Phần I: Lý luận chung về công tác kế toán thành phẩm và xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất.. Vì vậy việc phân định chính xác hai khái niệm nà
Trang 1LUẬN VĂN:
Tổ chức kế toán thành phẩm tiêu thụ và xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở công ty TNHH phát triển mạng lưới toàn cầu
Nam Dũng
Trang 2Lời mở đầu
Nền kinh tế thị trường Việt Nam ngày càng đổi mới và phát triển mạnh mẽ cả hình thức lẫn quy mô sản xuất kinh doanh Hoà nhịp xu thế chung của nền kinh tế thế giới là quốc tế hoá và hợp tác hoá Nền kinh tế càng được quốc tế bao nhiêu thì sự cạnh tranh giữa các quốc gia, giữa các doanh nghiệp càng trở nên mạnh mẽ Thị trường cạnh tranh tự do đã thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của doanh nghiệp, vì có như vậy mới đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển
Trong cơ chế thị trường hiện nay, các nhà quản ký doanh nghiệp luôn phải lựa chọn: “sản xuất cho ai”? “sản xuất cái gì”? “sản xuất như thế nào”? điều quan trọng nhất đó là hình thức đưa sản phẩm đến với người tiêu dùng lựa chọn và chấp nhận sản phẩm của doanh nghiệp Vậy để sản xuất có hiệu quả đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm bắt được cơ hội, vận dụng vào thực tiễn đồng thời để đảm bảo thắng lợi bền vững trong cạnh tranh các nhà sản xuất cần phải biết sức cạnh tranh của mình trên thị trường, nguồn nhân lực hiện có, các khoản chi phí bỏ ra và kết quả đạt được
Sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra mang tính chất là sản phẩm hàng hoá, vì vậy các doanh nghiệp ngoài sản xuất ra sản phẩm còn có nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm
đó Có được doanh thu tiêu thụ mới chứng tỏ sản phẩm của doanh nghiệp được người tiêu dùng chấp nhận
Vì vậy quá trình tiêu thụ sản phẩm có vị trí đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp góp phần quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Để có được những thông tin hữu ích phục vụ cho sản xuất kinh doanh thì một công cụ không thể thiếu đối với các doanh nghiệp đó là kế toán.Với tư cách là công cụ quản lý, kế toán ngày càng được khai thác tối đa sức mạnh và sự linh hoạt của nó, nhằm điều chỉnh vĩ mô và kiểm soát sự vận hành của nền kinh tế Đi đôi với sự đổi mới trong
cơ chế quản lý kinh tế,sự đổi mới trong cơ chế quản lý kinh tế, sự đổi mới trong hệ thống kế toán doanh nghiệp đã tạo ra cho kế toán một bộ mặt mới, khẳng định được vị trí của kế toán trong hệ thống các công cụ quản lý doanh nghiệp
Trên cơ sở lý luận được học tập tại trường và thực tế qua thời gian thực tập tại công ty TNHH phát triển mạng lưới toàn cầu Nam Dũng.Em mạnh dạn đi sâu vào đề
Trang 3tài”Tổ chức kế toán thành phẩm tiêu thụ và xác định kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh ở công ty TNHH phát triển mạng lưới toàn cầu Nam Dũng
Nội dung chuyên đề gồm 3 phần
Phần I: Lý luận chung về công tác kế toán thành phẩm và xác định kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất
Phần II: Thực tế về công tác kế toán thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh
ở công ty TNHH phát triển mạng lưới toàn cầu Nam Dũng
Phần III: Nhận xét về công tác kế toán thành phẩm và xác định kết quả kinh
doanh tại công ty TNHH phát triển mạng lưới toàn cầu Nam Dũng
Trang 41 Thành phẩm và yêu cầu quản lý thành phẩm
Các doanh nghiệp sản xuất làm ra các loại sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, các sản phẩm đó được gọi là thành phẩm Nói một cách đầy đủ hơn thành phẩm
là kết thúc quy trình sản xuất do doanh nghiệp thực hiện hoặc thuê gia công chế biến đã được đem bán hoặc nhập kho
Sản phẩm nói chung đều là kết quả của quá trình sản xuất chế tạo ra nó, có thể thành phẩm nhưng cũng có thể chưa là thành phẩm Giữa thành phẩm và sản phẩm có phạm vi giới hạn khác nhau khi nói đến thành phẩm là nói đến kết quả của quá trình sản xuất gắn với quy trình công nghệ nhất định trong phạm vi một doanh nghiệp, còn khi nói đến kết quả của quá trình sản xuất chế tạo ra nó
Về phương diện nào đó thì sản phẩm có phạm vi rộng hơn thành phẩm Khi nói đến sản phẩm của một doanh nghiệp nào đó có thể gồm cả thành phẩm và bán thành phẩm Bán thành phẩm là những sản phẩm chưa qua bước công nghệ cuối cùng của doanh nghiệp Tuy nhiên có những trường hợp do yêu cầu của sản xuất và tiêu thụ nhưng có thể đựơc nhập kho để bán hoặc bán ngay ra thị trường, khi bán cho khách hàng chúng cũng có nghĩa như thành phẩm
Vì vậy việc phân định chính xác hai khái niệm này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm một cách khoa học và hợp lý, từ đó tạo điều kiện xác định chính xác kết quả hoạt động kinh doanh của từng đơn vị trong doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp sản xuất việc chế tạo ra thành phẩm phải đảm bảo kết hợp hài hoà cả về số lượng và chất lượng của thành phẩm Số lượng là con số cụ thể cùng
Trang 5với đơn vị đo lường như: kg, mét, cái… chất lượng của thành phẩm phản ánh giá trị sử dụng, được xác định theo phẩm cấp của sản phẩm hoặc theo tỷ lệ % tốt xấu Khối lượng thành phẩm sản xuât hoàn thành trong từng thời kỳ ở phạm vi doanh nghiệp là một trong những yếu tố đánh giá quy mô của doanh nghiệp hay khả năng doanh nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội, Từ đó làm cơ sở đề ra các quyết định cần thiết trong mối quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp, cũng như tạo cơ sở cho các cấp chức năng có thẩm quyền xác định được cân đối cần thiết trong ghành, trong vùng và toàn bộ nền kinh tế
Trong cơ chế thị trường, hoạt động của doanh nghiệp trong việc sản xuất thành phẩm cung cấp cho xã hội vẫn theo sự chỉ đạo quản lý kinh tế ở tầm vĩ mô của nhà nước, đây là một nhiệm vụ chính trị vô cùng quan trọng của các doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp có nhiệm vụ sản xuất khác nhau, thành phẩm của doanh nghiệp có tác dụng khác nhau để thoả mãn nhu cầu đa dạng của thị trường Nhưng nếu thiếu đi dù chỉ một loại trong số sản phẩm đó cũng làm ảnh hưởng đến quá trình tiêu dùng và sản xuất kinh doanh của những bộ phận nhất định Chính vì vậy trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần phải thấy đựơc vai trò trách nhiệm của mình là một mắt xích của xã hội Nghĩa là trong doanh nghiệp phải đảm bảo cho dây chuyền sản xuất của mình hoạt động liên tục và ổn định, hay nói cách khác doanh nghiệp phải đảm bảo tính cân đối đồng bộ nền kinh tế quốc dân
