Chính vì vậy em đã chọn Lễ hội Chọi Trâu Đồ Sơn làm bài khóa luận tốt nghiệp cho mình.Trong thời gian làm khóa luận tốt nghiệp em luôn nhận được sự hướng dẫn nhiệttình của thầy Bùi Văn H
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỄ HỘI
Khái quát chung về lễ hội ở Việt Nam
Mùa xuân là mùa khởi đầu cho một năm mới, thời điểm vạn vật sinh sôi nảy nở dưới tiết trời ấm áp Trong không khí ấy, lòng người phơi phới, rủ nhau đi hội và hành hương về cội nguồn, để cảm nhận niềm hạnh phúc lan tỏa khắp phố phường Mùa xuân cũng là mùa lễ hội, khi con người vừa tham gia hội hè để vui chơi vừa cầu mong những điều may mắn và những điều tốt đẹp nhất cho một năm bắt đầu.
Việt Nam có gần 500 lễ hội truyền thống lớn nhỏ trải khắp đất nước suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, thể hiện sự đa dạng và phong phú của văn hóa dân gian; mỗi lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng, đồng thời tôn vinh những anh hùng chống ngoại xâm, những người có công dạy nghề, phù trợ dân làng trước thiên tai và diệt trừ ác Với tư tưởng uống nước nhớ nguồn, lễ hội nước ta diễn ra sôi nổi qua các sự tích, công trạng, là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giúp các thế hệ trẻ hiểu rõ công lao tổ tiên và tự hào về truyền thống quê hương, đất nước Đặc biệt, lễ hội nước ta gắn bó chặt chẽ với làng xã, địa danh và vùng đất, trở thành một thành tố không thể thiếu trong đời sống cộng đồng nhân dân.
Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa đặc sắc, phản ánh đời sống tâm linh của mỗi dân tộc và các hoạt động tập thể sau những ngày lao động vất vả Đây là dịp để cộng đồng hướng về các sự kiện trọng đại hoặc gắn với tín ngưỡng và vui chơi giải trí, đồng thời củng cố giá trị văn hóa truyền thống và sự gắn kết giữa các thế hệ.
1.1 Khái niệm và mối quan hệ “lễ” và “hội”
Lễ Việt Nam là tập hợp các nghi lễ được tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự kiện có ý nghĩa đối với cộng đồng Trong thực tế, lễ có nhiều ý nghĩa khác nhau và đóng vai trò quan trọng trong việc gắn kết gia đình, cộng đồng và bản sắc văn hóa thông qua các hoạt động như lễ hội, nghi lễ thờ cúng và các sự kiện văn hóa Lịch sử hình thành của lễ rất phức tạp, phản ánh sự giao thoa giữa truyền thống địa phương và ảnh hưởng từ nhiều nền văn hóa khác nhau.
Chữ “lễ” hình thành từ thời kỳ Chu (khoảng thế kỷ 12 trước Công nguyên), ban đầu được hiểu là lễ vật của các gia đình quý tộc và các nghi lễ tế thần tổ tông gọi là tế lễ Về sau, ý nghĩa của chữ “lễ” được mở rộng để phản ánh hình thức, phép tắc phân định trên dưới, sang hèn và thân sơ khi xã hội phân hoá thành đẳng cấp Khi xã hội phát triển, khái niệm “lễ” càng được mở rộng hơn nữa với các lễ như Thành hoàng, Gia tiên, lễ cầu an và lễ cầu mưa, phản ánh sự đa dạng của đời sống tâm linh và nghi lễ trong cộng đồng.
Với phạm vi ngày càng mở rộng, khái niệm lễ đã trở thành một phạm trù bao quát mọi nghi thức ứng xử của con người đối với tự nhiên và xã hội Nhờ đó, ta có thể hình thành một khái niệm chung về lễ nghĩa, là tập hợp các nghi lễ, quy tắc và cách cư xử nhằm dung hòa mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên và cộng đồng xã hội.
Trong nghi thức ở giữa giếng nước và đình (đền), nước được đựng vào bình sứ đã lau sạch hoặc vào chóe sứ được chuẩn bị cẩn thận Người ta múc nước từ gáo đồng và đổ nước qua miếng vải đỏ ở miệng bình và ở miệng chóe để giữ nước sạch và trang nghiêm trước khi đưa nước lên kiệu rước về nơi thần linh an ngự.
2- Lễ mộc dục: Ngay sau lẽ rước nước làng cử hành lễ mộc dục (tức là lễ tắm rửa tượng thần) Công việc này thường giao cho một số người có tín nhiệm.
Chúng thắp hương, dâng lễ và tiến hành công việc một cách thận trọng; tượng thần được tắm hai lần, lần thứ nhất bằng nước làng vừa rước về, lần thứ hai bằng nước ngũ vị đã chuẩn bị trước.
3- Tế gia quan: Là lễ khoác áo, mũ cho tượng thần, bài vị Cũng có thể là áo mũ đại trào được triều đình ban theo chức tước, phẩm hàm lúc đương thời hoặc là áo mũ hàng mã đặt làm (theo sắc phong) thờ ở nơi thần an ngự.
4- Đám rước: Đón thần vị từ nơi ngài ngự (đền, miếu, nghè…) về đình
(gọi là phụng nghênh hồi đình) được tổ chức để ngài xem hội, dự hưởng lễ vật được dâng từ tấm lòng thành kính của toàn thể dân làng.
5- Đại tế: Là nghi thức lễ trang trọng nhất khi bài vị vừa rước ra đình Tại lễ này, làng thường mổ trâu, mổ bò làm lễ vật dâng cúng thần linh.
6- Lễ túc trực: Là lễ trông nom, canh giữ bài vị hoặc tượng thần lúc rước từ đền, miếu, ra đình, chùa… tùy theo thời gian mở hội dài hay ngắn mà tượng thần sẽ ngự tại đình lâu hay mau.
7- Lễ hèm: Ở những hội làng có thần tích không bình thường thì trong hội có thêm tục hèm Hèm là một hành động nghi lễ nhằm diễn lại một quãng đời
“đặc biêt” của thần lúc sinh thời (hoặc một chi tiết hành động mang tính cá biệt rất tiêu biểu).
‘Hội’ là một đám đông vui chơi tập trung tại một địa điểm, có đặc điểm đông người và gắn kết thông qua các hoạt động giải trí; tuy nhiên để thật sự mang ý nghĩa, Hội phải được tổ chức nhân dịp kỷ niệm một sự kiện quan trọng của bản làng hay cộng đồng dân tộc và mang lại lợi ích tinh thần cho toàn thể thành viên ở cả hai phương diện tổ chức và mục đích Hội có nhiều trò chơi đến mức có thể trở nên hỗn độn, nhưng đây là sự cộng cảm tâm lý cần thiết sau những ngày lao động vất vả và khó khăn của cuộc sống hàng ngày, giúp mọi người được giải toả và cân bằng trở lại Vì vậy, khái niệm Hội được tập trung ở các yếu tố: đông người, tổ chức cho một sự kiện ý nghĩa của cộng đồng, mang lại lợi ích tinh thần và trải nghiệm vui chơi phong phú giúp giải tỏa và cân bằng tâm lý cho người dân.
Hội là hoạt động văn hóa, tôn giáo và nghệ thuật của cộng đồng, bắt nguồn từ nhu cầu cuộc sống, sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, mang đến bình yên cho từng cá nhân và hạnh phúc cho từng dòng họ, từng gia đình Sự sinh sôi của gia súc và mùa màng bội thu luôn gắn với khát vọng chung thể hiện qua bốn chữ “Nhân - Khang - Vật - Thịnh”, tạo nền tảng cho sự thịnh vượng và đoàn kết của cộng đồng.
Ảnh hưởng của lễ hội truyền thống Việt Nam đối với các lĩnh vực trong xã hội
2.1 Ảnh hưởng của lễ hội đối với kinh tế
Ngày nay, du lịch ngày càng đóng vai trò quan trọng trong ngoại thương và nền kinh tế mở cửa, trở thành một hiện tượng kinh tế phổ biến ở nhiều nước Đối với nhiều quốc gia, du lịch là nguồn thu ngoại tệ đáng kể và là ngành kinh tế mũi nhọn Đặc biệt, du lịch lễ hội góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thu hút du khách và trở thành một chiến lược kinh tế quan trọng Lễ hội không chỉ là hoạt động văn hóa cộng đồng mà còn đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của người dân, tạo ra sức sống và sự hứng khởi cho cộng đồng Sau lễ hội, mọi người thường cảm thấy thoải mái hơn, từ đó nâng cao năng suất làm việc và hiệu quả công việc, đóng góp vào sự phục hồi và phát triển kinh tế của xã hội.
