ghi chép, mà phải
có một sự tổ chức khoa học và bao gồm hệ thống các cách thức hoạt động học tập của học sinh để chiếm lĩnh tri thức dưới sự định hướng, giám sát của giáo viên nhằm rèn luyện cho học sinh khả năng giải quyết vấn đề, phát triển tư duy từ đó hình thành nhân cách Đồng thời, giáo viên cần chú ý tới việc tạo ra môi trường thuận lợi để kích thích sự tò mò khoa học, gây được hứng thú học tập ở người học Tuy nói về phương pháp dạy học nói chung, nhưng ở đây tác giả Nguyễn Kỳ đã đề cập đến các điểm mới của phương pháp dạy học tích cực mà dạy học theo chương trình hóa là một trong những phương pháp thỏa mãn được những yêu cầu trên Từ đó cho thấy các nhà giáo dục Việt Nam cũng rất quan tâm về các lý thuyết dạy học hiện đại để vận dụng vào thực tế
- Tác giả Nguyễn Văn Bính với giáo trình “Phương pháp dạy học kỹ thuật công nghiệp – Tập 1 Phần đại cương”[4] xem dạy học theo chương trình hóa như là một
Trang 20trong những phương pháp dạy học tích cực Trong đó giáo viên sẽ là người thiết kế chương trình, chia nội dung dạy học ra nhiều bước học tập nhỏ và hướng dẫn học sinh học theo chương trình trên giấy hoặc trên máy tính Theo tác giả vai trò của giáo viên chỉ là người hướng dẫn, hỗ trợ cho học sinh tự mình chiếm lĩnh tri thức học tập
- Cũng với giáo trình cùng tên nhưng được xuất bản vào năm 2007, tác giả Dương Phúc Tý[30] đã kế thừa những quan điểm về dạy học theo chương trình hóa của các nhà giáo dục trước đó Đồng thời trong tài liệu của mình, tác giả đã vận dụng lý thuyết
để đưa ra những ví dụ cụ thể về xây dựng các liều kiến thức của gia công chi tiết trên máy tiện, theo kiểu chương trình phân nhánh trên các phiếu học tập Điều đó cho thấy dạy học theo chương trình hóa có thể áp dụng cho nhiều môn học khác nhau
- Còn tác giả Bùi Thị Mùi với giáo trình “Lý luận dạy học”[20] đã chia các thành
phần của bước trong chương trình học ra làm bốn phần nhỏ nhằm làm rõ ràng hơn về thành phần trong bước Theo đó mỗi bước sẽ gồm: phần thông báo kiến thức, phần câu hỏi kiểm tra, phần đánh giá việc trả lời để quyết định việc học tiếp theo và cuối cùng là phần học sinh biết được tính đúng sai câu trả lời của mình Như vậy, so với việc chia bước gồm ba thành phần của các tác giả trước cũng không có gì khác biệt,
ở đây tác giả đã kế thừa hai thành phần đầu tiên và mở rộng thành phần thứ ba của bước thành hai thành phần nhỏ nữa để dễ hiểu hơn
Ngoài ra, nước ta cũng có rất nhiều đề tài khoa học tham gia nghiên cứu về phương pháp dạy học theo chương trình hóa để hướng tới việc áp dụng thay thế cho phương pháp dạy học truyền thống, nhằm đáp ứng những yêu cầu của giáo dục trong thời kì mới Điều này chứng tỏ sự quan tâm ngày càng nhiều của các tác giả Việt Nam đối với quan điểm dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm
- Năm 2001, sinh viên Trần Thị Thu Hà đã nghiên cứu về dạy học theo chương trình
hóa với tên đề tài “Bước đầu nghiên cứu việc sử dụng phương pháp dạy học chương trình hóa với sự hỗ trợ của phần mềm dạy học Sketchpad trong dạy học Toán ở Tiểu học” Tuy chỉ là bước đầu xây dựng chương trình dạy học để giúp tự động hóa hoạt
động học tập của học sinh đối với bộ môn Toán, nhưng ở đây tác giả đã khai thác được sức mạnh của công cụ là phần mềm vẽ hình học trên máy tính Sketchpad, kết
Trang 21hợp với một chương trình dạy logic đã tạo ra những giờ học Toán thật sự rất lôi cuốn học sinh Nhưng bởi vì đặc thù lứa tuổi thiếu niên nên việc tự giác học tập cũng như khả năng tự học của các em cũng còn nhiều hạn chế
- Năm 2002, sinh viên Nguyễn Huyền Trang cũng có công trình nghiên cứu về việc
sử dụng phương pháp dạy học theo chương trình hóa qua đề tài “Nghiên cứu việc sử dụng phương pháp dạy học chương trình hóa với sự hỗ trợ của phần mềm Power Point thông qua môn Tiếng Việt ở Tiểu học” Tương tự đề tài trước về quan điểm tiếp
cận dạy học theo chương trình hóa, nhưng ở đây tác giả đã căn cứ vào những đặc thù riêng của môn học mình giảng dạy là Tiếng Việt, nên đã kết hợp phần mềm hỗ trợ trình chiếu Power Point để thiết kế ra những bài dạy Tiếng Việt cho học sinh học trên máy tính Từ kết quả thu được, tác giả đã mạnh dạn đề xuất áp dụng rộng rãi vào hoạt động giảng dạy trong các trường học Qua đó, một lần nữa ta thấy được mức độ tương thích rất tốt của dạy học theo chương trình hóa với nhiều bộ môn khác nhau Tuy nhiên, cả hai đề tài trên đòi hỏi về trang thiết bị phải được đầu tư đầy đủ mới có thể
áp dụng được một cách đại trà
- Năm 2006, TS Phó Đức Hòa đã kế thừa và mở rộng phạm vi ứng dụng của dạy
học theo chương trình hóa cho tất cả các môn học ở tiểu học với đề tài “Nghiên cứu PPDH Chương trình hóa có sử dụng phần mềm Power Point trong quá trình dạy học tiểu học” đã được công nhận là đề tài trọng điểm cấp Bộ Tác giả đã cho thấy việc
ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học không chỉ là chiếu và chép như mọi người vẫn thường nghĩ, mà ở đây sự kết hợp giữa một chương trình dạy được thiết kế một cách khoa học cùng với sự hỗ trợ của phần mềm Power point sử dụng trên máy tính, sẽ giúp phát huy tối đa năng lực học tập của cá nhân và tăng cường tính tích cực, chủ động trong hoạt động học tập
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1.2.1 Chương trình
