1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trang trại chăn nuôi lợn của ông vũ hoàng lân, huyện tam dương, tỉnh vĩnh phúc

76 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trang trại chăn nuôi lợn của ông Vũ Hoàng Lân, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc
Tác giả Nguyễn Văn Sỹ
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thu Quyên
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Chăn nuôi Thú y
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1. MỞ ĐẦU (8)
    • 1.1. Đặt vấn đề (8)
    • 1.2. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề (9)
      • 1.2.1. Mục tiêu (9)
      • 1.2.2. Yêu cầu (9)
  • Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (10)
    • 2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập (10)
      • 2.1.1. Điều kiện tự nhiên (10)
      • 2.1.2. Điều kiện cơ sở vật chất nơi thực tập (11)
    • 2.2. Tổng quan tài liệu liên quan đến chuyên đề thực hiện (14)
      • 2.2.1. Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con (14)
      • 2.2.2. Những hiểu biết về đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ (0)
      • 2.2.3. Những hiểu biết về phòng trị bệnh cho vật nuôi (23)
      • 2.2.4. Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái và lợn con (27)
    • 2.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước (36)
      • 2.3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước (36)
      • 2.3.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước (38)
  • Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 31 3.1. Đối tượng (39)
    • 3.2. Địa điểm và thời gian thực hiện (39)
    • 3.3. Nội dung thực hiện (39)
    • 3.4. Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện (39)
      • 3.4.1. Các chỉ tiêu thực hiện (39)
      • 3.4.2. Phương pháp thực hiện (39)
      • 3.4.3. Chẩn đoán và điều trị bệnh tại cơ sở (47)
      • 3.4.4. Các công việc khác (47)
      • 3.4.5. Phương pháp xử lý số liệu với công thức tính (48)
  • Phần 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN (50)
    • 4.1. Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn Vũ Hoàng Lân (50)
    • 4.2. Kết quả thực hiện chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản (52)
      • 4.2.1 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho đàn lợn nuôi tại cơ sở (52)
      • 4.2.2. Kết quả theo dõi trực tiếp tình hình sinh sản của đàn lợn nái trong thời gian thực tập (0)
    • 4.3. Kết quả công tác phòng bệnh cho lợn tại trại (56)
      • 4.3.1. Kết quả thực hiện công tác vệ sinh phòng bệnh (56)
      • 4.3.2. Kết quả thực hiện quy trình tiêm phòng cho đàn lợn tại trại (58)
    • 4.4. Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái tại trại (60)
      • 4.4.2. Kết quả điều trị bệnh trên lợn nái nuôi con tại cơ sở (61)
      • 4.4.3. Kết quả chẩn đoán cho đàn lợn con tại tại trại (64)
    • 4.5. Kết quả thực hiện một số công việc khác tại trại (67)
  • Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ (69)
    • 5.1. Kết luận (69)
    • 5.2. Đề nghị (70)

Nội dung

sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn và cơ sở thực tập, em tiến hànhthực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản nuôi

Trang 1

NGUYỄN VĂN SỸ

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG,

PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN NUÔI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI LỢN CỦA ÔNG VŨ HOÀNG LÂN, TAM DƯƠNG, VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 2

NGUYỄN VĂN SỸ

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN NUÔI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI LỢN CỦA ÔNG VŨ HOÀNG LÂN, TAM DƯƠNG, VĨNH

PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Trang 3

Trong thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm TháiNguyên cũng như trong quá trình thực tập tốt nghiệp, bên cạnh sự nỗ lực vàphấn đấu của bản thân em đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của các cá nhân

và tập thể trong và ngoài trường

Lời đầu tiên em xin phép được gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu TrườngĐại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, Banlãnh đạo trại lợn của ông Vũ Hoàng Lân, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc

đã đồng ý, cho phép và tạo điều kiện cho em về thực tập tại trại

Em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Nguyễn Thu Quyên, các

bác, các cô, anh, chị công nhân tại trang trại ông Vũ Hoàng Lân, huyện TamDương, tỉnh Vĩnh Phúc đã chỉ bảo tận tình và giúp đỡ em hoàn thành báo cáotốt nghiệp này Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình luôn là chỗ dựa, hậuphương vững chắc, bạn bè đã luôn quan tâm, động viên và tạo điều kiện vềvật chất, tinh thần giúp em hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Quá trình tích lũy kiến thức thực tế của em còn hạn chế, nên khóa luậnkhông tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được ý kiến đóng gópcủa quý thầy cô, các bạn bè, đồng nghiệp để khóa luận của em được hoànthiện hơn

Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, các đơn

vị và bố mẹ cũng như anh chị em đã hết sức giúp đỡ em trong suốt quá trìnhhọc tập tại trường và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2021

Sinh viên

Nguyễn Văn Sỹ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục tiêu 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Điều kiện cơ sở vật chất nơi thực tập 4

2.2 Tổng quan tài liệu liên quan đến chuyên đề thực hiện 7

2.2.1 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 7

2.2.2 Những hiểu biết về đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 10

2.2.3 Những hiểu biết về phòng trị bệnh cho vật nuôi 15

2.2.4 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái và lợn con 19

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 28

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 28

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 30

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 31 3.1 Đối tượng 31

3.2 Địa điểm và thời gian thực hiện 31

3.3 Nội dung thực hiện 31

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 31

3.4.1 Các chỉ tiêu thực hiện 31

Trang 5

3.4.3 Chẩn đoán và điều trị bệnh tại cơ sở 37

3.4.4 Các công việc khác 37

3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu với công thức tính 38

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39

4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn Vũ Hoàng Lân 39

4.2 Kết quả thực hiện chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản 40

4.2.1 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho đàn lợn nuôi tại cơ sở 40

4.2.2 Kết quả theo dõi trực tiếp tình hình sinh sản của đàn lợn nái trong thời gian thực tập 41

4.3 Kết quả công tác phòng bệnh cho lợn tại trại 43

4.3.1 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh phòng bệnh 43

4.3.2 Kết quả thực hiện quy trình tiêm phòng cho đàn lợn tại trại 44

4.4 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái tại trại 45

4.4 1 Kết quả chẩn đoán bệnh cho lợn nái tại trại 45

4.4.2 Kết quả điều trị bệnh trên lợn nái nuôi con tại cơ sở 46

4.4.3 Kết quả chẩn đoán cho đàn lợn con tại tại trại 48

4.5 Kết quả thực hiện một số công việc khác tại trại 50

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52

5.1 Kết luận 52

5.2 Đề nghị 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54 MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP

Trang 6

Bảng 3.1 Lịch sát trùng chuồng trại 33

Bảng 3.2 khẩu phần ăn đối với nái mang thai: 36

Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi qua 3 năm 2018 – 2020 39

Bảng 4.2 Số lượng lợn trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng qua các tháng 40

Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại trại 41

Bảng 4.4 Kết quả vệ sinh, sát trùng 43

Bảng 4.5 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn con theo mẹ 44

Bảng 4.6 Kết quả chẩn đoán bệnh cho lợn nái tại trại 45

Bảng 4.7 Kết quả điều trị bệnh trên lợn nái sinh sản tại trại 46

Bảng 4.8 Kết quả chẩn đoán mắc bệnh ở đàn lợn con nuôi tại trại 48

Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn con tại trại 49

Bảng 4.10 Kết quả thực hiện các thao tác trên lợn con và lợn nái tại trại 50

Trang 7

Số thứ tựThể trọngThực tập tốt nghiệp

Trang 8

cơ sinh thái, chăn nuôi lợn còn góp phần tạo ra nguồn phân bón hữu cơ quantrọng cho sự phát triển của ngành trồng trọt, góp phần cải tạo đất, cải tạo môitrường sinh sống cho các vi sinh vật đất …

Bên cạnh những ưu điểm nổi bật, ngành Chăn nuôi lợn cũng đang phảiđối mặt với những thách thức khó khăn, đặc biệt là dịch bệnh Để chăn nuôilợn phát triển ổn định, có chiều sâu, thì việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vềgiống, thức ăn và quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng trong chăn nuôi lợn là rấtquan trọng

Là sinh viên chuyên ngành Thú y, để sinh viên tốt nghiệp ra trường thànhthạo các kỹ năng chẩn đoán, phòng và trị bệnh cho đàn vật nuôi; biết vận hànhquy trình chăn nuôi Sinh viên sẽ có thời gian được thực tập tại cơ sở để rènluyện các kỹ năng trong quy trình chăn nuôi cũng như các kỹ thuật liên quanđến thú y Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn trên, được sự đồng ý của Ban chủnhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - trường Đại học Nông Lâm cùng với

Trang 9

sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn và cơ sở thực tập, em tiến hành

thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trang trại chăn nuôi lợn của ông

Vũ Hoàng Lân, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc”.

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục tiêu

- Hoàn thiện kỹ năng nghề nghiệp về quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh cũng như các kỹ năng nghề thú y

-Nhận biết được các bệnh thường gặp đối với lợn nái sinh sản ở trại

- Củng cố thêm kiến thức về chăn nuôi lợn nái sinh sản theo quy mô công nghiệp

- Nâng cao hiểu biết và cách xử lý với các trường hợp xảy ra trong thực tiễn sản xuất

1.2.2 Yêu cầu

- Vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn chăn nuôi náisinh sản tại trang trại đồng thời học tập bổ sung những kiến thức mới từ thựctiễn sản xuất

- Ứng dụng các kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản và các biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả cho lợn nái sinh sản vào thực tiễn

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Trại lợn của ông Vũ Hoàng Lân nằm trên địa bà xã An Hòa, huyệnTam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc Với tổng diện tích 2 ha, được xây dựng theo hệthống chuồng khép kín Trang trại cách xa khu dân cư, đảm bảo các nguyêntắc về xây dựng chuồng trại

Trại lợn được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 2017, là một trangtrại tư nhân với hệ thống chuồng trại, trang thiết bị hiện đại, có đội ngũ kĩthuật vững vàng cũng như con giống và nguồn thức ăn đảm bảo

Huyện Tam Dương nằm ở khu vực trung tâm tỉnh Vĩnh Phúc, tổng diệntích năm 2009 là 10.718,55 ha

- Phía Bắc giáp huyện Tam Đảo, huyện Lập Thạch, huyện Sông Lô;

- Phía Nam giáp Thành phố Vĩnh Yên và huyện Yên Lạc

- Phía Đông giáp huyện Bình xuyên

- Phía Tây giáp huyện Lập Thạch và Vĩnh Tường

Huyện hiện có 13 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn: Thị trấn Hợp Hòa,các xã: Đồng Tĩnh, Hoàng Hoa, Hướng Đạo, An Hòa, Đạo Tú, Kim Long,Duy Phiên, Hoàng Đan, Thanh Vân, Hợp Thịnh, Vân Hội và xã Hoàng Lâu

2.1.1.2 Điều kiện khí hậu

Tam Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, đượcchia thành 4 mùa rõ rệt Nhiệt độ trung bình hàng năm là 230C, nhiệt độ caonhất vào tháng 6, tháng 7 là 29,40C, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 100Cthuận lợi cho cây trồng sinh trưởng Bình quân số giờ nắng trong năm là 1400

- 1600 giờ/năm Lượng mưa trung bình hàng năm 1.400 - 1.500 mm, phân bốkhông đều, tập trung vào tháng 6, 7, 8 và 9 Độ ẩm không khí trung bình caotừ 80 - 84%, tương đối đều các tháng trong năm

Trang 11

Nhìn chung, điều kiện khí hậu, thủy văn của huyện thuận lợi cho sựphát triển hệ sinh thái động, thực vật đa dạng cũng như các hoạt động sản xuấtnông lâm nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Tuy nhiên, khí hậu thủy văn ở TamDương cũng có nét riêng biệt là do dãy núi Tam Đảo chắn hướng gió mùaĐông Bắc nên thường xảy ra mưa nhiều, thỉnh thoảng có gió xoáy, tạo lốc,ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống dân sinh.

2.1.2 Điều kiện cơ sở vật chất nơi thực tập

2.1.2.2 Cơ cấu tổ chức của trại

Trại lợn gồm có 13 người, trong đó có:

+ 01 chủ trại: quản lý chung

2.1.2.3 Cơ sở vật chất

- Trang thiết bị:

+ Có đầy đủ các thiết bị, máy móc để phục vụ cho công nhân và sinh viên sinh hoạt hàng ngày như: nước sinh hoạt, tắm nóng lạnh, tivi, tủ lạnh, quạt

Trang 12

+ Cơ sở vật chất trong chuồng trại chăn nuôi được trại chú trọng đầu tư:

Có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện sáng, vòi uống nước tự động cho lợn Có

hệ thống đèn điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông Ngoài ra, trại còn cómột máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho cả trại sinh hoạt và hệthống chuồng nuôi khi mất điện

Khu chăn nuôi gồm 4 phần chính: Chuồng lợn đẻ, chuồng lợn mangthai, chuồng cách ly và 03 chuồng lợn thịt

Hệ thống chuồng lợn đẻ của trại gồm 2 dãy chuồng chính, có cửa thôngvới nhau ở cả đầu trên và cuối chuồng Dãy chuồng đẻ gồm 46 ô với kíchthước mỗi ô là 2,4 m x 1,6 m Trong mỗi ngăn được lắp đặt hệ thống dàn mát

