1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo khoa học:Một vài kinh nghiệm dịch hợp đồng thương mại pdf

8 573 3
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 392,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sử dụng phong cách giao tiếp này với người châu Á có thể làm phái sinh hiểu lầm hay ít nhất cũng không đại được mục đích giao tiếp như mong đợi; 2 Khi chuyên dịch các văn bản thương mại

Trang 1

MỘT VÀI KINH NGHIỆM DỊCH VĂN BẢN

HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

NGUYEN THANH LAN”

TOM TAT

Nhu cầu sử dụng tiếng Anh nói chung và

tiếng Anh thương mại tại Việt Nam ngày

càng cao do chúng ta ngày càng hòa nhập

sâu rộng vào nên kinh tế thế giới Tuy

nhiên, thực té cho thấy rằng khi sử dụng

tiếng Anh thương mại, chúng ta thường gặp

phảù hai vẫn đề lớn sau: l) Khi giao tiếp

bằng các văn bản thự tín thương mại tiếng

Anh với các doanh nghiệp nước ngoài,

chúng ta thường bị áp đặt theo văn hóa

giao tiếp Âu-Mỹ Sử dụng phong cách giao

tiếp này với người châu Á có thể làm phái

sinh hiểu lầm hay ít nhất cũng không đại

được mục đích giao tiếp như mong đợi; 2)

Khi chuyên dịch các văn bản thương mại từ

tiếng Anh sang tiếng Việt hay ngược lại,

các doanh nghiệp gặp không ít khó khăn

bởi chưa có những nguyên tắc chuyển dịch

Chính thức và hữu hiệu cho từng loại văn

bản tiếng Anh thương mại Chúng tôi hy

vọng bài viễt này sẽ giúp cho sinh viên Việt

Nam thuộc khối kinh tẾ và các doanh

nghiệp dễ dàng hơn trong việc sử dụng

tiếng Anh thương mại tại môi trưởng kinh

doanh Việt Nam

t SU CAN THIET CUA VIEC CHUYEN

DỊCH CHÍNH XÁC VĂN BẢN HỢP ĐÔNG

Khi Việt Nam hội nhập vào thế giới ngày

cảng sâu rộng về mọi lĩnh vực, nhất là về

© Thạc sĩ Trưởng Đại học Ngoại thương,

Thành phố Hồ Chí Minh

kinh tế, thương mại thì CÁC doanh nghiệp Việt Nam càng cần phải nắm vững tiếng

Anh trong các giao tiếp thương mại ngày

càng cao Không ai có thể phủ nhận một

thực tế là việc hiểu lầm các thuật ngữ trong các giao dịch làm ăn có thể khiến một

doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội làm ăn với một

đối tác nước ngoài hoặc khiến họ tốn kém

về thời gian hoặc về tiền bạc Đặc biệt, văn

bản hợp đồng là loại văn bản có tính pháp

lý cao nên việc hiểu sai hay hiểu lầm các

ngôn từ trong loại văn bản này có thể khiến

các doanh nghiệp phải trả giá đắt Đối với

những đoanh nghiệp không nắm vững tiếng

Anh, bắt buộc họ phải có thông dịch viên

chuyên nghiệp để chuyển dịch văn ban -

thuộc loại này một cách chính xác và rõ ràng

Khi chuyển dịch các vin ban hợp đồng

thương mại quốc tế, các thông dịch viên gặp không ít khó khăn trong việc chuyển

dịch từ ngữ nguồn (tiếng Anh) sang ngữ đích (tiếng Việt, do loại hình ngôn ngữ

văn bản này thường chỉ được các luật sư sử

dụng Tất các các cách hành văn, thuật ngữ,

cấu trúc câu trong ngôn bản hợp đồng đều

mang nặng phong cách bút ngữ pháp lý Do

vậy, muốn dịch tốt loại hình văn bản này,

ngoài những kiến thức về kinh tế thương

mại, về tập quán mua bán quốc tể, thông dịch viên phải có những hiểu biết nhất định

