Theo Hiệp định TRIPs thì “Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghi
Trang 1LUẬT DÂN SỰ
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
TÊN ĐỀ TÀI
CÁC TRƯỜNG HỢP CHẤM DỨT HIỆU LỰC VĂN BẰNG BẢO HỘ NHÃN HIỆU THEO PHÁP LUẬT
SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM
Giảng viên: ThS Nguyễn Phương Thảo Người thực hiện: Nguyễn Kim Ngân MSSV: 185.340102.0164 Lớp: 96 – QTL43B1
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 01 năm 2022
Trang 2DẪN NHẬP 1
1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHÃN HIỆU VỚI TƯ CÁCH LÀ ĐỐI TƯỢNG QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 2
1.1 Khái niệm nhãn hiệu 2
1.1.1 Khái niệm nhãn hiệu theo quy định của điều ước quốc tế 2
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam 2
1.2 Các trường hợp nhãn hiệu không được coi là có khả năng phân biệt 3
1.3 Những đối tượng không được bảo hộ làm nhãn hiệu 4
1.4 Chức năng của nhãn hiệu 5
1.5 Những lưu ý khi tạo dựng nhãn hiệu 6
1.6 Phân loại nhãn hiệu 6
1.6.1 Căn cứ vào chức năng 6
1.6.2 Căn cứ vào danh tiếng, uy tín 8
2 CHẤM DỨT HIỆU LỰC VĂN BẰNG BẢO HỘ NHÃN HIỆU THEO PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM 9
2.1 Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu 9
2.2 Hiệu lực văn bằng bảo hộ nhãn hiệu 9
2.3 Các trường hợp chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ nhãn hiệu theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 9
3 HẠN CHẾ CỦA QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHẤM DỨT HIỆU LỰC VĂN BẰNG BẢO HỘ NHÃN HIỆU THEO PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM 10
3.1 Không có quy định chấm dứt sự tồn tại của nhãn hiệu đã đăng ký khi mất đi khả năng phân biệt 10
3.2 Dự thảo 2.0 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT 11
4 KẾT LUẬN 11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3SHCN: Sở hữu công nghiệp
SHTT: Sở hữu trí tuệ
TRIPs: Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền Sở hữu trí tuệ
Trang 4DẪN NHẬP
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường không ngừng phát triển, bảo hộ nhãn hiệu mang lại nhiều lợi thế cho doanh nghiệp Tuy nhiên, chủ sở hữu nhãn hiệu cần phải lưu ý đến các trường hợp chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam Trong phạm vi bài tiểu luận, tác giả sẽ tập trung phân tích các khái quát chung về nhãn hiệu, quy định về các trường hợp chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ nhãn hiệu cũng như chỉ ra sự bất cập liên quan đến đối tượng của bài tiểu luận
Trang 51 Khái quát chung về nhãn hiệu với tư cách là đối tượng quyền sở hữu công nghiệp
1.1 Khái niệm nhãn hiệu
1.1.1 Khái niệm nhãn hiệu theo quy định của điều ước quốc tế
Hiện nay có khá nhiều điều ước quốc tế liên quan đến sở hữu trí tuệ, điều chỉnh các vấn đề về nhãn hiệu Trong đó, có thể kể đến các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như Công ước Paris 1883 về bảo hộ SHCN, Hiệp định TRIPs, Hiệp ước luật nhãn hiệu và Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu Tuy nhiên, trong số các điều ước quốc tế nêu trên, chỉ có Hiệp định TRIPs đưa ra quy định rõ ràng, cụ thể về khái niệm nhãn hiệu
Theo Hiệp định TRIPs thì “Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hoá Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình hoạ và tổ hợp các màu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải
có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hoá Trường hợp bản thân các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ tương ứng, các Thành viên có thể quy định rằng khả năng được đăng
ký phụ thuộc vào tính phân biệt đạt được thông qua việc sử dụng Các Thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được.”1
Theo Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) thì “Một nhãn hiệu hàng hoá là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hoá của doanh nghiệp này với hàng hoá của các đối thủ cạnh tranh”.2
Ngoài ra, Mục 1(1)(a) của Luật Mẫu WIPO về nhãn hiệu, tên thương mại và các hành vi cạnh
tranh không lành mạnh cho các nước phát triển năm 1967 (“Luật Mẫu”) quy định rằng nhãn hiệu là
bất kỳ các dấu hiệu nào có thể nhìn thấy được để phân biệt hàng hoá của doanh nghiệp này với hàng hoá của doanh nghiệp khác
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam
Theo khoản 16 Điều 4 Luật SHTT năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019 (“Luật
SHTT”), nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác
nhau Tuy nhiên, không phải bất kỳ dấu hiệu nào cũng được sử dụng làm nhãn hiệu bởi Luật SHTT quy định điều kiện đối với nhãn hiệu được bảo hộ3 như sau:
Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện:
(i) là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc;