ởđầu chuồng và 3 quạt thông gió ở cuối chuồng Ngoài ra mỗi ngăn còn đượclắp đặt thêm cửa sổ và hệ thống chiếu sáng, hệ thống điện Dãy còn lại là làmchuồng úm lợn sau cai sữa

Thứ 2 là hệ thống chuồng lợn nái mang thai: chuồng gồm 4 dãy, 1 dãyđược lắp đặt 62 ô, kích thước 2,4 m x 0,65 m/ô và 1 ô rộng có kích thước 2,4

m x 1,3 m Cũng như chuồng đẻ, chuồng lợn mang thai cũng có dàn mát, cuốichuồng có 6 quạt thông gió, ngoài ra trong mỗi chuồng chửa còn có hệ thốnglàm mát cho lợn bằng nước được lắp đặt trên mái

Bên chuồng chửa là 3 chuồng thịt, trong đó có 2 chuồng có kích thước

là 15 m x 50 m trong mỗi chuồng gồm 14 ô trong đó có 2 ô là ô bệnh dùng đểcách ly những con yếu và còi, 1 chuồng gồm 21 ô, trong đó có 3 ô là ô bệnh

Trang 13

Nguồn nước được sử dụng trong trại được cung cấp từ hệ thống giếngkhoan, nước sau khi được bơm lên 2 bể được xử lý bằng hệ thống lọc trên bể.Nước uống được xả vào 1 bể lọc khác và được khử bằng Cloraminb rồi tiếptục bơm lên tép cao lợi dụng áp lực của nước để đưa nước tới hệ thống cungcấp nước uống, dàn mát và các vòi nước phục vụ cho công việc vệ sinh.

Trong khu sản xuất còn có kho thuốc, phòng tắm sát trùng, kho cám,phòng tinh và chuồng cách ly

2.1.2.4 Thuận lợi và khó khăn

Trang 14

2.2 Tổng quan tài liệu liên quan đến chuyên đề thực hiện

2.2.1 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con

2.2.1.1 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ

- Quy trình nuôi dưỡng:

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [17], thức ăn dùng cho lợn nái đẻphải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợnnái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó hoặc

ép thai chết ngạt

Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể củalợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sứckhỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, trước đẻ 2 - 3 ngàygiảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì khônggiảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho

ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa

Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dụccủa bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý

Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5kg) hoặc khôngcho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không cholợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi

đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đếnngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tíchnhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái

- Quy trình chăm sóc:

Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đếnnăng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Chuồng trại phải được vệ sinhsạch sẽ Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa

vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con

Trang 15

và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng.Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn náivào đẻ Chuồng đẻ cần phải trải đệm lót, có che chắn và thiết bị sưởi ấm trongnhững ngày mùa đông giá rét Trước khi đẻ 1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạchsẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng khănthấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ Làm như vậy tránh được nguy

cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vikhuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, cho lợn nái di chuyểnnhẹ nhàng từ chuồng bầu sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới.Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quantrọng là việc chuẩn bị ô úm cho lợn con Ô úm rất quan trọng đối với lợn con,

nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầumới sinh lợn con còn yếu ớt, lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưahồi phục Ô úm có thể giúp khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt

là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuậnlợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 -

10 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con

Theo dõi thường xuyên sức khỏe của lợn mẹ, quan sát bầu vú, thân nhiệtlợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện sát nhau, sốt sữa hoặcnhiễm trùng để có biện pháp xử lý kịp thời

2.2.1.2 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái nuôi con

- Quy trình nuôi dưỡng:

Theo Trần Văn Phùng và cs 2004 [17], thức ăn cho lợn nái nuôi con phải

là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó là cácloại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt,

đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn bổsung đạm động vật, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin Không cho

Trang 16

lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ănhỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo

đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêuchuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 kcal, protein 15%, Ca từ 0,9 -1,0 %, photpho 0,7 %

Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnhhưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vìvậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ.Theo Trần Văn Phùng và cs, 2004 [17], trong quá trình nuôi con, lợn nái đượccho ăn như sau:

- Đối với lợn nái ngoại:

+ Ngày cắn ổ đẻ: Cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ

2 - 2 - 3kg tương ứng

+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: cho ăn 4kg thức ăn hỗn

hợp/nái/ngày.

+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức:

+ Số bữa ăn trên ngày: 2 (sáng và chiều)

+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày

+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ ngày sau bữa ăn tinh (nếu

có rau xanh)

+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20

- 30%

+ Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước

- Đối với lợn nái nội:

Trang 18

Lợn nái nội có khối lượng cơ thể dưới 100 kg, mức ăn trong 1 ngày đêm được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,2 kg + (số lợn con theo mẹ x 0,18 kg)

Thức ăn thô xanh: 0,3 đơn vị

Lợn nái nội có khối lượng cơ thể từ 100 kg trở lên, mức ăn cho 1 ngày đêm giai đoạn nuôi con được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,4 kg + (số con theo mẹ x 0,18 kg)

Thức ăn thô xanh: 0,4 đơn vị

- Quy trình chăm sóc:

Theo Trần Văn Phùng và cs, 2004 [17], vận động tắm nắng là điều kiệntốt giúp cho lợn nái nhanh hồi phục sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa củalợn mẹ Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi

có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì có thể cho lợn nái vận động, thời gianvận động lúc đầu là 30 phút/ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên Trongchăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các cũi đẻ,không được vận động, vì vậy cần phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng củathức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin

Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo,sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt Do vậy hàng ngày phải vệ sinhchuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô

úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp

là 18 - 200C

2.2.2 Những hiểu biết về đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ

2.2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng của lợn con

Sau khi sinh lợn con có tốc độ sinh trưởng rất nhanh được thể hiện thôngqua sự tăng về khối lượng cơ thể Thông thường khối lượng lợn con lúc 7 - 10ngày tuổi tăng gấp 2 lần so với lúc sơ sinh, 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần

Trang 19

Theo Vũ Đình Tôn và Trần Thị Thuận (2006) [24], khối lượng lợn conđạt được ở các thời điểm như: Sơ sinh, cai sữa, xuất chuồng có mối tươngquan thuận khá chặt chẽ, nghĩa là khối lượng lúc sơ sinh càng cao thì có khảnăng khối lượng lúc cai sữa cao.