Khoa học máy tính nghiên cứu cơ sở lý thuyết về thông tin, tính toán và vận dụng chúng vào hệ thống máy tính Mỗi máy tính được tạo thành từ hai thành phần cơ bản
Trang 22là phần mềm và phần cứng Trong đó phần mềm máy tính được xem là bộ não để điều khiển các thiết bị phần cứng làm việc
Chương trình được xem là một loại phần mềm máy tính, là tập hợp những câu lệnh hoặc những hướng dẫn, chỉ thị được viết bằng ngôn ngữ lập trình theo một trật tự xác định kết hợp với các dữ liệu liên quan nhằm tự động thực hiện một số nhiệm vụ, chức năng hoặc giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó Theo đó, chương trình sẽ thực hiện các chức năng của mình bằng cách gửi các chỉ thị trực tiếp đến phần cứng để phần cứng thực hiện các mệnh lệnh Chương trình được chia làm hai loại chính:
- Chương trình hệ thống dùng để vận hành các thiết bị phần cứng của máy tính
- Chương trình ứng dụng thường liên quan đến các thao tác giữa người và máy tính
để xử lý các dữ liệu, dùng để hoàn thành một hay nhiều công việc nào đó bằng các công cụ tương tác được lập trình viên tạo ra trước đó Ví dụ như phần mềm văn phòng giúp người dùng soạn thảo văn bản được nhanh chóng, phần mềm kế toán giúp người dùng tính toán xử lý số liệu trong lĩnh vực tài chính nhanh và chính xác hơn, hay phần mềm dạy học giúp tự động hóa một số hoạt động trong dạy học bằng máy tính… Tóm lại, khi nói đến chương trình là nói đến một tập hợp các mệnh lệnh, các hướng dẫn được sắp xếp một cách trật tự, logic có mối quan hệ mật thiết với nhau nhằm tự động thực hiện lần lượt từng nhiệm vụ hay chức năng cụ thể được tạo ra bởi lập trình viên Người dùng sẽ tương tác với máy tính thông qua những hướng dẫn mà người lập trình đã thiết kế sẵn để giải quyết một công việc hay nhiệm vụ nhất định một cách
tự động Thông qua cách thức hoạt động của chương trình và mức độ hài lòng của người sử dụng, mà người lập trình sẽ bổ sung, cải tiến chương trình một cách phù hợp
Chương trình hóa là khái niệm chỉ việc vận dụng quan điểm về điều khiển chương trình máy tính vào quá trình dạy học Nghĩa là người giáo viên sẽ biên soạn nội dung dạy học thành một chương trình, bao gồm nhiều bước hướng dẫn liên tiếp được sắp xếp theo một trình tự khoa học hợp lý Trong đó, học sinh tự mình có thể học tập với tài liệu được chương trình hóa một cách tự động, nhằm đạt kết quả học tập cuối cùng
là mục tiêu dạy học mà giáo viên đề ra khi thiết kế chương trình
Trang 23Bởi vì bài dạy được xây dựng như một chương trình nên khi chương trình hóa cần phải đáp ứng được những đặc trưng cơ bản của một chương trình như: bài dạy phải được trình bày theo trật tự logic chặt chẽ, nội dung giữa các bài có liên hệ mật thiết với nhau, nhiệm vụ từng bài học được giải quyết lần lượt và kiến thức bài trước phải làm nền tảng cho việc học bài tiếp theo, nhằm điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh như giáo viên mong muốn
Tài liệu dạy học theo chương trình hóa có thể kết hợp với các phần mềm hỗ trợ trên máy vi tính nhằm tăng cường khả năng tương tác của học sinh, giúp họ học tập một cách độc lập mà không cần phải có giáo viên Đồng thời, kết quả học tập của học sinh
sẽ là cơ sở để giáo viên thiết kế, cải tiến lại chương trình dạy học nhằm điều khiển hoạt động nhận thức đạt kết quả tối ưu nhất
Có thể nói rằng phương pháp dạy học có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình dạy học Vì phương pháp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ lĩnh hội kiến thức của người học, nghĩa là sẽ làm cho việc tiếp thu kiến thức ở người học diễn ra dễ dàng hay khó khăn và có đạt được mục tiêu dạy học ban đầu đặt ra hay không Do đó, để lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp và mang lại hiệu quả thì khi lựa chọn ta cần căn cứ vào những cơ sở sau:
- Mục tiêu dạy học: thường tập trung vào ba mục tiêu chính là mục tiêu về kiến thức, mục tiêu về kỹ năng và mục tiêu về thái độ mà sau quá trình học người học sẽ đạt được
Trang 24- Nội dung dạy học: nội dung sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn phương pháp Tùy vào đặc thù khoa học, tính chất cũng như cấu trúc của môn học, bài học mà ta sẽ lựa chọn phương pháp sao cho phù hợp với nội dung
- Mục đích sư phạm
- Trình độ phát triển khả năng của người học
Tóm lại khi lựa chọn một phương pháp cần quan tâm đến các thành tố như mục tiêu, nội dung, phương tiện và các điều kiện đặc thù vùng miền để có thể lựa chọn được phương pháp phù hợp nhất, nhằm phát huy ưu điểm và hạn chế khuyết điểm của mỗi phương pháp Vì không có một phương pháp nào là vạn năng phù hợp với tất cả các
bộ môn, do đó khi giảng dạy nếu có thể nên kết hợp nhiều phương pháp với nhau
1.3 CƠ SỞ PHÁP LÝ
Hiện nay, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học luôn là vấn đề cấp bách được đề cập rất nhiều trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng và Nhà nước, của Bộ Giáo dục và Đào tạo:
- Theo khoản 1 Điều 27 của Luật giáo dục 2005 có nêu “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [23] Thật vậy, đất nước ta đang trong thời kì quá độ lên xã hội chủ nghĩa và để đi lên hình thái xã hội này thành công, ta cần phải có những con người toàn diện hội đủ các yếu tố nhân, lễ, nghĩa, trí, tín để lãnh đạo đất nước