Lễ hội góp phần cải thiện đời sống người dân bằng cách tăng thu nhập từ các mặt hàng và dịch vụ trong mùa lễ hội, đồng thời kích thích ngành du lịch phát triển và được xem là du lịch lễ hội Đây là nền kinh tế mở, giúp quảng bá các chương trình du lịch hấp dẫn, thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa các vùng miền và làm giàu kho tàng văn hóa, bản sắc dân tộc, đồng thời tăng doanh thu cho các công ty du lịch Nhờ vậy, lễ hội làm cho các điểm đến du lịch trở nên hấp dẫn hơn, thu hút khách và đổi mới diện mạo của các điểm tham quan, xóa bỏ sự nhàm chán và thúc đẩy sự phát triển chung của ngành du lịch.
Việc trưng bày và giới thiệu các sản phẩm truyền thống của địa phương cho khách du lịch tại lễ hội tạo cơ hội kinh tế xuất khẩu tại chỗ, giúp sản phẩm địa phương được quảng bá rộng rãi và nhận biết ở nhiều vùng miền khác nhau Hoạt động này mở rộng cơ hội kinh doanh và thu hút nhiều đối tượng khách từ khắp cả nước, từ đó tăng doanh thu cho địa phương Nhờ đó, đời sống của người dân ở vùng lễ hội có thể được cải thiện nhờ nguồn thu từ du lịch và bán sản phẩm thủ công Đồng thời, sự liên kết giữa quảng bá văn hóa và thị trường góp phần nâng cao giá trị sản phẩm địa phương và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững cho khu vực.
2.2 Ảnh hưởng của lễ hội đối với chính trị - xã hội
Vận động của xã hội luôn chi phối mạnh mẽ chính trị và các hoạt động xã hội khác Trong quá trình phát triển, du lịch được xem là mục tiêu trọng tâm của Đảng và Nhà nước, mang lại nguồn thu lớn và tạo điều kiện cho đất nước phát triển Sự phát triển của du lịch góp phần ổn định chính trị và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội, nhờ đó chính sách đầu tư vào ngành du lịch ngày càng được mở rộng Nhà nước ban hành các chương trình và biện pháp hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện dịch vụ và thúc đẩy phát triển bền vững của ngành du lịch, lan tỏa tác động tích cực tới nhiều lĩnh vực khác.
Lễ hội có tác động lớn đến chính trị và văn hóa trên toàn quốc, bởi chúng phản ánh cội nguồn của đất nước Thông qua lễ hội, lịch sử dân tộc được tái xác định bằng một hệ thống biểu tượng, giúp sống lại nguồn gốc của đất nước và tăng cường sự gắn kết giữa quá khứ và hiện tại.
Những lễ hội mang tính đối ngoại là một phần trong chương trình hoạt động của Chính phủ, phản ánh khẩu hiệu 'Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trên thế giới' Trong những năm gần đây, các lễ hội hiện đại quy mô lớn thường mời nhiều quốc gia tham gia để cùng tạo ra một không gian văn hóa đa sắc màu, tăng cường sự gắn kết giữa các nền văn hóa và làm giàu thêm trải nghiệm giao lưu Có thể kể đến lễ hội bắn pháo hoa tại Đà Nẵng, Festival Huế và Carnival Hạ Long, nơi mỗi quốc gia mang nét văn hóa đặc trưng của mình đến trình diễn và giao lưu Quá trình giao thoa văn hóa tại đây diễn ra một cách cởi mở và bền chặt, để lại ấn tượng tích cực sau từng lần tổ chức và hứa hẹn nhiều kỳ lễ hội tiếp theo.
Lễ hội đóng vai trò then chốt trong xã hội khi phản ánh và lan tỏa các giá trị cộng đồng Qua lễ hội, người dân được nhắc nhở về một lối sống mẫu mực, tinh thần hướng thiện và sự khoan dung cao thượng, đồng thời thể hiện nhân đạo của dân tộc ta Ngược lại, nếu thiếu lễ hội, xã hội sẽ thiếu đi tính cộng đồng, con người dễ sống ích kỉ và ít quan tâm đến người khác Do đó, lễ hội có tác động lớn đến đời sống chính trị – xã hội của cộng đồng, góp phần định hình nhận thức và hành vi xã hội.
2.3 Ảnh hưởng của lễ hội đối với văn hoá
Lễ hội là công cụ văn hóa đa năng dùng để giới thiệu những nét hay đẹp của đất nước và con người trong thời đại mới Thông qua lễ hội, văn hóa được lan tỏa mạnh mẽ và góp phần tăng cường nhận thức về bản sắc dân tộc cùng sự đổi mới của xã hội hiện đại Việc tham gia lễ hội giúp con người sống hòa đồng, vui vẻ và giao tiếp lịch sự hơn, từ đó tạo ra tác động tích cực lên đời sống cộng đồng.
Trong lễ hội, việc khai thác giá trị truyền thống, văn hóa nghệ thuật, ẩm thực và thủ công mỹ nghệ giúp các hoạt động văn hóa thêm phong phú và hấp dẫn Tham gia lễ hội, du khách có cơ hội trải nghiệm các trò chơi dân gian và gặp gỡ giao lưu với các nền văn hóa khác nhau, thông qua nghi thức cúng tế, dâng hương và rước kiệu, từ đó hiểu được nét văn hoá đặc sắc và làm giàu vốn tri thức của nhân dân.
2.4 Tác động của lễ hội đối với du lịch
Điều 79 Luật Du lịch quy định nhà nước tổ chức hoạt động hướng dẫn du lịch và xúc tiến du lịch, đồng thời tuyên truyền giao tiếp rộng rãi về đất nước, con người Việt Nam, danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử Lễ hội được xem như công cụ làm cho du lịch phát triển, tăng tính hấp dẫn và thu hút lượng khách đông đảo hơn mỗi năm Lễ hội luôn tác động đến du lịch và giúp du lịch ngày càng phát triển Có ý kiến cho rằng lễ hội và du lịch có mối quan hệ tác động qua lại và cùng phát triển Khi du khách đến lễ hội, nhu cầu đa dạng xuất hiện, từ đó các dịch vụ du lịch được nâng lên và mang lại lợi ích kinh tế cho ngành; lễ hội còn làm nổi bật bản sắc văn hóa vùng miền, thu hút du khách và tăng lượng khách du lịch hàng năm.
Du lịch Việt Nam bản chất là du lịch văn hóa; để phát triển, ngành du lịch phải khai thác và sử dụng giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời đổi mới và hiện đại hóa sao cho phù hợp và hiệu quả, trong đó kho tàng lễ hội truyền thống là một yếu tố đặc sắc Lễ hội là một thành tố của văn hóa Việt Nam và phát triển du lịch lễ hội nhằm tận dụng thế mạnh của du lịch Việt Nam để thu hút và phục vụ khách du lịch Mùa lễ hội cũng là mùa du lịch, tạo nên hình thức du lịch mang bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện qua sắc thái văn hóa của các địa phương và vùng miền phong phú Lễ hội tác động tích cực đến du lịch, tăng lượng khách, tăng doanh thu và mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Lễ hội và du lịch có mối quan hệ tác động lẫn nhau và cùng nhau phát triển để hoàn thiện ngành du lịch Du lịch mang đến những đặc trưng riêng làm cho lễ hội truyền thống trở nên hấp dẫn hơn, trong khi lễ hội có tính mở nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế về điều kiện kinh tế và văn hóa xã hội cổ truyền vốn gắn với khuôn mẫu và không gian bản địa Nay du lịch tác động mạnh lên lễ hội ở mức độ liên ngành và liên vùng, mang lại nguồn lợi kinh tế cao cho địa phương có lễ hội và tạo việc làm cho người dân thông qua các dịch vụ như vận chuyển khách, bán hàng hóa và đồ lưu niệm Nhân dân vùng lễ hội vừa quảng bá hình ảnh văn hóa đời sống địa phương vừa có dịp giao lưu, học hỏi tinh hoa văn hóa từ du khách.