Từ những phân tích ở trên cho phép chúng ta khẳng định vị trí quan trọng của thành phẩm đối với nền kinh tế nói chung và bản thân doanh nghiệp nói riêng Hơn thế nữa thành phẩm là kết quả lao động sáng tạo của toàn bộ cán bộ CNV trong doanh nghiệp, là tài sản của doanh nghiệp dưới hình thức vật chất
Do dó việc thực hiện tổ chức công tác kế toán thành phẩm cần một số yêu cầu quản lý sau: Kế toán thành phẩm đồng thời phải quản lý theo sự vận động của từng loại thành phẩm trong quá trình nhập xuất tồn kho trên cả chỉ tiêu hiện vật (gồm số lượng và chất lượng) và giá trị
+ Về mặt số lượng: Phải thường xuyên phản ánh giám sát tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất, tình hình nhập xuất, dự trữ thành phẩm để kịp thời phát hiện các trường hợp thành phẩm tồn đọng lâu trong kho không tiêu thụ được để tìm biện pháp giải quyết tránh ứ đọng vốn
Trang 6+ Về mặt chất lượng: Phải thường xuyên nắm bắt thị hiếu của người tiêu dùng để kịp thời cải tiến thay đổi mặt hàng Các bộ phận KCS phải làm tốt công tác kiểm tra, có chế
độ bảo quản thích hợp đối với từng loại sản phẩm, kịp thời phát hiện những sản phẩm kém chất lượng
+ Về mặt giá trị: Phải quản lý tốt chỉ tiêu giá thành, sản phẩm nhập kho hay giá vốn của thành phẩm mang đi tiêu thụ, tức là doanh nghiệp đã bỏ ra cho khối lượng thành phẩm hoàn thành
Tuy nhiên, sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra muốn thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng phải thông qua tiêu thụ Vì vậy quá trình vận động của thành phẩm luôn gắn liền với quá trình tiêu thụ thành phẩm
2 Tiêu thụ thành phẩm và yêu cầu của quản lý
Tiêu thụ thành phẩm là quá trình thực hiện trao đổi thông qua phương tiện thanh toán để thực hiện giá trị của sản phẩm,hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng, Còn khách hàng phải trả cho doanh nghiệp một khoản tiền tương ứng với giá trị của sản phẩm hàng hoá dịch vụ đó theo giá quy định hoặc thoả thuận Nói cách khác, bán hàng chính là quá trình trao đổi để thực hiện giá trị của hàng hoá, tức là chuyển hoá vốn của doanh nghiệp
từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ
Tiêu thụ là khâu cuối cùng của chu trình sản xuất, là giai đoạn cuối cùng của quá trình tuần hoàn vốn của doanh nghiệp Quá trình tiêu thụ bắt đầu từ khi doanh nghiệp bắt đầu xuất giao hàng cho khách hàng và kết thúc khi khách hàng thanh toán đầy đủ tiền hàng Hàng đem tiêu thụ có thể là thành phẩm, hàng hoá, vật tư hay lao vụ cung cấp cho khách hàng khác nhau, các phương thức bán hàng, các thể thức thanh toán, nên trong khâu bán hàng doanh nghiệp cần phải bám sát các yêu cầu quản lý cơ bản sau:
- Nắm bắt sự vận động của từng loại thành phẩm hàng hoá trong quá trình nhập xuất và tồn kho trên các chỉ tiêu số lượng, chất lượng và giá trị
- Nắm bắt theo dõi chặt chẽ từng phương thức bán hàng, từng thể thức thanh toán thành phẩm tiêu thụ và từng khách hàng, đôn đốc, thu hồi nhanh và đầy đủ tiền vốn
- Tính toán, xác định đúng đắn kết quả của từng loại hoạt động và thực hiện nghiêm túc cơ chế phân phối lợi nhuận
- Ngoài ra doanh nghiệp còn chủ động sử dụng tiền bán hàng đã thu được một cách có hiệu quả, đúng quy định
Trang 7Vai trò thành phẩm là mục tiêu của quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp Song quá trình sản xuất kinh doanh không dừng lại ở việc sản xuất thành phẩm
mà còn phải tiến hành tiêu thụ chúng một cách kịp thời Giữa kế hoạch sản xuất và kế hoạch tiêu thụ có mối quan hệ mật thiết, trong đó sản xuất là cái giá của tiêu thụ còn tiêu thụ là việc đưa kết quả sản xuất đến tay người tiêu dùng để đáp ứng nhu cầu xã hội Thông qua số liệu kế toán về thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm mà ban lãnh đạo và cơ quan quản lý chức năng biết được mức độ hoàn thành kế hoạch Từ đó khắc phục những thiếu sót giữa các khâu của quá trình quản lý và sắp xếp đúng đắn phù hợp hơn với đặc điểm kinh tế, kĩ thuật của từng doanh nghiệp
Để phất huy vai trò của kế toán đối với công tác quản lý quá trình sản xuất kinh doanh, kế toán thành phẩm tiêu thụ cần phải thực hiện tốt những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tổ chức theo dõi phản ánh chính xác đầy đủ kịp thời và giám đốc chặt chẽ về tình hình hiện có và sự biến động của từng loại thành phẩm hàng hoá trên các mặt hiện vật cũng như giá trị
- Theo dõi, phản ánh và giám đốc chặt chẽ quá trình tiêu thụ ghi chép kịp thời, đầy
đủ các khoản chi phí bán hàng, thu nhập bán hàng cũng như chi phí và thu nhập của hoạt động khác
- Cung cấp những thông tin kinh tế cần thiết cho các bộ phận liên quan định kỳ tiến hành phân tích kinh tế đối với hoạt động bán hàng, phân phối kết quả và thực hiện nghĩa vụ với nhà nước
Thực hiện tốt các nhiệm vụ trên sẽ có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc quản lý chắt chẽ các thành phẩm tiêu thụ trong doanh nghiệp Song toàn bộ nhiệm vụ trên chỉ thực sự phát huy tác dụng khi cán bộ kế toán nắm vững nội dung của việc tổ chức công tác kế toán
II Tổ chức công tác kế toán thành phẩm trong doanh nghiệp sản xuất
1 Nguyên tắc tổ chức hạch toán thành phẩm
Thành phẩm của doanh nghiệp bao gồm rất nhiều chủng loại khác nhau Để quản
lý và hạch toán chặt chẽ thành phẩm, công tác kế toán thành phẩm phải được tổ chức theo các nguyên tắc sau:
- Phải tổ chức công tác kế toán thành phẩm theo từng chủng loại thành phẩm, theo đúng số lượng và chất lượng
Trang 8- Phải có sự phân công và kết hợp trong việc ghi chép kế toán thành phẩm giữa phòng kế toán với thủ kho và phân xưởng đảm bảo cho kế toán thành phẩm luôn chính xác kịp thời
Sự biến động của thành phẩm có rất nhiều nguyên nhân, vì vậy để phản ánh được tình hình biến động của thành phẩm phải tổ chức công tác kế toán ghi chép ban đầu một cách khoa học, hợp lý
Đối với thành phẩm của doanh nghiệp sản xuất, thành phẩm nhập - xuất - tồn kho được phản ánh theo giá thành thực tế Nếu hàng ngày hạch toán chi tiết thành phẩm nhập - xuất - tồn kho thành phẩm được ghi sổ theo giá hạch toán thì cuối tháng kế toán phải tính ra giá thành thực tế thành phẩm xuất bán trong kỳ
Trang 92 Đánh giá thành phẩm
Về nguyên tắc thành phẩm được phản ánh theo trị giá vốn thực tế Tuy nhiên, trong quá trình hạch toán, doanh nghiệp có thể sử dụng hai cách đánh giá: Đánh giá thực tế và đánh giá theo giá hạch toán
a Đánh giá thành phẩm theo giá thực tế
Trị giá của thành phẩm phản ánh trong kế toán tổng hợp ( trên TK, sổ tổng hợp, báo cáo tài chính) phải được đánh giá theo nguyên tắc giá thực tế, hay còn gọi là giá vốn thực tế Giá thực tế của thành phẩm nhập kho đựơc xác định phù hợp với từng nguồn nhập