(ii) có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch
vụ của chủ thể khác
1 Khoản 1 Điều 15 Hiệp định TRIPs.
2 Tổ chức SHTT thế giới (2005), Cẩm nang SHTT (Bản dịch của cục SHTT), tr 66, đoạn 2.303.
3 Điều 72 Luật SHTT.
Trang 6Như vậy, để được bảo hộ là nhãn hiệu thì dấu hiệu đó phải đáp ứng hai điều kiện (i) nhìn thấy được; và (ii) có khả năng phân biệt Theo đó, các dấu hiệu phải là những dấu hiệu nhìn thấy được bằng mắt thường, dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, có thể bao gồm hình ảnh ba chiều hoặc sự kết hợp tất cả các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc Theo pháp luật Việt Nam, các dấu hiệu nghe thấy được (âm thanh) hoặc các dấu hiệu khứu giác (mùi) sẽ không được đăng ký làm nhãn hiệu, tuy nhiên chúng có thể được đăng ký làm nhãn hiệu tại một số quốc gia có trình độ phát triển cao như New Zealand, Hoa Kỳ, Australia, Ngoài ra, các dấu hiệu phải được gắn lên sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ hoặc bao bì của sản phẩm.4 Đối với khả năng phân biệt của nhãn hiệu, một nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một
số yếu tố hoặc kết hợp từ nhiều yếu tố tạo thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 74 Luật SHTT5
Nhìn chung, so với các điều ước quốc tế thì khái niệm nhãn hiệu trong Luật SHTT Việt Nam cũng có nét tương đồng, đó là các dấu hiệu được dùng làm nhãn hiệu phải là dấu hiệu có khả năng phân biệt với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các doanh nghiệp khác.6
1.2 Các trường hợp nhãn hiệu không được coi là có khả năng phân biệt
Bên cạnh quy định thế nào là khả năng phân biệt của nhãn hiệu như đã đề cập ở mục 1.1.2, Luật SHTT còn quy định các trường hợp nhãn hiệu không được coi là có khả năng phân biệt tại Khoản 2 Điều 74 Luật SHTT, cụ thể như sau:
(i) hình và hình hình học đơn giản, chữ số, chữ cái, chữ thuộc các ngôn ngữ không thông dụng mà người Việt Nam có hiểu biết thông thường không thể nhận biết và ghi nhớ được như ký tự không có nguồn gốc La-tinh: chữ Ả-rập, chữ Slavơ, chữ Phạn, chữ Trung Quốc, chữ Nhật, chữ Triều Tiên, chữ Thái trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu;
(ii) dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hoá, dịch
vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến;
(iii) dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác mang tính mô tả hàng hoá, dịch vụ, ví dụ như cụm từ “sữa tươi không đường”, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã đạt được khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng trước thời điểm nộp đơn đăng ký nhãn hiệu;
(iv) dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh của chủ thể kinh doanh;
4Trường Đại học Luật TP HCM (2020), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ (Tái bản, có sửa chữa, bổ sung), Nxb Hồng Đức - Hội
luật gia Việt Nam, tr 268.