Mối quan hệ giữa lễ hội và du lịch đóng vai trò thúc đẩy ngành du lịch ngày càng phát triển và hoàn thiện, khi lễ hội thu hút du khách và kích thích hoạt động tham quan, lưu trú và chi tiêu, làm cho du lịch lễ hội trở nên hấp dẫn và có sức hút ngày càng lớn Du lịch có tác động tích cực đến lễ hội bằng cách tăng cường nguồn lực, quảng bá và nâng cao chất lượng trải nghiệm cho du khách, nhưng cũng mang lại mặt tiêu cực như quá tải, áp lực lên hạ tầng và ảnh hưởng đến môi trường và bản sắc địa phương Các mặt tích cực và tiêu cực này cần được nghiên cứu kỹ lưỡng bởi những người làm nghề du lịch để đưa ra giải pháp khắc phục và phát triển bền vững Do đó, sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, cộng đồng địa phương và doanh nghiệp du lịch là chìa khóa để tận dụng tối đa lợi thế của lễ hội trong du lịch, đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực và bảo tồn giá trị văn hóa.
Du lịch mang lại cả tác động tích cực và tiêu cực đối với lễ hội Do thời gian và không gian của các lễ hội truyền thống bị giới hạn, sự đông đúc của khách du lịch có thể làm đảo lộn hoặc làm gián đoạn các hoạt động vốn có của địa phương Du khách đến từ nhiều thành phần với nhu cầu đa dạng tạo áp lực và có thể ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương nơi diễn ra lễ hội Vì vậy, việc quản lý du lịch và lễ hội cần cân nhắc đồng thời giữa bảo tồn bản sắc địa phương và đáp ứng nhu cầu của du khách nhằm giảm thiểu rủi ro, hạn chế sự lộn xộn và đảm bảo trải nghiệm tích cực cho cả người dân lẫn du khách.
Thực trạng du lịch lễ hội ở Việt Nam
3.1 Tiềm năng du lịch lễ hội ở Việt Nam
Việt Nam có tiềm năng phát triển du lịch lễ hội rất lớn, với 7.966 lễ hội lớn nhỏ được tổ chức trên toàn lãnh thổ mỗi năm và trung bình 22 lễ hội diễn ra mỗi ngày, con số do Cục Văn hóa cơ sở, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công bố cho thấy tiềm năng du lịch lễ hội của nước ta vô cùng dồi dào Trải khắp đất nước qua bốn mùa xuân hạ thu đông, mỗi lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng, nhưng đều hướng tới những đối tượng linh thiêng cần được suy tôn như các anh hùng chống ngoại xâm, những người có công dạy nghề, những người giúp đỡ dân cư vượt qua thiên tai, diệt ác, trừ tà và nuôi dưỡng lòng nhân ái Tóm lại, các lễ hội ngày nay có mục đích chủ yếu là thu hút du khách và phát huy tiềm năng du lịch.
3.2 Thực trạng các chương trình du lịch lễ hội ở Việt Nam
Trên thực tế, lễ hội Việt Nam thu hút đông đảo du khách nội địa và quốc tế, nhưng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu và mong muốn của người tham gia Một số tình trạng tiêu cực vẫn diễn ra khiến giá trị linh thiêng và sự trang nghiêm của lễ hội bị ảnh hưởng Đây là vấn đề được các cấp chính quyền và địa phương quan tâm, đòi hỏi xây dựng các chính sách phù hợp nhằm bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, tăng cường trải nghiệm cho du khách và gìn giữ di sản văn hóa của các lễ hội Việt Nam.
Việt Nam có tới 7.966 lễ hội mỗi năm, minh chứng cho bề dày văn hóa nước nhà và sự đa dạng của các lễ hội trên khắp cả nước Tuy vậy, thực trạng thương mại hóa lễ hội vẫn diễn ra ở nhiều nơi, khiến chúng ta phải cân nhắc giữa giá trị truyền thống và mục tiêu kinh tế Tình trạng tổ chức tràn lan và lãng phí tiền của công - tư, cũng như kéo dài nhiều lễ hội suốt mùa xuân như lễ hội chùa Hương, đang làm tiêu hao nguồn lực xã hội Mặt khác, nạn mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh, mất trật tự trị an, kẹt đường, trộm cắp, móc túi và ăn xin vẫn thường xuyên diễn ra, ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh, trật tự và trải nghiệm của du khách.
Dù lễ hội vẫn tiếp tục được tổ chức và ngày càng quy mô hơn năm trước, lễ hội làng vốn nhỏ được nâng cấp thành lễ hội cấp huyện; các lễ hội thất truyền từ lâu thì thuê “chuyên gia” viết kịch bản phục dựng; tỉnh ven biển có festival biển thì các tỉnh khác cũng phải có lễ hội tương tự, vùng Đông có liên hoan thể thao thì vùng Tây lại tổ chức liên hoan sông nước, nhằm duy trì và lan tỏa giá trị văn hóa, du lịch và cộng đồng.
Trong hầu hết các lễ hội, kịch bản na ná nhau được xây dựng bởi một công ty tổ chức sự kiện nhận thầu từ A đến Z và dàn dựng bởi vài đạo diễn tên tuổi từ Hà Nội hoặc TP Hồ Chí Minh Sự thương mại hóa quá mức trong khâu tổ chức khiến hình ảnh đẹp của lễ hội bị phai nhạt trong mắt du khách, đặc biệt là du khách quốc tế Những du khách này mang hình ảnh Việt Nam về nước và kể lại đất nước ta dựa trên những trải nghiệm thực tế qua mỗi chuyến đi, từ đó hình ảnh Việt Nam được lan tỏa qua lời kể và đánh giá trên các nền tảng quốc tế.
Quản lý và tổ chức lễ hội vẫn còn thiếu sự chặt chẽ, khiến một số người vụ lợi lợi dụng và làm mất đi giá trị đích thực của lễ hội Hệ quả là hình ảnh truyền thống của dân tộc được xây dựng qua bao năm nay bị xói mòn, khiến cộng đồng lo ngại liệu bao giờ lễ hội mới có thể được khôi phục đúng với ý nghĩa và uy tín vốn có.
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝLỄ HỘI CHỌI TRÂU ĐỒ SƠN - HẢI PHÒNG
Giới thiệu khái quát quận Đồ Sơn
Đồ Sơn là một bán đảo được tạo bởi dãy núi chín ngọn vươn ra vịnh Bắc
Đồ Sơn là một vùng biển và núi thuộc Hải Phòng, đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế và xã hội của thành phố — là trung tâm đánh bắt cá và sản xuất muối, đồng thời là điểm du lịch nghỉ dưỡng, khu danh thắng thiên nhiên kỳ vĩ và vùng văn hóa cổ truyền đặc sắc Cách trung tâm nội thành Hải Phòng khoảng 20km về phía đông nam, Đồ Sơn có địa hình núi đồi trập trùng quy tụ trong thế “cửu long tranh châu”, theo thuyết phong thủy của xưa Nơi đây không chỉ có vịnh đẹp với những bãi cát dài tít tắp mà còn là miền hoa trái sum suê, cây xanh ngút ngàn; sách Đồng Khánh địa dư chí lược đã nhắc đến loại dứa ngon của Đồ Sơn và gọi nó là dứa ngon của vùng.
“Bách nhãn lê” (lê trăm mắt) là danh từ miêu tả vùng đất này Sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi (thế kỷ 15) ghi nhận các loại dược liệu quý và thú quý ở vùng Đồ Sơn Rừng Đồ Sơn ngày ấy có rất nhiều hươu, nai và hoẵng, trong khi biển Đồ Sơn lại có nhiều loài cá và hải sản đặc biệt, đủ để liệt kê những sản vật tiêu biểu như chim, thu, nhụ, đé, song, ngừ, tôm lớt, tôm nương, tôm hùm, tôm sắt, cua bể và bề bề.