2.2.2.2 Đặc điểm tiêu hóa của lợn con

Đặc điểm nổi bật của cơ quan tiêu hóa của lợn con đó chính là sự pháttriển rất nhanh song chưa hoàn thiện Sự phát triển nhanh thể hiện ở sự tăng

về dung tích và khối lượng của bộ máy tiêu hóa Dạ dày lợn con khi mới sinhchỉ có dung tích 2,5 ml đã tăng lên 1815 ml vào lúc 70 ngày tuổi

Tiêu hóa thức ăn của lợn diễn ra ở 3 giai đoạn:

- Tiêu hóa ở miệng:

Tiêu hóa ở miệng gồm 3 giai đoạn là lấy thức ăn, nước uống, nhai, tẩmthức ăn với nước bọt và nuốt Tiêu hóa diễn ra với 2 quá trình: Tiêu hóa cơhọc do nhai và tiêu hóa hóa học do các enzyme trong nước bọt

Amylase có trong nước bọt có hoạt tính cao trong những ngày lợn conmới sinh và từ 2 - 21 ngày tuổi Tùy theo lượng thức ăn và lượng tiết sữa khácnhau, thức ăn có phản ứng axít yếu và khô thì nước bọt chủ yếu để thấm ướt

và làm mềm thức ăn

- Tiêu hóa ở dạ dày:

Lợn con mới sinh ra sống nhờ sữa mẹ Sau khi cai sữa lợn con sống tựlập nên phải trải qua một quá trình thay đổi không ngừng về hình thái cấu tạo

và hoạt động sinh lý của ống tiêu hóa để thích ứng với điều kiện mới Dungtích dạ dày của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, 20 ngày gấp 8lần và 60 ngày tuổi gấp 60 lần trong khi dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng0,03 lít và sau đó tăng chậm đến tuổi trưởng thành đạt 3,5 - 4 lít

Cơ quan tiêu hóa của lợn con chưa được hoàn thiện do một số enzymetiêu hóa thức ăn chưa có hoạt tính mạnh, đặc biệt là ở 3 tuần đầu Khoảng 25ngày đầu sau khi đẻ, enzyme pepsin trong dạ dày lợn con chưa có khả năngtiêu hóa protein của thức ăn Sau 25 ngày tuổi trong dịch vị lợn con chỉ có

Trang 20

HCl ở dạng tự do và enzyme pepsinogen không hoạt động mới được HCl hoạthóa thành pepsin hoạt động và mới có khả năng tiêu hóa Do thiếu HCl ở dạng

tự do nên lợn con dưới 25 ngày tuổi rất dễ bị vi khuẩn có hại xâm nhập vàođường tiêu hoá Chúng ta có thể kích thích tế bào vách dạ dày lợn con tiết raHCl ở dạng tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Nếutập cho lợn con ăn sớm từ 7 - 10 ngày tuổi thì HCl ở dạng tự do có thể đượctiết ra từ 14 ngày tuổi (Võ Trọng Hốt và Nguyễn Thiện, 2007) [8]

- Tiêu hóa ở ruột:

Theo Trần Thị Dân (2006) [3], lợn con sơ sinh dung tích ruột non 100ml,

20 ngày tuổi tăng 7 lần, tháng thứ 3 đạt 6 lít, và 12 tháng đạt 20 lít Ruột già,lợn con sơ sinh có dung tích 40 - 50ml, 20 ngày 100ml, tháng thứ 3 đạt 2,1 lít,tháng thứ 4 là 7 lít và tháng thứ 7 từ 11 - 12 lít Hoạt tính của các ezyme thayđổi từ sơ sinh đến trưởng thành

+ Amylase và maltase: Hai enzyme này có trong dịch tụy từ khi lợn con

mới đẻ ra nhưng dưới 3 tuần hoạt tính còn thấp nên khả năng tiêu hoá tinh bộtcòn kém Sau 3 tuần tuổi enzyme amylase và maltase mới có hoạt tính mạnhnên khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con tốt hơn

Lợn con dưới 3 tuần tuổi chỉ có một số enzyme tiêu hóa có hoạt tính mạnh như: trypsin, cathepsin, lactase, lipase và chymotrypsin

+ Trypsin: Là enzyme tiêu hóa protein của thức ăn Ở thai lợn 2 tháng

tuổi trong chất chiết đã có enzyme trypsin, thai càng lớn hoạt tính của enzymetrypsin càng cao Khi lợn con mới đẻ ra hoạt tính của enzyme trypsin dịch tụyrất cao để bù đắp lại khả năng tiêu hoá kém của enzyme pepsin dạ dày

+ Cathepsin: Là enzyme tiêu hoá protein trong sữa Đối với lợn con ở 3

tuần tuổi đầu, cathepsin có hoạt tính mạnh sau đó giảm dần

+ Lactase: Có tác dụng tiêu hoá đường lactose trong sữa Enzyme này

có hoạt tính mạnh ngay từ khi lợn con mới đẻ ra và tăng cao nhất ở tuần tuổithứ 2, sau đó hoạt tính của enzyme giảm dần

Trang 21

+ Lipase và chymotrypsin: Đây là hai enzyme có hoạt tính mạnh trong 3

tuần đầu và sau đó hoạt tính giảm dần (Võ Trọng Hốt và Nguyễn Thiện, 2007)[10]

Như vậy, lợn con mới sinh có khả năng tiêu hóa kém do các enzym cóhoạt lực tiêu hóa yếu Hoạt động của các enzym chỉ thích hợp với việc tiếpnhận và tiêu hóa sữa Nhưng nếu có chế độ chăm sóc thích hợp khẩu phần ănhợp lý có cám ăn tập ăn sớm được chế biến hợp lý với thành phần dinh dưỡngđầy đủ và cho lợn con tập ăn sớm sẽ cải thiện được hạn chế này

2.2.2.3 Đặc điểm về khả năng điều tiết thân nhiệt

Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con còn kém do:

- Hệ thần kinh của lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh Trung khu điềutiết thân nhiệt ở vỏ não mà não của gia súc là cơ quan phát triển muộn nhất ở

cả hai giai đoạn trong và ngoài thai

- Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng có thể cao hơnlợn trưởng thành nên lợn con dễ bị nhiễm lạnh (Đào Trọng Đạt và NguyễnThiện, 1996) [7]

- Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất cao, nếu sữa mẹ không đảm bảochất lượng, khẩu phần thức ăn thiếu đạm sẽ làm cho sự sinh trưởng chậm lại

và tãng trọng theo tuổi giảm xuống, làm cho khả nãng chống đỡ bệnh tật củalợn con kém (Phạm Sỹ Lăng và cs 2002) [11]

Trong giai đoạn này việc duy trì thân nhiệt của lợn con phụ thuộc vào sự hoạt động rất mạnh của hệ tuần hoàn cũng như sự thay đổi tư thế của lợn.Nhịp tim của lợn con tăng hơn so với lợn trưởng thành rất lớn Bìnhthường đối với lợn trưởng thành nhịp tim là 75 lần/phút, song ở giai đoạn đầusau khi mới đẻ nhịp tim tăng lên tới 200 lần/phút Lượng máu đến các cơ quantrong cơ thể cũng rất lớn đạt 150 ml/kg khối lượng trong 1 phút, trong khi đó

