BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN BÀI TẬP LỚN BỘ MÔN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ ĐỀ BÀI: “Bản chất của lợi nhuận thương nghiệp, vai trò của ngành thương nghiệp đối với sự phát
Trang 1BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN
BỘ MÔN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
ĐỀ BÀI:
“Bản chất của lợi nhuận thương nghiệp, vai trò của ngành thương nghiệp đối với sự phát triển của nền
kinh tế và liên hệ với thực tiễn nước ta.”
Họ và tên: Nguyễn Hà Châu Nhi Lớp: POHE Kinh doanh Thương mại K63
Mã sinh viên: 11219764
Hà Nội, năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
PHẦN NỘI DUNG 4
I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 4
1 Bản chất của tư bản thương nghiệp 4
1.1 Tư bản thương nghiệp 4
1.2 Nguồn gốc của tư bản thương nghiệp 4
2 Vai trò của tư bản thương nghiệp 4
2.1 Đặc điểm và phạm vi hoạt động của tư bản thương nghiệp 4
2.2 Vai trò của tư bản thương nghiệp 5
3 Lợi nhuận thương nghiệp 5
II LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN NỀN KINH TẾ NƯỚC TA 6
1 Thành tựu kinh tế nước ta từ năm 1945 đến trước Đổi mới 6
1.1 Thời kì 1945 – 1955 6
1.2 Thời kì 1956 – 1975 7
1.3 Thời kì 1975 - 1986 7
2 Thành tựu kinh tế nước ta từ sau Đổi mới đến nay 8
2.1 Thời kì 1986 – 2000 8
2.2 Thời kì 2001 đến nay 9
KẾT LUẬN 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Trong suốt quá trình học tập “Kinh tế Chính trị Mác-Lênin”, em tự nhận
thấy bộ môn đã trang bị cho bản thân rất nhiều kiến thức, từ cơ bản đến chuyên sâu Nhận thức được những giá trị to lớn mà bộ môn đem lại, cùng với đề tài nghiên cứu của giảng viên Nguyễn Thị Hảo, em đã vô cùng hào hứng khởi soạn
bài tập lớn về đề tài “Bản chất của lợi nhuận thương nghiệp là gì? Cho biết vai
trò của ngành thương nghiệp đối với sự phát triển của nền kinh tế? Liên hệ với thực tiễn nước ta”.
Bản chất của lợi nhuận thương nghiệp và vai trò của ngành thương nghiệp lâu nay vẫn luôn là một đề tài hay và không kém phần quan trọng trong bộ môn Chính vì thế, bản thân em đã có những lập luận, kiến thức về vẫn đề này trong
“Kinh tế Chính trị Mác Lê-nin”, cũng như trong quá trình kiến thiết và phát triển
nền kinh tế ở Việt Nam
Với mong muốn đem đến những tri thức chân thực và rõ ràng nhất về bản chất của lợi nhuận thương nghiệp và vai trò của ngành thương nghiệp, cũng như những đóng góp của nó trong quá trình xây dựng nền kinh tế nhà nước ta, em đã biên soạn bài viết này Trong quá trình thực hiện, do khả năng của bản thân còn hạn chế cũng như kiến thức về bộ môn chưa thực sự sâu rộng, em chắc chắn sẽ không tránh khỏi những lỗi sai ngoài ý muốn Kính mong cô đọc và góp ý để em
có thể chỉnh sửa bài viết, khiến bài viết trở nên hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1 Bản chất của tư bản thương nghiệp
1.1 Tư bản thương nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, do sự phân công lao động
xã hội, xuất hiện bộ phận chuyên môn hóa việc lưu thông hàng hóa Bộ phận này gọi là tư bản thương nghiệp Nói cách khác, tư bản thương nghiệp là tư bản hoạt động trong lĩnh vực lưu thông nhằm mục đích thực hiện giá trị hàng hoá, biến tư bản hàng hoá thành tư bản tiền tệ
1.2 Nguồn gốc của tư bản thương nghiệp
Tư bản thương nghiệp xuất hiện sớm trong lịch sử Nó tồn tại trên cơ sở lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ Trước chủ nghĩa tư bản, lợi nhuận của tư bản thương nghiệp chủ yếu là do mua rẻ bán đắt Trong chủ nghĩa tư bản, tư bản thương nghiệp ra đời từ một bộ phận tư bản công nghiệp tách ra chuyên đảm nhận khâu lưu thông hàng hoá, có chức năng biến tư bản hàng hoá thành tư bản tiền tệ