- Theo mục 2 Điều 28 của Luật giáo dục 2005 có nêu “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”[23] Về tầm nhìn giáo dục nước ta so với các nước trên thế giới, Việt Nam đã tiếp cận đúng những vấn đề
Trang 25cốt lõi về phương pháp dạy học Vấn đề ở đây là phải vạch ra cách thức để vận dụng những phương pháp này thành công trong môi trường giáo dục của đất nước, vẫn còn đang là vấn đề làm cho nhiều người phải băn khoăn
- Theo Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 (Ban hành kèm theo Quyết định
số 201/2001/QĐ - TTg ngày 28 tháng 12 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ) ở mục 4.1.c có nêu mục tiêu phát triển giáo dục đến năm 2010 là “Đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, chương trình giáo dục các cấp bậc học và trình độ đào tạo; phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả và đổi mới phương pháp dạy - học, đổi mới quản lí giáo dục cơ sở pháp lí
và phát huy nội lực phát triển giáo dục”[6] Trong đó ở mục 4.2.b mục tiêu của giáo dục phổ thông có nêu “Thực hiện giáo dục toàn diện về đức, trí, thể, mỹ Cung cấp học vấn phổ thông cơ bản, hệ thống và có tính hướng nghiệp; tiếp cận trình độ các nước phát triển trong khu vực Xây dựng thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo; lòng ham học, ham hiểu biết, năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống”[6] Hầu hết chủ trương chính sách của ta luôn
ý thức được vai trò của giáo dục phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân, bởi lẻ
nó sẽ là nền tảng cơ bản vững chắc cho các bậc học khác và quyết định rất lớn đến chất lượng nguồn lao động đất nước Vì vậy, mà việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên từ những bậc học thấp cũng là điều quan trọng không kém, nhằm phát huy tối đa năng lực cá nhân của người học
- Theo Chương trình hành động của ngành giáo dục: Thực hiện kết luận Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá IX và Chiến lược phát triển giáo dục
2001 - 2010 ở mục B.3 có nêu “Cải tiến phương pháp dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học; tăng cường thực hành, thực tập; kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo, nghiên cứu khoa học và lao động sản xuất; ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin và các thành tựu khác của khoa học, công nghệ vào việc dạy và học”[6] Lời dạy ngàn xưa của ông cha ta thật sự vẫn luôn đúng cho đến hiện tại, học phải đi đôi với hành, kiến thức học tập phải phục vụ cho thực tiễn sản xuất Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, đòi hỏi người giáo viên phải luôn trao
Trang 26dồi kiến thức để vận dụng những thành tựu của khoa học vào dạy học mang lại hiệu quả cao nhất
- Theo Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 ở mục 5.2 ghi rõ “Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục Chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp, phát triển năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh trong quá trình học tập, ”[6] Đây là quan điểm hoàn toàn đúng đắn mà cần phải triển khai gấp rút nếu muốn thay đổi diện mạo của nền giáo dục đất nước hiện nay Chỉ khi nào người học hiểu được thật sự việc học là của chính bản thân mình thì họ mới tích cực, tự giác chiếm lĩnh tri thức bằng mọi giá
Từ những cơ sở trên, có thể nói rằng mục tiêu giáo dục luôn được Đảng và Nhà nước coi là quốc sách hàng đầu Trong đó, một trong những nhiệm vụ trọng tâm để thực hiện được mục tiêu đề ra là đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh, góp phần tạo ra những con người xã hội chủ nghĩa phát triển toàn diện
1.4 HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC
1.4.1 Một số khái niệm về tự học
Cùng với tốc độ phát triển nhanh chóng của xã hội loài người trong những năm gần đây thì yêu cầu về chất lượng đối với đội ngũ lao động cũng ngày một tăng theo Đó cũng chính là thách thức cho nền giáo dục ở các nước phải cải cách toàn diện để phù hợp với tình hình mới Nền giáo dục hiện đại đã chuyển sang quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm để giúp học sinh có thể tích cực, chủ động tự giác hơn trong việc học của mình và một yếu tố vô cùng quan trọng mà quan điểm dạy học trên muốn hình thành ở người học đó là khả năng tự học
Theo Isaac Asimov trong việc tự học nhà trường chỉ nên đóng vai trò tạo môi trường thuận lợi cho học sinh tự học, vì chỉ có thể bằng cách tự học thì học sinh mới mong
có thể làm được việc gì đó có hiệu quả từ những kiến thức của mình Và nếu một ngôi
Trang 27trường mà không tạo ra được môi trường học tập cho học sinh thì nó sẽ không còn là chính nó nữa
Thực tế cho thấy rằng con người có rất nhiều cách học khác nhau Trong cuộc sống hàng ngày, người ta có thể học tập thêm những kinh nghiệm mới ở mọi lúc mọi nơi, nhưng đó chỉ là việc học tập một cách ngẫu nhiên vì những kiến thức thu được chủ yếu nảy sinh trong sinh hoạt, chưa thể đáp ứng những yêu cầu công việc phức tạp đòi hỏi kiến thức chuyên môn trong xã hội Từ đó, cần phải tổ chức cho học sinh được học tập trong các trường, được giáo viên hướng dẫn, định hướng những kiến thức chuyên môn phù hợp với các lĩnh vực lao động sản xuất đặc thù trong xã hội Đồng thời, nhà trường sẽ là nơi tạo ra môi trường học tập tốt nhất để học sinh phát huy tối
đa năng lực bản thân thông qua việc tự học Khi đó học sinh sẽ tích cực, chủ động, tự giác học tập bằng tất cả nỗ lực của cá nhân để chiếm lĩnh tri thức