Người Đồ Sơn từ thuở ấu thơ đã bị cuốn hút bởi huyền tích về quê hương và làng xóm của mình Chuyện kể rằng khi đất nước khai sinh, có 12 vị tiên đến Đồ Sơn lập nghiệp; trong số đó, sáu vị chuyên sống bằng nghề sông và nhận thấy đất đai vùng này cùng tiềm năng ven biển, đã thốt lên những lời khẳng định về một tương lai đầy vận hội cho người dân Đồ Sơn Từ câu chuyện đó, huyền thoại và truyền thống nghề thủy-sông thấm vào đời sống hàng ngày, hình thành bản sắc đặc biệt của quê hương Đồ Sơn và góp phần nuôi dưỡng tâm hồn người dân nơi đây.
“Ở đây ăn lợi lộc gì
Lộc sung thì chát, lộc si thì già”
Sáu vị ấy bỏ đi Còn sáu vị chuyên nghề chài lưới lại hết sức vui mừng:
“Ở đây vui thú non tiên
Ngày ngày đánh cá kiếm tiền nuôi nhau”
Bởi vậy, ở Đồ Sơn nghề làm ruộng chưa bao giờ phát triển thịnh đạt bằng nghề đánh bắt cá.
Tộc phả của các dòng họ gốc ở đây đều ghi chép về nguồn gốc của mình:
Họ Phạm ngày nay là hậu duệ của Cao Sơn và bà Chàng Ngọ họ Đinh; họ Lê
Bá và Lê Đình là di duệ của Hải Bộ; họ Nguyễn Khắc là con cháu của Thanh Sam; bảy chi họ Lương có cội nguồn từ Nuôi Nương; họ Hoàng có nguồn gốc ở Chằm và Vạc, thuộc Bình Giang - Hải Hưng.
Theo Đại Nam nhất thống chí, dựa vào tục chọi trâu, dân tổng Đồ Sơn được xem là thuộc dân Đãn Nãi, một nhóm Nam Man chuyên nghề chài lưới, và dân Trà Cổ (Quảng Ninh) ngày nay được cho là có gốc từ Đồ Sơn thông qua câu ca “dân Trà Cổ, tổ Đồ Sơn”, có thể đã di cư sau thất bại của cuộc khởi nghĩa nông dân ở Quận He để tránh hình phạt của triều đình Đồ Sơn được coi là vùng đất cổ từng là cửa ngõ đón tiếp thuyền buôn và tăng ni Phật giáo từ phương nam đến giao thương và hoằng dương Phật pháp ở Giao Châu, với tuyến đường từ Đồ Sơn theo các dòng sông đến Luy Lâu (Thuận Thành, Hà Bắc), phủ Tống Bình và thành Long Biên (Hà Nội) như một con đường du nhập Phật giáo vào Việt Nam trước khi lan sang Trung Quốc Mặc dù các di tích cổ còn mờ nhạt và nghiên cứu gặp nhiều khó khăn, quá khứ nơi đây được tôn vinh qua tháp Tường Long, dựng trên đỉnh Ngọc Sơn, như một cây bút vẽ lên trời xanh và biển rộng, là đài quan sát thiên nhiên đồng thời là hành cung của nhà vua ở miền biển Đông Bắc của Đại Việt Tháp Tường Long từng được xem là một trong những đại danh lam cùng với chùa Long Đọi, chùa Một Cột, tháp Báo Thiên, chùa Thắng Nghiêm, Chân Giáo ở Hà Nội và tháp Chương Sơn ở Ý Yên (Nam Hà), chứng tỏ sự phát triển của Phật giáo và kiến trúc cổ Việt Nam dưới triều đại phong kiến.
Đồ Sơn mở ra một tuyến tham quan giàu giá trị khi từ tháp Tường Long đến chùa Vân Bản cho thấy bước tiến dài của nghệ thuật kiến trúc và tạo hình Phật giáo ở nơi đây Chùa tháp Tường Long là biểu tượng cho sự hòa quyện giữa sáng tạo của con người và bản lĩnh của tự nhiên, hai yếu tố bổ sung cho nhau để tạo nên một nghệ thuật hoàn mỹ Đến Đồ Sơn, du khách thường thắp hương ở đền Bà Đế để cảm thông với nỗi oan khuất của người thôn nữ xưa và được nghe kể về mối tình thơ mộng nhưng bi thương giữa một cô gái làng chài đầy sức sống và một vị quân vương quyền quý, khiến đền Bà Đế trở thành bài học về tình yêu và lối sống hay đơn thuần là một nghi thức bỏ đi tục lệ lạc hậu Đồ Sơn còn nổi tiếng với lễ hội chọi trâu diễn ra vào ngày 9 tháng 8 âm lịch, là một nét văn hóa đặc sắc của địa phương Dù chưa từng đặt chân tới, ai cũng biết Đồ Sơn qua câu ca dao truyền khẩu, là nguồn ký ức văn hóa Việt Nam.
“Dù ai buôn đâu, bán đâu
Mồng chín tháng tám chọi trâu thì về
Dù ai bận rộn trăm nghề, ngày mồng chín tháng tám vẫn là dịp người dân về Đồ Sơn để chọi trâu, thể hiện giá trị tự thân của lễ hội và sự hấp dẫn không cần tuyên truyền Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn không chỉ là truyền thống mà còn phản ánh quá khứ hào hùng khi nơi đây từng là căn cứ khởi nghĩa nông dân do Nguyễn Hữu Cầu chỉ huy; dấu tích chiến công được ghi nhớ ở Bàng La, Sông Họng, núi Mẹ, đồn Cao, Suối Rồng, đình Ngọc, chùa Hang, nơi ghi công của nhà sư Phạm Ngọc và nhân dân “Bát vạn chài” chống lại ách đô hộ của nhà Minh ở thế kỷ 15.
Vẻ đẹp của núi, sông, trời, biển và khí hậu trong lành của Đồ Sơn đã từ lâu hấp dẫn du khách bốn phương Các công trình kiến trúc xây dựng ở Đồ Sơn cũng được quy hoạch thật khéo léo, dù là dưới chân núi, bên bờ biển hay trên đỉnh đồi, trong lòng thung lũng đều tạo lên một không gian kiến trúc phù hợp với tâm hồn, tình cảm của người Việt Trong mỗi kiến trúc bao giờ cũng có một khu vườn cảnh nho nhỏ, rải đều màu xanh mát dịu những sắc hoa rực rỡ kề bên những con đường rải nhựa láng bóng uốn lượn bên bờ biển hay quanh chân đồi, dốc núi dưới hàng thông reo.
Hòn Dáu là một địa điểm thường được du khách quan tâm trong lộ trình tham quan thắng cảnh Đồ Sơn Trạm thuỷ văn và đèn biển Hòn Dáu do người Pháp xây dựng từ năm 1889 là một công trình đáng trân trọng
Trên bán đảo này có bến không tên, hay còn gọi là bến K15, là điểm xuất phát của những con tàu không số trên đường Hồ Chí Minh trên biển, mở lối chi viện miền Nam và góp phần vào chiến thắng trước Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam.
Đồ Sơn đang trên bước đường đổi mới và hướng tới trở thành một trung tâm du lịch và vui chơi giải trí quốc tế, phục vụ cho chiến lược phát triển nền kinh tế mở của thành phố Đây là vận hội mới để con rồng vàng Đồ Sơn thức dậy, đồng hành cùng thành phố và cả nước chuẩn bị bước sang một thế kỷ mới.
21 tư thế mang dáng vẻ Thăng Long gợi lên niềm hoài cổ và khát vọng hồi sinh tháp Tường Long, một biểu tượng ký ức tập thể mà chúng ta mong được phục hồi Việc tháp Tường Long được phục hồi không chỉ trả lại một công trình lịch sử mà còn giúp nhận diện bản thân giữa bạt ngàn bạn bè, tăng cường sự gắn kết và bản sắc của cộng đồng.