Sự ra đời của tư bản thương là kết quả tất yếu về kinh tế, gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại và phân công lao động xã hội
2 Vai trò của tư bản thương nghiệp
2.1 Đặc điểm và phạm vi hoạt động của tư bản thương nghiệp
Tư bản thương nghiệp hoạt động vừa phụ thuộc vào tư bản công nghiệp, vừa có tính độc lập tương đối với tư bản công nghiệp Sự phụ thuộc vào tư bản công nghiệp ở khối lượng hàng hóa để thực hiện lưu thông Còn sự độc lập tương đối biểu hiện ở chức năng biến tư bản hàng hóa thành tư bản tiền tệ
Phạm vi hoạt động của tư bản thương nghiệp, bao gồm cả nội thương và ngoại thương:
- Nội thương là hoạt động buôn bán trong nước, bao gồm cả bán buôn và bán lẻ Bán buôn là việc mua bán hàng hóa giữa các nhà tư bản, chủ yếu là tư bản
Trang 5công nghiệp với tư bản thương nghiệp Bán lẻ là mua bán hàng hóa diễn ra trực tiếp với người tiêu dùng
- Ngoại thương là hoạt động buôn bán với nước ngoài, thực hiện xuất nhập khẩu với nước ngoài
2.2 Vai trò của tư bản thương nghiệp
Có thể thấy, vai trò của tư bản thương nghiệp bao gồm vai trò của nội thương và ngoại thương, trong đó:
- Nội thương giúp việc phân phối, lưu thông hàng hóa trong nước được suôn sẻ, trôi chảy, đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa, thúc đẩy quá trình sản xuất trong nước
- Ngoại thương bảo đảm đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước, phát huy lợi thế kinh tế của nước nhà
Do đó, tư bản thương nghiệp nắm giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế: giúp tiết kiệm được chi phí lưu thông, nắm chắc thị trường nên cung ứng hàng nhanh, kịp thời cho tiêu dùng và đẩy nhanh tốc độ chu chuyển của tư bản, đưa lại hiệu quả kinh tế cao cho cả tư bản công nghiệp và tư bản thương nghiệp
Tóm lại, tư bản thương nghiệp là tư bản chuyên hoạt động trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá có chức năng thực hiện giá trị hàng hoá biến tư bản hàng hoá thành tư bản tiền tệ Nhìn chung, tư bản thương nghiệp phụ thuộc vào tư bản công nghiệp tuy nhiên nó cũng độc lập tương đối vì khi có hàng hoá trong tay bán cho
ai, bán như thế nào là do tư bản thương nghiệp quyết định
3 Lợi nhuận thương nghiệp
Lợi nhuận thương nghiệp được phản ánh ở số chênh lệch giữa giá bán và giá mua hàng hóa
Nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp chính là một phần của giá trị thặng dư mà nhà tư bản sản xuất trả cho nhà tư bản thương nghiệp do nhà tư bản thương nghiệp đã giúp cho việc tiêu thụ hàng hóa
Trang 6Cách thức thực hiện là nhà tư bản sản xuất bán hàng hóa cho nhà tư bản thương nghiệp với giá cả cao hơn chi phí sản xuất để đến lượt nhà tư bản thương nghiệp bán hàng hóa đúng giá trị của hàng hóa
Khi đó lợi nhuận thương nghiệp là phần chênh lệch giữa giá mua và giá bán song giá bán không nhất thiết phải cao hơn giá trị Vẻ bề ngoài này làm cho người ta nhầm tưởng việc mua bán đã tạo ra lợi nhuận cho nhà tư bản thương nghiệp Trái lại, lợi nhuận thương nghiệp thực chất là một phần của giá trị thặng dư
II LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN NỀN KINH TẾ NƯỚC TA 1 Thành tựu kinh tế nước ta từ năm 1945 đến trước Đổi mới
1.1 Thời kì 1945 – 1955