ở lợn trưởng thành chỉ đạt 30 - 40 ml/kg khối lượng trong 1 phút

Lợn con rất mẫn cảm với nhiệt độ vì cơ quan điều tiết nhiệt chưa hoànchỉnh Khả năng tự điều hòa thân nhiệt của lợn con tăng chậm từ khi mới sinh

Trang 22

đến 2 tuần tuổi do vậy trong 2 tuần đầu chúng tất dễ mẫn cảm với thay đổi lớncủa nhiệt độ bên ngoài Mỗi loại gia súc gia cầm đều có một giới hạn sinh thái

về nhiệt độ và độ ẩm nhất định, độ ẩm không khí trong chuồng nuôi cao làđiều bất lợi cho lợn con, bởi vì độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho các vikhuẩn phát triển, ngoài ra độ ẩm càng cao thì càng làm tăng thêm độ lạnhtrong chuồng nuôi Cho nên việc quản lý nhiêt độ và độ ẩm trong chuồng nuôicho phù hợp với tuổi của lợn và giữ cho nhiệt độ trong chuồng nuôi ổn địnhtrong một ngày đêm là rất quan trọng

2.2.2.4 Đặc điểm về khả năng miễn dịch

Lợn con khi mới sinh ra trong máu hầu như không có kháng thể Lượngkháng thể trong máu lợn con tăng rất nhanh sau khi lợn con bú sữa đầu Vìvậy, người ta nói rằng ở lợn con khả năng miễn dịch là hoàn toàn thụ động vì

nó phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít sữa từ mẹ

Trong sữa đầu lợn mẹ có tỷ lệ protein rất cao, những giờ đầu sau khi đẻtrong sữa có tới 18 - 19% protein, trong đó γ - globulin chiếm tỷ lệ rất cao (34

- 45%) và có vai trò miễn dịch Trong sữa đầu có một số loại kháng thể chủ yếu như sau:

IgA là loại kháng thể đặc hiệu cho hệ thống hô hấp, hệ tiêu hóa và sinhdục Loại kháng thể này từ sữa mẹ và được hấp thu qua thành ruột vào trong

cơ thể lợn con IgA có vai trò miễn dịch trực tiếp với bệnh do E coli và một

số bệnh khác

IgG là kháng thể đặc hiệu đối với các vi khuẩn do lợn mẹ tiếp xúc ở

trong chuồng đẻ như E coli và các kháng thể bệnh dịch tả khi lợn mẹ được

tiêm phòng Lợn con có loại kháng thể này từ sữa mẹ truyền sang và đây làloại kháng thể tồn tại rất lâu trong máu, cho nên giúp cho lợn con có khả năng

kháng lại những loại vi khuẩn gây hại điển hình như E coli.

IgM là kháng thể kháng các bệnh do virus cũng như một số bệnh kháctrong máu Đây là loại kháng thể đầu tiên vào cơ thể để chống lại những bệnh

lạ đầu tiên xâm nhập vào cơ thể

Trang 23

Như vậy, trong sữa đầu không chỉ có hàm lượng kháng thể lớn mà còn cócác loại kháng thể khác nhau để giúp cho lợn con có khả năng chống chịuđược với bệnh tật xâm nhập từ bên ngoài vào Tuy nhiên, khả năng hấp thukháng thể của lợn con thay đổi rất lớn theo thời gian.

Như vậy, quá trình hấp thu nguyên vẹn phân tử γ - globulin bị giảm rấtnhanh theo thời gian Sở dĩ lợn con có khả năng hấp thu được nguyên vẹnphân tử globulin là vì trong sữa đầu có kháng trypsin (antitrypsin), nó làm mấthoạt lực của trypsin tuyến tụy Đồng thời khoảng cách giữa các tế bào váchruột lợn con mới sinh rất lớn nên phân tử globulin có thể được chuyển quabằng con đường ẩm bào (kiểu hấp thu này giảm mạnh theo thời gian) Vì vậy,sau 24 giờ hàm lượng globulin trong máu lợn con đã đạt tới 20,3mg% Tạithời điểm này các tiểu phần protein sữa tuần hoàn trong máu không nguyhiểm đối với lợn con vì thời gian này lợn chưa hình thành kháng thể bản thân

và protein đối với chúng không phải là kháng nguyên

Bên cạnh sự hấp thu kháng thể từ sữa mẹ thì bản thân lợn con trong thời kỳnày cũng có quá trình tổng hợp kháng thể Trước đây người ta cho rằng tới 2 tuầntuổi hoặc muộn hơn mới có quá trình tổng hợp kháng thể ở lợn con Nghiên cứutại Bruno (Cộng hòa Séc) gần đây cho thấy chỉ ngay sau ngày đẻ thứ hai một số

cơ quan trong cơ thể lợn con đã bắt đầu sản sinh kháng thể Tuy nhiên, khả năngnày của lợn con còn rất hạn chế và nó chỉ được hoàn chỉnh khi lợn con được mộttháng tuổi (Vũ Đình Tôn, Trần Thị Thuận, 2009) [24]

2.2.3 Những hiểu biết về phòng trị bệnh cho vật nuôi

2.2.3.1 Phòng bệnh

Như ta đã biết "Phòng bệnh hơn chữa bệnh"‚ nên khâu phòng bệnh được

đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn đượcbệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu,xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vâṭ chủ Do vậy, việc phòngbệnh cũng như trị, bệnh phải kết hơp nhiều biêṇ pháp khác nhau

̣̣

Trang 24

- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:

Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2005) [18], bệnh xuất hiện trong một đàn lợnthường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc khôngtruyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa

ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phầnlớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhângây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn

Trần Văn Phùng và cs (2004) [17], cho biết từ 3 - 5 ngày trước dự kiến

đẻ, ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất nhưCrezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợnnái trước khi đẻ

- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi:

Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoángmát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh.Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: rửa sạch, để khô sau

đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với nhữngchuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cầnphải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử

lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng vàphun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng

cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trongchăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nước rửachuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phunsát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưavào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi

Trang 25

Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay

mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch

2.2.3.2 Điều trị bệnh

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [9], nguyên tắc để điều trị bệnh là:

- Toàn diện: Phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dung thuốc.

- Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan

-Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng

-Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơthể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bịtái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền

- Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thểchữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kémvượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa

- Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa

Trang 26

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [9], các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:

- Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ

sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp,phân, nước tiểu phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đốiphó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh

- Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy

thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằngkháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụngtrung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)

- Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng,

một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầmbệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vikhuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc vàtính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phốihợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa

có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn

- Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng

ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụngkháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,

do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làmgiảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gâynên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của khángsinh Vì vậy, khi dung thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:

+ Phải chẩn đoán đúng bệnh để dung đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn

+ Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng

Trang 27

+ Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh.

+ Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và

độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc

+ Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dung thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…

2.2.4 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái và lợn con

2.2.4.1 Bệnh viêm tử cung

Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [21], viêm tử cung là một hộichứng thường xuất hiện trên lợn nái sau khi đẻ Lợn nái viêm tử cung sẽ bị tổnthương lớp niêm mạc Từ đó gây ảnh hưởng sự tiết Prostagladin F2 và làmxáo trộn chu kỳ động dục, làm tăng tình trạng chậm sinh và vô sinh

* Nguyên nhân

Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], cho biết bệnh viêm tử cung xảy ra ởnhững thời gian khác nhau nhưng bệnh xảy ra nhiều nhất vào thời gian saukhi đẻ 1 - 10 ngày

Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [21], cho biết có nhiều nguyên nhângây viêm tử cung như: dinh dưỡng, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe, chăm sóc

và quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi Nhưng nguyên nhân chínhluôn có trong các trường hợp là do vi sinh vật, nguyên nhân khác sẽ làm giảmsức đề kháng của cơ thể hoặc tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập và pháttriển để gây nên các triệu chứng

Theo Đoàn Thị Kim Dung và Lê Thị Tài (2002) [5], nguyên nhân gây ra

bệnh viêm tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, dung huyết E.coli, còn có thể do trùng doi (Trecbomonas fortus)

và do nấm Candda albicans.

Mặt khác, khi gia súc đẻ, nhất là trường hợp đẻ khó phải can thiệp, niêm

Trang 28

mạc tử cung bị xây sát và tạo các ổ viêm, mặt khác các bệnh truyền nhiễm nhưsảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao… thường gây viêm tử cung, âm đạo.

* Triệu chứng

Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [22] khi lợn nái bị viêm, các chỉ tiêulâm sàng như: Thân nhiệt, tần số hô hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật:sáng sốt nhẹ 39 - 39,50C, chiều 40 - 410C

Con vật ăn kém, sản lượng sữa giảm, đôi khi con vật cong lưng rặn.Từ cơ quan sinh dục chảy ra hỗn dịch lẫn nhiều mạch tổ chức, mùi hôi tanh,

có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ Khi nằm lượng dịch chảy ra nhiều hơn.Theo Nguyễn Văn Thanh (2003) [19], tuỳ vào vị trí tác động của quátrình viêm đối với tử cung của lợn nái, người ta chia thành ba thể viêm: Viêmnội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung

* Hậu quả

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6]; Trần Thị Dân (2006) [3], khi lợnnái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

-Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn đến sảy thai

Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co

thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có

thể bám chặt vào tử cung

Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung

tiết nhiều Prostaglandin F 2α (PGF 2α ), PGF 2α gây phân huỷ thể vàng ở buồngtrứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây comạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến

thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung

tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai

- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu

Trang 29

- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy.

- Theo Trần Thị Dân (2006) [3], lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại

- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khisinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau

là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong cácnguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA (viêm tử cung, viêm vú và mất sữa), từ

đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theoviêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng

* Biện pháp phòng trị

- Phòng bệnh:

Theo Nguyễn Tài Năng và cs (2016) [15], vệ sinh chuồng trại sạch sẽmột tuần trước khi lợn đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau đó rửa sạchbằng nước thường, tắm cho lợn trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục

Phòng bệnh truyền nhiễm Leptospirosis, Brucellosis… bằng cách dùng

vắc xin đúng quy định, đúng thời gian cho đàn lợn sinh sản tránh nhữngtrường hợp bị sốt đột ngột gây sẩy thai

- Điều trị:

Trang 30

+ Điều trị cục bộ

Bơm rửa tử cung ngày 1 - 2 lần, mỗi lần 2 - 4 lít nước đun sôi để nguộipha thuốc tím 0,1% hay nước muối sinh lý 0,9%, sau đó bơm hoặc đặt khángsinh như: penicilin 2-3 triệu UI; tetramycine hay sulfanilamid 2 - 5g hoặcclorazol 4 - 6 viên vào tử cung để chống viêm

+ Điều trị toàn thân

Tiêm thuốc hạ sốt analgin 2 - 3 ống/ngày

Tiêm kháng sinh

Phác đồ 1: Tiêm tetramycin tiêm bắp liều 10 - 15 mg/kg thể trọng, liêntục 3 - 4 ngày Kết hợp tiêm septotryl tiêm bắp hoặc tĩnh mạch 1 ml/10 - 15 kgthể trọng/ngày Liên tục 3 - 4 ngày

Phác đồ 2: Tylan + polysul: Tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch 1 ml/5 - 10 kgthể trọng/ngày Điều tri liên tục 3 - 4 ngày

Tiêm thuốc giảm viêm: Hydrocortizone, dectancyl, prednizolone…

Tiêm thuốc trợ sức: Vitamin B1, C, B12 Lưu ý khi pha thuốc tiêm vitamin

C không dùng chung với kháng sinh peniciline, sufamid và vitamin B12 Tiêm thuốc tạo sữa: Thyroxine ngày 1 - 2 ống, liên tiếp 2 - 3 ngày, chỉdùng khi nhiệt độ cơ thể đã hạ xuống bình thường

Theo Trần Ngọc Bích và cs (2016) [1], khảo sát tình hình viêm nhiễmđường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại khángsinh trên 143 lợn nái sau khi sinh đã phát hiện 106 con tiết dịch nghi viêmđường sinh dục, chiếm tỷ lệ 74,13 %

Theo Nguyễn Văn Điền (2015) [8], đối với lợn nái viêm nhẹ, điều trịbằng cách đặt viên thuốc kháng sinh oxytetracyclin vào âm đạo từ 5 - 7 ngày.Tiêm amoxin 15% 3 lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 48 giờ Đây là dạng viêm

có kết quả điều trị khỏi bệnh cao

Trang 31

Khi gây bệnh thực nghiệm trên chuột và lợn vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae và vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập được có độc

lực cao đối với chuột bạch và lợn, đồng thời khẳng định vi khuẩn là một trongnhững nguyên nhân chính gây bệnh đường hô hấp ở lợn Tác giả đã sử dụngkết quả này làm cơ sở cho việc lựa chọn chủng để chế auto vắc xin phòngbệnh đường hô hấp cho lợn do các vi khuẩn nêu trên gây ra Mặt khác, còncho biết vi khuẩn mẫn cảm cao với các loại kháng sinh rifampicin, ceftazidin,ciprofloxacin và khuyến cáo nên sử dụng các loại kháng sinh này để điều trịcho lợn mắc bệnh đường hô hấp