2 Lễ hội Chọi Trâu xƣa và nay:
2.1 Lịch sử hình thành lễ hội chọi trâu:
Người Đồ Sơn không thể xác định thời điểm tục Chọi Trâu có từ bao giờ mà chỉ tin đó là một tục cổ xưa, khi ngày hội khởi phát, tiếng reo hò đã vang lên khắp vùng như lời chào đời của làng quê Hội Chọi Trâu Đồ Sơn ở quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng là một ngày hội độc đáo thờ thuỷ thần thông qua nghi lễ chọi trâu và hiến sinh trâu Lễ hội này phản chiếu sự giao thoa giữa văn hoá nông nghiệp vùng đồng bằng và văn hoá cư dân ven biển làm nghề đánh cá, cho thấy sự đồng nhất giữa hai dòng đời sống và nền văn hóa đặc sắc của Đồ Sơn.
Có nhiều truyền thuyết về Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn, mỗi sự tích kỳ bí gắn với một câu chuyện riêng, nhưng tựu trung tất cả đều khẳng định đây là mỹ tục hào hùng, thể hiện tính thượng võ, tính táo bạo và lòng quả cảm của người Đồ Sơn Truyền thuyết nổi tiếng kể rằng thần Điểm Tước, vị thần hộ mệnh của ngư dân Đồ Sơn, hạ thế và thấy hai con trâu chọi nhau; để làm đẹp lòng thần, người Đồ Sơn tổ chức chọi trâu vào mồng 9 tháng 8 âm lịch hàng năm.
Nhiều lão làng ở Đồ Sơn kể lại rằng cư dân làm nghề mò cua, bắt cá thường gặp cá kình ăn thịt Trước sự hung dữ và sự quấy nhiễu của quái vật biển, họ lập đàn cầu thần linh phù hộ vào thượng tuần tháng Sáu và hứa sẽ mổ trâu, mổ lợn lễ tạ để cầu an cho ngư dân và nghề biển.
Hoàn thiện nội dung chương trình tổ chức lễ hội
Quản lý và tổ chức lễ hội hiệu quả là sự cân bằng giữa bảo tồn tính thiêng của các nghi lễ cổ truyền và giữ gìn những giá trị tốt đẹp, tính nghiêm trang và thiêng liêng của lễ hội, đồng thời ngăn chặn mọi biểu hiện mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh và lừa đảo Bên cạnh đó, các hoạt động hội hè cần đáp ứng nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của người dân, đồng thời là những sinh hoạt văn hóa phong phú, hấp dẫn, phù hợp với thị hiếu công chúng, và vẫn đảm bảo tính giáo dục, nhân văn và lành mạnh.
Ban Tổ chức cần xây dựng nội dung chương trình và kế hoạch tổ chức lễ hội phù hợp với thực tế địa phương, đồng thời đảm bảo các hoạt động hấp dẫn, an toàn và mang đậm bản sắc văn hóa địa phương Nội dung và kế hoạch này bao gồm xác định mục tiêu sự kiện, thiết kế chi tiết các hoạt động, lịch trình diễn ra, phân bổ nguồn lực và ngân sách, cũng như các yếu tố quản lý rủi ro và an ninh Bên cạnh đó, cần tích hợp hoạt động quảng bá, huy động sự tham gia của cộng đồng, nhà tài trợ và đối tác cung ứng dịch vụ, nhằm tăng khả năng tiếp cận và tối ưu hóa trải nghiệm người xem Mỗi hạng mục của kế hoạch nên được mô tả rõ ràng, có thời hạn và chỉ số đo lường để đánh giá hiệu quả và điều chỉnh kịp thời cho các phiên bản lễ hội tiếp theo.
Chúng ta tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu và tổng hợp nguồn gốc, sự tích cũng như vai trò và ý nghĩa của lễ hội để xây dựng kế hoạch tổ chức lễ hội với các nghi lễ phù hợp, đảm bảo lễ hội mang đậm tính truyền thống và góp phần giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa của cộng đồng.
Ban Tổ chức thống nhất lựa chọn địa điểm và thiết kế không gian hội cho lễ hội, đảm bảo sự thông suốt giữa khu vực biểu diễn, khu vực trưng bày và khu vực phục vụ người tham dự đồng thời xây dựng diễn trình lễ hội để sự kiện diễn ra theo đúng kế hoạch Ban cũng quy định lộ trình đám rước của hội với các tuyến đường được phân luồng, an toàn và thuận tiện cho người xem Ngoài ra, ban đưa ra quy định về thời gian chuẩn bị và thời gian mở hội, giúp các đơn vị liên quan lên kế hoạch chuẩn bị, phối hợp nhịp nhàng và tối ưu trải nghiệm của khán giả.
Xây dựng nội dung chương trình lễ hội bắt đầu từ việc xác định nội dung chủ đề tư tưởng và ý nghĩa của lễ hội cũng như vai trò của lễ hội trong cộng đồng, từ đó định hình mục tiêu và hướng phát triển của sự kiện Dựa trên đó, biên tập chương trình chi tiết với các bước nghi lễ và quy định thời gian, đảm bảo nội dung cho các lễ thức có số lượng người tham gia phù hợp, thời gian tiến hành rõ ràng và phân công xử lý công việc, phục lễ và đạo cụ được tổ chức chu đáo Phần lễ gồm trình tự đội ngũ lễ rước, lộ trình đi của đám rước và nội dung văn tế, cùng các bước nghi thức tế lễ được mô tả đầy đủ để đảm bảo tính trang nghiêm và suôn sẻ cho lễ hội Toàn bộ nội dung được tối ưu cho SEO với các từ khóa chính như lễ hội, chương trình lễ hội, nghi lễ, đám rước, văn tế, phục lễ và đạo cụ.
Để tổ chức lễ hội một cách bài bản và phù hợp với nội dung sự kiện, cần xác định rõ thời gian diễn xướng, trang phục và động tác diễn xuất, số lượng người tham gia, người chịu trách nhiệm dàn dựng và thời gian luyện tập; đồng thời xây dựng kịch bản chi tiết và bảo đảm sự chuẩn bị tập luyện chu đáo để nâng cao chất lượng biểu diễn.
Để lễ hội thêm phong phú và thu hút sự quan tâm của nhân dân và du khách, cần nghiên cứu bổ sung các hoạt động vui chơi, giải trí được tổ chức trên cơ sở khai thác và phục dựng các trò chơi dân gian Đồng thời, tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ và thể thao theo hướng kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, nhằm tạo không gian lễ hội đa dạng và hấp dẫn Cụ thể, tổ chức thi đấu, giao lưu các môn thể thao như bơi thuyền rồng, bóng đá, bóng chuyền bãi biển, cầu lông nhằm khích lệ mọi người tham gia lễ hội.
Kết hợp hài hòa giữa các hoạt động kinh tế và văn hóa bằng cách giới thiệu sản phẩm hàng hóa và quà lưu niệm của các địa phương, tổ chức hội chợ để trưng bày và cung cấp các vật phẩm của địa phương và vùng Duyên hải Bắc Bộ phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân; đồng thời tổ chức triển lãm tranh, ảnh, đồ cổ và các hiện vật liên quan đến lễ hội chọi trâu xưa và nay nhằm bảo tồn giá trị văn hóa, quảng bá du lịch và tăng cường nhận diện thương hiệu địa phương.
Chú trọng bảo tồn giá trị của lễ hội
Lễ hội là một loại hình văn hóa phi vật thể gắn liền với di tích, cơ sở thờ tự, hiện vật và không gian linh thiêng; các lễ hội thành công thường đi đôi với việc trùng tu, tôn tạo và bảo vệ di tích, cơ sở thờ tự khang trang, quản lý hiện vật, đồ thờ tự tốt và không bị bóp méo hay biến dạng Để công tác tổ chức và quản lý lễ hội ngày càng hiệu quả, bảo đảm trật tự, tiết kiệm và phát huy tối đa các giá trị văn hóa, đồng thời khai thác tiềm năng kinh tế - văn hóa du lịch và bổ sung nguồn lực quốc gia, cần chú trọng bảo tồn và tôn vinh các giá trị của lễ hội một cách cụ thể và có hệ thống.