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Nhưng chưa được bao lâu, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta, buộc nhân dân phải cầm vũ khí đánh giặc cứu nước Trong thời kì này, trên cả nước hình thành hai vùng xen kẽ lẫn nhau, do đó, thị trường trong nước cũng theo đó bị chia cắt thành hai: thị trường vùng tự doanh nghiệp và thị trường vùng tạm chiếm
Đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam thời kỳ này là nền kinh tế nông thôn, quy mô kinh tế rất thấp, tiềm lực yếu kém Nội thương cũng như ngoại thương là
do nhà nước dân chủ nhân dân quản lý nhằm mục đích phục vụ nhân dân và lợi ích của cuộc kháng chiến GDP bình quân đầu người năm 1945 chỉ đạt 60 đồng, tương đương 35 USD
Với nguyên tắc “độc lập, tự chủ, tranh thủ trao đổi có lợi” chính sách xuất nhập khẩu đối với vùng tạm bị địch kiểm soát gồm những nội dung sau
- Đẩy mạnh xuất khẩu để phát triển sản xuất ở vùng tự do, nâng cao đời sông nhân dân để có ngoại tệ (tiền Đông Dương), nhập khẩu hàng hoá cần thiết
- Tranh thủ nhập khẩu hàng hoá cần thiết, cấm nhập khẩu hoặc hạn chế nhập khẩu những hàng hoá có khả năng cạnh tranh với các sản phẩm của vùng tự do
- Đấu tranh giá cả trong trao đổi hàng hoá giữa hai vùng nhằm góp phần
ổn định giá cả vùng tự do
Trang 7- Đấu tranh tiền tệ (giữa tiền Việt Nam và tiền Đông Dương) nhằm mở rộng phạm vi lưu hành tiền Việt Nam và giữ vững giá trị tiền Việt Nam
Những chủ trương mới đó phù hợp với điều kiện chiến tranh và đáp ứng lợi ích của nhân dân hai vùng Nhờ đó mà giá trị hàng xuất nhập khẩu tăng vọt
1.2 Thời kì 1956 – 1975
Trong thời kỳ này, Chính phủ đã phê duyệt Kế hoạch phát triển kinh tế
-xã hội 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) nhằm phấn đấu xây dựng bước đầu cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, thực hiện một bước công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của các ngành kinh tế quốc dân, trước hết là các ngành công nghiệp và nông nghiệp Thương nghiệp quốc doanh được nhà nước quan tâm và có sự phát triển nhanh chóng, làm nhiệm vụ hậu cần cho sản xuất và chiến đấu
Bên cạnh đó, công tác ngoại thương được tăng cường thêm một bước Phục vụ nhiệm vụ chủ yếu bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghiã xã hội và phát triển xuất khẩu Kim nghạch xuất khẩu mỗi năm một tăng Nhờ tăng cường sự hợp tác kinh tế à trao đổi hàng hoá với các nước xã hộin chủ nghĩa, đồng thời mở rộng buôn bán với nhiều nước dân tộc chủ nghĩa và một số nước tư bản chủ nghĩa Ngoại thương đã góp phần thực hiện có kết quả chính sách đôi ngoại của đảng và nhà nước ta Sau khi chiến tranh kết thúc, nền kinh tế nước
ta vẫnlà một nền king tế lạc hậu, phụ thuộc nhiều à nguồn nguyên , nhiên liệu, phụ tùng thiết bị bên ngoài Không có hoạt động thương mại đặc biệt nhập khẩu thì hệ thống công nghiệp cả nước bị tê liệt hoàn toàn Thực tế đó đặt ra cho thương mại những nhiệm vụ mới nặng nề hơn
1.3 Thời kì 1975 - 1986
Trong bối cảnh đất nước đã thống nhất, hoạt động thương mại có những thuận loại mới Đất nước thống nhất chúng ta có điều kiện và khả năng khai thác
có hiệu quả tiềm năng của đất nước, phát huy lợi thế của ba miền để đẩy mạnh phát triển thương mại quốc tế, mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học công nghệ với nước ngoài, thu hút vốn và kỹ thật nước ngoài Bên cạnh những thuận lợi mới, chúng ta cũng đứng trước khó khăn gay gắt bắt nguồn từ trình độ phát triển kinh tế của cả
Trang 8nước còn thấp, cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém, kinh tế hàng hoá ít phát triển, chưa
có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế Nền kinh tế còn lệ thuộc nặng nề vào bên ngoài.