5Các trường hợp nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt.
6Trường Đại học Luật TP HCM (2020), tlđd (4), tr 272.
Trang 7(v) dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá, dịch vụ là dấu hiệu được dùng cho sản
phẩm địa phương, chỉ dẫn nguồn gốc địa lý của sản phẩm đó7, trừ trường hợp dấu hiệu đó
đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận quy định của Luật SHTT;
(vi) dấu hiệu không phải là nhãn hiệu liên kết trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự trên cơ sở đơn đăng ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn trong trường hợp đơn đăng ký được hưởng quyền ưu tiên,
kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
(vii) dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự từ trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên;
(viii) dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà đăng ký nhãn hiệu đó đã chấm dứt hiệu lực chưa quá năm năm, trừ trường hợp hiệu lực bị chấm dứt vì lý do nhãn hiệu không được sử dụng theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 95 của Luật SHTT;
(ix) dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là nổi tiếng của người khác đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ không tương tự, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc việc đăng ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng;
(x) dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;
(xi) dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc địa lý của hàng hoá;
(xii) dấu hiệu trùng với chỉ dẫn địa lý hoặc có chứa chỉ dẫn địa lý hoặc được dịch nghĩa, phiên âm từ chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ cho rượu vang, rượu mạnh nếu dấu hiệu được đăng ký
để sử dụng cho rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó;
(xiii) dấu hiệu trùng hoặc không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp của người khác được bảo hộ trên cơ sở đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn
so với ngày nộp đơn, ngày ưu tiên của đơn đăng ký nhãn hiệu
1.3 Những đối tượng không được bảo hộ làm nhãn hiệu
Điều 73 Luật SHTT quy định không bảo hộ làm nhãn hiệu đối với các dấu hiệu dưới đây:
7Trường Đại học Luật TP HCM (2020), tlđd (4), tr 301.
Trang 8(i) dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy của các nước;
(ii) dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc
tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép;
(iii) dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài;
(iv) dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận;
(v) dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ;
(vi) dấu hiệu chỉ là màu sắc mà không được kết hợp với dấu hiệu chữ hoặc dấu hiệu hình hoặc không được thể hiện thành dạng dấu hiệu chữ hoặc dấu hiệu hình;8
(vii) dấu hiệu trái với trật tự xã hội, có hại cho an ninh quốc gia.9
1.4 Chức năng của nhãn hiệu
Một trong những chức năng cơ bản và quan trọng nhất của nhãn hiệu đó là dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại trên thị trường Nhãn hiệu giúp người tiêu dùng nhận biết được sản phẩm của một công ty cụ thể so với các đối thủ cạnh tranh khác thông qua những dấu hiệu như từ ngữ, hình ảnh hoặc tổ hợp các dấu hiệu đó, chúng giúp khách hàng lựa chọn được sản phẩm phù hợp với nhu cầu, sở thích và khả năng kinh tế của mình
Mặt khác, nhãn hiệu cũng giúp doanh nghiệp phân biệt được sản phẩm của mình với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh Do vậy, nhãn hiệu đóng vai trò quan trọng trong chiến lược quảng cáo
và tiếp thị của doanh nghiệp nhằm xây dựng hình ảnh và uy tín của sản phẩm trong tâm trí người tiêu dùng.10
Ngoài ra, thông qua nhãn hiệu, người tiêu dùng sẽ dễ dàng hình dung được chất lượng sản phẩm của hàng hoá, dịch vụ và quyết định lựa chọn mua sản phẩm đó hay không Từ đó, tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới, cải tiến kỹ thuật, cạnh tranh với các đối thủ khác nhằm nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ Điều này cũng tạo điều kiện, bảo đảm cho người tiêu dùng luôn được hưởng lợi tốt nhất
8Điểm b mục 39.2 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN hướng dẫn thi hành nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006
của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp (“Thông tư 01/2007/TT-BKHCN”).