Nghiên cứu hoạt động tự học với tư cách là một hình thức tổ chức dạy học dựa trên quan điểm tiếp cận công nghệ dạy học và tiếp cận hoạt động, theo tác giả Lê Khánh Bằng[3] thì học là việc tiếp thu tri thức mới bằng các hành động về mặt trí tuệ và chân tay ở mỗi người với mức độ khác nhau dựa vào vốn đặc điểm sinh học và vốn kiến thức trước đó của mỗi người mà sẽ tiếp thu với tốc độ nhanh chậm khác nhau, qua đó hình thành tri thức, kỹ năng, thái độ Tác giả cũng nêu rõ tự học là tự mình suy nghĩ một cách độc lập bằng các năng lực về trí tuệ và phẩm chất tâm sinh lý của bản thân nhằm chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định
Theo tác giả Thanh Nghị trong tác phẩm “Việt Nam tân từ điển” định nghĩa rằng tự
học là tự bản thân người học đi tìm lấy kiến thức cho mình
Về phần mình tác giả Nguyễn Cảnh Toàn[25] đã đưa ra khái niệm về tự học khá cụ thể Theo tác giả tự học là tự mình động não suy nghĩ bằng cách sử dụng các năng lực của trí tuệ như quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp… hoặc kể cả sử dụng cơ bắp như sử dụng công cụ cùng với những phẩm chất của cá nhân kết hợp với các quan điểm về nhân sinh quan, thế giới quan, thái độ, tình cảm của mỗi người để chiếm lĩnh kiến thức một lĩnh vực khoa học nào đó
Trang 28Đúc kết lại có thể đi đến khái niệm về tự học như sau: tự học là quá trình người học
tự giác, tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức, kinh nghiệm từ môi trường xung quanh một cách độc lập bằng chính nỗ lực cao độ của bản thân người học qua các thao tác trí tuệ và chân tay, nhằm hình thành cấu trúc tâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theo hướng ngày càng hoàn thiện, và dù trong tình huống nào thì trong bản thân
sự học cũng hàm chứa sự tự học
1.4.2 Đặc điểm hoạt động tự học
Nhìn chung, các tác giả nghiên cứu về hoạt động tự học đều quan niệm rằng: tự học
là học với sự độc lập và tích cực, tự giác ở mức độ cao Nghĩa là tự học là quá trình
mà trong đó chủ thể người học tự biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng các thao tác trí tuệ hoặc chân tay gắn liền với ý chí, nghị lực và niềm đam mê học tập cao độ Vì vậy, tự học có thể diễn ra ở trên lớp hoặc bên ngoài lớp, ban đầu thì có thể cần có giáo viên hướng dẫn định hướng người học nghiên cứu những lĩnh vực nào để đạt được mục tiêu, nhưng về sau khi mà nền tảng kiến thức người học đạt đến mức độ có thể tự nghiên cứu thì cũng không cần thiết phải có giáo viên nữa
Về bản chất học và tự học có mối quan hệ mật thiết với nhau, học chỉ thực sự hiệu quả khi mà có sự tự học bên trong nó Đồng thời, kết quả cuối cùng của việc học chính là sự tự học Tự học giúp cho học sinh phát huy được những năng lực sáng tạo vốn có của mình mà không sợ bị gò ép trong khuôn khổ của giáo viên
Quá trình tự học có thể diễn ra qua nhiều bước khác nhau Lúc đầu người học sẽ thu nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau trong cuộc sống Sau đó bằng vốn kiến thức, kinh nghiệm, năng lực tư duy của mình, người học sẽ đánh giá tính đúng sai của thông tin tiếp nhận để bổ sung vào vốn kiến thức của bản thân rồi vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề thực tiễn
Qua những đặc điểm trên ta có thể rút ra một số vấn đề cốt lõi để việc tự học diễn
ra có hiệu quả như sau:
- Tự học chỉ diễn ra khi người học tiến hành giải quyết vấn đề, giải quyết tình huống, giải quyết các nhiệm vụ học tập
Trang 29- Đối với học sinh phổ thông trở xuống vì những đặc điểm tâm sinh lý về lứa tuổi, nên về mặt ý thức tự giác và định hướng mục tiêu trong học tập còn chưa được vững vàng, thì việc tự học sẽ phải là một mặt trong quá trình dạy học và không thể tách rời với hoạt động dạy của giáo viên trên lớp Nghĩa là, việc tự học chỉ đạt hiệu quả cao nhất khi nó diễn ra trong mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động tự học của học sinh Nhưng hoạt động dạy của giáo viên cụ thể trong trường hợp này là dạy cho học sinh cách tự học, hay nói cách khác vai trò của người giáo viên lúc này sẽ là người tổ chức, hướng dẫn, định hướng đúng những kiến thức liên quan đến môn học của mình để tự bản thân học sinh nỗ lực chiếm lĩnh tri thức
- Tự học sẽ đạt hiệu quả cao khi mà người học tự trang bị cho mình hệ thống kỹ năng
tự học như: kỹ năng sắp xếp thời gian tự học, kỹ năng đọc sách, kỹ năng nghe và ghi chép bài trên lớp, kỹ năng nghiên cứu khoa học, kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập…Bên cạnh đó để việc học đạt hiệu quả cao, người học phải có động cơ và thái độ học tập đúng đắn nhận thức rõ mục đích hoạt động học tập của mình, phải học tập với một sự say mê tìm tòi học hỏi Đồng thời để hoàn thành các nhiệm vụ học tập đòi hỏi người học phải có sự nỗ lực cao độ của bản thân, ý chí kiên trì và sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn thử thách nhằm đạt được các mục tiêu học tập đã đề ra
- Cuối cùng, tự học chỉ thực sự hiệu quả khi mà người học được trang bị đầy đủ các phương tiện hỗ trợ cho việc tự học Đầu tiên là các phương tiện tất yếu nhất như tài liệu, giáo trình, các tài liệu hướng dẫn tự học hay phiếu học tập phát tay do giáo viên biên soạn và các tài liệu tham khảo khác Tiếp theo là các phương tiện hỗ trợ học tập như máy vi tính, băng hình, máy chiếu, phương tiện nghe nhìn…Và một phần quan trọng không kém là phải có địa điểm và môi trường thuận lợi cho việc tự học, với các điều kiện cần thiết về vệ sinh học đường để hoạt động tự học có hiệu quả như mong muốn