về kiến thức luật pháp trong nước và quốc tế

2 NGÔN CẢNH CỦA VĂN BẢN HỢP ĐÔNG

Để dịch đúng và chuẩn một văn bản hợp

đồng, trước hết chúng ta cần xác định ngôn

Trang 2

NGUYEN THANH LAN — MOT VAi KINH NGHIEM DICH VAN BAN 63

cảnh của loại hình văn bản nay Theo

Halliday và Hasan (Hoàng Văn Vân, 2005,

tr 95-98), ngôn cảnh tình huỗng dựa vào ba

thông số lần lượt là rưởng (fñield), không

khí (tennor) và phương thức (mode) của

ngôn bản Để dịch tốt một ngôn bản nói

chung, thông dịch viên phải hiểu được ba

yếu tố này

2.1 Trường của văn bản

Yếu tổ thứ nhất cần xác định là trường của

văn bản hợp đồng Theo Haliday và

Hassan, trudéng cha van ban chi chi dé

(subject matter) cla văn bản đó va có liên

hệ chặt chẽ với ngôn cảnh tỉnh huống, bao

gồm những người tham gia vào các sự kiện

lời nói, các hành động hữu ngôn và hiệu

quả của hành động hữu ngôn Trong văn

bản hợp đồng, /rường của loại hình văn bản

này chính là những ý định của các bên đối

tác khi tham gia ký kết hợp đồng Nói cách

khác, đó là những quyền lợi và nghĩa vụ mà

các đối tác hợp đồng được hưởng cũng như

là phải thực hiện Cụ thé là quyền lợi mà

người mua được hưởng chính là chất lượng

và số lượng của hàng hóa hay dịch vụ mà

người bán sẽ giao còn nghĩa vụ mà người

mua phải thực hiện là việc thanh toán đầy

đủ và đúng hạn Ngược lại, quyền lợi của

người bán là nhận được khoản thanh toán

đầy đủ và đúng hạn còn nghĩa vụ của người

bán là giao hàng đủ về số lượng, và đúng

về thời gian

Khi dịch văn bản hợp đồng, người dịch sẽ

gặp phải những khó khăn về ưởng của

văn bản vì tiếng Anh thương mại là ngôn

ngữ đã phát triển mạnh theo những tập

quán, thói quen trong thương mại quốc tế,

thường đã được sử dụng trong một nền

kinh tế phát triển của một quốc gia nào đó

Do các thuật ngữ mới mẻ luôn được cập

nhật nên đòi hỏi người dịch phải năm được

bản chất của những thuật ngữ đó Hơn nữa, người dịch phải nắm được các thuật ngữ chuyên môn về các nghiệp vụ chuyên

ngành như giao nhận hàng hóa, thanh toán

quốc tế, vận tải bảo hiểm Chẳng hạn như

trong các điều kiện cơ sở giao hàng

(Incoterms, 2000), Phòng Thương mại

Quốc tế (ICC - International Chamber of Commerce) đã đưa ra những định nghĩa về

các thuật ngữ sử dụng trong hợp đồng mua

bán hàng hóa để quy định nghĩa vụ giao

hàng của người bán, cũng như nghĩa vụ nhận hàng của người mua như EXW (EX -

WORKS - Giao tại xưởng), FAS (Free

Alongside Ship - Giao doc man tau), FCA (Free Carrler - Giao cho người chuyên

chở) Những thuật ngữ này được Phòng Thương mại Quốc tế luôn cập nhật để phù

hợp với những tập quán mua bán quốc tế mới nhất Án bản mới nhất là Incoterm

2000 (CC, 2000), trong đó quy định cụ thé

về nghĩa vụ của người mua và người bán trong việc chuyển rủi ro và chỉ phí của

hàng hóa từ người bán sang người mua

Nếu người dịch không nắm vững được những quy định này, anh ta sẽ dịch thuật ngữ (FOB - Free on Board) là “tự do lên tàu”, trong khi dịch đúng phải là “Giao hàng lên tàu” vì từ “free” trong “Free on Board” nay nhằm ham chỉ việc người bán

sẽ được miễn trách (free from liabilities)