Thời kỳ này đặc biệt nhấn mạnh tính tất yếu và tầm quan trọng của hoạt động thương mại dịch vụ nói chung và hoạt động thương mại quốc tế nói riêng Ngày 18-4-1947 chính phủ đã ban hành điều lệ đầu tư của nước ngoài vào Việt nam, nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, không phân biệt chế độ chính trị trên nguyên tắc bảo đảm độc lập chủ quyền của Việt Nam và các bên cùng có lợi
Về việc hình thành và phát triển hệ thống thương nghiệp thời kỳ này có những điềm đáng chú ý sau: Quá trình xã hội hoá về tư liệu sản xuất được thực hiện trong nền kinh tế quốc dân dưới hai hình thức sở hữu toàn dân (quốc doanh)
và sở hữu tập thể được thức hiện trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá có xu hướng xoá bỏ thương mại tư bản tư nhân, thương mại cá thể , hình thành chủ yếu các doanh nghiệp thương mại quốc doanh và tập thể, theo chỉ tiêu kế hoạch Hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu hướng vào việc đẩy mạnh xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu, chính sách ngoại thương lúc này là mở rộng,
đa dạng hoá và đa phương hoá thị trường và phương thức hoạt động theo quan điểm “mở cửa” Cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt đông thương mại dịch vụ chưa thống nhất, còn phân tán ở các bộ như bộ ngoại thương, bộ vật tư, bộ nội thương Chế độ hạch toán kinh doanh thương mại còn mang tính hình thức
2 Thành tựu kinh tế nước ta từ sau Đổi mới đến nay
2.1 Thời kì 1986 – 2000
Nhận ra những bất cập của cơ chế kinh tế hiện hành, Nhà nước bắt đầu có một số thay đổi trong chính sách quản lý kinh tế Trong thời kỳ này, nước ta đã thực hiện đường lối đổi mới, chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường,
có sự quản lý của Nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa
Từ cuối năm 1988, nhà nước đã ban hành một số quyết định quan trọng theo hướng khuyến khích mở rộng lưu thông hàng hoá, mở rộng quyền của mọi tổ chức và công dân Việt Nam được đăng kí kinh doanh thương mại dịch vụ Đối với nhâp khẩu cũng ban hành các nghị định nhằm đổi mới quản lý nhà nước trong xuất nhập khẩu, theo hướng bảo đảm sự quản lý là thống nhất đối với xuất nhập khẩu
Trang 9nới lỏng cơ chế quan lý đê khuyến khích phát triển xuất khẩu ở vùng còn khó khăn,
mở rông quyền trực tiếp xuất khấu các doanh nghiệp sán xuất, thay đổi về thuế và cách thức thực hiện các công cụ quản lý để ngày càng phù hợp với yêu cầu thực tiến và tập quán quốc tế Khẳng định chính sách tự do lưu thông trong khuôn khổ pháp luật
Thương nghiệp nhà nước đã có sự chuyển đổi về tổ chức và phương thức kinh doanh từng bước thích ứng với cơ chế mới, đang giữ tỷ trọng tuyết đối trong xuất nhập khẩu, đóng góp ngày càng nhiều cho nhà nước Quản lý nhà nước về thị trường và hoạt động thương mại có tiến bộ và tổ chức hệ thống, hoạch định chính sách vĩ mô tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh phát triển
Bên cạnh những thành tựu và kết quả về lĩnh vực thương mại dịch vụ trong thời kì này, vẫn tồn tại những thiếu sót và khuyết điểm làm phát sinh những vấn đề phức tạp mới cần có chủ trương và biện pháp giải quyết đúng đắn nhằm đảm bảo định hướng của sự phát triển Những tồn tại đó là: nền thương nghiệp về