Thành phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra được đánh giá thành công xưởng thực tế( giá thành sản xuất thực tế) bao gồm chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung
Thành phẩm thuê ngoài gia công đựơc đánh giá theo giá thành thực tế gia công bao gồm: chi phí NVL trực tiếp, chi phí thuê gia công và các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến quá trình gia công( chi phí vận chuyển đi về)
Đối với thành phẩm xuất kho cũng được phản ánh theo giá thực tế Do thành phẩm nhập từ các nguồn hay các đợt nhập với giá khác nhau nên việc xác định giá thực
tế xuất kho có thể áp dụng một trong các cách sau:
- Tính theo đơn giá thực tế đích danh
- Tính theo đơn giá thực tế bình quân gia quyền
- Tính theo đơn giá nhập sau xuất trước(LIFO)
- Tính theo đơn giá nhập trước xuất trước(FIFO)
b Đánh giá thành phẩm theo giá hạch toán
Do biến động thường xuyên và việc xác định giá thực tế của thành phẩm sản xuất
ra chỉ theo định kỳ
Vì vậy để ghi chép kịp thời giá trị thành phẩm nhập xuất, doanh nghiệp cần sử dụng một loại giá ổn định trong một thời gian dài gọi là giá hạch toán Giá có thể chọn làm cơ sở xây dựng giá hạch toán là giá thành kế hoạch hoặc giá thành thực tế tại một thời kỳ nào đó Cuối kỳ tổng hợp giá thực tế thành phẩm nhập kho trong kỳ theo công thức:
Trị giá thực tế thành = Trị giá hạch toán thành phẩm x Hệ số giá
Trang 10phẩm xuất kho trong kỳ xuất kho trong kỳ
Trong đó
Hệ số giá = Trị giá TP tồn đầu kỳ + Trị giá TP nhập trong kỳ
Giá hạch toán TP tồn đầu kỳ + Giá hạch toán TP nhập trong kỳ
3 Kế toán nhập xuất kho thành phẩm
a Chứng từ sử dụng
Theo chế độ chứng từ kế toán qui định ban hành theo quyết định 1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 của Bộ tài chính, các chứng từ chủ yếu bao gồm:
- Phiếu nhập kho
- Phiếu xuất kho
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ
- Biên bản kiểm kê vật tư sản phẩm, hàng hoá
- Hoá đơn cước phí vận chuyển
- Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho
Đối với chứng từ kế toán phải lập kịp thời, đầy đủ theo đúng qui định về mẫu biểu, nội dung, phương pháp lập Người lập chứng từ phải chịu trách nhiệm về tính hợp
lý, hợp pháp và tính chính xác của các số liệu ghi trong chứng từ
b Kế toán chi tiết thành phẩm
Kế toán chi tiết thành phẩm là việc theo dõi chi tiết từng loại, từng nhóm thậm chí đến từng thứ thành phẩm theo từng kho thành phẩm và theo từng người chịu trách nhiệm bảo quản (thủ kho)
Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp mà có thể lựa chọn nội dung một trong ba phương pháp kế toán chi tiết thành phẩm cụ thể sau:
- Phương pháp ghi thẻ song song
- Phương pháp đối chiếu luân chuyển
- Phương pháp ghi sổ số dư
Tuy nhiên, doanh nghiệp áp dụng theo phương pháp nào thì công việc kế toán chi tiết thành phẩm cũng là công việc được tiến hành đồng thời trên cả hai nơi tại kho và tại phòng kế toán
Trang 11+ Tại kho việc hạch toán chi tiết thành phẩm đều được thực hiện trọn vẹn trên thẻ kho Thẻ kho được mở cho từng loại thành phẩm, căn cứ vào số lượng chứng từ nhập xuất kho, kế toán ghi số lượng thực nhập, thực xuất vào thẻ Cuối ngày hoặc sau mỗi nghiệp vụ nhập xuất, thủ kho phải kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của chứng từ, tính
ra số lượng tồn kho và ghi vào thẻ kho
+ Tại phòng kế toán công việc kế toán chi tiết TP do bộ phận kế toán thành phẩm tiến hành Tuỳ theo phương pháp áp dụng tại doanh nghiệp mà việc hạch toán chi tiết thành phẩm được thực hiện trên các thẻ kho hoặc sổ chi tiết TP, số đối chiếu luân chuyển hay sổ số dư
Dù thực hiện việc kế toán chi tiêt TP theo phương pháp nào thì căn cứ để tiến hành ghi chép cũng là những chứng từ nhập xuất
Về cơ bản các nghiệp vụ ghi chép các chứng từ nhập xuất được thực hiện trên chỉ tiêu giá trị Tuy nhiên theo phương pháp ghi thẻ song song được thực hiện trên cả chỉ tiêu số lượng
Có thể khái quát qui trình ghi sổ theo 3 phương pháp sau:
Phương pháp ghi thẻ song song
Sơ đồ kế toán chi tiêt TP theo phương pháp ghi thẻ song song
Ghi chú:
Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
Sơ đồ kế toán chi tiết TP theo Phương pháp sổ đối chiếu
luân chuyển
Thẻ kho
Thẻ (sổ) chi tiết TP
Bảng kê tổng hợp nhập – xuất – tồn
tháng
Đối chiếu
Trang 12Ghi chú:
Thẻ kho
Sổ đối chiêu luân chuyển
Chứng
từ xuất
Bảng kê xuất
Ghi hàng ngày Ghi cuối
tháng
Đối chiếu
Trang 13 Phương pháp ghi sổ số dư:
Sơ đồ kế toán chi tiết thành phẩm Phương pháp ghi sổ số dư
Bảng kê xuất
Bảng luỹ kế xuất Thẻ kho
Sổ số dư
Ghi hàng ngày Ghi cuối
tháng
Đối chiếu
Trang 14Mỗi phương pháp đều có ưu, nhược điểm và phạm vi ứng dụng khác nhau, song thực chất vẫn là sự phối hợp, ghi hcép theo dõi tình hình xuất kho thành phẩm hàng ngày hoặc định kỳ giữa thủ kho và kế toán nhằm mục đích theo dõi chặt chẽ tình hình nhập xuất tồn kho cho từng thành phẩm cả về giá trị và số lượng để cung cấp những thông tin cần thiết một cách kịp thời cho lãnh đạo doanh nghiệp lập báo cáo chính xác kịp thời, dúng quy định Do vậy, mỗi doanh nghiệp cần phải căn cú vào tình hình thực
tế của doanh nghiệp mình mà nghiên cứu vận dụng cho phù hợp
4 Kế toán tổng hợp thành phẩm
a Tài khoản sử dụng
Kế toán tổng hợp thành phẩm sử dụng các tài khoản sau:
- TK 155- Thành phẩm: dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động của các loại thành phẩm trong doanh nghiệp
- TK 157- Hàng gửi đi bán: Dùng để phản ánh giá trị của thành phẩm đã gửi hoặc
đã chuyển cho khách hàng, hoặc nhờ bán đại lý, ký gửi, trị giá của lao vụ dịch vụ đã hoàn thành bàn giao cho người đặt hàng nhưng chưa được chấp nhận thanh toán
- TK 632- Giá vốn hàng bán: Dùng để phản ánh trị giá vốn của thành phẩm hàng hoá dịch vụ xuất trong kỳ
b Phương pháp kế toán
- Theo phương pháp kê khai thường xuyên: Là phương pháp ghi chép phản ánh thường xuyên liên tục và có hệ thống tình hình nhập xuất tồn kho các loại thành phẩm trên tài khoản và sổ kế toán tổng hợp thành phẩm thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp KKTX
TK157
(1)
(2) (3a (3
(5)
Trang 15(1) Giá thành sản phẩm thực tế của tế của thành phẩm tự sản xuất, thuê ngoài gia công nhập kho
(2) Giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm xuất bán
(3a) Giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm gửi đi bán, nhờ bán đại lý, ký gửi (3b) Giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm gửi đi bán đã xác định tiêu thụ