đối với rủi ro đối với hàng hóa một khi

hàng đã được giao lên khoang (on board) của con tàu chuyên chở Như vậy, khi dịch những thuật ngữ này, người dịch phải tạo ra

những thuật ngữ phù hợp với cách gọi

trong các nghiệp vụ chuyên ngành, phải

vượt ra khỏi những phạm vị của các vấn đề

thuật ngữ song ngữ, và đặt ra những cách dịch sao cho phù hợp với ngôn ngữ đích

Trang 3

64 NGUYỄN THÀNH LÂN - MỘT VÀI KINH NGHIỆM DỊCH VĂN BẢN

2.2 Không khí của văn bản

Yếu tổ thứ 2 là không khí (tennor) của văn

bản hợp đồng Theo Halliđay (Hoàng Văn

Vân, 2005, tr 98), không khí của văn bản

chỉ việc ai đang tham gia vào văn bản, vị

thế và các vai diễn của những người này,

mỗi quan hệ của các bên khi tham gia vào

văn bản đó Nói một cách cụ thể hơn,

không khí của văn bản thê hiện phong cách

của văn bản đó, đó có thể là phong cách rất

trang trọng hay rất thân mật

Cu thé hon, theo Martin Joos (Hoang Van

Vân, 2005, tr 98), phong cách của văn ban

được chia ra làm 05 loại, lần lượt là: phong

cách băng giá (frozen), phong cách trang

trọng (formal), phong cách udm

(consultative), phong cách thoải mái

(casual) và phong cách thân mật (intimate)

Như vậy, khi chuyển dịch văn bản, thông

dịch viên phải hiểu rõ được các cấp độ

trang trọng khác nhau thể hiện trong các

văn bản, để đưa ra những cách địch cho

phù hợp nhất

Trong văn bản hợp đồng, rõ ràng là ngôn

ngữ được thể hiện theo phong cách băng

gid (frozen) va trang trong (formal) Phong

cách này thể hiện ở mối quan hệ pháp lý

giữa các bên hợp đồng, đó là những nghĩa

vụ và quyên lợi của các bên tham gia, được

xác định một cách rõ ràng theo luật định

Như vậy, toàn bộ văn bản hợp đồng cẩn

phải được chuyển dịch một cách băng giá

hay trang trọng thì mới nói lên được mỗi

quan hệ pháp lý đó

Chang han, dé thé hién nghĩa vụ của các

bên tham gia hợp đồng, các văn bản hợp

đồng tiếng Anh thường dùng trợ động từ

“shaH” Ví dụ câu: “In the event of Force

Majure, the Seller shal/ bring this event to

the Buyers knowledge” Néu dich 1a

“Trường hợp bất khả kháng, người bán sẽ

thông báo sự cố này cho người mua” như cấu trúc tiếng Anh thông thường, thì câu này sẽ được cho là câu sai mà phải dịch là

“trường hợp bất khả kháng, người bán phái

thông báo ” thì mới đúng phong cách

“băng giá” này

Đặc trưng ngữ vựng trong các văn bản thuộc loại này là sử dụng các phong cách

cổ điển (old-styled ) và do vậy, khi chuyển dịch sang ngữ đích, phong cách này cũng

phải được thể hiện Một số ví dụ dưới đây

cho thấy việc chuyển địch từ ngữ nguồn sang ngữ đích cần phải thực hiện một cách

“băng giá”

- The Seller and the covernant and agree that

Buyer hereby

(Người bán và người mua nay thỏa thuận

và nhất trí rằng )

- Whereas the Buyer understands that the Seller has outstanding expertise in computer software business

(Căn cứ vào việc người mua hiểu rằng người bán có trình độ chuyên môn giỏi trong lĩnh vực phân mêm máy tính)

- In witness whereof, the Landlord and the Tenant have respectively signed and sealed this lease as of the date and year first above

written

(Làm bằng chứng về việc này, bên cho thuê

và bên thuê lần lượt ký và đóng dấu vào

hợp đồng này vào ngày tháng năm quy định phân trên)