Chuyển biến nhận thức của các cấp, ngành về nội dung và ý nghĩa hoạt động lễ hội được thúc đẩy thông qua tuyên truyền các giá trị lịch sử và văn hóa cũng như các quy định của pháp luật liên quan Việc tuyên truyền hiệu quả giúp nhận diện và định hình hành vi đúng mực, đồng thời nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong quá trình tổ chức và quản lý lễ hội Các biện pháp chỉ đạo kịp thời và uốn nắn các biểu hiện lệch lạc làm cho lễ hội ngày càng văn minh, an toàn và chuyên nghiệp Nhờ đó, lễ hội thực sự trở thành ngày hội văn hóa của nhân dân, góp phần lan tỏa những giá trị cộng đồng và tăng cường niềm tự hào về di sản lịch sử, văn hóa.
Đẩy mạnh công tác quản lý và nghiên cứu để tổ chức lễ hội ngày càng khoa học và có ý nghĩa Phục hồi các trò chơi dân gian truyền thống gắn với xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa và tổ dân phố văn hóa; đồng thời bảo vệ công trình di tích lịch sử văn hóa và giữ gìn vệ sinh môi trường Quan tâm lồng ghép việc đón nhận danh hiệu văn hóa với hoạt động tổ chức lễ hội để vừa tiết kiệm chi phí vừa mang lại ý nghĩa sâu sắc.
Chú trọng tính đặc thù và tính độc đáo của lễ hội chọi trâu để tránh sự nhàm chán, bằng mọi cách khôi phục và giữ gìn những nét riêng có của lễ hội, gắn với truyền thống của địa phương, vùng miền và khu vực Cụ thể, lễ hội cần tái hiện và bảo tồn các giá trị văn hóa đặc sắc, nghi lễ, trang phục và các hoạt động dân gian đặc trưng, đồng thời tôn vinh bản sắc địa phương trong mọi khía cạnh từ nghệ thuật tới ẩm thực, nhằm tăng sức sống, sự giáo dục cho cộng đồng và lan tỏa giá trị khu vực.
Để lễ hội tồn tại với ý nghĩa và bản sắc của nó, cần giữ gìn bản chất và giá trị vốn có, tránh trần tục hóa quá mức Không nên áp đặt lễ hội theo một kịch bản cứng nhắc hay theo ý chí chủ quan, bởi điều đó có thể làm mất đi tính tự nhiên và bản sắc văn hóa của lễ hội truyền thống Kịch bản cần tôn trọng bản chất văn hóa của lễ hội truyền thống và không đi ngược lại với những giá trị cốt lõi mà cộng đồng đã gìn giữ Nhờ vậy, lễ hội được duy trì sự cân bằng giữa tổ chức và giá trị văn hóa, đồng thời giữ gìn truyền thống và ý nghĩa đặc trưng cho cộng đồng.
Để xây dựng kịch bản phục vụ lễ hội hiệu quả, cần chú trọng đến giá trị lịch sử, các sự kiện chính trị và bản sắc văn hóa địa phương để truyền tải những thông điệp có chiều sâu cho người xem Chủ đề của lễ hội phải mang tính tư tưởng sâu sắc, nội dung nghệ thuật phù hợp, cô đọng và xúc tích, đồng thời hình thức thể hiện sinh động nhằm tăng tính lôi cuốn mà không phô trương hay lãng phí Các chương trình phục vụ lễ hội nên có nội dung phù hợp với đặc trưng của lễ hội, đảm bảo sự thống nhất giữa chủ đề, nội dung và hình thức biểu diễn Nhờ đó lễ hội không chỉ tôn vinh quá khứ mà còn góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng và phát huy bản sắc văn hóa địa phương.
Công tác tuyên truyền và phổ biến các văn bản quy định của lễ hội
Quận Đồ Sơn cần coi trọng công tác giáo dục pháp luật, tổ chức tuyên truyền và phổ biến các văn bản pháp luật liên quan đến văn hóa, quản lý văn hóa và lễ hội, đặc biệt là các văn bản pháp luật mới ban hành, nhằm nâng cao nhận thức và tuân thủ pháp luật của cộng đồng Ngành Văn hóa - Thông tin các cấp phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng và địa phương, cơ sở tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng bằng nhiều hình thức và nội dung phong phú, góp phần giới thiệu và phổ biến các giá trị lễ hội truyền thống đặc sắc, đồng thời quảng bá tiềm năng văn hóa và du lịch của địa phương.
Về hình thức, tuyên truyền được triển khai trên các phương tiện thông tin đại chúng như Đài Phát thanh và Truyền hình Trung ương và địa phương, hệ thống loa truyền thanh, báo chí, cổng thông tin điện tử và internet, pa-nô, áp phích được bố trí quanh không gian lễ hội, đồng thời tuyên truyền lưu động qua loa phát thanh trên xe, thông tin lưu động và hệ thống thông tin lưu động tổng hợp.
Đẩy mạnh hướng dẫn và tuyên truyền về thời gian, địa điểm, nội dung và ý nghĩa của lễ hội, gắn với việc giới thiệu và tôn vinh công trạng của các vị thần được thờ tại di tích và các khu vực tổ chức lễ hội Nội dung tuyên truyền nên mang tính phổ biến, đồng thời giáo dục pháp luật và các chuẩn mực hành vi, nâng cao nhận thức về hành vi lối sống và cách ứng xử văn hóa để cả người tổ chức và người tham gia lễ hội hiểu rõ giá trị di sản văn hóa và nắm vững các quy định quản lý Từ đó có thể tự điều chỉnh hành vi qua các hình thức cụ thể, hạn chế các biểu hiện tiêu cực trong lễ hội và đóng góp cho một không gian lễ hội văn minh, an toàn, tôn trọng di sản.
Chính quyền địa phương cần xây dựng kế hoạch lồng ghép tuyên truyền các nội dung liên quan vào các hoạt động của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm nhằm góp phần hình thành nếp sống văn hóa lễ hội Đồng thời nâng cao nhận thức, hiểu biết và ý thức trách nhiệm của người dân, thúc đẩy sự tự giác giữ gìn nơi thờ tự, bảo vệ môi trường tự nhiên - xã hội tại các di tích lịch sử - văn hóa gắn với công tác tổ chức lễ hội.
Các cơ quan báo chí của thành phố cần đẩy mạnh tuyên truyền các hình ảnh tốt, tích cực và có tác động lan tỏa trong cộng đồng, đồng thời kịp thời phê phán những hình ảnh phản cảm, những hành vi vi phạm gây bức xúc trong dư luận xã hội tại lễ hội.
Đẩy mạnh công tác quản lý bảo vệ cảnh quan di tích và lễ hội
Một lễ hội được tổ chức tốt là lễ hội phát triển đi đôi với bảo vệ tốt môi trường quanh đó, gìn giữ cảnh quan sinh thái và đảm bảo phát triển bền vững Bảo vệ môi trường tốt không chỉ thể hiện trong thời gian diễn ra lễ hội (không xả rác bừa bãi, không xâm hại thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường…) mà còn được duy trì trong quá trình chung sống hài hòa với tự nhiên, giữ gìn cảnh quan, hạn chế tác động tới thiên nhiên trong quá trình phát triển Cần xây dựng kế hoạch trùng tu và bảo quản di tích, các hiện vật theo thời hạn, theo cấp độ và giá trị của di tích; gắn trách nhiệm và xây dựng phương án chịu trách nhiệm cho người quản lý di tích, chính quyền địa phương và Ban quản lý di tích để duy trì kiểm tra, giám sát hiện trạng di tích và công tác tổ chức vận hành tại di tích Đồng thời tiếp tục tổ chức các hoạt động để phục dựng lại lễ hội.
Tiến hành điều tra, khảo sát, phân loại và đánh giá hiện trạng lễ hội, đồng thời đánh giá hiện trạng di tích và cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động thương mại - du lịch, nhằm có cái nhìn toàn diện về nguồn lực và tiềm năng của lễ hội Trên cơ sở kết quả này, tiến hành quy hoạch nhằm quản lý hiệu quả và xây dựng kế hoạch bảo tồn, phục hồi và phát triển lễ hội bền vững, gắn với di tích và hạ tầng du lịch.
Đẩy mạnh đào tạo cán bộ bằng cách cử đi học các lớp nâng cao năng lực để hướng dẫn tổ chức, quản lý và phục dựng lễ hội; đồng thời tăng cường phổ biến, trình diễn và phục dựng các diễn xướng dân gian và trò chơi dân gian trong lễ hội Công tác đầu tư kinh phí và huy động nguồn vốn đầu tư được duy trì nhằm tổ chức phục dựng lễ hội, các hoạt động, các diễn xướng văn hóa dân gian, đồng thời tu bổ các di tích lịch sử - văn hóa.
Phục dựng lễ hội cần xác định phương thức tổ chức phù hợp với tính chất của lễ hội, căn cứ vào tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của địa phương Việc phục dựng nên có sự chọn lọc các giá trị văn hóa truyền thống nổi bật, coi trọng tính đặc thù và sự độc đáo của lễ hội, đồng thời dần loại bỏ những hủ tục rườm rà, lãng phí và tốn thời gian của nhân dân để bảo đảm kinh tế và tâm lý cộng đồng được ổn định Do đó, cần đầu tư nghiên cứu kỹ lưỡng lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của lễ hội cũng như ảnh hưởng của nó đối với các phong tục, tập quán và đời sống văn hóa địa phương.
Đảm bảo bố trí cân đối thời gian và nội dung giữa phần lễ và phần hội, đồng thời chú trọng tổ chức các hoạt động văn hóa bổ sung trong quá trình diễn ra lễ hội để tăng tính hấp dẫn và ý nghĩa Khai thác các trò chơi và diễn xướng dân gian phản ánh lịch sử hình thành lễ hội, giúp lưu giữ và truyền tải giá trị văn hóa cho cộng đồng Việc phục dựng các trò chơi dân gian và lễ hội truyền thống phải dựa trên các tiêu chí khoa học nhằm đảm bảo tính chân thực và không làm sai lệch bản sắc của lễ hội.
Tăng cường quản lý dịch vụ, vệ sinh môi trường, trật tự công cộng
Quản lý tốt các hoạt động kinh doanh dịch vụ trong quá trình tổ chức lễ hội đòi hỏi quy định rõ ràng về danh mục sản phẩm hàng hóa được phép kinh doanh và các loại hình dịch vụ được phép tổ chức hoạt động, nhằm tránh tình trạng hàng quán lộn xộn và lấn chiếm không gian lễ hội Cần duy trì kiểm tra, giám định chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, đồng thời niêm yết giá cả công khai của các sản phẩm hàng hóa và loại hình dịch vụ để người dân dễ tiếp cận Thực hiện chế độ đăng ký, kiểm duyệt và cam kết của các chủ kinh doanh với chính quyền địa phương và Ban Tổ chức lễ hội Tăng cường lực lượng quản lý, giám sát chặt chẽ trong thời điểm lượng khách đến dự hội đông, khắc phục tình trạng bán hàng rong, cảnh báo và xử lý kịp thời các trò chơi có thưởng mang tính chất cờ bạc, cũng như ngăn ngừa việc tăng giá đột biến các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ.
Đồng thời cần chỉ đạo và đẩy mạnh công tác vệ sinh môi trường bằng cách thiết lập hệ thống thu gom và xử lý rác từ hoạt động của du khách và các dịch vụ phục vụ trước, trong và sau lễ hội Tăng cường bố trí các thùng rác có dung tích lớn đặt tại những vị trí thuận tiện trên các tuyến giao thông, đường đi lại, khu vực nghỉ ngơi, khu mua bán và ẩm thực của du khách và người dân tham gia lễ hội.
Thực hiện duy trì phát nội dung trên hệ thống loa truyền thanh với các thông điệp phổ biến nội quy và quy chế lễ hội, nhằm nâng cao ý thức tự giác của cộng đồng về vệ sinh công cộng và bảo vệ môi trường Đồng thời, thông điệp được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện cổ động trực quan khác để đảm bảo thông tin được lan tỏa một cách thống nhất và xuyên suốt.
Ban Tổ chức sẽ quản lý chặt chẽ việc giết mổ và bán thịt trâu chọi bằng cách quy hoạch khu giết mổ tập trung và kiểm soát lượng thịt trâu chọi được lưu thông, nhằm ngăn ngừa việc mua phải thịt trâu giả và bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm Đồng thời, in các túi nilon theo mẫu thống nhất và phát cho các chủ trâu dựa trên số lượng thịt sau khi giết, để giám sát nguồn cung và số lượng thịt trâu chọi bán ra Việc thực hiện này vừa bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng vừa quảng bá hình ảnh văn minh, lịch sự của lễ hội chị trâu Đồ Sơn.
Đẩy mạnh công tác xã hội hóa
Cùng với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, văn hóa là của dân, do dân và vì dân Ngoài sự quan tâm chỉ đạo và hỗ trợ từ nguồn ngân sách của Nhà nước để xây dựng và phát triển văn hóa thì xã hội hóa trở thành quy luật tất yếu khách quan Việc tổ chức Lễ hội Chọi Trâu Đồ Sơn nên thực hiện xã hội hóa thông qua các hình thức sau:
- Kêu gọi các cá nhân, dòng tộc trong và ngoài địa phương đóng góp kinh phí và hiện vật để tổ chức lễ hội.
- Thu hút tối đa các nguồn viện trợ quốc tế cho các công tác bảo tồn và phục dựng lễ hội truyền thống.
- Có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư vào việc bảo vệ, tôn tạo, phục dụng và phát triển các tài nguyên du lịch, di tích lịch sử văn hóa của Đồ Sơn.
Chủ trương xã hội hóa được thực hiện trong hoạt động lễ hội theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, nhằm thu hút và vận động nguồn vốn từ doanh nghiệp, tổ chức xã hội và người dân để ủng hộ, đầu tư và phát triển lễ hội một cách bền vững Việc kết hợp nguồn lực công – tư giúp tăng quy mô, chất lượng và tính chuyên nghiệp của các hoạt động lễ hội, đồng thời đẩy mạnh truyền thông, thu hút du khách và khuyến khích sự tham gia tích cực của cộng đồng và các bên liên quan Qua đó, lễ hội không chỉ giữ gìn bản sắc văn hóa mà còn phát huy hiệu quả kinh tế – xã hội, nâng cao hình ảnh và sức cạnh tranh của địa phương.
Chú trọng khai thác và huy động nguồn thu từ các hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa - du lịch nhằm bổ sung ngân sách cho lễ hội chọi trâu Việc mở rộng và đổi mới các chương trình văn hóa, sự kiện du lịch và hoạt động thương mại quanh lễ hội giúp tăng nguồn thu tài chính, tạo điều kiện tổ chức và quảng bá lễ hội hiệu quả hơn Đồng thời, tăng cường liên kết giữa văn hóa và du lịch giúp quảng bá giá trị đặc sắc của lễ hội chọi trâu tới du khách trong nước và quốc tế, đồng thời duy trì sự bền vững về tài chính cho hoạt động lễ hội.
Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức kinh tế - xã hội trong và ngoài nước đầu tư xây dựng các công trình văn hóa, tôn tạo và bảo tồn di sản văn hóa; phát triển cơ sở lưu trú và các hoạt động kinh doanh liên quan dưới sự quản lý của chính quyền các cấp nhằm bảo đảm không gian tổ chức lễ hội và phục vụ nhu cầu của du khách và người tham dự lễ hội.
Lễ hội thu hút hàng vạn đến hàng triệu người từ khắp nơi, nên dễ phát sinh chen lấn, xô đẩy, mất trật tự an ninh, ùn tắc giao thông và tai nạn, đồng thời tồn tại các hiện tượng tiêu cực như móc túi, lừa đảo, bắt chẹt khách và cờ gian bạc lận Do đó, Ban Tổ chức Lễ hội Chọi Trâu tại quận Đồ Sơn đã quy định các biện pháp quản lý nhằm bảo đảm an ninh, trật tự và an toàn giao thông, tăng cường giám sát và phân luồng, bố trí lực lượng bảo vệ và hệ thống camera, kiểm soát khu vực diễn ra và phục vụ, cũng như xử lý nghiêm các hành vi vi phạm và các hiện tượng tiêu cực Những quy định này nhắm tới bảo vệ du khách và người dân, duy trì một không gian lễ hội an toàn, văn minh và thuận tiện cho mọi người tham dự.
Đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông và phòng cháy chữa cháy là những yếu tố then chốt cho một lễ hội an toàn và suôn sẻ Cần bố trí lực lượng hợp lý, sắp xếp và trông coi phương tiện đi lại, đồng thời tăng cường quản lý luồng người và phương tiện để giảm nguy cơ tai nạn và ùn tắc Bên cạnh đó, lễ hội dễ phát sinh các vấn đề về vệ sinh và an toàn thực phẩm, nên công tác kiểm tra, giám sát vệ sinh và y tế phải được triển khai chặt chẽ nhằm bảo đảm sức khỏe và an toàn cho người tham dự.
Nghiêm cấm mọi hoạt động du lịch gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, bản sắc văn hóa và thuần phong mỹ tục của dân tộc, làm xâm hại đến độc lập chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh trật tự và an toàn xã hội Mọi hành vi xâm phạm đến tài nguyên du lịch và di tích lịch sử - văn hóa sẽ bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Các lực lượng an ninh cần được tăng cường xuyên suốt quá trình diễn ra lễ hội để đảm bảo an ninh cho buổi lễ và kịp thời ngăn chặn đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định của lễ hội Đặc biệt, cần chú ý tới những hiện tượng từng diễn ra trong các năm trước như ăn xin, trộm cắp, móc túi, chặt chém khách du lịch, bán vé lậu và bán thịt trâu chọi giả với giá cao Việc xử lý nghiêm các hành vi này sẽ răn đe các đối tượng khác và tạo tiền đề cho tổ chức thành công các lễ hội tiếp theo.
1 Kết quả đạt được của đề tài
Mỗi lễ hội để lại vô vàn cảm xúc và ký ức cho mỗi người, và chiến thắng luôn thuộc về ông Trâu cùng chủ trâu xứng đáng Dù thắng hay thua, chủ trâu vẫn vui vì đã góp phần vào sự thành công của lễ hội và hứa hẹn một năm mới tới, trời yên biển lặng để ngư dân ra khơi, mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho cả cộng đồng Họ lại lên đường tìm kiếm những ông trâu khắp vùng để huấn luyện, để năm sau lễ hội có thể trở lại trong không khí hân hoan, phấn khởi của bà con chào đón ngày hội lớn.
Xin được nhắc lại câu ca dao mà người Đồ Sơn vẫn truyền nhau về lễ hội chọi trâu rằng:
“Dù ai buôn đâu bán đâu Mùng 9 tháng 8 chọi trâu thì về
Dù ai bận rộn trăm bề Mùng 9 tháng 8 nhớ về chọi trâu”
Qua khảo sát đề tài 'Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức và quản lý lễ hội Chọi Trâu Đồ Sơn - Hải Phòng', chúng ta thấy niềm tự hào về lễ hội của người Đồ Sơn nói riêng và của cả dân tộc Việt Nam nói chung Những người ngư dân vùng biển quanh năm bám biển, đối mặt với sóng gió và sức mạnh của biển cả đã vượt lên số phận để lễ hội được hồi sinh sau chiến tranh Hiện nay, khi hòa bình đã lập lại và đất nước phát triển theo hướng hiện đại, việc bảo tồn giá trị và phát huy giá trị của lễ hội càng trở nên quý báu Người dân và cơ quan nhà nước đang cố gắng xây dựng lễ hội ngày càng phát huy được những giá trị tốt đẹp của nó và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tổ chức và quản lý lễ hội Chọi Trâu Đồ Sơn - Hải Phòng, góp phần bảo tồn văn hóa truyền thống và phát triển du lịch bền vững.
Mọi giá trị truyền thống đều là nền tảng để xây dựng tương lai, nhưng để các giá trị ấy trở thành nền tảng vững chắc thì việc tìm hiểu, nghiên cứu và kế thừa phải dựa trên cơ sở khoa học Qua lễ hội chọi trâu, chúng ta có được những hiểu biết chung về giá trị của lễ hội, từ đó chắt lọc và phát huy những tinh hoa quý báu của truyền thống để phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Lễ hội Việt Nam có nguồn gốc từ rất lâu, khó xác định chính xác thời điểm, nhưng chắc chắn lễ hội đã trở thành nhu cầu tinh thần của các dân tộc từ thời kỳ nông nghiệp thủ công Trong một xã hội sản xuất phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, người dân luôn tìm kiếm sự phù hộ của các vị thần linh để có mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và cuộc sống ấm no cho gia đình, vật nuôi thịnh vượng Vì vậy, các lễ hội không chỉ là dịp vui chơi mà còn là cầu nối giữa cộng đồng và thế giới siêu nhiên, phản ánh niềm tin vào lực lượng siêu nhiên được tôn kính và gắn với chu kỳ mùa vụ cũng như đời sống hàng ngày.
Lễ hội là nhu cầu tâm linh không thể thiếu của các cộng đồng, là sản phẩm của cả một tập thể chứ không phải của một cá nhân Nhu cầu này gắn liền với đời sống tinh thần của cộng đồng và tồn tại song hành với sự sống của chính cộng đồng ấy Khi cộng đồng còn thì lễ hội vẫn tồn tại, và các nghi thức có thể được biến đổi để phù hợp với thời cuộc và được cập nhật theo nhịp phát triển của xã hội.
Lễ hội ở nước ta có quy mô và nghi lễ đa dạng, nhưng đều hướng tới mục đích cầu mùa và gắn với các vị thần thánh khác nhau; mọi nghi thức dù riêng biệt cũng xoay quanh ý nghĩa ấy Lễ hội Việt Nam là quá trình đúc kết truyền thống lịch sử, văn hóa xã hội và những nếp sống tài hoa, tình nghĩa làng xóm, cùng sự gắn bó cộng đồng của ông cha ta Nghiên cứu lễ hội truyền thống giúp làm sáng tỏ bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam và góp phần bảo lưu những nét đẹp của truyền thống Vì thế lễ hội là di sản quý báu của dân tộc và cần được giữ gìn, truyền lại cho các thế hệ sau Chân - Thiện - Mỹ hiện diện trong mọi hoạt động xã hội, giúp đẩy lùi lối sống lạc hậu, củng cố niềm tin và hy vọng, và tạo nền tảng cho một tương lai tốt đẹp Lễ hội là nhu cầu tinh thần thiết yếu của đời sống con người và là nguồn động lực để vượt qua khó khăn, đồng thời là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, mở cửa cho yếu tố mới để tăng cường sự đoàn kết và sự phát triển của đất nước.
Tăng cư
1 Bùi Hoài Sơn (2006), Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ từ năm 1945 đến nay, luận án tiến sỹ, Viện Văn hoá Nghệ thuật
2 Trần Thúy Anh (1996), Cơ sở Văn hoá Việt Nam, Trường Đại học Khoa học, Xã hội và Nhân văn (tái bản hàng năm).
3 Trần Thúy Anh (2011), Du lịch văn hoá - Những vấn đề lí luận và nghiệp vụ, Trường Đại học Khoa học, Xã hội và Nhân văn.
4 Mai Hữu Luân (2003), Quản lý hành chính nhà nước, NXB Học viện Chính trị quốc gia, Hà Nội
5 Hoàng Nam (2005), Một số giải pháp quản lý lễ hội dân gian, Nhà xuất bản văn hóa dân tộc Hà Nội.
6 Lê Trung Vũ (1992), Lễ hội dân gian, NXB Khoa học xã hội Hà Nội
7 Trần Quốc Vượng (2001), Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, NXB Văn học Hà Nội.
8 Đinh Gia Khánh (1993), Lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại, NXB Khoa học xã hội Hà Nội
9 Ủy ban nhân dân quận Đồ Sơn, Báo cáo kết quả công tác quản lý, tổ chức lễ hội trên địa bàn quận Đồ Sơn (2011, 2012, 2013).
10 Ủy ban nhân dân quận Đồ Sơn, Kế hoạch tổ chức Lễ hội Chọi Trâu Đồ Sơn Hải Phòng (2011, 2012, 2013).
11 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng (2012), Nguồn gốc hình thành và quá trình phát triển Lễ hội Chọi Trâu truyền thống Đồ Sơn, Phòng Xây dựng Nếp sống văn hóa và gia đình.
12 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng (2013), Một số vấn đề về
Lễ hội Chọi Trâu truyền thống Đồ Sơn do báo chí phản ánh, Phòng Xây dựng
Nếp sống văn hóa và gia đình.