(4a) Trị giá thực tế của thành phẩm phát hiện thừa khi kiểm kê
(4b) Trị giá thực tế của thành phẩm phát hiện thiếu khi kiểm kê
(5) Cuối kỳ kết chuyển giá vốn thực tế của hàng đã tiêu thụ ( xuất bán trong kỳ)
- Theo phương pháp KKĐK: Là phương pháp hạch toán mà mỗi nghiệp vụ nhập kho thành phẩm không được ghi ngay vào tài khoán mà đến cuối kỳ hạch toán mới tiến hàng kiểm kê số thành phẩm tồn kho để tính ra số đã xuất trong kỳ và ghi sổ một lần
Trang 16- Trình tự hạch toán thể hiện qua sơ đồ tài khoản:
(1) Kết chuyển trị giá thực tế thnàh phẩm tồn kho đầu kỳ
(2) Giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm hoàn thành nhập kho
(3) Kết chuyển giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm tồn kho cuối kỳ và của thành phẩm đã gửi đi bán chưa xác định tiêu thụ cuối kỳ
(4) Kết chuyển giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm đã tiêu thụ
III Tổ chức công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả hoạt động kinh doanh
ở doanh nghiệp sản xuất
1 Kế toán doanh thu bán hàng, thuế và các khoản giảm trừ doanh thu
Doanh thu bán hàng là tổng giá trị thực hiện do hoạt động tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá cung cấp lao vụ dịch vụ cho khách hàng
Doanh thu bán hàng thường được phân biệt riêng cho từng loaị: Doanh htu bán hàng hoá, doanh thu bán thành phẩm, doanh thu cung cấp dịch vụ Ngoài ra cũng cần phân biệt doanh thu bán hàng theo phương thức tiêu thụ gồm doanh thu bán hàng ra ngoài (bán cho các đại lý bên ngoài và cá nhân ở trong hay ngoài doanh nghiệp) và doanh thu bán hàng nội bộ (bán cho các đơn vị thành viên trong cùng một công ty, tổng công ty hạch toán toàn ngành)
Tuỳ theo từng phương thức bán hàng khác nhau mà thời điểm xác định kết thúc tiêu thụ và hạch toán doanh thu khác nhau Cụ thể:
(4)
Trang 17- Phưong thức tiêu thụ trực tiếp: là phương thức giao hàng cho người mua trực tiếp tại kho ( hay tại các phân xưởng không qua kho của doanh nghiệp sản phẩm khi bàn giao cho khách hàng được chính thức coi là tiêu thụ
- Phương thức xuất hàng gửi đi bán: Doanh nghiệp phải chờ sự chấp nhận của người mua trả tiền hoặc chấp nhận mới coi là kết thúc tiêu thụ
- Phương thức giao hàng cho đại lý (ký gửi): Khi đại lý hoặc đơn vị nhận ký gửi thông báo bán được hàng hoặc trả tiền hàng thì quá trình tiêu thụ mới kết thúc
- Phương thức bán hàng trả góp: Quá trình tiêu thụ kết thúc khi thu được tiền hàng hoặc xác định được phần người mua trả
Vậy doanh thu bán hàng có thể được ghi nhận trước hoặc sau khi doanh nghiệp thu được tiền
Trong quá trình tiêu thụ, doanh nghiệp phải nộp thuế cho nhà nước, như thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có)
Trong quá trình tiêu thụ thành phẩm cũng có thể phát sinh các khoản làm giảm doanh thu như chiết khấu bán hàng, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại
+ Chiết khấu bán hàng: Là số tiền mà doanh nghiệp dành cho khách hàng trong trường hợp họ thanh toán nhanh hoặc mua hàng thường xuyên với số lượng lớn
+ Giảm giá hàng bán: Là số tiền mà doanh nghiệp phải giảm cho khách hàng do không thực hiện đúng các khoản đã ký kết trong hợp đồng về chất lượng thời hạn
+ Hàng bán bị trả lại: Là số tiền mà doanh nghiệp phải trả lại cho khách hàng trong trường hợp lỗi thuộc về doanh nghiệp như phạm vi cam kết vi phạm hợp đồng, hàng sai quy cách
Các khoản doanh thu bán hàng, thuế và các khoản làm giảm doanh thu bán hàng cần được theo dõi, ghi chép đầy đủ làm cơ sở xác định kết quả sản xuất kinh doanh
a Chứng từ và tài khoản kế toán
- Chứng từ:
Các khoản doanh thu bán hàng, thuế và các khoản làm giảm doanh thu bán hàng được phản ánh trong các chứng từ và tài liệu liên quan như: Hoá đơn bán hàng, hoá đơn
Trang 18kiêm phiếu xuất kho, chứng từ trả tiền, chứng từ tính thuế, trả hàng… Các chứng từ tài liệu này là căn cứ để xác định và ghi sổ kế toán liên quan
+TK531- Hàng bán bị trả lai: Dùng để phản ánh số doanh thu của sản phẩm hàng hoá lao vụ dịch vụ đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại do các nguyên nhân lỗi thuộc về doanh nghiệp như vi phạm cam kết hợp đồng
+TK 532- Giảm giá hàng bán: Được sử dụng để theo dõi toàn bộ các khoản giảm giá, bớt hồi khấu của việc bán hàng trong kỳ
+TK 333- Thuế và các khoản phải nộp nhà nước: Dùng để phản ánh tình hình thanh toán với nhà nước về thuế và các khoản nghĩa vụ
b Trình tự kế toán bán hàng, doanh thu bán hàng, thuế và các khoản giảm trừ doanh thu
Trang 19Sơ đồ kế toán doanh thu bán hàng, thuế, các khoản làm giảm doanh thu
(1) Giá bán của thành phẩm được xác định là tiêu thụ
(2) Thuế GTGT, thuế tiêu htụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu phải nộp nhà nước (3) Các khoản giảm giá hàng bán và hàng bị trả lại thực tế phát sinh trong kỳ
(4) Cuối kỳ hạch toán kết chuyển toàn bộ các khoản chiết khấu bná hàng, giảm giá hàng bán và hàng bị trả lại được khấu trừ vào doanh thu
(5) Cuối kỳ hạch toán kết chuyển toàn bộ các khoản chiết khấu bán hàng, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại được trừ vào doanh thu bán hàng
(6) Doanh thu bán hàng theo phương thức hàng đổi hàng
(6a) (6b) Doanh nghiệp chưa nhận được vật tư hàng hoá
(6c) Doanh nghiệp đã nhận được vật tư hàng hoá
TK111,112,131 TK333
(6c ) (7)
(3)
(9)
(4)
(6a )
Trang 20(7) Doanh thu của số sản phẩm doanh nghiệp dùng để trả lương cho công nhân viên (8) Số tiền lãi do trả chậm trong trường hợp doanh nghiệp bán hàng theo phương thức trả góp
(9) Doanh thu bán hàng sau khi đã trừ phần hoa hồng để lại cho đại lý trong trường hợp bán hàng theo phương thức gửi đại lý, ký gửi
2 Kế toán xác định kết qủa bán hàng
Bất kỳ một chủ doanh nghiệp nào cũng quan tâm đến những thông tin vầ kết quả kinh doanh để tiến hành phân tích, đánh giá kết quả hoạt động làm cơ sở xác định phương hướng sản xuât kinh doanh đúng đắn và có hiệu quả cao Do vậy, các chủ doanh nghiệp thường đòi hỏi kế toán phải cung cấp những thông tin và doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh của từng loại sản phẩm, từng hoạt động, từng đơn vị phụ thuộc
Muốn vậy, khi tổ chức kế toán xác định kết quả bán hàng, kế toán doanh nghiệp phải tổ chức kế toán chi phí, doanh thu một cách chi tiết theo từng đối tượng cụ thể để tính toán và xác định kết quả kinh doanh theo yêu cầu của chủ doanh nghiệp và giám đốc điều hành
a Kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là những chi phí quản lý chung không được tính vào giá thành sản phẩm mà được tính vào giá thành sản phẩm tiêu thụ, tức là phân bổ cho số sản phẩm tiêu thụ trong kỳ
Do vậy, khi kế toán xác định kết quả kinh doanh cần phải xác định được chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp để tính toán phân bổ cho sản phẩm tiêu thụ trong kỳ
- Chi phí bán hàng: Là chi phí lưu thông và chi phí tiếp thị phát sinh trong kỳ tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, lao vụ dịch vụ Chi phí bán hàng bao gồm nhiều khoản cụ thể khác nhau Theo quy định hiện hành, chi phí bán hàng gồm chi phí nhân viên, chi phí vật liệu bao bì, chi phí dụng cụ đồ dùng, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dich vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác
Trang 21Chi phí bán hàng thực tế phát sinh cần được phân loại và tổng hợp theo đúng nội dung đã quy định Cuối kỳ hạch toán, chi phí bán hàng phải được kết chuyển để xác định kết quả kinh doanh Trường hợp những hoạt động có chu kỳ kinh doanh dài, trong
kỳ không có hoặc có ít sản phẩm, hàng hoá tiêu thụ cuối kỳ hạch toán chuyển toàn bộ hoặc một phần chi phí bán hàng sang “chi phí chờ kết chuyển”
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là những chi phí cho việc quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và phục vụ chung khác liên quan đến cả hoạt động của doanh nghiệp
Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm nhiều khoản cụ thể, theo quy định hiện hành được phân hành: Chi phí nhân viên quản lý, chi phí vật liệu quản lý, chi phí đồ dùng văn phòng, chi phí khấu hao TSCĐ, thuế, phí và lệ phí, chi phí dự phòng, chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác
Chi phí quản lý doanh nghiệp cần được dự tính và quản lý chi tiêu tiết kiệm, hợp
lý Chi phí quản lý doanh nghiệp liên quan đến mọi hoạt động của doanh nghiệp Do vậy cuối kỳ cần được tính toán, kết chuyển để xác định kết quả kinh doanh Trường hợp doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất dài, trong kỳ không có hoặc có ít sản phẩm tiêu thụ thì cuối kỳ thanh tóan kết chuyển toàn bộ hoặc một phần chi phí quản lý doanh nghiệp sang
“chi phí chờ kết chuyển” để đến kỳ sau sẽ kết chuyển tiếp
- Để hạch toán hai khoản chi phí này, kế toán sử dụng hai tài khoản tương ứng:
TK 641- chi phí bán hàng
TK 642- chi phí quản lý doanh nghiệp
Hai tài khoản này được mở chi tiết theo từng nội dung chi phí, cuối kỳ kế toán kết chuyển chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp vào bên nợ TK 911 để xác định kết quả kinh doanh
- Trình tự kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
TK153
TK111,112TK911TK142
Trang 22-
(1) Tiền lương, các khoản phụ cấp trích BHXH, BHYT, KPCĐ phải trả cho nhân viên bán hàng, nhân viên đóng gói, bảo quản, bốc dỡ, vận chuyển hàng hoá đi tiêu thụ, nhân viên giới thiệu sản phẩm, sửa chữa và bảo quản sản phẩm ….và cán bộ nhân viên quản lý ở doanh nghiệp
(2) Trị giá vật liệu xuất dùng phục vụ cho khâu bán hàng và cho công tác QLDN (3) Trị giá công cụ dụng cụ đồ dùng văn phòng tính vào chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp trong kỳ
(4) Trích khấu hao TSCĐ ở bộ phận bán hàng và dùng chung cho doanh nghiệp (5) Chi phí về dich vụ mua ngoài phục vụ cho khâu bán hàng và các khoản chi về lệ phí giao thông, chi hội nghị tiếp khách, công tác phí, đào tạo cán bộ…các khoản lãi vay còn dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh trả trong kỳ và các khoản chi phí sửa chữa TSCĐ phát sinh một lần với mức độ nhỏ
(6) Các khoản thu thực tế phát sinh làm giảm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
(7) Cuối kỳ hạch toán, kết chuyển chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
để xác định kết quả kinh doanh
(8) Đối với những hoạt động có chu kỳ kinh doanh dài, trong kỳ không có hoặc có ít sản phẩm tiêu thụ thì cuối kỳ hạch toán kết chuyển toàn bộ hoặc một phần chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp sang”chi phí chờ kết chuyển” Đến kỳ sau, khi có
Trang 23sản phẩm hàng hoá tiêu thụ sẽ kết chuyển tiếp số chi phí chờ kết chuyển để xác định kết quả kinh doanh
(9) Các khoản thuế phải nộp cho nhà nước, các khoản trích lập dự phòng và các khoản lãi vay vốn dùng cho sản xuất kinh doanh phải trả trong kỳ
Như vậy, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là chi phí chung liên quan đến nhiều đối tượng nên phải phân bổ cho những đối tượng trong những trường hợp cần thiết theo những tiêu chuẩn hợp lý Tiêu chuẩn được sử dụng để phân bổ có thể
là giá vốn hàng bán, doanh thu hàng bán
Kế toán doanh thu bán hàng, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và các khoản giảm trừ doanh thu là những yếu tố cơ bản trong quá trình tiêu thụ Tuy nhiên không một hoạt động kinh doanh nào mà không cần tính đến lỗ lãi Do vậy, quá trình hạch toán tiêu thụ gắn liền với việc xác định kết quả kinh doanh
b Kế toán xác định kết quả hoạt động kinh doanh
Kết quả hoạt động kinh doanh là kết quả cuối cùng của sản xuất kinh doanh và hoạt động khác của doanh nghiệp sau một thời kỳ nhất định, biểu hiện bằng số tiền lãi hay lỗ
Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả hoạt động tài chính và kết quả hoạt động bất thường
Theo quy định của chế độ kế toán hiện hành, nội dung và cách xác định từng loại kết quả kinh doanh như sau:
- kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là số chênh lệch giữa doanh thu thuần và trị giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
- Kết quả hoạt động tài chính là số chênh lệch giữa thu nhập hoạt động tài chính thuần với chi phí hoạt động tài chính
- Kết quả bất thường là số chênh lệch bất thường( đặc biệt) với các khoản chi phí bất thường( đặc biệt)
Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cần đựoc phân biệt và tổ chức theo dõi, tính toán phản ánh riêng cho từng loại hoạt động, thậm chí riêng cho từng loại sản phẩm, từng ngành hàng, từng loại lao vụ dịch vụ
+ Tài khoản kế toán để xác định kết quả hoạt động kinh doanh:
Trang 24Để xác định kết quả hoạt động kinh doanh, kế toán sử dụng tài khoản 911- Xác định kết quả hoạt động kinh doanh để phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kỳ hạch toán
TK642- Chi phí quản lý doanh nghiệp
Để tính toán kết chuyển sang tài khoản 911- Xác định kết quả hoạt động kinh doanh ta theo sơ đồ sau:
Sơ đồ xác định kết quả hoạt động kinh doanh
(1) Kết chuyển giá thành sản xuất thực tế sản phẩm tiêu thụ trong kỳ
(2) Phân bổ kết chuyển chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp cho sản phẩm tiêu thụ
(3) Kết chuyển doanh thu thuần bán hàng
(4) Kết chuyển thu nhập về hoạt động tài chính và hoạt động khác
(5) Kết chuyển chi phí về hoạt động tài chính và hoạt động khác
(6b )
Trang 25Hiện nay, kế toán đang áp dụng bốn hình thức kế toán sau:
*) Báo cáo kế toán thành phẩm bán hàng và xác định kết quả hoạt động kinh doanh:
- Báo cáo về kế toán thành phẩm thuộc về báo cáo quản trị, chủ yếu là cung cấp thông tin cho quản trị kinh doanh ở đơn vị Báo cáo này xuất phát từ yêu cầu quản lý thành phẩm cần biết những thông tin về từng thứ loại thành phẩm, tình hình nhập- xuất- tồn kho cả về số lượng và số tiền, cũng như tổng hợp tình hình thành phẩm toàn doanh nghiệp báo cáo này chính là báo cáo tổng hợp nhập- xuất - tồn thành phẩm
- Báo cáo kế toán và nghiệp vụ bán hàng và xác định kết quả hoạt động kinh doanh
Với yêu cầu của công tác quản lý chung và yêu cầu quản lý chỉ đạo sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể lập báo cáo doanh thu bán hàng và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh chi tiết cho từng đối tựơng, từng sản phẩm, từng bộ phận… Việc lập
Trang 26báo cáo doanh thu dựa vào các sổ kế toán chi tiết của các tài khoản đặc biệt để lập hoặc chỉ lập báo cáo doanh thu tổng hợp chung cho toàn doanh nghiệp (nếu không cần quản
lý chi tiết) về việc lập báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được dựa vào sổ chi tiết TK911 và các sổ kế toán chi tiết có liên quan để lập
*) Trình tự tổ chức hạch toán kế toán thành phẩm, kế toán bán hàng và xác định kết quả hoạt động kinh doanh theo từng hình thức kế toán được khái quát qua các sơ đồ sau:
nếu doanh nghiếp áp dụng hình thức kế toán nhật ký chứng từ
Ghi chú:
Nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán nhật ký chung
Chứng từ gốc
Bảng kê
8,9,10
Nhật ký chứng từ
Sổ chi tiêt
TK 155, 511,
Thẻ kho của thủ
Sổ cái tài
Bảng tổng hợp chi
Báo cáo tài chính về kết quả kinh doanh Báo cáo tổng hợp nhập- xuất- tồn kho thành phẩm
Ghi hàng ngày hoặc ghi định kỳ
Ghi cuối kỳ
Chứng từ gốc
Trang 27Nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán chứng từ ghi sổ
Chứng từ gốc
Chứng từ
ghi sổ
Sổ chi tiết TK155,511,632,131
Thẻ kho của thủ
Sổ cái
TK
Bảng tổng hợp các sổ
Sổ chi tiết TK
Sổ kế toán
Trang 28Tóm lại, trong cơ chế thị trường hiện nay có sự cạnh tranh gay gắt trong tiêu thụ thành phẩm Đây là một trong những khâu có ý nghĩa quyết định tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Kế toán với tư cách là công cụ quản lý có hiệu lực nhất đã góp phần quan trọng vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong đó phải kể đến vai trò của kế toán đối với việc quản lý, hạch toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm
và xác định kết quả hoạt động kinh doanh
Tuy nhiên, giữa lý luận và thực tiễn còn có một khoản cách nhất định Thực tế công tác kế toán thành phẩm và xác định kết quả hoạt động kinh doanh có đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh, phù hợp với cơ chế thị trường hay không là điều không dễ dàng, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tổ chức công tác kế toán thành phẩm và xác định kết quả hoạt động kinh doanh một cách chặt chẽ, khoa học, đúng chế độ quy định
Trong thời gian thực tập tại công ty, nhận thức được tầm quan trọng của công tác
kế toán thành phẩm và xác định kết quả hoạt động kinh doanh trong công ty nên em đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài:”Tổ chức công tác kế toán thành phẩm và xác định kết quả hoạt động kinh doanh ở công ty TNHH phát triển mạng lưới toàn cầu Nam Dũng” Để qua phần lý luận cũng như thực tiễn em rút ra được những kết luận xác thực hơn
Sau đây em xin trình bày cụ thể phần:” Tình hình tổ chức công tác kế toán thành phẩm và xác định kết quả hoạt động kinh doanh ở công ty TNHH phát triển mạng lưới toàn cầu Nam Dũng” để có cơ sở so sánh và rút ra những kết luận đúng đắn nhất
Trang 30Phần ii:
thực tế công tác kế toán thành phẩm và xác định kết quả hoạt động kinh doanh ở
công ty Tnhh phát triển mạng lưới toàn cầu nam dũng
I Đặc điểm và tình hình chung của Công ty TNHH phát triển mạng lưới toàn
cầu Nam Dũng
1 Tổng quát về công ty
Tên gọi: Công ty TNHH phát triển mạng lưới toàn cầu Nam Dũng
Tên giao dịch quốc tế: Nam Dung global network development Co.ltd
Trụ sở giao dịch: Khu công nghiệp Như Quỳnh – Văn Lâm – Hưng Yên
Điện thoại: 084.321.986.709
Fax: 084.321.986.710
MST: 0900198264
2 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty TNHH phát triển mạng lưới toàn cầu Nam Dũng được thành lập theo quyết định ngày 12/5/1996 của sở kế hoạch đầu tư thành phố Hà Nội Bán thành phẩm đầu, xưởng sản xuất của công ty đặt tại 82C Nguyễn Đức Cảnh, Đống Đa, Hà Nội Qua gần 8 năm hoạt động (đến năm 2003) công ty TNHH phát triển mạng lưới toàn cầu Nam Dũng gọi tắt là (NETDE) đã không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và cải tiến công nghệ Do vậy, sản phẩm của công ty đã được người chăn nuôi yêu thích tin dùng
Để phát triển quy mô sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ, công ty đã quyết định thành lập một trụ sở và nhà máy sản xuất mới rộng 4ha được trang bị dây truyền sản xuất hiện đại đặt tại: Văn Lâm – Hưng Yên
Qua gần 4 năm xây dựng và đi vào hoạt động với tên gọi: “Công ty TNHH phát triển mạng lưới toàn cầu Nam Dũng” Công ty ý thức được rằng Việt Nam là đất nước
có trên 76% dân số làm nghề nông, trong đó ngành nghề chăn nuôi là một phần không thể thiếu giúp người nông dân vươn lên làm giàu, tránh phụ thuộc vào ngành trồng trọt Tuy vậy, nước ta là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa dễ làm phát sinh và lây lan các bệnh đối với gia súc, gia cầm Chính vì thế bên cạnh việc sản xuất thức ăn chăn nuôi chính là cám, công ty còn tiến hành nghiên cứu và sản xuất thuốc thú y để đáp ứng nhu cầu của người chăn nuôi Mặc dù nước ta có nhiều sản phẩm nông nghiệp có thể làm thức ăn chăn nuôi song chỉ đạt ở mức độ thô chưa được tinh chế, người nông dân lại phải mua các sản phẩm tinh chế của nước ngoài với giá thành cao khiến cho hiệu quả
Trang 31chăn nuôi thấp Do đó là một công ty chuyên sản xuất các sản phẩm phục vụ ngành chăn nuôi lên công ty đã xác định quy mô và chất lượng hệ thống sản phẩm là yếu tố cơ bản để quyết định vị thế và uy tín của mình trong lòng người nông dân
Căn cứ vào chỉ tiêu mà bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đề ra cho từng thời kỳ, với từng khu vực, đồng thời căn cứ vào nhu cầu của các hộ nông dân Công ty
đã đề ra cho mình chiến lược sản xuất và tiếp thị sản phẩm thích hợp nhất đảm bảo mỗi sản phẩm của công ty đáp ứng được kịp thời mọi nhu cầu của người nông dân
a Những thuận lợi của công ty
Qua quá trình hoạt động và sản xuấtĐể có được những thông tin hữu ích phục vụ cho sản xuất kinh doanh thì một công cụ không thể thiếu đối với các doanh nghiệp đó là kế toán.Với tư cách là công cụ quản lý, kế toán ngày càng được khai thác tối đa sức mạnh và sự linh hoạt của nó, nhằm điều chỉnh vĩ mô và kiểm soát sự vận hành của nền kinh tế Đi đôi với sự đổi mới trong cơ chế quản lý kinh tế,sự đổi mới trong cơ chế quản lý kinh tế, sự đổi mới trong hệ thống kế toán doanh nghiệp đã tạo ra cho kế toán một bộ mặt mới, khẳng định được vị trí của kế toán trong hệ thống các công
cụ quản lý doanh nghiệp
kinh doanh công ty TNHH phát triển mạng lưới toàn cầu Nam Dũng đã thu được những kết quả tốt Song để có được những kết quả này công ty đã biết tận dụng tối đa các điều kiện thuận lợi đó là
Công ty TNHH phát triển mạng lưới toàn cầu Nam Dũng nằm gần đường quốc lộ
5 như vậy vấn đề giao thông đối với công ty dễ dàng hơn tạo điều kiện cho việc vận chuyển hàng hoá đi tiêu thụ cũng như mua nguyên vật liệu ở các địa bàn đều rất thuận lợi Đây là một lợi thế của công ty để mở rộng thị trường tiêu thụ
Công ty có một đội ngũ cán bộ công nhân viên nhiều kinh nghiệm, người công nhân có tay nghề cao chiếm tỷ trọng lớn, đội ngũ kinh doanh, phòng quản trị kinh doanh nắm bắt được chiến lược marketing trong thị trường hàng hoá cũng như nhu cầu tiêu dùng của toàn xã hội Chính vì vậy mà sản phẩm sản xuất ra không có sản phẩm ứ đọng Doanh nghiệp có quyền quyết định mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình như: Thay đổi mẫu mã, nhãn mác, sản phẩm, mua sắm trang thiết bị sản xuất, đào tạo lại trình độ công nhân, phát triển sản xuất và đặc biệt có sự ủng hộ mạnh mẽ của khách hàng đối với sản phẩm của công ty Trong thời gian hoạt động vừa qua sản phẩm cám của công ty đã có chỗ đứng trên thị trường về thức ăn chăn nuôi Sản phẩm có chất
Trang 32lượng tốt tạo được uy tín với khách hàng Do đó công ty đã tìm cho mình một thị trường truyền thống ở một số tỉnh ngoài những khách hàng quen thuộc, sản phẩm của công ty đang được nhiều bạn hàng tìm đến, thị phần của công ty dang được mở rộng Công ty
có ưu thế trong việc cạnh tranh với các doanh nghiệp khác
b Những khó khăn của công ty
Trong thời kỳ CNH – HĐH của đất nước, nhìn chung chúng ta còn thiếu những dây truyền sản xuất hiện đại, các trang thiết bị mang tính chất công nghệ khoa học kỹ thuật cao và công ty Nam Dũng cũng không nằm ngoài những khó khăn đó Chính vì thế mà mỗi thành viên trong công ty đều phải tự xác định cho mình trách nhiệm, tính tự giác cao trong công việc vì sự thành công của công ty và vì bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới
Mạng lưới giới thiệu và bán sản phẩm của công ty vẫn còn mỏng
Hiện nay trên thị trường xuất hiện ngày càng nhiều mặt hàng về thức ăn chăn nuôi Chính vì vậy mà sản phẩm của công ty sản xuất ra phải cạnh tranh mạnh với sản phẩm của công ty khác trên thị trường chung Nếu công ty không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, mẫu mã sẽ mất chỗ đứng trên thị trường và niềm tin của khách hàng
Vừa qua do ảnh hưởng của dịch “cúm gia cầm” đã dẫn đến mức tiêu thụ hàng của công ty giảm sút đáng kể
Trên đây là những điều kiện thuận lợi và khó khăn cơ bản của công ty trong quá trình sản xuất kinh doanh Những điều kiện đó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Nhưng với sự lỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên, công ty vẫn ngày càng phát triển mạnh mẽ và không ngừng vươn xa
3 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty
Là một công ty chuyên sản xuất các sản phẩm phục vụ người chăn nuôi, lên công
ty xác định quy mô và chất lượng hệ thống sản phẩm là yếu tố cơ bản quyết định vị thế
và uy tín của công ty trong lòng người nông dân Cho đến nay công ty Nam Dũng đã có tổng cộng 150 loại thuốc thú y và 39 sản phẩm thức ăn chăn nuôi đang lưu hành rộng rãi trong thị trường và chiếm được lòng tin của các hộ gia đình trong toàn quốc Không
tự bằng lòng với chính mình, hiện nay đội ngũ chuyên viên nghiên cứu của công ty vẫn lao động hết mình để cho ra đời những sản phẩm mới, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của thị trường Để sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng cao thì phải có cách tính
Trang 33chính xác trong quá trình sản xuất, áp dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật để kiểm tra chất lượng sản phẩm mà công ty đã sản xuất ra
a Đặc điểm tổ chức sản xuất
Công ty là đơn vị tự chủ về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Là một công ty làm ăn
có lãi, giải quyết và tạo công ăn việc làm cho một số lao động lớn trong và ngoài tỉnh
Nguồn vốn: Vốn cố định chủ yếu là TSCĐ và thiết bị máy móc, dây truyền sản xuất, hệ thống nhà xưởng cùng với nguồn vốn kinh doanh, các quỹ đầu tư
Hiện nay tổng số cán bộ công nhân viên có gần 300 người, tỷ lệ cán bộ có trình
độ Thạc sĩ trở lên chiếm 5%, Đại học và Cao đẳng chiếm 20%, đội ngũ công nhân được đào tạo không ngừng tăng lên Năm 2003 đã có 3 thành viên vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng
Nhiệm vụ của công ty: Đa dạng hoá mặt hàng sản xuất, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trường vì chất lượng đảm bảo, mẫu mã đẹp, có sức cạnh tranh cao và tìm chỗ đứng vững chắc trên thị trường Các tổ, phân xưởng sản xuất vật liệu, sản phẩm chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm mà mình làm ra và hưởng theo hiệu quả sản xuất lao động
b Đặc điểm tổ chức công tác quản lý của công ty
Công ty TNHH phát triển mạng lưới toàn cầu Nam Dũng thực hiện chế độ quản lý thủ trưởng - đứng đầu là giám đốc, có sự tham gia của phó giám đốc và các phòng ban chức năng trực tiếp tiến hành tổ chức sản xuất
Xuất phát từ đặc điểm sản xuất kinh doanh của mình nên công ty đã hình thành bộ máy quản lý được ttrình bày qua sơ đồ sau:
sơ đồ bộ máy quản lý của công ty
Giám đốc
Phòng tổ
chức
Phó Giám đốc
Phòng kế toán
Phòng kế hoạch vật tư
Trang 34Qua sơ đồ trên ta thấy người có quyền lực cao nhất là giám đốc, giám đốc là người giữ vai trò lãnh đạo chung toàn công ty, trực tiếp lãnh đạo công tác đối ngoại điều hành bộ phận kế hoạch kế toán
_ Tiếp đến là phó giám đốc công ty là người giúp cho giám đốc về quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch năm, thay quyền khi giám đốc đi vắng Tổ chức chỉ đạo điều hành hoạt động của các bộ phận chức năng theo dúng quy định Bên cạnh đó phó giám đốc cồn chỉ đạo kế hoạch sản xuất chỉ đạo công tác, tến độ về khoa học kỹ thuật, xây dựng
kế hoạch sản xuất trung hạn và dài hạn.năm được tình hình tiêu thụ sản phẩm, phụ trách điều hành các phân xưởng sản xuất trong Công Ty
- Phòng tổ chức : chịu trách nhiệm quản lý nhân sự và công việc hành chính như : bảo quản hồ sơ, công văn, giấy tờ, bảo quản con dấu, xem xét các thủ tục hành chính
- Phòng kế toán : có nhiệm vụ quản lý toang bộ vốn, tài sản của Công Ty Tổ chức kiển ra thực hiện chính sách kinh tế tài chính, thống kê kịp thời chính xác tình hình tài sản nguồng vốn, giúp giám đốc kiểm tra thường xuyên toàn bộ hoạt động kinh tế của công ty Đồng thời cồn tham mưu giúp việc cho giám đốc trong các lĩnh vực như quản
lý tài chính, hoạch toán kinh tế trên cơ sở các nguyên tắcquản lý tài chính của nhà nước đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Phòng kế hoạch vật tư: Là phòng luôn luôn cung cấp nguyên vật liệu cũng như công cụ dụng cụ để cung cấp kịp thời trong quá trình sản xuất cũng như kinh doanh -Tổ nghiền say pha trộn: thực hiện nghiền say các nguyên vật liệu như ngô, cám , bột xương…pha trộn theo tỷ lệ mà phòng phân tích đã đề ra
-Tổ hoàn thiện sản phẩm: Thực hiện các chức năng hoàn thiện các sản phẩm như: Đóng bao, dán nhãn mác…
c Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất của công ty
Do đặc điểm sản xuất của công ty chia thành 3 tổ sản xuất lên mỗi tổ đảm nhiệm một chức năng khác nhau:
- Tổ pha chế vi lượng: Thực hiện điều chế điều chế vi lượng để chuyển sang tổ nghiền, xay, pha trộn
Trang 35- Tổ nghiền, xay, pha trộn: Thực hiện nghiền xay các nguyên vật liệu như: ngô,
đỗ, cá khô, bột xương… pha trộn theo tỷ lệ mà phòng phân tích đã đề ra
- Tổ hoàn thiện sản phẩm: Thực hiện các chức năng hoàn thiện sản phẩm như: Đóng bao, dán nhãn mác
Xuất phát từ đặc điểm tổ chức của công ty, các tổ chức trong phân xưởng sản xuất có những mối liên hệ mật thiết với nhau, nhằm hỗ trợ nhau để làm thế nào sản xuất
ra sản phẩm một cách liên tục, liên hoàn, ràng buộc, mắt xích đan xen với nhau tránh tình trạng làm gián đoạn quy trình sản xuất Các tổ mặc dù được tổ chức độc lập nhưng không hoàn toàn tách rời Mối quan hệ đó được thể hiện qua quy trình công nghệ dưới đây
Quy trình công nghệ sản xuất thành phẩm
4 Tổ chức bộ máy kế toán của công ty
Việc tổ chức, thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, nội dung công tác kế toán trong doanh nghiệp do bộ máy kế toán đảm nhận Do vậy việc tổ chức cơ cấu bộ máy kế toán sao cho hợp lý, gọn nhẹ, hiệu quả nhất
Phòng kế toán của công ty TNHH phát triển mạng lưới toàn cầu Nam Dũng được
tổ chức gọn nhẹ dưới sự chỉ đạo trực tiếp của giám đốc và phó giám đốc Phòng này gồm:
Một kế toán trưởng: là một kiểm soát viên về tài chính chỉ đạo công việc chính của phòng, phụ trách chung và đảm nhận phần việc tổng hợp chi phí và tính giá thành, ký duyệt các báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán thuế …
Tổ hoàn thiện sản phẩm
Kho thành phẩm
Trang 36Một nhân viên tổng hợp: Kiêm kế toán tài sản cố định, kế toán tiền lương, kế toán tiêu thụ giúp kế toán trưởng phân hành kế toán như: Tình hình tăng giảm tài sản cố định, lương phải trả cho cán bộ công nhân viên… lập báo cáo tài chính, báo cáo thuế và tính giá thành phẩm, tổng hợp các báo cáo chi tiết từ các nhân viên kế toán, tính giá thành toàn bộ theo từng loại mặt hàng
Một nhân viên kế toán phụ trách thanh toán ngân hàng: Theo dõi thực hiện các khoản thanh toán liên quan đến tiền mặt và giao dịch với ngân hàng Theo dõi chi tiết các TK tiền gửi hiện có của công ty
Một nhân viên làm công tác kế toán giá thành sản xuất, tiền lương, tài sản cố định tại phân xưởng
Một nhân viên kế toán công nợ phải thu: Theo dõi đối chiếu công nợ với khách hàng và công nợ phải thu của các chi nhánh
Một thủ quỹ: theo dõi thu chi tiền mặt hàng ngày theo các phiếu thu, phiếu chi đúng theo mãu quy định, hợp lệ có đầy đủ chữ ký, mở sổ theo dõi thu chi phát sinh hàng ngày cuối mỗi ngày phải đối chiếu kiểm tra cộng sổ phát sinh và số dư Cuối tháng cân đối phát sinh số dư để ghi vào sổ quỹ tiền mặt
Kế toán thuế: Các khoản phải nộp ngân sách nhà nước
Trang 37Sơ đồ bộ máy kế toán
Phòng kế toán là nơi thực hiện công tác kế toán của công ty dưới sự chỉ đạo của
kế toán trưởng Kế toán trưởng tập hợp các số liệu của kế toán viên, lập báo cáo gửi cho Giám đốc hoặc phó Giám đốc
Do sổ kế toán được sử dụng để phản ánh một cách thường xuyên, liên tục có hệ thống về tình hình biến động của từng loại tài sản, từng nguồn hình thành và các quá trình kinh doanh của đơn vị Hình thức nhật ký chung có những đặc điểm chủ yếu là các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được căn cứ vào chứng từ gốc để ghi vào nhật ký chung theo thứ tự thời gian và nội dung nghiệp vụ kinh tế Phản ánh đúng mối quan hệ khách quan giữa các đối tượng kế toán (quan hệ đối ứng giữa các tài khoản) rồi ghi vào sổ cái
Kế toán trưởng
Kế toán tổng hợp
SX, tiền lương
Kế toán công
nợ phải thu
Thủ quỹ
Kế toán thuế
Trang 38Sơ đồ ghi sổ kế toán theo hình thức nhật ký chung
tháng
Quan hệ đối
Chứng từ gốc
Nhật ký chung
Sổ cái
Bảng cân đối
TK
Sổ kế toán chi tiết
Bảng tổng hợp chi tiết Báo cáo tài chính
Trang 39II thực tế về kế toán thành phẩm và xác định kết quả hoạt động kinh doanh tại
công ty TNHH phát triển mạng lưới toàn cầu nam dũng
1 Phương pháp đánh giá thành phẩm
Thành phẩm ở công ty TNHH phát triển mạng lưới toàn cầu Nam Dũng sau khi sản xuất ra được bộ phận kỹ thuật KCS kiểm tra đúng với tiêu chuẩn kỹ thuật quy định thì mới tiến hành nhập kho Sau đó tiến hành xuất kho cho khách hàng để thu tiền về Vì thành phẩm là do công ty sản xuất ra nên nó được đánh giá theo giá thưc tế bao gồm:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Chi phí sản xuất chung
Khi nhập kho thành phẩm: Kế toán căn cứ vào số liệu do bộ phận sản xuất cung cấp vào cuối tháng tiến hành tập hợp chi phí sản xuất để tính giá thực tế của từng loại sản phẩm hoàn thành trong tháng
Trong tháng 1/2005, 6/2005, 12/2005 giá thành thực tế từng loại thành phẩm được tập hợp nhập kho thành phẩm
Việc đánh giá theo giá thực tế cho từng loại thành phẩm là cơ sở để hạch toán nhập kho thành phẩm