2.3 Phương thức của văn bản Cuối cùng, chúng ta xét đến phương thức (mode) của văn bản hợp đồng Theo Halliday (Hoang Van Van, 2005, tr 99), phương thức của ngôn bản nói chung chi môi trường hoạt động của ngôn ngữ, nó

Trang 4

NGUYEN THANH LAN - MOT VAI KINH NGHIEM DICH VAN BAN 65

được trình bày dưới hình thức khẩu ngữ,

hoặc b⁄/ ngữ Phương thức của ngôn bản

liên quan đến những đối tượng tham gia

vào ngôn bản đó, Ví dụ, trong phương thức

khâu ngữ, ngôn bản có thể được thể hiện ở

hình thức hội thoại hay độc thoại Còn

trong phương thức bút ngữ, ngôn bản có

thể được thể hiện ở các dạng văn bản như

văn bản báo chí, văn bản khoa học hay văn

bản kể chuyện

Theo Bell (Hoàng Văn Vân, 2005, tr 187),

văn ban có thể phân chia thành 3 loại

chính: văn bản phân tích, tranh luận, và

định hướng

Văn bản hợp đồng thể hiện rất rõ tính định

hướng cho người đọc vì nó được soạn thảo

trên cơ sở các bên hợp đồng đã thương

lượng, thỏa thuận với nhau Khi các điều

khoản và điều kiện của hợp đồng đã được

thể hiện trên văn bản, nó thể hiện tính áp

đặt, không mang tính thảo luận, không

mang tính công chúng Mục đích của văn

bản hợp đồng là viết ra để người đọc (cụ

thể là các bên tham gia hợp đồng) hiểu và

chấp hành, tuân thủ hay diễn dịch Đối

tượng độc giả rất hạn hẹp Thông thường,

đó chỉ là các bên tham gia ký kết hợp đồng

trong trường hợp không có tranh chấp về

những quy định trong hợp đồng Nhưng

nếu tranh chấp xảy ra, thì số độc giả sẽ tăng

lên, đó có thể là luật sư, người hòa giải

(conciliator), trọng tài (arbitrator) hoặc tòa

án (court) Do văn bản hợp đồng mang tính

định hướng, tuân thủ chứ không mang tính

lựa chọn nên sự lựa chọn về cách sử dụng

ngôn ngữ cũng rất đặc biệt Mới độ từ vựng

sử dụng trong một câu thường rất cao và

đây cũng chính là những khó khăn mà

người dịch gặp phải Điển hình là trong

điều khoản bất khả kháng “FORCE

MAJEURE” dưới đây, điều khoản này chỉ

gồm một câu nhưng số lượng từ vựng thì

quá lớn

“If the performance by Seller of its obligations hereunder is directly or indirectly affected or prevented by force

majeure, including but not limited to Acts

of God, flood, typhoon, earthquake, tidal wave, landslide, fire, plague, epidemic, quarantine restriction, perils of the sea, war

declared or not or threat of the same, civil

commotion, blockade, arrest or restraint of

government, rulers of people, requisition of

vessel or aircraft, strike, lockout, sabotage

or other labor dispute, explosion, accident

or breakdown in whole or in part of machinery, plant, transportation or loading facility, governmental request, guidance, order or regulation, unavailability of transportation or loading facility, bankruptcy

or insolvency of the manufacturer or supplier of the Goods, or any other causes

or circumstances whatsoever beyond the reasonable control of Seller or manufacturer or supplier of the Goods, then

Seller shall not be liable for \pss or

damage, or failure of or delay in performing its obligations under this Contract and may, at his option, extend the time of shipment or delivery of the Goods

or terminate unconditionally and without

liability the unfulfilled portion of this

Contract to the extent so affected or prevented (R Pinnells, 1991, tr 210) (Dich: Néu sy kién bat kha khang gay anh hưởng hay cản trở trực tiếp hay gián tiếp