cơ bản vẫn là một nền thương nhỏ, tổ chức phân tán, manh mún; buôn bán qua nhiều tầng nấc, dẫn đến tình trạng ép giá đầu vào nâng giá đầu ra ở thị trường trong nước bị chèn ép giá cả ở thị trường ngoài nước; chưa thiếp lập mối liên kết lâu dài giữa cơ sở sản xuất với nhà buôn để hình thành kênh phân phối ổn định, tạo điều kiện hỗ trợ, thức đẩy sản xuất hướng dẫn tiêu dùng, kỉ cương pháp luật bị vi phạm, trật tự thị trường chưa được xác lập, nạn buôn lậu buôn bán hàng giả diễn ra nghiêm trong, tác động sống đến sản xuất và đời sống; quản lý nhà nước về thương nghiệp còn yếu kém, không ít tiêu cực
2.2 Thời kì 2001 đến nay
Trong thời kỳ này, kinh tế liên tục tăng trưởng đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình thấp Quy mô nền kinh tế ngày càng mở rộng, GDP năm 2019 gấp 12,5 lần năm 2001 Năm 2008, nước ta đã ra khỏi nhóm nước và vùng lãnh thổ thu nhập thấp để gia nhập nhóm nước và vùng lãnh thổ thu nhập trung bình thấp, đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, đó là thành tựu nổi bật nhất trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ này
Trang 10Hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển toàn diện và sâu rộng, đưa nước ta hội nhập ngày càng đầy đủ với kinh tế khu vực và thế giới Tổng mức lưu chuyển hàng hóa ngoại thương thực hiện trong giai đoạn 2011-2019 đạt 3.100,3 tỷ USD, gấp 20,2 lần giai đoạn 1991-2000 và gấp 3,6 lần giai đoạn 2001-2010 Điều này cho thấy nền kinh tế nước ta có độ mở ngày càng cao và tăng lên tương đối nhanh, nước ta đã khai thác được thế mạnh của kinh tế trong nước và tranh thủ được thị trường thế giới
Những dấu ấn trong sự phát triển kinh tế – xã hội của nước ta kể từ năm
1945 khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, chính sách, đường lối nhất quán của Nhà nước về phát triển kinh tế – xã hội Vị thế của Việt Nam thay đổi đáng kể trên thế giới
và trong khu vực ASEAN Năm 2019, Việt Nam là một trong 30 nước có mức tăng trưởng xuất, nhập khẩu cao và là nền kinh tế có quy mô xuất khẩu thứ 22 trên thế giới Việt Nam đã vượt trên các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, xếp hạng thứ 25 thế giới về hấp dẫn vốn FDI
Do hội nhập kinh tế sâu rộng, kinh tế Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng nặng
nề bởi đại dịch COVID-19 trong năm 2020 Tuy nhiên, nhờ có các biện pháp đối phó chủ động từ Trung ương tới địa phương, tác động y tế của dịch bệnh không nghiêm trọng như nhiều quốc gia khác Kinh tế vĩ mô và tài khóa giữ được ổn định, với mức tăng trưởng GDP ước tính đạt 1,81%, trong 6 tháng đầu năm 2020 Tác động của cuộc khủng hoảng COVID-19 đang diễn ra là khó dự đoán, tùy thuộc vào quy mô và thời gian kéo dài của dịch bệnh Đại dịch COVID-19 cũng cho thấy cần phải cải cách mạnh mẽ hơn để kinh tế phục hồi trong thời gian tới, như: cải thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy kinh tế số, nâng cao hiệu quả đầu tư công Đây là các nội dung chính
mà Việt Nam cần thực hiện để cải cách nhanh và mạnh hơn