Khi giám định một số đặc tính sinh vật học của Actinobacillus pleuropneumoniae cũng khẳng định vi khuẩn bắt màu gram âm, gây dung

huyết mạnh, không di động, không mọc trên môi trường Macconkey, khôngsinh Indol, phản ứng catalase, oxidase cho kết quả thất thường, phản ứngUrease dương tính, lên men các loại đường maltose, mannitol, mannose,xylose, lên men thất thường các loại đường galactose, lactose, không lên mencác loại đường: Glucose, arabinose, sorbitol

Để điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con, ngoài kháng sinh đặc hiệu với

vikhuẩn đường ruột như: Trimazon, berberin có hiệu quả điều trị 75 - 80%.Chúng ta cần luôn phối hợp các chế phẩm sinh học Biosubtyl sẽ tăng hiệu quảđiều trị và bổ sung điện giải, tăng tỷ lệ khỏi bệnh từ 80 - 95% con vật mau hồiphục, đảm bảo số lượng cũng như chất lượng con giống

Theo Trần Ngọc Bích và cs (2016) [1] khảo sát tình hình viêm nhiễmđường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại khángsinh trên 143 con lợn nái sau khi sinh đã phát hiện 106 con tiết dịch nghi viêmđường sinh dục chiếm tỉ lệ 74,43 %

Trang 32

2.2.4.2 Bệnh viêm vú

* Nguyên nhân

Trầy xước vú do sàn, nền chuồng nhám, vi trùng xâm nhập vào tuyến

sữa Hai loài vi trùng chính gây bệnh là Staphylococcus aureus và Streptococcus agalactiae… Ngoài ra còn các nguyên nhân gây viêm như số con quá ít không bú hết lượng sữa sản xuất, kế phát từ viêm tử cung nặng

hoặc do kỹ thuật cạn sữa không hợp lý trong trường hợp cai sữa sớm Do vệsinh không đảm bảo, chuồng trại quá nóng hoặc quá lạnh Do lợn mẹ sát nhau,lợn con khi sinh ra không được bấm răng nanh ngay Lợn mẹ ăn quá nhiềuthức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao làm sữa tiết ra quá nhiều ứ đọng lạitrong vú tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập phát triển mạnh mẽ về số lượng

và độc lực (Nguyễn Như Pho, 2002) [16]

* Triệu chứng

Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [22], viêm vú thường xuất hiện ở một vài vúnhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấynóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứng đau Lợn nái giảm ăn, trường hợpnặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 420C kéo dài trong suốt thời gian viêm, sản lượngsữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếusữa kêu la chạy vòng quanh lợn mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ

lệ chết cao 30 - 100% (Lê Hồng Mận, 2002) [13] Vắt sữa ở những vú bị viêmthấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện nhữngmảnh cazein màu vàng, xanh lợn cợn, đôi khi có máu

Trang 33

Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khóchữa, lợn nái có thể chết.

Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnhhưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau

* Điều trị

Vtrekaxova (1985) [27], đã kết luận: Điều trị viêm vú trong thời kỳ cho sữa

là một yếu tố cơ bản trong khống chế bệnh viêm vú Nó phải được tiến hành sớm

và đạt kết quả Xác định nguyên nhân không chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng

mà phải tính đến các chỉ tiêu chăn nuôi và có thể dựa vào các kết quả của phòngthí nghiệm Sự hiểu biết đầy đủ các phương pháp điều trị, nhất là về dược lựchọc và dược độc học cho phép đáp ứng tốt hơn cách điều trị

Các nghiên cứu của Xobko, Gia Denko (1987) [28], chữa bệnh viêm vúcho lợn nái hướng vào việc đưa ra phương pháp chữa kết hợp DùngNovocain phong bế phối hợp với điều trị bằng kháng sinh cho kết quả tốt Đểphong bế thần kinh tuyến sữa, tác giả đã dùng dung dịch novocain 0,5% liềutừ 30 - 40ml cho mỗi vú Thuốc tiêm vào mỗi thùy vú bệnh sâu 8 - 10cm.Dung dịch novocain còn được bổ sung 100 - 200 ngàn đơn vị penicillin haykháng sinh khác Đồng thời lợn nái còn được tiêm bắp cùng một loại khángsinh trong novocain này liều từ 400.000 - 600.000 UI, mỗi ngày 2 - 3 lần.Nếu điều trị hợp lý lợn sẽ khỏi trong vòng 3 - 5 ngày

Các loại kháng sinh thường dùng: Vilamoks LA, ampicilline,cephalexine, gentamycine, norfloxacine và có thể dùng corticoide để giảmviêm kết hợp với vitamin Ngoài ra trong trường hợp nái đẻ bị viêm nặngchúng ta có thể chườm cát nóng kết hợp xoa bóp bầu vú trong lúc đẻ

2.2.4.3 Lợn nái mất sữa sau khi đẻ

* Nguyên nhân

Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2004) [12], bệnh viêm tử cung và viêm vú

là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái nuôi con

Trang 34

Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], mất sữa sau khi đẻ là do kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thể thường sốt cao liên tục

2- 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trìnhtrao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa

bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chức năng tiết sữa sẽ bị hạnchế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo

- Điều trị

Nếu do kế phát từ các bệnh thì điều trị bằng kháng sinh như: Vilamoks

LA, oxytetramyccin, amoxilline, ceftifuor… đồng thời tiến hành xoa bópchườm ấm bầu vú Nếu mất sữa mà bầu vú bị teo lại, cần nhanh chóng ghépcon, tiến hành xoa bóp, chườm ấm bầu vú, tuy nhiên trường hợp này hiệu quảđiều trị không cao

2.2.4.4 Bệnh sát nhau

* Nguyên nhân

Theo Trịnh Đình Thâu và cs (2010) [23], sau khi đẻ tử cung co bóp yếutrong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật không được vận độngthỏa đáng Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là Ca và P Hoặc tử cung

bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều thai, thai quá to,khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức

Trang 35

Do viêm niêm mạc tử cung trước lúc đẻ làm dính nhau với tử cung hoặcnhau chưa ra hết thì người đỡ đẻ đã kéo đứt còn lại một ít sót lại trong tử cung.