đến việc thực hiện các nghĩa vụ của người

bán theo hợp đồng này, những sự kiện bất

khả kháng đó bao gồm nhưng không hạn

chế ở thiên tai, lũ lụt, bão, động đất, triều

cường, lở đất, hỏa hoạn, bệnh dịch, hạn chế

kiểm dịch, tai họa ở biển, chiến tranh tuyên

Trang 5

86 NGUYEN THANH LAN — MOT VAI KINH NGHIỆM DỊCH VĂN BẢN

bé hay khéng tuyén bé, hay nguy co cua

chién tranh, bao loan, tinh trang dong bang,

tình trạng bắt giữ hay khống chế của chính

phủ, dân biến, trưng dụng tàu thuyền, máy

bay, đình công, đóng cửa nhà máy, phá

hoại ngầm hay những tranh chấp về lao

động khác, nổ, máy móc, nhà xưởng, thiết

bị bốc dỡ, vận chuyển bị trục trặc toàn bộ

hay một phần, các yêu cầu, mệnh lệnh,

hướng dẫn, quy định của chính phủ, không

có các phương tiện vận tải hay bốc đỡ, tình

trạng phá sản hay vỡ nợ của nhà sản xuất

hay nhà cung cấp hoặc bắt kỳ nguyên nhân

hay tỉnh huống nào khác nằm ngoài tầm

kiến soát hợp lý của người bán, nhà sản

xuất hay nhà cung cấp hàng hóa, thì người

bán không chịu trách nhiệm đối với tên thất

hay thiệt hại hay về việc không thực hiện

hoặc chậm thực hiện các nghĩa vụ của mình

theo hợp đồng này và có thể, bằng sự lựa

chọn của mình, gia hạn thời gian giao hàng

hay chấm dứt hợp đồng vô điều kiện và

không chịu trách nhiệm đối với phần hợp

đồng còn lại theo mức độ hợp đồng bị ảnh

hưởng hay ngăn cán bởi những sự kiện bất

khả kháng nói trên)

Những thuat ng nhu “including but not

limited to ” (Bao gồm nhưng không hạn

chế ở ) hoặc “or” hay “and/or”

(và/hoặc) thê hiện rất đặc trưng của ngôn

ngữ hợp đồng Thực ra, đây chính là cách

quy định điều kiện một cách chặt chẽ về

quyền và nghĩa vụ mà các bên hợp đồng

phải tuân thủ Một nguyên tắc là, khi văn

bán hợp đồng càng được soạn thảo một

cách “dài dòng” như vậy, thì tính ràng buộc

về mặt pháp lý của nó càng được tăng lên

Với cách hành văn kiểu này, người dịch

không có kinh nghiệm có thể để dàng bị

cuốn vào “ma trận” của từ vựng mà quên đi

nghĩa của cả câu Kinh nghiệm dịch những

câu kiểu này là trước tiên nên xác định vị

trí của các mệnh đẻ chính và phụ trước để

hiểu ý của đoạn văn bản, sau đó, mới dịch

vào chỉ tiết để làm rõ mọi quy định khác

Trong câu trên, chúng ta thấy rằng đây là

câu sử dụng mệnh đề điều kiện “IF” bắt

dau tir “If the performance ” cho tới “by

force majeure”, con ménh đề chính bắt đầu

ttr “then Seller shall not be liable for ” va

“may at his option, extend ” Doan gitta

chi don giản là liệt kê những tình huỗng bất

khả kháng mà người bán được miễn trách

mà thôi

3 CÁU TRÚC NGỮ PHÁP CỦA VĂN BẢN

HỢP ĐÔNG

Các hợp đồng tiếng Anh truyền thống, về

nguyên tắc, được soạn tháo như là một câu phức hợp duy nhất (a single complex

sentence), trong đó tất cả các bộ phận của

văn bản hợp đồng cấu thành một đơn vị

ngữ pháp đơn lẻ (R Pinnells, 1991, tr 89)