9Điểm b mục 39.2 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN.
10 Tổ chức SHTT thế giới (2004), Những điều cần biết về sở hữu trí tuệ: Tài liệu hướng dẫn dành cho các doanh nghiệp
vừa và nhỏ, tr 33.
Trang 91.5 Những lưu ý khi tạo dựng nhãn hiệu
Như đã đề cập, nhãn hiệu có vai trò quan trọng trong việc giúp khách hàng phân biệt được sản phẩm của một công ty với sản phẩm của công ty đối thủ trên thị trường cũng như chiến lược quảng cáo, tiếp thị hình ảnh, uy tín của doanh nghiệp đến người tiêu dùng, do đó, việc thiết kế nhãn hiệu cho sản phẩm phải phù hợp với sản phẩm đó và cần đặc biệt lưu ý các vấn đề dưới đây11:
(i) nhãn hiệu được đề xuất phải tuân thủ các điều kiện, quy định pháp luật;
(ii) nếu nhãn hiệu gồm một hoặc nhiều từ thì phải đảm bảo rằng các từ ngữ đó dễ đọc, dễ viết, dễ phát âm, dễ nhớ;
(iii) cân nhắc khi sử dụng các từ ngữ tự tạo mà không mang nội dung hoặc ý nghĩa đặc biệt Tuy chúng có ưu điểm là có khả năng phân biệt, dễ được bảo hộ nhưng nó cũng không để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm trí người tiêu dùng Điều này khiến doanh nghiệp cần một sự nỗ lực lớn hơn trong việc quảng bá sản phẩm Ví dụ điển hình là Kodak và
Exxon;
(iv) kết hợp cả yếu tố hình và chữ cho nhãn hiệu để tăng khả năng phân biệt cho nhãn hiệu cũng như để lại ấn tượng cho người tiêu dùng;12
(v) nhãn hiệu nên được thiết kế sao cho có thể truyền tải được thông điệp muốn gửi đến người tiêu dùng.13
1.6 Phân loại nhãn hiệu
Hiện nay, nhãn hiệu có thể được phân loại dựa trên (i) các dấu hiệu được bảo hộ (từ ngữ, hình ảnh hoặc kết hợp các yếu tố đó); (ii) các sản phẩm mang nhãn hiệu (hàng hoá, dịch vụ); (iii) chức năng của nhãn hiệu; và (iv) danh tiếng, uy tín của nhãn hiệu Trong phạm vi bài tiểu luận, tác giả sẽ tập trung phân loại nhãn hiệu theo căn cứ (iii) và (iv)
1.6.1 Căn cứ vào chức năng
Căn cứ vào chức năng, nhãn hiệu được chia thành 3 loại: nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu liên kết
Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu được dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó.14 Theo đó, nhãn hiệu tập thể sẽ do một hiệp hội, hợp tác xã, sở hữu nhưng các tổ chức này sẽ không sử dụng nhãn hiệu mà chỉ có thành viên của họ sử dụng để tiếp thị sản phẩm Chỉ
có tổ chức tập thể là chủ sở hữu đối với nhãn hiệu tập thể, các thành viên thuộc tổ chức này chỉ là
11 Tổ chức SHTT thế giới (2004), tlđd (6), tr 40.
12 Phan Law Việt Nam (2020), “Những trường hợp không được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu”, https://phan.vn/nhung-truong-hop-khong-duoc-dang-ky-bao-ho-nhan-hieu.html, truy cập ngày 31/12/2021.
13 Phan Law Việt Nam (2020), tlđd (10), truy cập ngày 31/12/2021.
14 Khoản 17 Điều 4 Luật SHTT.
Trang 10thành viên được sử dụng nhãn hiệu tập thể chứ không phải là đồng sở hữu của nhãn hiệu tập thể.15
Để được quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể, thành viên phải tuân thủ các quy chế sử dụng nhãn hiệu cũng như các điều kiện, tiêu chuẩn về chất lượng, nguồn gốc địa lý, Có thể thấy rằng, nhãn hiệu tập thể là một phương thức hiệu quả để tiếp thị sản phẩm của các doanh nghiệp trong cùng một nhóm nếu việc thực hiện riêng lẻ sẽ gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, nếu một sản phẩm sử dụng nhãn hiệu tập thể của một thành viên kém chất lượng, làm mất uy tín trong tâm trí người tiêu dùng thì việc kinh doanh sản phẩm cùng sử dụng nhãn hiệu tập thể đó của thành viên khác trong tổ chức cũng sẽ bị ảnh hưởng Vì thế, chủ nhãn hiệu tập thể có trách nhiệm quản lý, kiểm soát sự tuân thủ quy chế sử dụng nhãn hiệu của các thành viên được quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể tương ứng.16
Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác
sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu17, ví dụ: nhãn hiệu hàng Việt Nam chất lượng cao Theo đó, nhãn hiệu chứng nhận sẽ do các tổ chức có khả năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, của sản phẩm sở hữu, tuy nhiên họ sẽ không sử dụng nhãn hiệu cho sản phẩm của mình mà cấp phép sử dụng cho các doanh nghiệp khác nếu sản phẩm đó đạt tiêu chuẩn hoặc chất lượng nhất định Trong khi nhãn hiệu tập thể chỉ được sử dụng bởi một nhóm doanh nghiệp cụ thể (thành viên của tổ chức sở hữu nhãn hiệu) thì nhãn hiệu chứng nhận lại được sử dụng rộng rãi bởi bất kỳ doanh nghiệp nào với điều kiện sản phẩm của họ đáp ứng các tiêu chuẩn đã được thiết lập Với chức năng bảo đảm chất lượng sản phẩm theo một tiêu chuẩn nhất định, nó đòi hỏi chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận, kiểm soát chặt chẽ các hàng hoá, dịch vụ có yêu cầu được cấp quyền sử dụng nhãn hiệu
Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau.18 Theo đó, nhãn hiệu liên kết có các đặc điểm như sau19: (i) do một chủ thể đăng ký; (ii) các nhãn hiệu này có dấu hiệu trùng hoặc tương tự nhau; và (iii) các nhãn hiệu này được dùng cho hàng hoá, dịch vụ cùng nhóm, tương tự hoặc có liên quan với nhau Việc đăng ký nhãn hiệu liên kết giúp doanh nghiệp (chủ
sở hữu nhãn hiệu) được phép sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự cho nhiều loại hàng hoá, dịch
vụ của mình Đồng thời, việc sử dụng nhãn hiệu liên kết cũng giúp quảng bá, lan toả uy tín cho những sản phẩm mới của doanh nghiệp một cách dễ dàng hơn nếu người tiêu dùng đã có ấn tượng tốt về các sản phẩm trước kia của doanh nghiệp
15 “Đặc điểm nhận diện về pháp lý của nhãn hiệu tập thể và một số thay đổi cần lưu ý liên quan đến yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu tập thể ở Việt Nam”, http://bross.vn/newsletter/ip-news-update/Dac-diem-nhan-dien-ve-phap-ly-cua-nhan-hieu-tap-the-va-mot-so- thay-doi can-luu-y-lien-quan-den-yeu-cau-bao-ho-nhan-hieu-tap-the-o-Viet-Nam, truy cập ngày 30/12/2021.
16 Trường Đại học Luật TP HCM (2020), tlđd (4), tr 284.
17 Khoản 18 Điều 4 Luật SHTT.
18 Khoản 19 Điều 4 Luật SHTT.
19 Trường Đại học Luật TP HCM (2020), tlđd (4), tr 286.