Do lợn con còn sót lại ở trạng thái nằm sai vị trí làm tắc đường ra của nhau

2.2.4.5 Bệnh viêm khớp

* Nguyên nhân

Streptococcus suis là vi khuẩn gram (+), Streptococcus suis gây viêm

khớp lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi Bệnh này thường gây ra trên lợn con

1- 6 tuần tuổi Vi khuẩn xâm nhập qua đường miệng, rốn, vết thương trên da, đầu gối khi trà sát trên nền chuồng

*Triệu chứng

Lợn đi khập khiễng, khớp chân xưng lên Thường thấy viêm khớp cổchân, khớp háng và khớp bàn chân Lợn ăn ít, hơi sốt, chân lợn có hiện tượng què, đi đứng khó khăn, chỗ khớp viêm tấy đỏ, sưng sờ nắn vào có phản xạ đau

* Điều trị

+ Vilamoks LA, tiêm bắp 1ml/10kgTT

+ Tiêm analgin: 1ml/10kgTT/1lần/ngày

Trang 36

+ Điều trị liên tục trong 3 ngày

+ Ngoài ra hạn chế cho lợn di chuyển đi lại, những tấm đan bị hỏng, kémchất lượng cần phải thay thế

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam một số nhà khoa học thú y đã có những nghiên cứu tổng kết

về bệnh sinh sản trên đàn lợn nái Bệnh sinh sản có ảnh hưởng rất lớn đếnnăng suất sinh sản của lợn nái, nó không chỉ làm giảm sức sinh sản của lợnnái mà còn có thể làm cho nái mất khả năng sinh sản, chậm sinh hay làm giảmkhả năng sống sót của lợn con

Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [4], để phòng bệnh viêm vúcho lợn nái trước khi đẻ lau, xoa vú và tắm cho nái, cho con đẻ đầu tiên búngay sau 1 giờ đẻ Chườm nước đá vào bầu vú viêm Tiêm kháng sinh:

Penicillin 1,5 - 2 triệu đơn vị với 100 ml nước cất tiêm quanh vú Nếu nhiều

vú bị viêm thì pha loãng liều thuốc trên với 20 ml nước cất, tiêm xung quanhcác vú viêm, tiêm trong 3 ngày liên tục

Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], cho biết: Ở những nái bị viêm tử cungthường biểu hiện sốt theo quy luật sáng chiều (sáng sốt nhẹ, chiều sốt nặng).Bệnh viêm tử cung ở gia súc là một quá trình bệnh lý phức tạp được thểhiện dưới nhiều thể khác nhau Đây là nguyên nhân gây rối loạn sinh sản, ảnhhưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của gia súc cái Viêm tử cung là mộttrong những tổn thương đường sinh dục trên lợn nái sau khi sinh Sau khi sinh

có dịch tiết và dịch lẫn mủ là biểu hiện của viêm tử cung (Nguyễn Văn Thanh,2003) [19]

Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], bệnh viêm tử cung xảy ra ở nhữngthời gian khác nhau Nhưng thường xảy ra nhiều nhất vào thời gian sau khi đẻtừ 1 - 10 ngày

Trang 37

Đồng thời cũng có nhiều tác giả có tổng kết về tỷ lệ mắc bệnh viêm tửcung ở lợn nái sau khi sinh: theo Nguyễn Văn Thanh (2003) [19], lợn nái saukhi sinh có chứng viêm tử cung chiếm tỷ lệ 42,4% Viêm tử cung trên nhómlợn nái thuần chiếm khoảng 25,48%, trên nhóm lợn nái lai chiếm 50,84%(trong tổng số 1.000 lợn nái khảo sát) Viêm tử cung thường xảy ra cao nhất ởlứa 1 và 2 Tỷ lệ chậm động dục ở nhóm lợn bị viêm tử cung cao hơn nhiều sovới nhóm lợn không bị viêm tử cung.

Lê Văn Năm và cs (2009) [14], cho rằng có rất nhiều nguyên nhân từngoại cảnh gây bệnh như: Do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiệp đỡ đẻbằng dụng cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuật dẫn đến Muxin của chất nhầycác cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủa, kết hợp với việc chăm sóc nuôidưỡng bất hợp lý, thiếu vận động đã làm chậm quá trình thu teo sinh lý của dạcon Đây là điều kiện tốt để vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây bệnh Biếnchứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gianđộng đực (lúc đó tử cung mở) và do thụ tinh nhân tạo sai kỹ thuật (dụng cụdẫn tinh làm tổn thương niêm mạc tử cung)

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6] khi gia súc bị bệnh viêm tử cung

ởthể viêm cơ, viêm tương mạc thì không nên tiến hành thụt rửa bằng các chấtsát trùng với thể tích lớn Vì khi bị tổn thương nặng, cơ tử cung co bóp yếu,các chất bẩn không được đẩy ra ngoài, lưu trong đó làm cho bệnh nặng thêm.Các tác giả đề nghị nên dùng oxytoxin kết hợp PGF2α hoặc kết hợp với khángsinh điều trị toàn thân và cục bộ Sát nhau trên lợn nái ít xảy ra, nhưng nếu lợnnái bị sát nhau sẽ đưa đến viêm nhiễm trùng và gây viêm tử cung

Điều kiện môi trường thay đổi đột ngột như: Thời tiết môi trường quá nóng hay quá lạnh trong thời gian đẻ cũng dễ đưa đến viêm tử cung

Theo Nguyễn Văn Thanh (2003) [19] viêm tử cung là một trong nhữngtổn thương đường sinh dục trên lợn nái sau khi sinh Sau khi sinh có dịch tiết

và dịch lẫn mủ là biểu hiện của viêm tử cung

Trang 38

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Sokol và cs (1981) [26] cho rằng, vi khuẩn E coli cộng sinh có mặt

thường trực trong đường ruột của người và động vật, trong quá trình sống vikhuẩn có khả năng tiếp nhận các yếu tố gây bệnh như: yếu tố bám dính (K88,K99), yếu tố dung huyết (Hly), yếu tố cạnh tranh (Colv), yếu tố kháng khángsinh (R) và các độc tố đường ruột Các yếu tố gây bệnh này không được di

truyền qua DNA của chromosome mà được di truyền qua DNA nằm ngoài chromosome gọi là plasmid Những yếu tố gây bệnh này đã giúp cho vi khuẩn E.coli bám dính vào nhung mao ruột non, xâm nhập vào thành ruột, phát triển

với số lượng lớn Sau đó vi khuẩn thực hiện quá trình gây bệnh của mình bằngcách sản sinh độc tố, gây hội chứng tiêu chảy, phá huỷ tế bào niêm mạc ruột

Smith và cs (1995) [25] thông báo có 2 loại độc tố là thành phần chính

của Enterotoxin được tìm thấy ở các vi khuẩn gây bệnh Sự khác biệt của độc

tố này là độc tố chịu nhiệt (Heat Stabletoxin - ST) chịu được nhiệt lớn hơn

1000C trong 15 phút, còn độc tố không chịu nhiệt (Heat labiletoxin - LH) bị

vô hoạt ở nhiệt độ 600C trong 15 phút

Ngày đăng: 14/12/2022, 10:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w