Nói cách khác, cấu trúc một văn bản tiếng

Anh gồm một mệnh đề chính (main clause)

và xung quanh nó gồm những mệnh để phụ

(subordinate clause) Thuật ngữ “clause”

xuất phát từ cấu trúc tap quan dung dé chi những mệnh đề điều kiện hoặc mệnh đề

chính Nhưng sau này, khi soạn thảo những hợp đồng quốc tế có nhiều nội dung phức tạp hơn, người ta đã phân nhỏ những

“mệnh để” đó ra để chỉ những điều khoản

và điều kiện cụ thể mà các bên phải chấp hành Thuật ngữ “clause” giờ đây mang

nghĩa “điểu khoản” chứ không thuần túy

chỉ hiện tượng ngữ pháp nữa

R Pinnells (1991, tr 90-92) đã khái quát

mô hình cấu trúc câu trong văn bản hợp đồng như sau

- Cấu trúc 1: Mệnh đề chính đi cùng với

mệnh để chính (Main Clause Plus Main

Trang 6

NGUYEN THANH LAN ~ MỘT VÀI KINH NGHIỆM DỊCH VĂN BẢN 67 Clause) Két hop bang liên từ và (anđ) hoặc

(or) nhưng (but)

Ví dụ:

The stipulated prices are fixed, and they are

to be understood delivered paid to the place

of destination

(Giá quy định là cố định, và giá được hiểu

là giao tới đích)

- Cấu trúc 2: Mệnh đề chính + một mệnh

dé phu (Main Clause plus One Subordinate

Clause)

Các liên từ được sử dụng thường là: nếu

(0), với điểu kiện là (provided), trừ trường

hợp (unless)

Ví dụ:

“The Employer has the right to terminate

this contract if construction work is not

carried out in accordance with local by-

laws”

(Chủ đầu tư được quyển chấm dứt hợp

đồng này nếu việc xây dựng không được

thực hiện phù hợp với các văn bản dưới

luật của quốc gia sở tại)

Hoặc trật tự có thể được đổi lại: Mệnh đề

phụ + mệnh dé chính

If construction work is not carried out in

accordance with local by-law, then the

Employer has the right to terminate this

contract

- Cấu trúc 3: Cấu trúc xâu chuỗi (The

Daisy-Chain)

Trong cấu trúc này, hàng loạt các mệnh đề

điều kiện được đặt ra cho mệnh đẻ chính, là

những điều kiện được đưa ra làm phụ trợ

cho mệnh đê chính

Vi du:

The delivery time has been adhered to if the

consignment is ready for dispatch ex works

within the agreed period and if notice to

this effect is sent to the purchaser

(Thời gian giao hàng phải được tuân thủ

nếu chuyên hàng này đã sẵn sàng giao theo

điều kiện giao tại xưởng trong thời gian đã

thỏa thuận và nếu thông báo về việc giao

hàng đã được gửi cho người mua)

- Câu trúc 4: Mệnh để chính nằm giữa các mệnh đề phụ (Playing the Ends Against the

Middle) ˆ

Vị dụ:

Where the contract provides for deliveries

in lots or installments, penalties for late

delivery shall be calculated on the basic of

the value of each lot or installment,

provided that the late delivery does not impede the general performance of the

contract

(Trường hợp hợp đồng cho phép giao hàng

từng phần, phạt giao hàng chậm sẽ được

tính trên cơ sở trị giá của mỗi phần hàng

giao, với điều kiện là việc chậm giao của

mỗi chuyến hàng không làm ảnh hưởng đến

việc thực hiện toàn bộ hợp đồng)

4 PHƯƠNG PHÁP DỊCH

Do ngữ pháp sử dụng trong các văn bản

hợp đồng tương đối đơn giản, với các thì

thời (tenses) sử dụng chủ yếu là hiện tại

đơn (present simple) và thì tương lai đơn (future simple) với “shall”, nên chúng ta có

thể áp dụng phương pháp dịch do Newmark (1988) đưa ra là phương pháp địch ngữ nghia (semantic translation), nghĩa là trung thành với văn bản ngữ nguồn hoặc phương pháp dich giao tiếp (communicative translation), nghĩa là hướng tới người đọc ở ngữ đích