Trang 301.4.3 Tổ chức hoạt động tự học cho học sinh
1.4.3.1 Tổ chức hoạt động tự học cho học sinh
Hiện tại quan điểm về tổ chức quá trình dạy học đang còn có rất nhiều ý kiến khác nhau, nhưng số đông các tác giả đều cho rằng tổ chức dạy học là sự sắp xếp các thao tác, các hành động dạy học
Tổ chức hoạt động tự học là quá trình người giáo viên thiết kế, sắp xếp các biện pháp tổ chức giảng dạy của mình nhằm điều khiển và hướng dẫn cho học sinh cách
tự thiết kế, tự sắp xếp các biện pháp để thực hiện hoạt động tự học, tự nghiên cứu Từ
đó, người học sẽ phát huy tối đa năng lực bản thân và hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ học tập đã đề ra
Ngoài ra, về bản chất thì việc tổ chức hoạt động tự học cho học sinh là sự sắp xếp
và tiến hành các biện pháp dạy học nhằm phát huy cao nhất tính tích cực, tự lực, tự giác ở mỗi người học Do đó, cũng có thể nói rằng tổ chức hoạt động tự học là một quá trình tiến hành các biện pháp nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong quá trình lĩnh hội tri thức ở trên lớp, ở nhà hay trong các hoạt động thực hành, ngoại khóa
1.4.3.2 Hoạt động của giáo viên và học sinh trong tổ chức hoạt động tự học
Hoạt động của giáo viên là hoạt động dạy, nhưng phải dạy làm sao cho người học biết cách tự học, vì vậy đòi hỏi người giáo viên phải giải quyết tốt ba nhiệm vụ sau:
- Dạy nghề cho người học: phương pháp giảng dạy mà giáo viên sử dụng phải giúp cho học sinh nắm vững những nội dung đặc thù của bộ môn, và biết cách hệ thống hóa những kiến thức đã học một cách khoa học, trên cơ sở đó sẽ hình thành kỹ năng,
kỹ xảo nghề nghiệp tương ứng để học sinh có khả năng tham gia vào các hoạt động lao động sản xuất sau khi ra trường
- Dạy phương pháp tự học cho người học: trong giảng dạy giáo viên phải biết cách thiết kế các biện pháp tổ chức dạy học, sao cho hướng dẫn người học có thể thực hiện các hoạt động học tập của mình một cách tự lực nhằm phát triển các năng lực, phẩm chất và trí tuệ cá nhân, từ đó hình thành phương pháp tự học, tự nghiên cứu
Trang 31- Dạy thái độ cho người học: phương pháp dạy của giáo viên và các biện pháp tổ chức hoạt động học tập cho học sinh phải góp phần bồi dưỡng cho người học ý thức cá nhân đối với nghề nghiệp tương lai, đồng thời hình thành ở họ niềm tin vào cách mạng
Tuy nhiên nếu chỉ thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ nêu trên trong quá trình dạy học thì chưa đủ, để dạy tốt giáo viên cần phải tính toán thực hiện sao cho giảm tối thiểu
về thời gian, kinh phí, sức lực của giáo viên, học sinh, của nhà trường và cha mẹ học sinh, nhưng lại đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi do nghề nghiệp xã hội đặt ra trong tương lai ở mức độ cao nhất Muốn giải quyết được vấn đề trên, việc giảng dạy cần phải được tiến hành theo các phương hướng sau:
- Giáo viên cần tiến hành các biện pháp dạy học nhằm phát huy cao độ tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập sáng tạo của học sinh, phát huy tới mức cao nhất năng lực
tự học, tự nghiên cứu của học sinh
- Tăng cường rèn luyện kỹ năng thực hành, kỹ năng nghề nghiệp cho người học bằng việc giải các bài tập liên quan đến tình huống thực tế, bài tập thực hành, tổ chức đi thực tế phổ thông và hoạt động ngoại khóa
- Tiến hành chuyển đổi dần sau đó thay thế hoàn toàn các phương pháp dạy học truyền thống sang phương pháp tự học, tự nghiên cứu ở người học
- Áp dụng các phương pháp dạy học tích cực như phương pháp dạy học theo chương trình hóa, dạy học nêu vấn đề, kết hợp với làm việc theo nhóm, hoặc tổ chức thảo luận Tận dụng tới mức cao nhất vốn tri thức, vốn kinh nghiệm mà người học đã tích lũy được để giải quyết các nhiệm vụ học tập
- Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá theo hướng khách quan hóa, công khai hóa
và hình thành năng lực tự đánh giá cho người học
- Tăng cường việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật dạy học theo hướng sử dụng công nghệ thông tin Xây dựng các giáo án điện tử được biên soạn theo chương trình
để giảng dạy và sử dụng trình chiếu, đa phương tiện trong dạy học
Đối với học sinh để hoạt động tự học của mình đạt hiệu quả cao thì mỗi cá nhân cũng cần:
Trang 32- Nhận thức rõ mục tiêu và ý nghĩa việc học tập của bản thân, biết lập kế hoạch học tập cho riêng mình
- Tự trang bị cho mình những hệ thống kỹ năng cần thiết cho việc tự học như cách nghe giảng và ghi chép theo tinh thần tự học, cách học bài, cách đọc nghiên cứu tài liệu…
- Tích cực, tự giác tham gia vào các tình huống có vấn đề, các nhiệm vụ học tập mà giáo viên đưa ra
- Hình thành động cơ và thái độ học tập đúng đắn, có nhu cầu và hứng thú cũng như niềm đam mê học tập
- Luôn rèn luyện ý chí vượt khó, kiên trì, nhẫn nại để vượt qua các trở ngại, hoàn thành mọi nhiệm vụ học tập đề ra một cách tốt nhất
1.5 PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
1.5.1 Định nghĩa
Ngoài các thành tố như mục tiêu, nội dung, phương pháp thì phương tiện dạy học cũng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình dạy học, nó giúp cho việc truyền đạt kiến thức của giáo viên và lĩnh hội kiến thức học tập của học sinh diễn ra dễ dàng
và hiệu quả hơn
- Theo nghĩa rộng: phương tiện dạy học là toàn bộ các yếu tố dùng để xác lập các mối quan hệ trong quá trình dạy học nhằm tăng cường hiệu quả của sự truyền đạt và tiếp thu tri thức Đó là những yếu tố vật chất hóa về hình thức của phương pháp để tác động làm chuyển biến nội dung nhằm đạt mục đích dạy học
Qua đó cho thấy các phương tiện dạy học bao gồm: các vật liệu dạy học, các công
cụ dạy học, máy móc, nguyên vật liệu và kể cả kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo sẵn có của giáo viên và học sinh cũng như kể cả chế độ học tập
- Theo nghĩa hẹp: phương tiện dạy học là tập hợp mọi đối tượng vật chất mà người giáo viên sử dụng trong quá trình dạy học nhằm tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh để đạt mục tiêu dạy học đã đề ra
Trang 33Ngoài ra cũng có nhiều định nghĩa khác về phương tiện dạy học như:
- Phương tiện dạy học là những phương tiện nghe nhìn và tương tác được sử dụng trực tiếp trong quá trình dạy học, nhằm truyền tải nội dung học tập hướng đến mục đích dạy học
- Phương tiện dạy học là tập hợp tất cả các phương tiện mang tin, phương tiện truyền tin và phương tiện tương tác dùng trong việc hỗ trợ và điều khiển quá trình dạy học
1.5.2 Phân loại PTDH
1.5.2.1 Dựa vào tính chất biểu hiện của phương tiện:
Người ta căn cứ vào tính chất, hình dáng, chủng loại của phương tiện dạy học cũng như khả năng tri giác được đối tượng, nhận thức trực tiếp hay gián tiếp để phân ra thành các loại sau:
− Các vật thật gồm: các vật mẫu và các mẫu vật nguyên bản, các loại máy móc công
cụ nguyên liệu bao gồm các vật sống, vật chết và vật cắt
− Các loại tượng hình gồm: mô hình, tranh ảnh, sơ đồ, lược đồ, tài liệu sao, ảnh chụp
− Các loại phương tiện hoạt động tương tác: thí nghiệm, tham quan, máy luyện tập
− Các phương tiện kỹ thuật dạy học bao gồm: các loại thiết bị ứng dụng từ thành quả của khoa học kỹ thuật như các loại máy chiếu, các loại máy truyền dẫn khuếch đại, máy dạy học, máy kiểm tra hay mạng máy tính trong dạy học
Tùy vào nội dung từng bài mà giáo viên sẽ lựa chọn loại phương tiện phù hợp Trong các nhóm trên thì nhóm vật thật được coi là nhóm trực quan nhất vì người học có thể tri giác trực tiếp đối tượng mình cần lĩnh hội Nhưng trong những trường hợp không
có vật thật, ta cũng có thể lựa chọn mô hình tranh ảnh hay sử dụng các loại máy chiếu…
1.5.2.2 Dựa vào sự tác động qua các giác quan:
Dựa vào các cơ chế thu nhận thông tin của con người qua các giác quan cơ thể, từ
đó ta có thể phân loại phương tiện dạy học theo các kênh thu nhận thông tin như:
− Nhóm phương tiện nghe: chỉ tác động vào kênh nghe như phương tiện truyền thanh giáo dục, các phương tiện thu phát âm
Trang 34− Nhóm phương tiện nhìn: bao gồm các loại hình chỉ tác động qua kênh nhìn và được chia làm hai loại: trực quan phẳng và trực quan khối
+ Trực quan phẳng: các loại bảng trình bày, bảng dạy học, các loại tranh ảnh sơ đồ, lược đồ, đồ thị, các loại phim đèn chiếu
+ Trực quan khối: như các loại mô hình, mô hình phỏng tạo
− Phương tiện nghe nhìn: bao gồm các loại hình tác động đồng thời cả kênh nghe và kênh nhìn trong hoạt động dạy học như phim điện ảnh, truyền hình, video dạy học, máy vi tính trong dạy học
− Phương tiện tương tác bao gồm các dạng phương tiện mang tính chất chương trình hóa hay hoạt động như tham quan, thí nghiệm, máy luyện tập và các loại hình đa phương tiện tương tác
Đối với mỗi nhóm sẽ có mức độ truyền tải nội dung khác nhau, nếu chỉ tác động vào kênh nghe thì hiệu quả thu được sẽ thấp hơn kênh nhìn, và khi kết hợp cả ba kênh nghe, nhìn và tương tác thì ta sẽ thu được hiệu quả tiếp thu ở người học cao nhất
1.5.2.3 Dựa vào cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học:
Người ta cũng có thể phân loại phương tiện day học theo các nhóm trang thiết bị,
cơ sở vật chất hạ tầng, công cụ…sử dụng trong quá trình dạy học như:
− Vật liệu dạy học: là toàn bộ những giá mang chứa đựng nội dung thông tin dạy học, được sản xuất với nội dung mang tính khoa học và phù hợp với những mục đích yêu cầu nhất định Đối với loại này được chia thành hai nhóm:
+ Sử dụng trực tiếp: là những loại hình mà được giáo viên và học sinh khai thác, sử dụng không cần phải qua các phương tiện trung gian như sách, giáo trình, tài liệu tham khảo, sổ tay
+ Sử dụng gián tiếp: là những loại hình mà khi sử dụng hoặc khai thác phải thông qua các phương tiện trung gian như các bộ phim đèn chiếu, băng ghi âm, băng ghi hình, đĩa vi tính
− Phương tiện kỹ thuật dạy học: là nhóm phương tiện mang tính truyền tải, khuếch đại, phân phối mang tính trung gian như các loại máy chiếu phim tĩnh, máy chiếu phim động, hệ thống Tivi video, máy thu phát âm, máy vi tính, camera ghi hình…
Trang 35− Nhóm công cụ dạy học: bao gồm các loại máy móc, công cụ trang thiết bị phục vụ cho công tác thực hành thí nghiệm
− Nhóm phương tiện tổ chức dạy học: bao gồm các loại hình mà hoạt động dạy học diễn ra có sự tổ chức một cách khoa học như xưởng trường, vườn trường, khu vực thí nghiệm, phòng thí nghiệm, triển lãm, tham quan
− Nhóm phương tiện phục vụ chung: bao gồm các loại hình mang tính tiện nghi trong dạy học và đáp ứng nhu cầu phục vụ cho các hoạt động dạy học như tủ, bàn ghế, phòng ốc, điện nước
Qua đó ta có thể thấy phạm vi rất rộng của khái niệm phương tiện dạy học, từ tài liệu nghiên cứu của giáo viên, tài liệu học tập của học sinh, các máy móc thiết bị trình chiếu dùng trong giảng dạy lý thuyết, các máy móc dùng trong dạy thực hành, không gian xưởng trường, phòng ốc, tủ, bàn, ghế…đều là phương tiện dạy học Từ đó cho thấy, việc đầu tư đầy đủ các trang thiết bị trong trường học là điều vô cùng cần thiết
1.5.2.4 Dựa vào nhận thức trực quan
Con đường nhận thức của người học luôn đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng cho nên phương tiện dạy học càng trực quan thì người học càng có nhiều thông tin cho giai đoạn tư duy trừu tượng, từ đó giúp học sinh hiểu vấn đề một cách sâu sắc
và ghi nhớ được lâu hơn Người ta phân loại PTDH theo mức độ nhận thức trực quan như sau:
Bảng 1.1: Phân loại PTDH dựa vào nhận thức trực quan Nhóm hoạt động
Phương tiện nghe Âm thanh, băng đĩa âm thanh, các chương trình truyền
thanh dạy học, phòng học tiếng
Phương tiện nhìn - Phương tiện nhìn trực quan phẳng: Tài liệu vẽ, tranh
ảnh, sơ đồ, lược đồ, phim trong, phim slide, phim đoạn…
- Phương tiện nhìn trực quan khối: Sa bàn, vật thật, mô hình
- Bảng trình bày: Bảng phấn, bảng từ, bảng ghim, bảng điện tử
Trang 36Đa phương tiện nghe nhìn Truyền hình dạy học, thu phát hình, băng hình video,
đĩa hình dạy học, phim ảnh động…
Đa phương tiện tương tác - Đa phương tiện hoạt động: Máy luyện tập, phương
tiện thực hành, thí nghiệm, tham quan
- Đa phương tiện điện tử: Mạng máy tính, thư điện tử, CD-ROM, phần mềm mô phỏng, sách điện tử
1.5.2.5 Dựa theo hình thức lưu trữ: gồm phương tiện lưu trữ dạng tương tự (băng
casset, băng hình) và phương tiện lưu trữ dạng kỹ thuật số (máy vi tính)
1.5.3 Tính chất PTDH
1.5.3.1 Tính ngưng giữ
Trong quá trình giảng dạy giáo viên phải tái hiện lại những kiến thức của bộ môn ở nhiều góc độ, lĩnh vực, sự kiện ở những mốc thời gian khác nhau Do đó phương tiện dạy học phải có tính ngưng giữ để đáp ứng được các yêu cầu trong quá trình dạy học
Ví dụ như một đoạn phim lịch sử có thể lưu giữ những hình ảnh và âm thanh cách đây gần cả trăm năm để trình chiếu cho học sinh xem và học tập Như vậy, tính ngưng giữ là khả năng bảo tồn, lưu trữ hoặc tái tạo lại các quá trình, sự kiện, hiện tượng của phương tiện dạy học nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy Tính chất này cho phép chuyển tải thông tin vượt thời gian như: nhiếp ảnh, thu phát âm, thu phát hình…
1.5.3.2 Tính gia công
Khi giảng dạy có những nội dung mà thực tế diễn ra quá chậm hay quá nhanh, hoặc những nội dung phụ không quan trọng giáo viên muốn cho nhanh qua để học sinh xem nội dung chính Điều đó đòi hỏi giáo viên cần phải xử lý, biên tập lại nội dung
để học sinh hiểu vấn đề một cách dễ dàng nhất, ví dụ khi tìm hiểu về nguyên lý làm việc của động cơ đốt trong, người ta làm cho đoạn phim mô phỏng quay chậm lại các quá trình nạp, nén, cháy - dãn nở và thải để học sinh nhìn rõ từng kì Như vậy, tính gia công cho phép chế biến, biên tập lại để phù hợp với mục đích sử dụng Đồng thời
nó cho phép thúc đẩy quá trình nếu quá trình thực diễn ra chậm, hoặc kiềm hãm quá trình nếu quá trình thực diễn ra quá nhanh nhằm giúp học sinh dễ quan sát
Trang 371.5.3.3 Tính phân phối
Trong giáo dục hiện đại, việc học có thể diễn ra ở bất kì nơi đâu, nguồn tài liệu từ nhiều quốc gia được chia sẻ trên toàn cầu và đây chính là tính phân phối mà phương tiện dạy học cần phải có Như vậy, tính phân phối thể hiện những yếu tố như truyền tải vượt không gian cho nhiều nơi khác nhau trong cùng một thời điểm hoặc khuếch đại lên nhiều lần để đáp ứng cho nhu cầu số đông
1.5.4 Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học
1.5.4.1 Nguyên tắc bảo đảm an toàn
Đối với lứa tuổi học sinh thường có tính tò mò, thích khám phá, do đó thiết bị phải tuyệt đối an toàn vì một lớp học thường rất đông học sinh, nếu xảy ra các sự cố về cháy nổ, chập điện thì sẽ gây ra hậu quả rất lớn Vì vậy, khi lựa chọn phương tiện phải đảm bảo an toàn cho con người, tránh được các sự cố về tác động cơ học, tác động điện và nhiều yếu tố nguy hiểm khác
1.5.4.2 Nguyên tắc bảo đảm phù hợp
Phương tiện dạy học chỉ thực sự mang lại hiệu quả nếu chúng ta biết sử dụng một cách phù hợp, việc lạm dụng phương tiện đôi khi sẽ dẫn đến tác động tiêu cực đối với học sinh Do đó khi lựa chọn phương tiện dạy học phải đảm bảo sự phù hợp giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện và trình độ người học theo các nguyên tắc sau:
− Sử dụng phương tiện dạy học đúng lúc
− Sử dụng phương tiện dạy học đúng trường hợp
− Thiết kế phương tiện dạy học phù hợp cho từng chương, bài cần thiết
− Sử dụng phương tiện dạy học phải vừa sức với sự tiếp thu của học sinh, đủ liều lượng và tránh kéo dài
− Sử dụng phương tiện dạy học phải phù hợp với nhân trắc học
− Quá trình sử dụng cần chú trọng đến việc vừa tầm mắt, vừa tầm tay của học sinh
và giáo viên
Trang 381.5.5 Cơ sở chung để lựa chọn phương tiện dạy học
Việc lựa chọn đúng phương tiện sử dụng trong quá trình dạy học là yếu tố vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả việc truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học Vì vậy, để khai thác tối đa hiệu quả sử dụng của phương tiện dạy học trước khi lựa chọn giáo viên cần căn cứ vào:
- Đặc điểm điều kiện cơ sở vật chất thực tế và các yếu tố khuyến khích của nhà trường
1.6 DẠY HỌC THEO CHƯƠNG TRÌNH HÓA
1.6.1 Đại cương về phương pháp dạy học theo chương trình hóa
Trên thế giới lý thuyết về dạy học theo chương trình hóa đã được các nhà giáo dục nói đến từ rất lâu Nhưng tại thời điểm đó, tư tưởng nền giáo dục hiện tại chưa có sự chuyển biến đáng kể, nên phải mãi đến năm 1950, khi mà nhà tâm lí học người Mỹ B.F Skinner đưa ra lý thuyết tương đối đầy đủ về dạy học theo chương trình hóa thì mới có thể gây được sự chú ý, lôi kéo các nhà giáo dục tham gia vào nghiên cứu lý thuyết này Chương trình hóa thực chất là chia nhỏ nội dung cần dạy thành những đơn vị kiến thức có liên quan chặt chẽ với nhau tuân theo quy tắc tâm lý của Descartes, nghĩa là chia nhỏ khó khăn cần giải quyết thành những thành phần nhỏ nhất có thể chia được và giải quyết các thành phần nhỏ đó, để cuối cùng giải quyết vấn đề một cách hiệu quả nhất
Trong dạy học theo chương trình hóa, nội dung học tập được chia thành từng liều kiến thức, hoạt động của người học cũng được chia thành từng bước Mỗi bước học tập đều được kiểm tra, việc chuyển sang giai đoạn học tập tiếp theo phụ thuộc vào chất lượng lĩnh hội của giai đoạn trước
Trang 39Quan điểm điều khiển học coi sự dạy học là một hệ điều khiển được Trong đó, đối tượng điều khiển là con người và đảm bảo được mối liên hệ ngược là nguyên tắc cơ bản của sự điều khiển Từ đó, nội dung dạy học được sắp xếp theo một chương trình trên cơ sở của nguyên tắc điều khiển hoạt động nhận thức, có tính toán một cách đầy
đủ khả năng tiếp thu tốt nhất của học sinh
Dạy học theo chương trình hóa là sự dạy học được thực hiện dưới sự chỉ đạo sư phạm của một chương trình dạy Trong sự dạy học này, chức năng của hệ được khách quan hóa Hoạt động của thầy, của trò được chương trình hóa, tức được soạn thành các algorit dạy học nhằm cá biệt hóa cao độ quá trình dạy học
1.6.2 Đặc điểm của dạy học theo chương trình hóa
Trong phương pháp dạy học theo chương trình hóa, vai trò của người học được đánh giá rất cao trong việc chiếm lĩnh tri thức Vì vậy mà phương pháp này có những đặc điểm sau:
- Tài liệu học tập được chia thành những yếu tố thông tin gọi là liều kiến thức hoặc
kỹ năng nhỏ, được cấu trúc thành một hệ thống tri thức trọn vẹn theo logic, liều trước
sẽ là điều kiện, phương tiện để tiếp tục liều sau
- Chức năng của hoạt động dạy được khách quan hóa và hoạt động học được thực hiện dưới sự chỉ đạo của một chương trình Từ đó, quá trình lĩnh hội tri thức của từng học sinh sẽ diễn ra đúng algorit dạy và do chương trình dạy điều khiển
- Học sinh học trên các tài liệu được biên soạn theo dạy học chương trình hóa, phù hợp với mức độ nhận thức của mình, sau mỗi liều kiến thức học sinh phải trả lời các câu hỏi kiểm tra xem mình đã đạt yêu cầu hay chưa
- Sau khi trả lời, học sinh biết ngay kết quả đúng hay sai Nếu trả lời đúng thì được chuyển sang học liều mới, nếu trả lời sai thì phải học lại cho đến khi trả lời đúng mới được chuyển sang liều mới (đảm bảo mối liên hệ ngược bên trong) Trong quá trình dạy học này, giáo viên không can thiệp trực tiếp vào việc học của học sinh, mà học sinh phải tự làm việc theo sự chỉ dẫn của chương trình Ứng với mỗi thao tác trí tuệ
cơ bản của học sinh đều có ghi lời đánh giá đúng - sai Vì vậy, mỗi học sinh sau khi
Trang 40thực hiện một thao tác trí tuệ đều có thể biết được mình làm đúng hay sai để tự điều chỉnh việc học tập cho phù hợp
- Việc tiếp thu các liều kiến thức nhanh hay chậm là tùy theo năng lực của mỗi học sinh (khả năng cá biệt hóa việc dạy học) Do chương trình được soạn phù hợp với nhiều mức trình độ khác nhau của người học, nên mỗi học sinh đều có cơ hội học tập một cách độc lập theo năng lực vốn có, tự kiểm tra, đánh giá kết quả của mình
- Nội dung liều kiến thức tiếp theo phụ thuộc vào kết quả trả lời câu hỏi của liều trước (đảm bảo mối liên hệ ngược bên ngoài) Những câu trả lời của học sinh sẽ là cơ sở để giáo viên điều chỉnh hoạt động dạy khi biên soạn nội dung học tập theo chương trình hóa Qua đó, mối liên hệ hai chiều giữa thầy và trò luôn được xác lập và duy trì thường xuyên, đảm bảo cho quá trình dạy học được điều khiển và điều chỉnh sát với mục tiêu dạy học đề ra
1.6.3 Cấu trúc của chương trình dạy
Bước là đơn vị cơ bản của chương trình, quá trình dạy học theo chương trình hóa gồm các bước liên tiếp nhau Nhiều bước tạo thành một chương, nhiều chương tạo thành một phần, nhiều phần tạo thành môn học
Mỗi bước chứa một lượng kiến thức tương đối trọn vẹn mà học sinh cần lĩnh hội, trong một bước hoàn chỉnh gồm: ô thông báo, ô thao tác và ô liên hệ ngược
1.6.3.1 Ô thông báo, ký hiệu:
Ô thông báo được ký hiệu hình vuông chứa đựng những nội dung của kiến thức hoặc kỹ năng mới mà giáo viên muốn học sinh lĩnh hội, đó có thể là những khái niệm, định luật, nguyên lý, cấu tạo… Trong mỗi bước có thể có nhiều ô thông báo
1.6.3.2 Ô thao tác, ký hiệu:
Ô thao tác được ký hiệu hình tròn chứa nhiều bài tập, câu hỏi kiểm tra mà học sinh cần phải trả lời nhằm gia công tri thức mới lĩnh hội ở ô thông báo trước đó Qua đó tập cho học sinh phân tích và vận dụng tri thức, rèn luyện kỹ năng thực hành…Trong mỗi bước có thể có nhiều ô thao tác