Nhìn chung, dịch giao tiếp thường đơn giản

hơn, trực tiếp hơn, phù hợp với một kiểu ngữ vựng của ngôn ngữ Dịch giao tiếp

Trang 7

68 NGUYEN THANH LAN — MOT VAi KINH NGHIEM DICH VAN BAN

cũng có xu hướng chung chung hơn trong

khi đó dịch ngữ nghĩa có xu hướng phức

tạp, chỉ tiết, tập trung hơn (Hoảng Văn

Vân, 2005, tr 205)

4.1 Dịch ngữ nghĩa

Khi sử dụng phương pháp dịch ngữ nghĩa,

thông dịch viên thường gặp khó khăn trong

2 loại ngữ vựng hay sử dụng trong văn bản

hợp đồng Loại thứ nhất gồm những thuật

ngữ đã được định nghĩa một cách rõ ràng

trong phần định nghĩa thuật ngữ của hợp

đồng, với mục đích xác định nghĩa của từ

hay thuật ngữ đó gắn với ngôn cảnh cụ thé

củaahợp đồng đó để tránh hiểu lầm Loại

thứ hai gồm những thuật ngữ rất cổ, it str

dụng trong ngôn cảnh giao tiếp thư tín hoặc

ngôn cảnh nói

Đối với loại thứ nhất, khi dịch, cần phải

đảm bảo tính nhất quán về cách gọi

Ví dụ:

- “Day” means a calendar Day For the

purposes of this Contract, Saturday,

Sundays and all holidays are considered as

Days

(“Ngay” là ngày dương lịch - Vì mục đích

của Hợp đồng này, các ngày thứ Bảy, Chủ

nhật và mọi ngày nghỉ đều được coi là

“ngày dương lịch”)

Như vậy, trong phần còn lại của văn bản,

tất cả những thuật ngữ “day” đều phải được

dịch là “ngày dương lịch”

Đối với loại thứ 2, phải hiểu rõ bản chất

ngữ nghĩa của từng loại ngữ vựng để

chuyển dịch về ngữ đích sao cho chính xác

Có thê kể ra đây rất nhiều những thuật ngữ

thuộc loại này nhu: “herein”, “hereof”

“therewith” “therein”, “or otherwise”

“unless otherwise” Vé ban chat, “here”

va “there” la nhimg dai tir dé thay thé cho

danh ngữ đứng trước đó hoặc thay thé cho danh từ hàm ý mang nghĩa “văn bản hợp đồng” Còn các giới từ đi kèm với “here” hay “there” chinh la nhimg giới từ đi kèm với danh từ đó

Vị dụ:

- Arbitration fee and other fees in connection therewith shall be for the losing party’s account

(Phí trọng tài và mọi chi phí khác liên quan đến việc trọng tài sẽ do bên thua chịu) (therewith = with there = with the arbitration)

- The Buyer agrees to buy and the Seller agrees to sell the Goods under the terms and conditions set forth herein

(Người mua đồng ý mua và người bán đồng

ý bán hàng hóa theo những điều khoản và điều kiện quy định ong hợp đồng này) (herein = in here = in this Contract)

4.2 Dich giao tiép

Phương pháp dịch giao tiếp có thé áp dụng

đối với các loại câu sử dụng loại từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa Theo Newmark (Hoàng Văn Vân, 2005, tr 205), khi sử dụng phương pháp này, người dịch có thể được phép “cải biên, sửa chữa, và sửa sang bản dịch cuối cùng của minh mà không cần phải nhìn lại bản gốc” và phải quyết định đơn giản hóa đến mức nào để vẫn giữ được thông điệp cơ bản của ngôn bản ngữ nguồn Thực tế cho thấy ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng tiếng Anh rất đài đỏng (lengthy), phức tap (complicated) va thường lap /ai (repetitious) do khi soạn thảo các luật sư thường tránh việc ngụ ý hay hàm ý đối với các quy định theo án lệ (case-law) của hệ thống pháp lý Common Law

Chúng ta hãy cùng xem một ví dụ dưới đây

Trang 8

NGUYÊN THÀNH LÂN - MỘT VÀI KINH NGHIỆM DỊCH VĂN BẢN 69

“All components used in the manufacture

of the Goods shall be new and not of an age

which would impair their operation (1)

Reconditioned or refurbished components

shall not be used (2)”

(Dịch ngữ nghĩa: mọi linh kiện sử dụng

trong việc sản xuất hàng hóa phải mới và

không được cũ mà không làm ảnh hưởng

đến việc vận hành của hàng hỏa Không

được sử dụng các linh kiện đã cũ hay đã sử

dụng)

Trong ví dụ trên, liệu có sự khác biệt về

nghĩa của thuật ngữ “new” và “not gŸ an

age” ở câu (1) va “Reconditioned” và

“refurbished” ở câu (2), hoặc liệu có sự

khác biệt về nghĩa giữa hai câu này? Câu

trả lời là không có sự khác biệt rỗ ràng

giữa các thuật ngữ này và về cơ bản, câu

(1) có nghĩa giống như câu (2) Tuy nhiên,

các luật sư khi soạn thảo hợp đồng vẫn

thường đưa cách hành văn này vào văn bản

hợp đồng vì tránh trường hợp trọng tải hay

tòa án muốn diễn địch chúng một cách

khác đi và như vậy, sẽ tránh được rủi ro

cho cả hai bên Kinh nghiệm cho thấy, khi

gặp những cấu trúc có quá nhiều từ đồng

nghĩa như vậy, thông dịch viên nên lược

giản một số ngữ vựng mà không cần phải

địch hết Điều này sẽ giúp cho người đọc

dễ hiểu câu văn không bị tối nghĩa mà

không sợ nguy cơ dịch thiếu vì đối với các

văn bản hợp đồng, về nguyên tắc, bản dịch

chỉ dùng để /hzm khảo, chứ không phải là

văn bản để làm căn cứ cho hội đồng trọng

tài hay tòa án xét xử khi phát sinh tranh

chấp Như vậy, câu trên có thể dịch theo

phương pháp giao tiếp như sau

(Mọi linh kiện sử dụng trong việc sản xuất

hàng hóa phải mới mà không làm ảnh

hưởng đến việc vận hành của hàng hóa

Không được sử dụng các linh kiện đã cũ)

Hoặc đối với câu:

- All costs, charges, fees, expenses arising

during the performance of this Contract shall be borne by the Buyer

chỉ cần dịch:

(Mọi chi phí phát sinh từ việc thực hiện hợp

đồng này sẽ đo người mua chịu)

KÉT LUẬN

Qua một số kinh nghiệm tích lũy trong quá

trình giảng dạy môn tiếng Anh thương mại

tại các trường đại học khối kinh tế, người

viết cho rằng, nhìn chung, muốn chuyển dịch tốt một văn bản hợp đồng thương mại, người dịch cần phải: 1) Dam bao được tính trang trọng trong ngôn ngữ sử dụng; 2) Đảm bảo được tính nhất quán về cách gọi

của các thuật ngữ hoặc từ vựng; 3) Đảm

bảo tính chính xác của các thuật ngữ sử dụng trong các nghiệp vụ chuyên ngành

như nghiệp vụ giao nhận hàng hóa, thanh

toán quốc tế, vận tải bảo hiểm ; 4) Lựa

chọn chính xác phương pháp dịch (dịch ngữ nghĩa hay giao tiếp) sao cho thích hợp

đối với từng loại câu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I E Wojcik 1998

International Law Institute

2 Hoàng Văn Vân 2005 Nghiên cứu dich

thuật Nxb Khoa học Xã hội

3 International Chamber of Commerce

2000 Incoterms 2000 (Ban dich) Nxb Khoa

học và Kỹ thuật

Legal English

4 R Pinnells 1991 International procument contracts _PRODEX (Programme for Development Cooperation at the Helsilki school of economics)

Ngày đăng: 23/03/2014, 03:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm